1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động thanh tra góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai thực trạng và giải pháp

266 550 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động thanh tra góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai: Thực trạng và giải pháp
Tác giả Nguyễn Hữu Đạt, Phan Quân, Lưu Thị Hà, Trương Quốc Hưng, TS. Nguyễn Văn Lạng, TS. Trần Ngọc Liêm, Phạm Thanh Lộc, Lê Hồng Lĩnh, Vũ Văn Chiến, Vũ Quốc Công, Nguyễn Quốc Hoàng
Trường học Đại học Xây dựng Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 266
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội nói chung, trong đó có hoạt động thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản

Trang 2

MỤC LỤC MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 1 Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 7

1 Quản lý nhà nước về đất đai và đặc điểm quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam 7

1.1 Đất đai thuộc hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu 7 1.2 Quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai 9 1.3 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 12

2 Thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai là một trong những nội dung quan trọng của quản lý, sử dụng đất đai 14

3 Vai trò của hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam 17

3.1 Hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai góp phần phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật đất đai của các cơ quan, tổ chức, cá nhân 19 3.2 Hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về đất đai 20 3.3 Hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai góp phần phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phát triển kinh tế, ổn định xã hội 20 3.4 Thanh tra quản lý và sử dụng đất đai là phương thức nâng cao hiệu quả của quản lý và sử dụng đất đai 22

Chương II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 23

1 Tổng quan hoạt động thanh tra công tác quản lý và sử dụng đất đai hiện nay 23

2 Những mặt làm được, những hạn chế, tồn tại thông qua hoạt động

thanh tra về công tác quản lý và sử dụng đất trong thời gian qua 27

Trang 3

2.1 Việc giải quyết của cơ quan Nhà nước, các cơ quan thanh tra nhà nước đối với các tranh chấp phát sinh trong quản lý, sử dụng đất đai thời gian qua 28 2.2 Những nguyên nhân làm phát sinh tình hình khiếu kiện, sai phạm, liên quan đến đất đai thời gian qua 36

3 Một số nội dung thanh tra trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai 43

3.1 Thanh tra việc xây dựng quy hoạch đất đai 43 3.2 Thanh tra kế hoạch sử dụng đất 47 3.3 Thanh tra việc thu hồi đất 52 3.4 Thanh tra việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

4.1 Chồng chéo về thẩm quyền, không rõ trách nhiệm, vừa trùng lặp, vừa

bỏ trống trong hoạt động thanh tra 58 4.2 Mảng công tác thanh tra việc chấp hành pháp luật của người sử dụng đất còn bị buông lỏng (hoạt động thanh tra chuyên ngành về đất đai) 59 4.3 Thiếu tính chủ động trong hoạt động thanh tra quản lý, sử dụng đất đai 60 4.4 Thiếu sự phối hợp trong hoạt động thanh tra quản lý, sử dụng đất đai

60

4.5 Năng lực, trình độ, sự chuyên môn hóa của cán bộ làm công tác thanh tra còn yếu 61 4.6 Việc xử lý các hành vi sai phạm về quản lý, sử dụng đất còn chưa nghiêm 62 4.7 Công tác tổng kết, đánh giá hoạt động thanh tra quản lý, sử dụng đất đai chưa được quan tâm đúng mức 62

5 Những kinh nghiệm rút ra qua hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai trong giai đoạn 2003 – 2008 63

Trang 4

5.1 Công tác chỉ đạo, điều hành của người ra quyết định thanh tra đối với các cuộc thanh tra chuyên đề diện rộng về quản lý, sử dụng đất đai 64 5.2 Công tác tổ chức, điều hành của Trưởng Đoàn thanh tra và trách nhiệm của thành viên Đoàn thanh tra đối với hoạt động thanh tra việc

quản lý, sử dụng đất đai 66

5.3 Về quy trình, các bước tiến hành thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai 67

5.4 Về mối quan hệ giữa Trưởng đoàn thanh tra với Người ra quyết định thanh tra 75

5.5 Về mối quan hệ của Đoàn thanh tra với các cơ quan, tổ chức hữu quan khác 76

5.6 Một số kinh nghiệm rút ra qua quá trình tiến hành thanh trực tiếp việc quản lý và sử dụng đất đai 77

Chương III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TRA QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 87

1 Phương hướng đối với hoạt động thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động này trong giai đoạn hiện nay 87

1.1 Phân định rõ thẩm quyền về thanh tra giữa các cơ quan thanh tra trong việc quản lý, sử dụng đất đai 88

1.2 Tăng cường tính chủ động trong hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai 88

1.3 Tăng cường sự phối hợp khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai 89

2 Giải pháp và kiến nghị 90

2.1 Giải pháp 90

2.2 Kiến nghị 94

Trang 5

MỞ ĐẦU

Thực hiện Quyết định số 1055/QĐ-TTCP ngày 09/6/2008 của Tổng Thanh tra về việc phê duyệt thuyết minh đề tài “Hoạt động thanh tra góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai - Thực trạng và giải pháp”, Ban chủ nhiệm đề tài đã tiến hành nghiên cứu các chuyên đề thuộc phạm vi của đề tài Cùng với những cán bộ nghiên cứu thuộc đơn vị chủ trì đề tài là Vụ I, Đề tài cũng đã thu hút được sự tham gia nghiên cứu của một số đồng chí chuyên gia trong và ngoài cơ quan Thanh tra Chính phủ đã có nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học, công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại,

tố cáo liên quan quan đến quản lý, sử dụng đất đai

Trong quá trình nghiên cứu, Ban chủ nhiệm đề tài đã tổ chức một số cuộc hội thảo, toạ đàm, thường xuyên trao đổi trực tiếp với các chuyên gia về các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu, qua đó nhiều vấn đề khoa học đã được phân tích, bàn bạc và từng bước được làm sáng tỏ Từ kết quả nghiên cứu, đề tài rút ra những kết luận, kiến nghị cụ thể về các biện pháp nhằm định hướng, tăng cường hiệu quả hoạt động thanh tra góp phần nâng cao hiệu quả quản lý,

sử dụng đất đai hiện nay

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thanh tra kinh tế - xã hội là một hoạt động thường xuyên, quan trọng của cơ quan thanh tra nhà nước, là một khâu không thể thiếu trong chu trình quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế - xã hội Ở một khía cạnh nào đó, thanh tra kinh tế - xã hội góp phần thực hiện thành công các chính sách, mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công

tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Trong những năm qua, hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội nói chung, trong đó có hoạt động thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý và sử dụng đất đai nói riêng, đã góp phần tích cực trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm

Trang 6

pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật

về đất đai để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước,

quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Trước yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc

tế hiện nay, chúng ta cần có sự tổng kết, đánh giá những mặt làm được, những tồn tại, hạn chế của công tác thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai trong thời gian qua một cách toàn diện, khách quan Từ đó đưa ra những giải pháp đổi mới hoạt động thanh tra, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và

sử dụng đất đai giai đoạn hiện nay

Việc triển khai nghiên cứu đề tài “Hoạt động thanh tra góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai - Thực trạng và giải pháp” là rất cần thiết, có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong tiến trình đổi mới công tác thanh tra nói chung và hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai nói riêng, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Một là, tổng kết, đánh giá thực trạng công tác thanh tra việc quản lý và

sử dụng đất đai trong những năm qua, tập trung vào giai đoạn 2003 – 2008, qua đó nhìn nhận tổng thể những ưu điểm, hạn chế, những mặt làm được và chưa làm được; phân tích toàn diện, sâu sắc nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để rút ra những bài học kinh nghiệm cho hoạt động này trong thời gian tới

- Hai là, làm rõ vị trí, vai trò của hoạt động thanh việc quản lý, sử dụng

đất đai trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Qua đó khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động thanh tra này đối với

Trang 7

công tác quản lý đất đai; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai

- Ba là, đề ra những yêu cầu, mục tiêu và định hướng nhằm nâng cao

hiệu quả hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai Đề xuất các giải pháp trước mắt và các giải pháp lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai trong thời gian tới

3 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những năm qua, Thanh tra Chính phủ đã triển khai nghiên cứu nhiều đề tài khoa học liên quan đến các vấn đề về công tác thanh tra Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên đã góp phần hình thành những cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu xây dựng các văn bản pháp luật về thanh tra Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có Đề tài khoa học đặt vấn về nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm các cuộc thanh tra quản lý và sử dụng đất đai, để từ đó có cách nhìn nhận tổng quát, rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra những giải pháp nhằm tăng

cường hiệu quả công tác thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai

Trước yêu cầu của tình hình mới, việc nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm một cách toàn diện về hoạt động thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện mảng công tác này, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu khách quan và cần thiết

4 Danh mục các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan

1 TS Nguyễn Văn Lạng – Chuyên đề: Thực trạng và nguyên nhân

tham nhũng trong lĩnh vực đất đai Năm 2007

2 Nguyễn Kim Châu - Đề tài cơ sở: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giải quyết các khiếu nại về nhà cửa do lịch sử để lại Năm 1997

5 Triển vọng áp dụng kết quả nghiên cứu

Trang 8

Đối với hoạt động thanh tra: Giúp cơ quan thanh tra nhà nước, các Đoàn thanh tra và đội ngũ thanh tra viên có cách nhìn tổng quát, toàn diện hơn về những ưu điểm, hạn chế của hoạt động thanh tra việc quản lý và sử dụng đất

đai giai đoạn hiện nay

Đề tài cũng hướng tới việc đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai, đặc biệt là tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài liên quan đến lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai của tổ chức cá nhân Tổng kết, đưa ra những bài học kinh nghiệm góp phần phục vụ trực tiếp cho đội ngũ cán bộ,

thanh tra viên tham gia mảng công tác này

Đối với lĩnh vực khoa học có liên quan: Góp phần hình thành cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn để biên tập, bổ sung nội dung giáo trình, giáo án đào

tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, thanh tra viên trong giai đoạn hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu của Đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp chung trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và lôgíc, lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp

Tổng kết, đánh giá hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai trên quan điểm lịch sử cụ thể để đưa ra những định hướng, bài học kinh nghiệm, giải pháp phù hợp với điều kiện vận động, phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trên

cơ sở phân tích, đưa ra những ưu điểm, kinh nghiệm có thể áp dụng trong điều kiện hiện nay nhằm phát huy hiệu quả hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai

7 Cơ cấu của Đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Đề tài gồm 3 chương:

Trang 9

Chương I Một số vấn đề chung về hoạt động thanh tra trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai

Chương II Thực trạng hoạt động thanh tra trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai của Thanh tra Chính phủ trong giai đoạn hiện nay

Chương III Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra quản lý và sử dụng đất đai

Trang 11

Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

1 Quản lý nhà nước về đất đai và đặc điểm quản lý, sử dụng đất đai ở Việt Nam

Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước được hiểu dưới nghĩa hẹp bao gồm ba khâu chủ yếu, đó là việc ban hành các chính sách pháp luật, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật đã được ban hành

và tổ chức kiểm tra việc thực hiện đối với các chính sách, pháp luật đó Công tác quản lý nhà nước về đất đai cũng có thể khái quát thành ba khâu chủ yếu như trên Trong quản lý về đất đai, có sự phân cấp một cách cụ thể, trong đó: Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sử hữu toàn dân về đất đai thống nhất quản lý về đất đai, có chính sách đầu tư cho việc thực hiện các nhiệm vụ quản

lý nhà nước về đất đai, xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại, đủ năng lực, bảo đảm quản lý đất đai có hiệu lực và hiệu quả Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong cả nước Chính phủ quyết định qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích

an ninh, quốc phòng; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về đất đai Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai theo thẩm quyền

Tuy nhiên, do đặc thù đất đai là tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước quản lý, nên quản lý nhà nước về đất đai cũng có những điểm khác biệt so với một số lĩnh vực khác, thể hiện ở những điểm sau:

1.1 Đất đai thuộc hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu

Trang 12

Hiến pháp 1992, tại Điều 17 đã qui định: "Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất… đều thuộc sở hữu toàn dân" Thể chế hóa tư tưởng, quan điểm này của Hiến pháp, Luật Đất đai năm 2003 đã qui định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu" (khoản 1, Điều 5) Đất đai thuộc sở hữu toàn dân có nghĩa là đất đai không thuộc quyền sở hữu của một tổ chức hay một cá nhân công dân nào Các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân chỉ là chủ thể của quyền sử dụng đất Đất đai là thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai ở đây là quyền sở hữu duy nhất và tuyệt đối Tính chất tuyệt đối và duy nhất thể hiện ở chỗ quyền sở hữu toàn dân bao trùm tất cả đất đai, bất kỳ là đất đó hiện đang do ai sử dụng và không cho phép bất cứ hình thức sở hữu nào khác tồn tại Việc sử dụng đất của các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân phải đảm bảo đúng qui hoạch,

kế hoạch, mục đích sử dụng đất, tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ môi trường

Đó chính là nguyên tắc pháp lý xuyên suốt trong quản lý, sử dụng đất, phản ánh đặc trưng của quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai

Tính chất, đặc điểm của quan hệ sở hữu làm nền tảng cho chế độ sở hữu toàn dân về đất đai được xác lập dựa trên hai phương diện chủ yếu của quan

hệ đất đai Một là: Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên vô giá không thể thay thế được của quốc gia Đó cũng là kết quả của quá trình chinh phục, chế ngự tự nhiên, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác Do đó, Nhà nước và mọi tổ chức, công dân phải có trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ nguồn tài nguyên quốc gia quý báu này Hai là: Đất đai

là tư liệu sản xuất đặc biệt, là kết quả của đầu tư lao động, vốn, công sức cải tạo của người lao động cụ thể Vì vậy, người sử dụng đất không thể là một khái niệm chung chung mà phải hết sức cụ thể và được hưởng các lợi ích thiết thực

Trang 13

Các yếu tố đó đòi hỏi việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phải bảo đảm cho Nhà nước can thiệp vào quan hệ đất đai với tư cách là người đại diện chủ sở hữu và quản lý tối cao đối với đất đai và dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước thì đất đai với tính cách là tư liệu sản xuất đặc biệt phải thuộc về người chủ cụ thể và có chủ sử dụng cụ thể Mối quan hệ này phải là một sự thống nhất hài hòa giữa các quyền năng, vai trò tối cao của Nhà nước với các quyền cụ thể của người sử dụng đất

Chính vì vậy, khi xác định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai cần phải hướng tới các yêu cầu, nguyên tắc sau:

- Luật pháp hóa trong việc qui định vai trò của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu và là người thống nhất quản lý toàn bộ đất đai

- Xác định rõ vai trò của tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân với tính cách là người sử dụng cụ thể trong quản lý, sử dụng đất

- Thiết lập mối quan hệ cụ thể, hài hòa giữa Nhà nước và người sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Quán triệt tinh thần đó, Luật Đất đai năm 2003 đã kế thừa, phát triển các qui định của Luật Đất đai năm 1993, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật về đất đai, thông qua việc qui định cụ thể, rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ

sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và

sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

1.2 Quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai

Xét về mặt đặc điểm, chế định quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước đối với đất đai theo Luật Đất đai năm 2003 có điểm đáng chú ý, đó là sự phân tách rõ ràng giữa quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước với quản lý nhà nước đối với đất đai, xác định cụ thể phương thức thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và quản

Trang 14

lý nhà nước về đất đai, cũng như định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các nội dung này Cụ thể là:

1.2.1 Về thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, điểm mới của Luật Đất đai năm 2003 lần này đó chính là xác định rõ nội dung quyền định đoạt - một biểu hiện điển hình của quyền sở hữu - đối với đất đai của Nhà nước Theo đó, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau:

Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định xét duyệt qui hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất Qui định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất Định giá đất Bên cạnh đó, Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai, bao gồm: Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất Thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất Điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại Một khía cạnh nữa thể hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước, đó là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định;

và qui định quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất

1.2.2 Về quản lý nhà nước đối với đất đai, Luật Đất đai năm 2003 cũng

đã qui định rõ Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai, trên các nội dung chủ yếu sau: Ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai

và tổ chức thực hiện các văn bản đó Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất

và bản đồ qui hoạch sử dụng đất Quản lý qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Trang 15

Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thống kê, kiểm kê đất đai Quản lý tài chính về đất đai Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các qui định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

1.2.3 Về phương thức Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai, Điều 7, Luật Đất đai năm 2003 đã qui định cụ thể là:

- Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước

- Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về đất đai

- Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương

- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền

1.2.4 Xét về nội dung cụ thể, theo qui định của Luật Đất đai năm 2003, quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai được xác định tập trung ở các phương diện sau: Lập, quản lý hồ sơ địa giới hành chính

và các loại bản đồ về đất đai Qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất Thu hồi đất Đăng ký quyền sử dụng

Trang 16

đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tài chính về đất đai và giá đất Quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản Tổ chức cơ quan quản lý đất đai Thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Đó chính là những vấn đề quan trọng và đã được Luật Đất đai năm

2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai qui định chi tiết, chặt chẽ về căn cứ, nội dung, thẩm quyền

và trình tự, thủ tục thực hiện Có thể nói, chế định quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai, cũng chính là nội dung thể hiện những điểm mới quan trọng nhất của Luật Đất đai năm 2003 so với các Luật Đất đai trước đây

1.3 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Người sử dụng đất, theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, có các quyền và nghĩa vụ chung sau: Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp Được Nhà nước bảo

hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai

Song song với việc có các quyền chung nói trên, người sử dụng đất phải thực hiện các nghĩa vụ chung sau đây: Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật Đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp

Trang 17

luật Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời

sử dụng đất

Bên cạnh đó, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng chủ thể sử dụng đất cụ thể, Luật Đất đai năm 2003 đã xác định cho những quyền và nghĩa vụ đặc thù Chẳng hạn như đối với quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, đây không phải là các quyền mà tất cả các người sử dụng đất đều có Chỉ có những người sử dụng đất nhất định mới được thực hiện tất cả các quyền này, như: hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất Còn những người sử dụng đất khác như: tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất

mà tiền đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì được thực hiện một số quyền trong những quyền này như: quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê quyền sử dụng đất, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất Trong khi đó, một số người sử dụng đất khác như: tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư lại hoàn toàn không được thực hiện các quyền trên (không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất )

Tóm lại, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai với tính chất và đặc điểm riêng biệt của nó là yếu tố mang tính nền tảng qui định, xác lập phương thức,

Trang 18

nội dung thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai cũng như việc giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai

2 Thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai là một trong những nội dung quan trọng của quản lý, sử dụng đất đai

Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là một khâu trong quá trình quản lý nhằm giúp cơ quan quản lý phát hiện những khuyết thiếu trong quá trình ban hành, triển khai, thực hiện chỉ đạo, điều hành, pháp luật của Nhà nước từ đó có những biện pháp chấn chỉnh quản lý, kịp thời xử lý các sai phạm Thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai là một lĩnh vực trong hoạt động thanh tra kinh tế-xã hội Thực tế, về thanh tra kinh tế xã hội có nhiều quan điểm khác nhau và mặc dù ngành Thanh tra đã có lịch sử ra đời và phát triển hơn 60 năm, nhưng đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật về thanh tra nào đưa ra khái niệm này Tuy nhiên, từ thực tế hoạt động và nội hàm của khái niệm có thể hiểu thanh tra kinh tế xã hội là loại hình thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên lĩnh vực kinh tế - xã hội trong phạm vi quản lý của Nhà nước

Trong hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực như: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, đầu tư xây dựng, ngân hàng, chính sách xã hội… trong đó, thanh tra quản lý và sử dụng đất đai là một lĩnh vực hoạt động và có một vai trò quan trọng Theo qui định của pháp luật, quản lý nhà nước về đất đai, thì thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai bao gồm: Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các qui định của pháp luật về đất đai và xử

lý vi phạm pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai là một trong những nội dung của quản lý nhà nước về đất đai

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, đất nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Cùng với sự chuyển hướng của nền kinh tế, Đảng và

Trang 19

Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để nâng cao hiệu quả nền kinh tế, trong đó, nước ta đã tiến hành đẩy mạnh công cuộc

cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Đồng thời, trong cơ chế thị trường, nhà nước không quản lý bằng mệnh lệnh, kế hoạch mà đóng vai trò tạo hành lang pháp lý bình đẳng, cạnh tranh cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển Vì vậy, có quan điểm cho rằng, khi nhà nước ta dứt bỏ được cơ chế Bộ chủ quản, cơ chế quản lý mang tính tập trung, bao cấp của nhà nước và khi chúng ta có một nền kinh tế thị trường đầy đủ thì khi đó không còn khái niệm về thanh tra kinh tế - xã hội Tuy nhiên, quan điểm này có một số điểm bất cập và không thể phù hợp với thanh tra việc quản lý và sử dụng về đất đai, một lĩnh vực của thanh tra kinh tế xã hội vì: Nhà nước ta đã ghi nhận trong Hiến pháp, trong Luật Đất đai và các văn bản pháp luật khác, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý

Nhà nước thực hiện quyền định đoạt về đất đai, quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; định giá đất; thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính như thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thu thuế, các khoản thu nhập từ quyền sử dụng đất, điều tiết phần giá trì tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại Đối với mỗi cơ quan nhà nước, đều được qui định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình Trong đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện việc ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý và sử dụng đất đai, đồng thời, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử

Trang 20

dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước Bộ Tài nguyên và môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về đất đai Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền về lãnh thổ

Đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, được hiểu là người sử dụng đất bao gồm các tổ chức (có thể là tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước hay thuộc các thành phần kinh tế khác…), các cá nhân (như

hộ gia đình, cá nhân…), các cộng đồng dân cư… được Nhà nước ban hành các chính sách, chế độ để đảm bảo quyền sử dụng đất như: cấp giấy chứng nhận quyền sử đất, có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất, ưu đãi đầu tư phát triển ngành nghề, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất… theo định hướng phát triển của Nhà nước Tuy nhiên, để đảm bảo cho chính sách, pháp luật về đất đai của Nhà nước được thực thi, người sử dụng đất phải đảm bảo

sử dụng đúng qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất;

sử dụng đất phải tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; phải thực hiện đầy

đủ các quyền hạn và nghĩa vụ theo qui định của pháp luật về đất đai

Để thực hiện quyền hạn và trách nhiệm của mình, Nhà nước phải tiến hành thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, pháp luật về đất đai, để không chỉ đảm bảo các chính sách, pháp luật được thực thi đầy đủ, mà còn để xem xét những mặt khuyết thiếu, chưa hiệu quả trong các chính sách, pháp luật của mình khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường để có biện pháp điều chỉnh kịp thời Điều này có nghĩa là, Nhà nước không chỉ thanh tra đối với việc quản lý đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền,

mà còn phải thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất đai của các tổ chức, cá nhân,

hộ gia đình… được Nhà nước giao đất, cho thuê đất Việc kiểm tra, thanh tra

Trang 21

đối với các người sử dụng đất là thanh tra về việc sử dụng đất có đúng mục đích, kế hoạch, quy hoạch, chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ và quyền lợi mà pháp luật quy định cho người sử dụng đất đai hay không… Đồng thời, thanh tra, kiểm tra cũng nhằm xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai, nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng đúng mục đích và đạt hiệu quả cao nhất

Như vậy, có thể hiểu rằng: thanh tra về quản lý và sử dụng đất đai là loại hình thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của các cơ quan được pháp luật được trao quyền quản lý về đất đai, đồng thời thanh tra việc sử dụng dụng đất đai của Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất

Trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý thì hoạt động thanh tra, kiểm tra là rất cần thiết, là một chức năng thiết yếu, một nội dung của quản lý nhà nước về đất đai Tuy nhiên, ngay cả khi đến một lúc nào đó, nếu chính sách, pháp luật có qui định khác thì thanh tra, kiểm tra về đất đai cũng là cần thiết, vì giả sử nếu Nhà nước trao quyền sở hữu

tư nhân về đất đai cho tư nhân thì Nhà nước vẫn là người đưa ra qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, chính sách tài chính về đất đai… Đồng thời, người sở hữu đất đai vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với phần đất mà mình sở hữu

Một vấn đề cần đặt ra là thanh tra về quản lý và sử dụng đất đai không chỉ hiểu đơn thuần là một lĩnh vực thanh tra kinh tế - xã hội mà thực tế, theo qui định của pháp luật, thanh tra quản lý, sử dụng đất đai còn có nhiệm vụ giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai Do đó, trong phạm vi đề tài này, hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai còn bao hàm cả nhiệm

vụ giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai

3 Vai trò của hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam

Trang 22

Trong cơ chế thị trường, đất đai được coi là một loại hàng hoá đặc biệt Những hàng hoá bình thường cũng như những hàng hoá đặc biệt quý giá khác con người đều có thước đo giá trị để định giá thông qua các phạm trù, quy luật giá trị, cung cầu, thời gian lao động làm ra sản phẩm v.v… Nhưng với đất đai thì không thể áp dụng một cách giản đơn các phạm trù, quy luật kinh tế đó bởi đất đai không đơn thuần là sản phẩm do sức lao động con người sáng tạo ra

Trước khi trở thành hàng hoá đặc biệt thì từ hàng triệu năm qua đất đai

đã là tài nguyên đặc biệt, trước hết bởi đất đai có nguồn gốc tự nhiên, là tặng vật tự nhiên dành cho con người, cho loài người; tiếp đến mới là thành quả do tác động khai phá của con người Tính chất vô cùng đặc biệt của đất đai là ở chỗ tính chất tự nhiên và tính chất xã hội đan quyện vào nhau; nếu không có nguồn gốc tự nhiên, thì con người dù có tài giỏi đến đâu cũng không tự mình tạo ra đất đai được Con người có thể làm ra nhà máy, lâu đài, công thự và sản xuất, chế tạo ra muôn nghìn thứ hàng hoá, sản phẩm, nhưng không ai có thể sáng tạo ra đất đai Đất đai quý giá còn bởi con người không thể làm nó sinh sản, nở thêm, ngoài diện tích tự nhiên vốn có của quả đất Khi chúng ta nói đất đai là hàng hoá, dù có thêm hai chữ đặc biệt vào đó, thì cũng không lột tả được hết tính chất đặc biệt của đất đai cả về phương diện tự nhiên cũng như xã hội Vì thế, sự ứng xử với vấn đề đất đai trong hoạt động quản lý, sử dụng không thể được đơn giản hoá, cả trong nhận thức cũng như trong hành động

Với tính chất vô cùng đặc biệt của đất đai, hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam có vai trò rất quan trọng Thông qua hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai giúp cơ quan nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai; xây dựng

bộ máy quản lý nhà nước về đất đai trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về quản

lý, sử dụng đất đai

Trang 23

3.1 Hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai góp phần phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật đất đai của các cơ quan, tổ chức, cá nhân

Thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất Trong tiến trình phát triển của đất nước và đặc biệt trong những năm đổi mới, quyền sử dụng đất đai giữa các hộ dân cư và các tổ chức xã hội luôn biến động Sự biến động này đã tác động đến quyền và lợi ích kinh tế, xã hội của họ làm cho tình hình tranh chấp đất đai và các sai phạm phát sinh trong công tác quản lý, sử dụng đất đai diễn biến rất đa dạng, phức tạp Bên cạnh đó, các chính sách của nhà nước về đất đai chưa hoàn thiện đã làm cho việc giải quyết tranh chấp trở nên phức tạp, không ít nơi phát sinh khiếu kiện, các sai phạm, tiêu cực liên quan đến đất đai rất gay gắt, nhiều vụ việc tiêu cực nổi cộm gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự địa phương

và công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai Việc ngăn ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm khắc những hành vi vi phạm pháp luật

về quản lý, sử dụng đất đai vừa là nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo an ninh, trật tự ở địa phương, vừa là nhiệm vụ không thể thiếu để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của nhân dân Vai trò của thanh tra việc quản

lý, sử dụng đất đai không chỉ là phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai mà quan trọng hơn, công tác thanh tra này phải là một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý,

sử dụng đất Thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai không chỉ có chức năng bảo đảm pháp luật về đất đai được thực hiện nghiêm minh trên thực tế mà còn phải thực hiện tốt chức năng tìm hiểu, giúp đỡ, định hướng cho các cơ quan, cán bộ làm công tác quản lý đất đai cũng như người sử dụng đất thực hiện đúng các quy định của pháp luật về đất đai Công tác thanh tra quản lý, sử

Trang 24

dụng đất đai phải được tiến hành thường xuyên, kịp thời, đảm bảo các nguyên tắc khách quan, chính xác, trung thực, công khai, dân chủ Kết luận, kiến nghị qua hoạt động thanh tra quản lý, sử dụng đất đai không chỉ hướng vào việc xử

lý hành vi vi phạm pháp luật cụ thể, mà còn phải hướng đến việc khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật về đất đai

3.2 Hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về đất đai

Một trong những yêu cầu quan trọng nhất trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của Việt Nam đó là xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ ràng, minh bạch, phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của nền kinh tế và đảm bảo được tính công bằng Tuy nhiên, hiện nay hệ thống luật pháp nói chung và hệ thống pháp luật về đất đai

ở nước ta còn rất thiếu và nhiều văn bản pháp luật lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, sử dụng đất đai trong giai đoạn hiện nay Mặt khác, có những văn bản pháp luật, cơ chế chính sách khi đi vào thực tế đã phát sinh những sơ

hở, dễ bị lợi dụng để trục lợi, làm ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý đất đai của nhà nước cũng như việc thực hiện quyền của người dân trong sử dụng đất Thông qua hoạt động thanh tra quản lý, sử dụng đất đai, cơ quan có thẩm quyền có điều kiện để phát hiện những sơ hở, khiếm khuyết của hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách về đất đai để có những cảnh báo kịp thời thông qua việc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách nhằm hạn chế tình trạng tiêu cực trong quản lý đất đai, cũng như sự lãng phí trong việc sử dụng tài nguyên đất, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng đất đai

3.3 Hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai góp phần phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phát triển kinh tế, ổn định xã hội

Trang 25

Quản lý, sử dụng đất đai là lĩnh vực xảy ra nhiều tham nhũng và số lượng tài sản nhà nước bị mất là vô cùng lớn Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khi đất đai trở thành hàng hoá có giá trị đặc biệt lớn thì trong quản lý

và sử dụng đất đai, tham nhũng ngày càng trở nên nghiêm trọng Tuỳ mức độ khác nhau nhưng không chỉ đất đai ở đô thị mà cả ở vùng nông thôn đều bị lấn chiếm, cấp phát, mua bán, chuyển nhượng tuỳ tiện và không quản lý được, gây thát thoát nghiêm trọng tài sản quốc gia về giá trị đất cũng như thuế chuyển quyền sử dụng đất Qua công tác thanh tra việc quản, lý sử dụng đất đai sẽ góp phần hiệu quả trong việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể xây dựng thành công và phát triển vững chắc nếu bộ máy nhà nước trong sạch, gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả cao Hiệu lực công tác quản lý về đất đai phần lớn tuỳ thuộc phẩm chất, chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, vào nội dung, chất lượng và biện pháp tổ chức thực hiện các quyết định quản lý Để góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm ổn định xã hội đòi hỏi công tác thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai phải đánh giá, nhận xét tình hình và kết quả thực hiện quyết định quản lý để kiểm nghiệm lại chính nội dung và chất lượng quản lý Hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, duy trì sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội Tính hiệu quả của quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai không chỉ được tính bằng các chỉ tiêu như số lượng, diện tích đất đai được quản lý đúng, sử dụng hiệu quả… mà trong nhiều trường hợp hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai chỉ có thể được xem xét bằng các chỉ tiêu như việc bảo đảm phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định tình hình chính trị-xã hội ở từng vùng, từng địa phương, đảm bảo tính công bằng, tính nghiêm minh của pháp luật về đất đai

Trang 26

3.4 Thanh tra quản lý và sử dụng đất đai là phương thức nâng cao hiệu quả của quản lý và sử dụng đất đai

Quản lý nhà nước về đất đai thông qua việc quy hoạch, các quy định của pháp luật có hiệu quả hay không, hiệu quả đến mức nào sẽ được đánh giá thông qua hoạt động thanh tra quản lý, sử dụng đất Thông qua hoạt động thanh tra quản lý sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền có thể nhìn nhận một cách tổng thể về việc quản lý và sử dụng đất cụ thể, có thể xác định được những dạng sai phạm thường gặp trong quản lý và sử dụng đất để từ đó đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời, phù hợp Đồng thời thông qua hoạt động thanh tra quản lý, sử dụng đất có thể phát hiện ra những lỗ hổng trong cơ chế, chính sách pháp luật đất đai để từ đó kiến nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp khắc phục Căn cứ vào mục đích của hoạt động thanh tra quản lý sử dụng đất đai, có thể thấy hoạt động thanh tra quản lý, sử dụng đất thực hiện nhiệm vụ mang ý nghĩa “kiểm nghiệm” đối với các quyết định quản lý và quá trình sử dụng đất đai Nói cách khác, việc quản lý, sử dụng đất đã phù hợp hay chưa,

đã hiệu quả hay chưa chỉ có thể được kiểm định, đánh giá thông qua hoạt động thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai

Trang 27

Chương II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1 Tổng quan hoạt động thanh tra công tác quản lý và sử dụng đất đai hiện nay

Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý, sử dụng đất đai nói riêng đã có nhiều chuyển biến, tiến bộ hơn so với trước Trong chỉ đạo, Chính phủ và Thủ tướng

đã ban hành các văn bản chỉ đạo, như Quyết định 273/QĐ-TTG ngày 12/4/2002 về việc kiểm tra đầu tư xây dựng và sử dụng đất đai; Nghị quyết 03/2003/NQ ngày 29/1/2003 đánh giá kết quả thực hiện Quyết định 273/QĐ-TTG và tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý, sử dụng đất đai… Bên cạnh đó, các diễn đàn hội nghị về quản lý, sử dụng đất đai cũng như diễn đàn họp Quốc hội đều rất quan tâm đến công tác thanh tra việc quản

lý, sử dụng đất đai, coi việc đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý,

sử dụng đất đai là một trong những nhóm giải pháp lớn nhằm chấn chỉnh, thiết lập lại trật tự kỷ cương và chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất đai Tình trạng sai phạm trong quản lý, sử dụng đất

đã được Chính phủ quan tâm, đến nay đã ba lần Chính phủ có chỉ đạo tiến hành kiểm tra, xử lý ở diện rộng như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 20/6/2001, Thủ tướng Chính phủ có Công điện số 554/CP-NN, mới thống kê 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có 193.763 hộ được giao đất trái thẩm quyền với diện tích 82.991.469m2 đất tính

từ 15/10/1993 đến 30/6/2001

Lần thứ hai: Ngày 12/4/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 273/QĐ-TTg, kiểm tra quản lý, sử dụng đất đai và xây dựng cơ bản trên phạm vi toàn quốc Theo kết quả tổng hợp của 47 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính từ năm 1993 đến tháng 10/2002 đã có 163.811 vụ giao

Trang 28

đất, cho thuê đất trái thẩm quyền với 7.519,9 ha

Lần thứ ba: Kế hoạch 05KH/TW ngày 10/9/2003 của Bộ Chính trị, kiểm tra thực hiện kết luận của Bộ Chính trị về đầu tư và quản lý, sử dụng đất đai

Sau khi thực hiện Quyết định số 273/QĐ-TTg ngày 12/4/2002 về việc kiểm tra đầu tư xây dựng và quản lý, sử dụng đất đai, Chính phủ đã báo cáo

Bộ Chính trị về kết quả thực hiện, ngay sau đó Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 05KH/TW ngày 10/9/2003 để chỉ đạo các tổ chức Đảng trực tiếp chỉ đạo tiếp tục kiểm tra trên diện rộng theo tinh thần Quyết định số 273/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Kết quả thực hiện Kế hoạch số 05KH/TW cho thấy trong 02 năm 2003, 2004 tình trạng giao, cấp đất trái thẩm quyền có giảm song vẫn còn tình trạng giao, cấp đất trái thẩm quyền Trong hai năm, trên toàn quốc ở mức 16.523 vụ với diện tích trên một nghìn ha

Trong những năm qua, đặc biệt là từ khi triển khai thực hiện Quyết định 273/QĐ-TTG ngày 12/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm tra đầu

tư xây dựng và quản lý sử dụng đất đai, các cơ quan thanh tra nhà nước đã chủ động xây dựng kế hoạch và tiến hành thực hiện nhiều cuộc thanh tra lớn về những nội dung quan trọng của công tác quản lý, sử dụng đất đai trên phạm vi toàn quốc Qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, với sự cố gắng, nỗ lực của các

cơ quan thanh tra nhà nước thuộc các cấp, các ngành, số lượng cũng như chất lượng các cuộc thanh tra năm sau tăng lên đáng kể so với năm trước Hoạt động thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai luôn được xem là một lĩnh vực trọng điểm trong công tác thanh tra kinh tế - xã hội của ngành Thanh tra Hàng năm, qua thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo, các cơ quan thanh tra đã kiến nghị thu hồi cho nhà nước, cho tập thể và trả lại công dân hàng ngàn ha đất đai các loại Năm 2004, các địa phương đã phát hiện các dạng sai phạm về đất đai trên 2.406 ha Qua thanh tra cho thấy công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai ở nhiều địa phương còn hạn chế: công tác lập quy hoạch, kế

Trang 29

hoạch sử dụng đất chậm; sử dụng đất đai không đúng theo quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt; giao cấp đất còn trùng với đất đã được quy hoạch; để đơn vị và cá nhân lấn chiếm 1.101 ha; chuyển nhượng và cho thuê đất trái phép 701 ha; sử dụng đất sai mục đích 139 ha, bỏ hoang hóa, không sử dụng

87 ha Hiện tượng cấp đất trái thẩm quyền, giao đất không đúng đối tượng còn khá phổ biến với tổng sai phạm là 308,4 ha… trong đó đặc biệt nghiêm trọng

là vụ việc cấp đất trái phép tại huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Ở nhiều địa phương, việc thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất chưa nghiêm

Trong năm 2005, tổng hợp kết quả các cuộc thanh tra về quản lý và sử dụng đất đai cho thấy các cơ quan chức năng buông lỏng công tác quản lý quy hoạch dẫn đến nhiều dự án xây dựng không theo đúng quy hoạch chung, ảnh hưởng đến quy hoạch đô thị; xây nhà phục vụ để tái định cư hoặc để bán nhưng quá thời hạn giao đất không triển khai được Công tác quản lý đất đai

có nhiều sai phạm như cấp đất trái thẩm quyền 57,49 ha; buông lỏng quản lý,

bỏ hoang hoá, để dân lấn chiếm đất công 378,91 ha; tự ý sang nhượng đất trái phép 75,37 ha; sử dụng đất sai mục đích 301,08 ha Thanh tra việc thực hiện chương trình 5 triệu ha rừng tại BQLDA Lâm trường Kon Tum tỉnh Kon Tum

để cháy rừng, dân lấn chiếm rừng bị mất là 853,65 ha (có 171,64 ha rừng tự nhiên) trong tổng số 3.859,08 ha đơn vị quản lý Trong năm 2005, Thanh tra Chính phủ đã triển khai cuộc thanh tra diện rộng về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: có 38 địa phương triển khai cuộc thanh tra này Kết quả cho thấy tình trạng chung là việc cấp giấy chứng nhận chậm so với kế hoạch, cấp vượt hạn mức, chậm thời gian theo quy định (kéo dài thời gian từ khi nộp

hồ sơ đến khi cấp giấy chứng nhận), thu tiền cấp giấy chứng nhận sai qui định… như: tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận mới cấp được 23,86% so với kế hoạch, trong đó hầu hết các hồ sơ được cấp đều vượt quá thời gian qui định, đặc biệt có 56 hồ sơ tại 3 xã (Phước Dinh, Phước Nam, An Hải) thời gian từ khi đăng ký đến khi được cấp giấy kéo dài trên 1 năm; UBND huyện

Trang 30

cấp 57 giấy chứng nhận vượt hạn mức 24,86 ha Tại phòng quản lý đô thị thành phố Quy Nhơn, Bình Định chỉ có 5,8% hồ sơ được cấp giấy chứng nhận

là đúng thời hạn, còn 94,2% hồ sơ giải quyết chậm so với thời gian qui định; ngoài ra đơn vị đã thu lệ phí thẩm định và tiền bán hồ sơ làm sở hữu nhà, đất sai qui định pháp luật với số tiền trên 26 triệu đồng Tại tỉnh Quảng Trị đã phát hiện UBND thị trấn Cam Lộ thu tiền phí khi làm giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất cho nhân dân là 15 triệu đồng để ngoài sổ sách; UBND xã Cam

An thu tiền phí khi làm giấy chứng nhận sai qui định, tự quy định khoản tiền đóng góp xây dựng quê hương khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên 56,7 triệu đồng…

Trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, đất đai cũng là một lĩnh vực nổi cộm, đơn thư khiếu tố về đất đai luôn chiếm một tỷ trọng lớn Hàng năm, cơ quan hành chính nhà nước các cấp tiếp nhận hàng chục ngàn đơn thư khiếu nại, tố cáo, trong đó, tỷ lệ đơn khiếu nại trong lĩnh vực đất đai thường chiếm tỷ lệ từ 57% đến 65%; đơn tố cáo những sai phạm trong đất đai cũng chiếm tỷ lệ cao từ 40% trở lên

Trong năm 2006, qua giải quyết 67.475/80.863 đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền cho thấy khiếu kiện về đất đai chiếm tỷ lệ gần 60%, có nơi trên 83% Nội dung khiếu tố trong lĩnh vực đất đai chủ yếu là: Khiếu kiện về cách làm thiếu công khai, mất dân chủ; giá đền bù thấp, không nhất quán, không công bằng; việc chuẩn bị tái định cư, đảm bảo đời sống cho người dân trong giải phóng mặt bằng thu hồi đất diễn ra ở khắp nơi cả thành thị và nông thôn; khiếu kiện đòi lại đất cũ, đất cho mượn, cho ở nhờ, tranh chấp đất trong nội bộ nhân dân, giữa chủ cũ và chủ mới, đất trước đây đưa vào tập đoàn sản xuất (ở các tỉnh Nam bộ), khiếu nại đòi lại đất canh tác cũ do tập quán du canh, du cư của đồng bào dân tộc, nhà nước đã giao cho các nông, lâm trường quản lý (tại các tỉnh Tây nguyên); khiếu kiện đòi lại đất đưa vào HTX (ở một số tỉnh phía Bắc), đòi lại đất cũ liên quan đến tôn giáo Khiếu nại về nhà: liên quan quyền

Trang 31

được mua nhà thuộc sở hữu nhà nước (Nghị định 61/CP), quyền sử dụng nhà

ở chung cư, việc xây dựng mới nhà ở hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở Đáng chú

ý là khiếu nại đòi lại nhà cũ do Nhà nước quản lý ở thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Bạc Liêu, Lâm Đồng Tố cáo việc làm mất dân chủ của cán bộ lãnh đạo trong qui hoạch, lập dự án về sử dụng đất đai, lợi dụng chức quyền bán đất, cho thuê đất trái thẩm quyền, trái quy hoạch để vụ lợi… Những vụ việc khiếu

tố nổi cộm, bức xúc nhất, những vụ việc công dân kéo lên các cơ quan Trung ương, Trụ sở tiếp dân của Trung ương Đảng và Chính phủ, kéo đến nơi Quốc hội họp, đến nhà riêng của các đồng chí lãnh đạo để khiếu kiện dài ngày, nhìn chung cũng chủ yếu có liên quan về lĩnh vực đất đai

Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai đã

có nhiều tiến bộ rõ rệt; hoạt động thanh tra quản lý và sử dụng đất đai đã có những đóng góp tích cực thông qua việc kiến nghị bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật đối với hoạt động quản lý, sử dụng đất đai

2 Những mặt làm được, những hạn chế, tồn tại thông qua hoạt động thanh tra về công tác quản lý và sử dụng đất trong thời gian qua

Đất đai là tài sản và là tư liệu sản xuất đặc biệt thuộc quyền sở hữu của Nhà nước được trao quyền sử dụng cho các đối tượng sử dụng khác nhau trong xã hội (cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân) Trong tiến trình phát triển của đất nước và đặc biệt trong những năm đổi mới, quyền sử dụng đất đai giữa các

hộ dân cư và các tổ chức xã hội luôn biến động Sự biến động này đã tác động đến quyền và lợi ích kinh tế, xã hội của họ làm cho tình hình khiếu kiện, tranh chấp đất đai và các sai phạm phát sinh trong công tác quản lý, sử dụng đất đai diễn biến rất đa dạng, phức tạp Bên cạnh đó, các chính sách của Nhà nước ta

về đất đai chưa hoàn thiện đã làm cho việc giải quyết tranh chấp trở nên phức tạp, không ít nơi phát sinh khiếu kiện, các sai phạm, tiêu cực liên quan đến đất đai rất gay gắt một số nơi đã trở thành “điểm nóng” nhiều vụ việc, tiêu cực nổi

Trang 32

cộm gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự địa phương

và công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai

Theo thống kê của Thanh tra Chính phủ, trong những năm gần đây, hàng năm có trên 10 vạn vụ việc tranh chấp, phản ảnh, tố cáo các sai phạm liên quan đến đất đai (chiếm trên 65% tổng số vụ việc khiếu kiện, tố cáo, tranh chấp) được công dân phát hiện và gửi đơn thư đến các cơ quan Nhà nước yêu cầu kiểm tra, làm rõ và giải quyết Riêng Thanh tra Chính phủ hàng năm tiếp nhận từ 5.000 – 7.000 đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai

Theo báo cáo sơ bộ của 60 tỉnh, thành phố qua kiểm tra tình hình thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cưởng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai đã phát hiện khoảng 190.000 trường hợp vi phạm quản lý đất đai với tổng diện tích là 8.000 ha, trong đó gồm các vấn đề như: bán đất trái pháp luật, cấp đất, giao đất trái thẩm quyền Những sai phạm này chủ yếu là ở cấp xã, đặc biệt xã ven đô thị lớn, nơi có quy hoạch phát triển đô thị, khu công nghiệp đang phát triển mạnh

2.1 Việc giải quyết của cơ quan Nhà nước, các cơ quan thanh tra nhà nước đối với các tranh chấp phát sinh trong quản lý, sử dụng đất đai thời gian qua

2.1.1 Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đất đai trong thời gian qua:

Xác định tầm quan trọng và vị trí đặc biệt của đất đai, từ lâu, Trung ương Đảng và Chính phủ đã quan tâm, tập trung chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện nhiều chính sách pháp luật để giải quyết các vấn đề về đât đai và giải quyết khiếu kiện, tranh chấp đất đai của công dân

Ngay sau ngày Miền Nam giải phóng, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số CT/TW ngày 15/11/1978, các Chỉ thị số 19-CT ngày 3/5/1983 và số 100-CT/TW ngày 13/1/1981 xóa bỏ hoàn toàn các hình thức bóc lột, điều chỉnh ruộng đất, đem lại tư liệu sản xuất là ruộng đất đến cho người lao động Năm

Trang 33

57-1998, Nhà nước đã ban hành Luật đất đai, giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình

Trong quá trình thực hiện Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn, Ban

Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 33 - CT/TW ngày 28/3/1988 về việc lãnh đạo thi hành Luật đất đai Đồng thời, để giải quyết tiếp những mâu thuẫn trong quan

hệ sử dụng đất đai, Bộ Chính trị lại có Chỉ thị 47 - CT/TW ngày 31/8/1988 giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất, trong đó đã chỉ ra những diễn biến phức tạp về ruộng đất nhất là việc đòi lại ruộng đất cũ và những vụ tranh chấp gay gắt về ruộng đất ở nam Bộ; Chỉ ra những nguyên nhân cơ bản như một số chủ trương, chính sách còn chưa phù hợp, quá trình xây dựng hợp tác

xã tập đoàn sản xuất một số nơi nóng vội, gò ép, chính quyền giải quyết việc tranh chấp ruộng đất trong nội bộ nhân dân còn chậm; Đề ra phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề cấp bách về ruộng đất, mọi trường hợp đòi lại phải xem xét, giải quyết từng trường hợp một cách thấu đáo, thận trọng, phải dựa vào dân, bàn bạc dân chủ, công khai với nông dân để giải quyết các vấn đề về ruộng đất Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có Chỉ thị số 254 -HĐBT ngày 11/10/1988 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị 47 của Bộ Chính trị; sau đó lại có Quyết định số 13/HĐBT ngày 1/2/1989 về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất

Tiếp đó, Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi,

bổ sung Luật đất đai năm 1993 Ngày 12/2/1996, Chính phủ ban hành Nghị định 09/CP quy định về chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng an ninh Quá trình thực hiện pháp luật và các chính sách về đất đai và các vấn đề nông nghiệp, nông thôn, từ năm 1997 trở lại đây đã phát sinh tình trạng mất dân chủ

ở cơ sở, cấp đất, bán đất trái thẩm quyền, lấn chiếm đất công diễn ra ở nhiều nơi, việc để lại quỹ đất công ích vượt quá 5% theo quy định đem đấu thầu dài hạn, dấu diện tích vì các lợi ích cục bộ, việc sử dụng tiền từ cấp đất, bán đất vào xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng (đường, điện, trường trạm … ở

Trang 34

nông thôn) có nhiều vi phạm, khai khống, gian lận, chi tiêu tài chính bừa bãi,

tư lợi, tham ô gây bất bình trong nhân dân, làm phát sinh khiếu kiện đông người phức tạp Trước tình hình đó, Ban chấp hành Trung ương 3 Khóa VIII

đã có Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của nhân dân; Ngày 10/10/1997

Bộ Chính trị có Chỉ thị 21/CT-TW về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách

ở nông thôn hiện nay; Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 763/CT-TTg ngày 15/9/1997 về việc phát huy dân chủ, giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo có đông người tham gia Ngày 10/11/1998, Bộ Chính trị có Nghị quyết 06/NQ-

TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn

Những năm gần đây, về chính sách đất đai, Trung ương Đảng và Nhà nước ta đã có tuyên bố rõ ràng tại Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12/3/2003: Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 7, BBCHTW khoá 9 về vấn đề đất đai Trong đó, các nguyên tắc cơ bản đã được khẳng định là: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các cá nhân, tổ chức sử dụng ổn định lâu dài theo quy định của pháp luật Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho các cá nhân, tổ chức sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về đất đai”

Chính sách pháp luật về đất đai trong giai đoạn tới do Nhà nước ban hành sẽ phù hợp với đường lối đổi mới phát triển kinh tế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước Nhà nước kiên quyết lập lại trật tự quản lý, sử dụng đất đai theo pháp luật, đảm bảo sự quản lý về đất đai thống nhất từ Trung ương xuống địa phương, có sự phân công trách nhiệm của địa phương, Nhà nước sẽ có chế tài nghiêm trong việc thực thi chính sách, pháp luật về đất đai

Ngoài ra, một số vấn đề mới được khẳng định đã được cụ thể hóa thêm như: Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai có quyền sử dụng, quyền định đoạt và quyền hưởng lợi từ đất, đồng thời thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai; Quyết định và quản lý mục đích sử dụng đất; Ban hành, tổ

Trang 35

chức thực hiện pháp luật và chính sách đối với đất đai và thị trường bất động sản; Nhà nước xây dựng và quản lý thị trường bất động sản trong đó có quyền

sử dụng đất; Kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về đất đai; Tổ chức hệ thống quản lý Nhà nước thống nhất từ Trung ương đến cơ sở về đất đai

Triển khai và thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị Trung ương lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá 9 về vấn đề đất đai Ngày 10 tháng 12 năm 2003, Quốc hội khóa 11, kỳ họp thứ 4

đã ban hành Luật Đất đai năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2004

Những chính sách, pháp luật trên của Đảng và Nhà nước đã và đang phát huy hiệu quả để chấn chỉnh và tăng cường quản lý đất đai, làm cơ sở cho việc tiến hành các hoạt động thanh tra, phát hiện sai phạm, tiêu cực trong công tác quản lý và sử dụng đất đai và giải quyết khiếu kiện, tranh chấp liên quan đến đất đai trong giai đoạn vừa qua Cùng với sự tập trung chỉ đạo của Chính phủ, sự kiểm tra, giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội, các cấp, các ngành, có sự phối hợp của các đoàn thể từ TW đến địa phương,

đã nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệm, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Nhiều nơi coi nhiệm vụ thanh tra, phát hiện sai phạm, tiêu cực trong công tác quản lý

và sử dụng đất đai và giải quyết khiếu kiện về đất đai là một trong những nhiệm vụ trọng tâm không những của chính quyền các cấp mà còn là nhiệm vụ quan trọng của cấp uỷ Nhiều điểm nóng hoặc điểm có diễn biến phức tạp đã huy động lực lượng mà tổ chức thanh tra làm nòng cốt trong việc tiến hành thanh tra để kết luận rõ đúng sai nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo, nhất là những

vụ việc khiếu kiện phức tạp đông người Đến nay nhiều vụ việc đã thanh tra, kiểm tra, có kết luận và xử lý, công bố công khai, được Đảng bộ cơ sở và đại

bộ phận nhân dân đồng tình, nhiều điểm nóng cũ được giải quyết và có tác dụng ngăn ngừa, hạn chế được “điểm nóng” mới phát sinh

Trang 36

Mặt khác, để có chính sách giải quyết một số nội dung khiếu nại, tố cáo phức tạp, nhất là lĩnh vực nhà, đất, Chính phủ đã chỉ đạo các ngành chức năng liên quan tích cực thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai, xây dựng đề án để thực hiện; đồng thời để rút ra những kinh nghiệm và giải pháp trong lĩnh vực này

Những chính sách, pháp luật trên của Đảng và Nhà nước đã và đang phát huy hiệu quả để chấn chỉnh và tăng cường quản lý đất đai, làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu kiện, tranh chấp đất đai trong giai đoạn vừa qua Tuy nhiên pháp luật đất đai đã ban hành nhưng nhiều nội dung cụ thể về đất đai trước đây chưa được giải quyết, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân chậm, nhiều khiếu kiện đòi quyền sử dụng đất trước đây của người dân đang tồn tại, cùng với những tác động khác của nền kinh tế thị trường đã làm phát sinh nhiều khiếu kiện, tranh chấp, sai phạm, tiêu cực về đất đai, có nơi thành “điểm nóng” rất phức tạp, gay gắt

2.1.2 Kết quả giải quyết:

Trước tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, sai phạm, liên quan đến đất đai diễn biến phức tạp như trên, Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương và tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành tiến hành thanh tra, kiểm tra, xem xét, giải quyết vừa khẩn trương vừa thận trọng Cùng với sự tập trung chỉ đạo của Chính phủ, sự kiểm tra, giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội, các cấp, các ngành, có sự phối hợp của các đoàn thể từ TW đến địa phương,

đã nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệm, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Nhiều nơi coi nhiệm vụ thanh tra phát hiện sai phạm trong công tác quản lý và sử dụng đất đai, giải quyết khiếu kiện về đất đai là một trong những nhiệm vụ trọng tâm không những của chính quyền các cấp mà còn là nhiệm vụ quan trọng của cấp uỷ Đến nay nhiều vụ việc đã thanh tra, kiểm tra, có kết luận và

xử lý, công bố công khai, được Đảng bộ cơ sở và đại bộ phận nhân dân đồng

Trang 37

tình, nhiều điểm nóng cũ được giải quyết và có tác dụng ngăn ngừa, hạn chế được “ điểm nóng” mới phát sinh

Mặt khác, để có chính sách giải quyết một số nội dung khiếu nại, tố cáo phức tạp, nhất là lĩnh vực nhà, đất, Chính phủ đã chỉ đạo các ngành chức năng liên quan do Bộ xây dung, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, xây dựng đề

án về giải quyết những khiếu nại về đất đai, nhà ở, đất ở qua các thời kỳ cải tạo trước đây; đồng thời để rút ra những kinh nghiệm và giải pháp trong lĩnh vực này

Thực hiện Luật khiếu nại, tố cáo, Nghị định 136/2005/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật khiếu nại tố cáo, Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật, các cấp uỷ đảng và chính quyền ở nhiều địa phương, bộ ngành gần đây đã có nhận thức đúng về trách nhiệm, thẩm quyền, tập trung chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đât đai nên công tác quản lý và sử dụng đât đai đã có chuyển biến nhất định

Trong thời gian qua, với sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ đối với các cấp, các ngành trong công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai đã đạt được kết quả đáng kể, qua

đó góp phần quan trọng vào việc duy trì trật tự kỷ cương pháp luật trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, giữ vững sự ổn định tình hình chính trị - xã hội của đất nước Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Thanh tra Chính phủ cùng với các tỉnh, thành phố trong cả nước tiến hành thanh tra các xã, phường nơi

có khiếu kiện đối với việc cấp đất, bán đất; thu, chi ngân sách; các khoản đóng góp của dân; về xây dựng cơ bản ở nông thôn Trong giai đoạn từ 2003 - 2005

đã tiến hành thanh tra 3.698 xã, phường (chiếm 35,4% số xã, phường trong toàn quốc) Qua thanh tra đã phát hiện sai phạm về đất đai với diện tích là 25.014,82 ha và số tiền bán đất trái phép là 310.178,28 triệu đồng; để thất thu

số tiền sử dụng đất cho ngân sách Nhà nước là 9.745 triệu đồng

Trang 38

Cũng trong năm 2005, Thanh tra Chính phủ đã chỉ đạo thanh tra về quản lý và sử dụng đất đai của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất Kết quả thanh tra của 25 tỉnh, thành phố đã kiểm tra 994 cơ quan, tổ chức, phát hiện có 458 đơn vị (chiếm 46% số đơn vị được thanh tra) vi phạm quản

lý, sử dụng đất với diện tích 33.845,98 ha; trong đó giao đất cho cán bộ làm nhà ở không đúng thẩm quyền 369,23ha, cho thuê, cho mượn 49,82ha, bị lấn chiếm 1.324,6 ha, sai phạm khác là 6,113,25ha; các đơn vị chưa nộp tiền thuê đất và thuế chuyển quyền sử dụng đất cho Nhà nước 203 tỷ 32 triệu đồng

Thanh tra Chính phủ đã tiến hành thanh tra trực tiếp một số dự án có vấn đề về quản lý, sử dụng đất có sai phạm nổi cộm là: dự án tái định cư tại thị

xã Đồ Sơn, TP Hải Phòng, kết luận đây là vụ việc tiêu cực về đất đai điển hình,

đã chuyển toàn bộ hồ sơ cho cơ quan điều tra Bộ Công an để truy cứu trách nhiệm hình sự; Thanh tra Dự án quản lý và sử dụng đất của Công ty TNHH Hoàn Cầu ở tỉnh Khánh Hòa và ở TP Hồ Chí Minh; Thanh tra việc quản lý và

sử dụng đất xây dung nhà để bán đối với 11 dự án tại TP Hồ Chí Minh và 6 dự

án tại TP Hà Nội…

Kết quả thanh tra cho thấy còn nhiều hành vi vi phạm pháp luật về đất đai Các cơ quan chức năng cũng buông lỏng công tác quản lý quy hoạch dẫn đến nhiều dự án được xây dung không theo quy hoạch chung, phá vỡ và gây ảnh hưởng lớn đến tính ổn định, hợp lý của quy hoạch xây dụng đô thị Nhiều

dự án xây dung nhà ở để bán hoặc để tái định cư nhưng tiến độ chậm; chiếm đất để đầu cơ nâng giá; nhiều dự án quá thời hạn đầu tư không triển khai được nhưng chủ đầu tư vẫn chiếm giữ đất để đầu cơ Qua kết quả thanh tra của Thanh tra Chính phủ đã cho thấy: công tác quản lý đất đai của các dự án có nhiều sai phạm như cấp đất trái thẩm quyền 44,7 ha; buông lỏng quản lý để dân lấn chiếm sử dụng đất được cấp cho dự án là 337,12 ha; tự ý chuyển nhượng mục đích sử dụng đất trái pháp luật là 281,2 ha và tự ý sang nhượng trái pháp luật là 26,49 ha…Qua thanh tra việc thực hiện trương trình 5 triệu ha

Trang 39

rừng tại Ban quản lý dự án Lâm trường Kon Tum đã phát hiện việc thiếu trách nhiệm trong quản lý đất rừng để rừng bị cháy, bị lấn lấn chiếm phát rãy sử dụng, mua bán sang nhượng tráI phép… diện tích đất rừng bị mất là 853,65/3.859,08 ha đất rừng Lâm trường đang quản lý (trong đó có 171,64 ha rừng tự nhiên)

Về việc thanh tra các sai phạm về việc xét, cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở Tổng hợp kết quả thanh tra của 62/64 tỉnh các tỉnh có báo cáo tính đến ngày 31/12/2006, đã có 496 đoàn thanh tra trong

đó có 118 đoàn thanh tra cấp tỉnh và 378 đoàn thanh tra cấp huyện, đã tiến hành thanh tra 4.559.964 bộ hồ sơ, phát hiện 678.185 bộ hồ sơ có sai phạm chiếm tỷ lệ 14,87% Trong tổng số các sai phạm phát hiện thì: sai về thời gian giao trả giấy chứng nhận cho hộ được cấp có 540.105 bộ hồ sơ bằng 79,64%; sai về trình tự thủ tục cấp giấy có 56.832 bộ hồ sơ bằng 8,38%; sai về khoản thu nộp ngân sách nhà nước có 18.601 bộ hồ sơ bằng 2,74%; sai về nguồn gốc đất có 11.832 bộ hồ sơ bằng 1,74%; sai về đối tượng cấp giấy có 9.434 bộ hồ

sơ bằng 1,39%; sai về diện tích đất có 4.064 bộ hồ sơ bằng 0,60%; sai về tiêu chuẩn có 1.919 bộ hồ sơ bằng 0,28% và các loại sai phạm khác có 35.397 bộ

hồ sơ bằng 5,22% Sai phạm về tài chính được phát hiện là 211.463.039.927 đồng Số vụ việc sai phạm được kiến nghị, xử lý hành chính là 501 vụ, đã xử

lý hành chính 434 người trong đó khiển trách 145 người, cảnh cáo 54 người, cách chức 16 người và buộc thôi việc 30 người; 61 vụ việc có dấu hiệu tội phạm chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra

Tác dụng của thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm trong công tác quản

lý và sử dụng đất đâi, kịp thời uốn nắn và xử lý có tác dụng ngăn chặn và phòng ngừa cao Tình hình và kết quả giải quyết trên là một cố gắng Song số

vụ việc còn tồn đọng và chưa được kiểm tra cũng còn tồn tại

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ và với sự nỗ lực của bản thân, nhiều cấp, ngành và cơ sở từ TW đến địa phương đã quan tâm lãnh đạo,

Trang 40

coi nhiệm vụ thanh tra công tác quản lý và sử dụng đất đai tại địa phương là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Cấp uỷ, chính quyền; đã huy động lực lượng, tập trung sức, đề ra nhiều chủ trương, biện pháp, trong đó tổ chức thanh tra để kết luận rõ đúng sai, làm cơ sở giải quyết nhiều vụ việc khiếu nại,

tố cáo phức tạp của công dân Đến nay phần lớn các vụ việc khiếu kiện đã thanh tra, kiểm tra, có kết luận và kiến nghị xử lý; nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo đông người phức tạp liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất đai đã được thanh tra làm rõ, quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền đã công bố công khai nên được Đảng bộ cơ sở và nhân dân đồng tình Vì vậy nhiều “điểm nóng” khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai đã được giải quyết dứt điểm, ngăn ngừa, hạn chế được “ điểm nóng” mới phát sinh Bên cạnh đó, Thanh tra Chính phủ đã phối hợp với một số tỉnh, thành phố giải quyết được nhiều vụ việc phức tạp, giúp các tỉnh, thành phố tiến hành thanh tra các nội dung khiếu tố, có kết luận công khai được Đảng bộ và đại đa số nhân dân đồng tình, ủng hộ

2.2 Những nguyên nhân làm phát sinh tình hình khiếu kiện, sai phạm, liên quan đến đất đai thời gian qua

Qua tình hình và kết quả thanh tra và giải quyết khiếu kiện của Trung ương và địa phương liên quan đến công tác quản lý và sử dụng đât đai có thể rút ra một số nguyên nhân, cả nguyên nhân khách quan, chủ quan và những nguyên nhân cụ thể của từng loại khiếu nại, tố cáo, sai phạm trong công tác quản lý và sử dụng đất đai

2.2.1 Những nguyên nhân chung của tranh chấp trong việc quản lý và

sử dụng đất đai:

- Nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn biến động lịch sử, đất đai từ chế độ

sở hữu tư nhân, qua xóa bỏ chế độ bóc lột và tư hữu về đất đai trở thành tải sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, đến nay người sử dụng đất đai có đầy đủ cả 5 quyền rất cụ thể, được Nhà nước cấp giấy chứng

Ngày đăng: 15/04/2014, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w