BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH DỰ PHÒNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ TỪ 15 - 49 TUỔI ĐẾN KHÁM PHỤ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH DỰ PHÒNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ TỪ 15 – 49 TUỔI ĐẾN KHÁM PHỤ KHOA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LÂM
ĐỒNG NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH DỰ PHÒNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ TỪ 15 - 49 TUỔI ĐẾN KHÁM PHỤ KHOA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LÂM
ĐỒNG NĂM 2019
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS LÊ THANH TÙNG
NAM ĐỊNH – 2019
Trang 3TÓM TẮT
Mục tiêu:Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng ung thư cổ tử
cung (UTCTC) của phụ nữ từ 15 – 49 tuổi đến khám phụ khoa tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2019 và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang Phỏng vấn kiến thức, thái độ và
thực hành dự phòng ung thư cổ tử cung của 400 phụ nữ có độ tuổi từ 15 – 49 tuổi đến khám phụ khoa tại phòng khám Sản Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng
Kết quả: Về kiến thức có 36,3% phụ nữ có kiến thức Đạt, đa số đều cho
rằngUTCTClà loại ung thư phổ biến ở phụ nữ chiếm 67,0% Tuy nhiên có đến 78,5% phụ nữ không biết nguyên nhân gây bệnh là do nhiễm vi rút HPV.Tỷ lệ biết UTCTC có thể dự phòng được là 70,5%, nhưng số phụ nữ biết đối tượng khuyến cáo tiêm phòng vắc xin HPV và độ tuổi nên đi tiêm vắc xin phòng UTCTC còn hạn chế chiếm tỷ lệ lần lượt là30,5% và 43,7% Về thái độ, số phụ nữ có thái độ tích cực
là 66,7% Nhưng số phụ nữ thực hành dự phòng UTCTC đúng chiếm tỷ lệ thấp chỉ
có 20,2%, phần lớn các ĐTNC đều thực hành dự phòng UTCTC chưa đúng chiếm 79,8% Số phụ nữchưa tiêm phòng vắc xincòn cao chiếm 85,5%, tỷ lệ chưa đi khám sàng lọc UTCTC chiếm 62,3%, có 100% số phụ nữ đã đi khám sàng lọc đều đi khám ít nhất 1 lần trong vòng gần 3 năm gần đây, tần suất đi khám sàng lọc đúng thời gian dưới 2 năm và từ 2-3 năm chiếm tỷ lệ cao lần lượt là 70,9% và 21,9% Địa điểm các ĐTNC lựa chọn để tiêm phòng vắc xin và sàng lọc ung thư cổ tử cung đều cho thấy bệnh viện tuyến tỉnh chiếm số lượng lớn lần lượt là 72,4% và 50,3% Nghiên cứu đã tìm ra mối liên quan giữa kiến thức về dự phòng có mối liên quan đến dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, gia đình, người thân có người mắc UTCTC, tiếp cận thông tin (p<0,05).Thái độ dự phòng UTCTC có mối liên quan với trình độ học vấn, gia đình, người thân có người mắc UTCTC, kiến thức dự phòng
Trang 4UTCTC và tiếp cận thông tin (p<0,05).Thực hành dự phòng UTCTC có mối liên quan đến trình độ học vấn, biết người bị UTCTC, kiến thức và thái độ dự phòng UTCTC và tiếp cận thông tin (p<0,05)
Khuyến nghị:Ban quản lý bệnh viện nên tăng cường truyền thông giáo dục
sức khỏe về dự phòng UTCTC đến phụ nữ tới viện khám tại viện Với phụ nữ nên tăng cường tìm hiểu thông tin về dự phòng UTCTC trên các kênh thông tin, nên chủ động khám phụ khoa và tiêm phòng,khám sàng lọc UTCTC định kỳ 6 tháng/lần
Từ khóa: Dự phòng ung thư cổ tử cung, phụ nữ 15 – 49 tuổi, kiến thức, thái
độ, thực hành
Trang 5LỜI CÁM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học và quý thầy, cô Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã hết lòng truyền đạt kiến thức, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Lê Thanh Tùng, người thầy
đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ và dành nhiều thời gian giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn cao học
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các anh chị Điều dưỡng viên tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu tại quý bệnh viện
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban lãnh đạo và các giảng viên
và các em sinh viên khoa Điều dưỡng trường Đại học Yersin Đà Lạt đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong suốt khóa học này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Nam Định, ngày 14 tháng 11 năm 2019
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trang 6Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác
đã được công bố ở Việt Nam và trên thế giới Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là trung thực và khách quan Đã được sự đồng ý thu thập số liệu và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này
Nam Định, ngày 14 tháng 11 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trang 7MỤC LỤC Nội dung Trang
TÓM TẮT iii
LỜI CÁM ƠN v
CAM ĐOAN vi
DANH MỤC VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG xi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Sơ lược về ung thư cổ tử cung 4
1.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng ung thư cổ tử cung 14
1.3 Thực trạng nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ về dự phòng ung thư cổ tử cung trên thế giới và Việt Nam 18
1.4 Khung lý thuyết 22
1.5 Địa bàn nghiên cứu 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Cỡ mẫu 25
2.5 Phương pháp chọn mẫu 26
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.7 Biến số nghiên cứu (chi tiết tại phụ lục 2) 28
2.8 Các khái niệm và thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 28
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 30
Trang 82.10Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30
2.11Sai số và biện pháp khắc phục 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng UTCTC của ĐTNC 33
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng UTCTC46 Chương 4: BÀN LUẬN 55
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 55
4.2 Kiến thức dự phòng ung thư cổ tử cung 56
4.3 Thái độ của ĐTNC về dự phòng UTCTC 61
4.4 Thực hành dự phòng ung thư cổ tử cung 62
4.5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng UTCTC của phụ nữ 65
4.6 Những điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 70
Chương 5: KẾT LUẬN 72
KHUYẾN NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU
Phụ lục 2: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU
Phụ lục 3: NỘI DUNG PHỎNG VẤN
Phụ lục 4: THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ
Phụ lục 5: PHIẾU Ý KIẾN CHUYÊN GIA
Phụ lục 6: DANH SÁCH BỆNH NHÂN
Trang 9HIV/AIDS Virus gây suy giảm miễn dịch ở người / Thiếu hụt miễn dịch mắc phải
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các phương pháp sàng lọc ung thư CTC 8
Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.2 Kiến thức về đặc điểm bệnh UTCTC của ĐTNC 33
Bảng 3.3 Kiến thức về biểu hiện của bệnh UTCTC 34
Bảng 3.4 Kiến thức về các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh UTCTC 35
Bảng 3.5 Kiến thức chung về bệnh UTCTC của ĐTNC 36
Bảng 3.6 Kiến thức về phát hiện sớm UTCTC của ĐTNC 37
Bảng 3.7 Kiến thức về dự phòng bệnh UTCTC của ĐTNC 38
Bảng 3.8 Kiến thức về vắc xin dự phòng UTCTC của ĐTNC 39
Bảng 3.9 Kiến thức chung về phát hiện sớm và dự phòng UTCTC của ĐTNC 40
Bảng 3.10 Tổng hợp kiến thức chung 41
Bảng 3.11 Nguồn thông tin tiếp cận của ĐTNC về dự phòng UTCTC 41
Bảng 3.12 Thái độ dự phòng UTCTC 42
Bảng 3.13 Tổng hợp thái độ của ĐTNC về dự phòng UTCTC 43
Bảng 3.14 Thực hành khám phụ khoa, tiêm vắc xin dự phòng UTCTC của ĐTNC43 Bảng 3.15 Thực hành khám sàng lọc ung thư cổ tử cung 44
Bảng 3.16 Thực hành dự phòng ung thư cổ tử cung 45
Bảng 3.17 Thực hành chung 46
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa một số đặc trưng cá nhân và kiến thức về dự phòng UTCTC của ĐTNC 46
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa một số đặc trưng cá nhân và thái độ về dự phòng UTCTC của ĐTNC 48
Bảng 3.20 Một số yếu tố liên quan đến thực hành về dự phòng UTCTC của ĐTNC50 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tiếp cận thông tin truyền thông và kiến thức về dự phòng UTCTC của ĐTNC 52
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa tiếp cận thông tin truyền thông và thái độ dự phòng UTCTC của ĐTNC 53
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa tiếp cận thông tin truyền thông và thực hành dự phòng UTCTC của ĐTNC 54
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), ung thư cổ tử cung là ung thư phổ biến thứ 4 ở phụ nữ trên toàn thế giới về cả tỷ lệ mắc mới và tử vong hàng năm Năm
2018, ước tính 569.847 trường hợp mới và 311.365 trường hợp tử vong trong năm
2018 chiếm 7,5% tổng số ca tử vong do ung thư ở phụ nữ [18] và hơn 90% trong số này xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình, khu vực kém phát triển [53] Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ác tính phổ biến, gây tử vong hàng đầu
do ung thư ở phụ nữ tại các nước đang phát triển [46] Nếu không có các can thiệp sàng lọc, dự phòng và điều trị ung thư cổ tử cung thì trong khoảng 10 năm nữa, tỷ lệ mắc mới và chết do ung thư cổ tử cung sẽ tăng thêm 25% [1]
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển cũng chịu gánh nặng liên quan đến bệnh ung thư cổ tử cung Khoảng 4.177 ca ung thư cổ tử cung mới được chẩn đoán và khoảng 2.420 ca tử vong hàng năm tại Việt Nam (ước tính cho năm 2018) Ung thư cổ tử cung đứng thứ 7 trong những nguyên nhân hàng đầu gây ung thư ở phụ nữ tại Việt Nam nhưng đó cũng chính là ung thư phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 44 tuổi ở nước ta Ung thư cổ tử cung (UTCTC) có thể xảy
ra với bất kỳ người phụ nữ nào, và nhóm tuổi mắc UT CTC tập trung nhiều nhất thường vào phụ nữ ở 35-40 tuổi trở lên [20] Tuy nhiên UT CTC có thể ngăn ngừa được nếu dự phòng tốt, phát hiện sớm và tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ, UTCTC sẽ có khả năng điều trị khỏi, giảm tỷ lệ tử vong cho người phụ nữ [42]
Bộ Y tế tại Việt Nam cũng đang triển khai kế hoạch hành động quốc gia để
dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung giai đoạn 2016 – 2025 Hiện tại, chương trình dự phòng UTCTC đã được triển khai ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước Tuy nhiên, hiệu quả của các chương trình hoạt động này còn hạn chế, tỷ lệ vẫn gia tăng rõ rệt, đặc biệt tỷ lệ các trường hợp phát hiện ở giai đoạn muộn chiếm đa số Theo nghiên của Trần Thị Vân năm 2014 cho thấy 45,8% đối tượng đã từng nghe tới HPV, nhưng chỉ có 0,5% phụ nữ đã tiêm đủ 3 mũi vắc xin HPV [13], và kết quả
Trang 12nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú năm 2017 có 2,7% phụ nữ có kiến thức về bệnh UTCTC [11] cho thấy rằng kiến thức và thực hành dự phòng UTCTC của người dân vẫn còn thấp Theo nghiên cứu trên 2132 phụ nữ tại tỉnh Lâm Đồng của Đặng Thị Hà năm 2013, mẫu nghiên cứu có 29 trường hợp phết tế bào cổ tử cung (CTC) bất thường chiếm tỷ lệ 1,36% tỷ lệ tổn thương tiền ung thư, ung thư cổ tử cung là 0,75% cao nhất là CIN III có 07 trường hợp (0,33%), phần lớn các trường hợp phát hiện ở giai đoạn muộn [3]
Do đó việc nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng UTCTC cho phụ nữ là một trong những yếu tố quan trọng để giảm gánh nặng bệnh tật Một số nghiên cứu cho thấy người phụ nữ thực hiện sàng lọc và tiêm vắc xin dự phòng UTCTC là do có sự tư vấn của đội ngũ y tế trong đó cũng có đóng góp của Điều dưỡng viên[37] Hiểu được vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc dự phòng ung thư
cổ tử cung, chúng tôi nhận thấy việc tìm hiểu các vấn đề về kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng UTCTC của phụ nữ tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng là cần thiết, giúp cung cấp thông tin mô tả ban đầu, bằng chứng khoa học để các nhà quản lý y tế tại Bệnh viện có thể đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hỗ trợ nâng cao nhận thức cho phụ nữ đến khám tại viện, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “
Kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ từ 15 –
49 tuổi đến khám phụ khoa tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2019”
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng ung thư cổ tử cung của phụ
nữ từ 15 – 49 tuổi đến khám phụ khoa tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm
2019
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành dự
phòng ung thư cổ tử cungcủa phụ nữ từ 15 – 49 tuổi đến khám phụ khoa tại bệnh viện
Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2019
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về ung thư cổ tử cung
1.1.1 Khái niệm
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một sự thay đổi rõ rệt trong các tế bào biểu mô của vùng cổ tử cung, các tế bào bắt đầu phát triển một cách bất thường khi nhiễm HPV hoặc do các tác nhân khác Ung thư cổ tử cung là một trong những rất ít bệnh ung thư trong đó giai đoạn tiền thân (tiền ung thư) kéo dài nhiều năm trước khi trở thành ung thư xâm lấn, nên sẽ có cơ hội để phát hiện và điều trị sớm[52]
Ung thư cổ tử cung là khối u ác tính của các lớp biểu mô cổ tử cung, thường xảy ra ở ranh giới giữa biểu mô lát tầng và biểu mô trụ của cổ tử cung, 95% ung thư xuất phát từ lớp biểu mô lát tầng[12], [21]
1.1.2 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
- Papillomavirus ở người (HPV) có liên quan đến các loại ung thư khác nhau ở cả nam và nữ Theo thống kê vào năm 2012, HPV có liên quan đến 74% trường hợp ung thư ở phụ nữ, 70% trong số đó là ung thư cổ tử cung[18].Tỷ lệ nhiễm HPV có nguy cơ cao gây UTCTC ở phụ nữ, đã được xác định là nguyên nhân gây UTCTC
Có trên 100 loại HPV tuy nhiên chỉ có 4 loại chính (nguy cơ cao) liên quan đến UTCTC là các loại 16, 18, 31,35, và tập chung cao nhất là loại 16, 18 [22]
- Tuổi từ 40 -70
- Hút thuốc lá cả chủ động và thụ động [44]
- Đẻ sớm, đẻ dày, đẻ nhiềutừ 5 con trở lên, sảy thai nhiều lần,…
- Quan hệ tình dục sớm, quan hệ với nhiều người hay quan hệ với ngườicó nhiều bạn tình
- Vệ sinh cá nhân kém
- Lạm dụng thuốc tránh thai
Trang 15- Những người suy giảm hệ thống miễn dịch do HIV/AIDS, dùng corticoid kéo dài, hoá trị liệu, có nhiều khả năng bị nhiễm HPV dai dẳng và tiến triển nhanh hơn tiền ung thư và ung thư
- Yếu tố gia đình, di truyền [54]
Tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục, nhiều lần với các tác nhân lây truyền qua đường tình dục khác, chẳng hạn như các tác nhân gây bệnh mụn rộp đơn giản, chlamydia và lậu, bựa sinh dục trong bao qui đầu[26], [12], [52]
Các giai đoạn phát triển của bệnh:
- Giai đoạn sớm (I): Ung thư chỉ được tìm thấy ở các tế bào trong lớp mô mỏng phủ
bề mặt CTC Giai đoạn I còn gọi là ung thư biểu mô tại chỗ
- Giai đoạn (II): Ung thư đã lan tràn ra ngoài CTC vào các mô ở gần Ung thư đã lan
tràn vào phần trên của âm đạo Ung thư không xâm nhập vào một phần ba dưới của
âm đạo hoặc thành khung chậu
- Giai đoạn (III): Ung thư đã lan tràn vào phần thấp hơn của âm đạo (IIIA) Nó cũng
đã có thể lan tràn vào thành khung chậu hoặc các hạch bạch huyết ở gần (IIIB)
- Giai đoạn (IV): Ung thư đã lan tràn tới bàng quang, trực tràng hoặc các phần khác
của cơ thể (IVA) Cuối cùng, giai đoạn (IVB), đã di căn xa như phổi, não, gan, xương[36]
1.1.3 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh ung thư cổ tử cung
Hầu hết phụ nữ nhiễm HPV và bị UTCTC ở giai đoạn sớm không có biểu hiện lâm sàng Ở giai đoạn muộn, phụ nữ bị UTCTC có những dấu hiệu lâm sàng như:
- Ra máu sau khi quan hệ tình dục;
- Đau bụng, đau khi giao hợp;
- Ra máu giữa kỳ kinh nguyệt, chu kỳ kinh bất thường;
- Ra máu bất thường khi đã mãn kinh;
- Khí hư có mùi hôi, điều trị không khỏi[5]
Trang 161.1.4 Các phương pháp dự phòng
Các phương pháp dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung đã được Tổ chức Y
tế thế giới khuyến cáo và nhiều quốc gia trên thế giới triển khai bao gồm dự phòng cấp
1, cấp 2 và cấp 3[51], [52]:
- Dự phòng cấp 1 bao gồm tuyên truyền giáo dục nhằm giảm lối sống tình dục có nguy
cơ cao, quan hệ tình dục an toàn, tiêm vắc-xin phòng nhiễm HPV, tránh hoặc làm giảm các yếu tố nguy cơ khác như lập gia đình sớm, có con sớm, hút thuốc lá (kể cả chủ động và thụ động) để giảm tỷ lệ nhiễm HPV Các hoạt động dự phòng có thể gồm: + Tiêm chủng cho các bé gái 9 tuổi 13 tuổi (hoặc độ tuổi được đề cập trong quốc gia hướng dẫn) trước khi họ bắt đầu hoạt động tình dục
+ Giáo dục giới tính lành mạnh, được điều chỉnh phù hợp với lứa tuổi, với mục đích giảm nguy cơ lây truyền virut HPV (cùng với việc khác nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV) - những thông điệp cần thiết phải bao gồm trì hoãn bắt đầu tình dục và giảm các hành vi tình dục có nguy cơ cao
+ Cung cấp bao cao su cho những người hoạt động tình dục…
Sự sẵn có của hai loại vắc xin an toàn và hiệu quả để ngăn ngừa nhiễm trùng và tiền ung thư tổn thương thể hiện một cơ hội để nâng cao sức khỏe của phụ nữ, đặc biệt
là trong các nước đang phát triển và các nước có thu nhập thấp Các vắc-xin hiện đã được phê duyệt để sử dụng tại hơn 120 quốc gia Hiện tại, hai loại vắc-xin HPV cung cấp bảo vệ chống lại các loại vi-rút có nguy cơ cao loại 16 và 18 đã được cấp phép và một hoặc cả hai đều có sẵn ở hầu hết các quốc gia, và ở Việt Nam cũng đang sử dụng hai loại vắc xin này:
- Vắc-xin hai hóa trị Cervarix™(chỉ bảo vệ chống lại loại HPV loại 16 và 18)
- Vắc-xin bốn hóa trị Gardasil®(có bảo vệ bổ sung chống lại HPV loại 6 và 11) Nên tiêm vắc-xin trước khi một bé gái bị nhiễm vi-rút Một cô gái có thể bị nhiễm vi-rút ngay sau khi cô ấy hoạt động tình dục, vì vậy, như một can thiệp dự phòng tiên phát quan trọng chống ung thư cổ tử cung, tiêm vắc-xin HPV của phụ nữ nên xảy ra
Trang 17trước khi bắt đầu hoạt động tình dục Các vắc-xin không điều trị nhiễm trùng HPV hiện tại hoặc bệnh liên quan đến HPV, cũng như không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến sự tiến triển của bệnh (tiền ung thư và ung thư) cho những phụ nữ đã bị nhiễm vi-rút tại thời điểm tiêm chủng
Mũi tiêm vắc xin có thể được bảo vệ 5 năm, kháng thể không bị giảm ở những phụ nữ đã tiêm chủng Qua các nghiên cứu và đánh giá vắc xin phòng nhiễm HPV an toàn và chưa gây ra một tác dụng phụ nghiêm trọng nào Mặc dù vậy, ngoài việc bảo
vệ khỏi các loại HPV 16 và 18, còn một số loại vi rút gây ung thư khác, sức mạnh và thời gian bảo vệ này vẫn chưa chắc chắn
- Dự phòng cấp 2 bao gồm phát hiện các tổn thương tân sản nội biểu mô cổ tử cung và
xử trí phù hợp Các phương pháp hiện được dùng trong phát hiện các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung bao gồm xét nghiệm tế bào cổ tử cung, quan sát cổ tử cung với dung dịch acid acetic hoặc dung dịch Lugol, xét nghiệm ADN HPV Sau khi được phát hiện, tổn thương tiền ung thư có thể được điều trị bằng các phương pháp cắt bỏ (khoét chóp bằng dao, dao điện, laser, LEEP) hoặc phá hủy (áp lạnh, đốt điện, hóa hơi bằng laser) Các hoạt động dự phòng có thể gồm:
+ Tư vấn và chia sẻ thông tin
+ Sàng lọc cho tất cả phụ nữ ở độ tuổi 30 - 49 (hoặc độ tuổi được xác định theo quốc gia tiêu chuẩn) để xác định các tổn thương tiền ung thư, thường không có triệu chứng + Điều trị các tổn thương tiền ung thư đã xác định trước khi chúng tiến triển thành ung thư xâm lấn
+ Ngay cả đối với những phụ nữ đã được tiêm vắc-xin HPV, điều quan trọng là phải tiếp tục sàng lọc và điều trị khi họ đến tuổi đích
- Dự phòng cấp 3 bao gồm phát hiện các trường hợp ung thư xâm lấn ở giai đoạn sớm
và điều trị tại các cơ sở có đủ điều kiện Các hoạt động dự phòng có thể là giới thiệu từ các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc chính đến các cấp chẩn đoán và điều trị bệnh ung
Trang 18thư Điều trị ung thư giai đoạn tiến xa và chăm sóc giảm nhẹ là các thành tố không thể thiếu trong dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung
1.1.5 Các phương pháp sàng lọc
Sàng lọc ung thư cổ tử cung là xét nghiệm tiền ung thư và ung thư của phụ nữ
có nguy cơ, hầu hết trong số họ sẽ không có triệu chứng Tối thiểu, sàng lọc được khuyến nghị cho mọi người phụ nữ 30 – 49 tuổi ít nhất một lần trong đời Trên toàn cầu, năm 2012, có gần một tỷ phụ nữ từ 30 đến 49 tuổi, hầu hết trong số họ có chưa bao giờ được sàng lọc dù chỉ một lần trong đời Phát hiện sớm và điều trị các tổn thương tiền ung thư có thể ngăn ngừa phần lớn ung thư cổ tử cung Hiện có ba loại xét nghiệm khác nhau:
- Tế bào gốc (Pap) và tế bào học dựa trên chất lỏng (LBC)
- Kiểm tra trực tiếp với axit axetic (VIA)
- Xét nghiệm của AND HPV cho các loại HPV nguy cơ cao (ví dụ: loại 16 và 18)[51]
Theo kế hoạch hoạt động dự phòng và kiểm soát UTCTC của Bộ Y tế năm 2016
ở nước ta có đưa ra 3 phương pháp sàng lọc UTCTC [1]:
Bảng 1.1 Các phương pháp sàng lọc ung thư CTC
Cần có nhân viên phòng xét nghiệm được đào tạo tốt,
Trang 19Đặc điểm Tế bào học CTC Test VIA Test ADN HPV
nhuộm, lam kính; hệ thống vận chuyển bệnh phẩm và trả kết quả, hệ thống theo dõi
và giám sát các trường hợp dương tính
máy móc, ít vật tư tiêu hao
điện, bộ kit xét nghiệm, máy đọc; hệ thống vận chuyển bệnh phẩm và trả kết quả
Ghi chú Đã được đánh giá trong hơn
50 năm qua tại nhiều cơ sở y
tế ở các nước phát triển và đang phát triển Cần được lặp lại sau vài năm do độ nhạy thấp
Đã được đánh giá trong hơn 10 năm qua tại nhiều cơ sở
y tế ở các nước đang phát triển với kết quả tốt
- Đã được đánh giá hơn 10 năm qua tại nhiều nước phát triển, mới được đánh giá gần đây tại các nước đang phát triển
- Do độ nhạy cao có thể sàng lọc với tần suất thưa hơn
Theo khuyến cáo của các tổ chức trên thế giới, nên khởi đầu các chương trình sàng lọc hệ thống bằng cách phối hợp nhiều phương pháp sàng lọc khác nhau tùy theo địa dư, hạ tầng y tế và nguồn nhân lực, không nên dựa đơn thuần vào xét nghiệm tế bào
cổ tử cung do có độ nhạy không cao cũng như đòi hỏi các yêu cầu khá cao để đảm bảo chất lượng và độ che phủ Mặt khác, thiết lập chương trình sàng lọc mà không đi kèm với các biện pháp điều trị hiệu quả và sẵn có sẽ tác động rất ít đến việc làm giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong do ung thư cổ tử cung Do đó cần có hệ thống chuyển tuyến đến cơ
sở y tế tuyến cao và hệ thống thông tin hai chiều tốt để theo dõi chặt chẽ bệnh nhân Có thể xem xét áp dụng cách tiếp cận sàng lọc bằng VIA và điều trị với áp lạnh ngay sau
đó hoặc trì hoãn ngắn Nếu sử dụng cách tiếp cận này, cần có hệ thống chuyển tuyến đến cơ sở có soi cổ tử cung, có dịch vụ LEEP hoặc khoét chóp cổ tử cung để điều trị các trường hợp không đủ điều kiện áp lạnh
Trang 201.1.6 Tình hình chung trên thế giới và Việt Nam về ung thư cổ tử cung
a) Trên thế giới:
Dựa trên dữ liệu từ 2011 đến 2015 về 42.700 trường hợp mới liên quan đến HPV ung thư xảy ra ở Hoa Kỳ mỗi năm, bao gồm khoảng 24.400 phụ nữ và khoảng 18.300 đàn ông Ung thư cổ tử cung là phổ biến nhất ung thư liên quan đến HPV ở phụ nữ[22]
Mỗi năm ở Ấn Độ có 122.844 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư cổ tử cung và 67.477 người chết vì căn bệnh này Ấn Độ có dân số 432,2 triệu phụ nữ từ 15 tuổi trở lên có nguy cơ mắc ung thư Đây là bệnh ung thư phổ biến thứ hai ở phụ nữ từ
15 - 44 tuổi Ấn Độ cũng có tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung chuẩn hóa ở độ tuổi cao nhất
ở Nam Á là 22 so với 19,2 ở Bangladesh, 13 ở Sri Lanka và 2,8 ở Iran[43]
Năm 2017, Eun Kyeong Moon và các cộng sự đã nghiên cứu xu hướng và ảnh hưởng của giai đoạn tuổi tác đối với tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong của UTCTC ở Hàn Quốc cho thấy, tỷ lệ mắc UTCTC giảm từ 32,8/100.000 vào năm 1993 xuống còn 15,9/100.000 vào năm 2012 (thay đổi phần trăm hàng năm), tỷ lệ tử vong giảm từ 5,2/100.000 vào năm 1993 xuống còn 2,1/100.000 vào năm 2012 Tuy nhiên, tỷ lệ mắc
và tỷ lệ tử vong ở phụ nữ trẻ (<30 tuổi) tăng lên Một mô hình đoàn hệ tuổi của tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cho thấy hiệu ứng thời kỳ giảm dần giữa năm 1993 và 2008 và giảm hiệu ứng đoàn hệ giữa năm 1928 và năm 1973, trong khi đoàn hệ sau sinh năm
1973 cho thấy tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong của UTCTC tăng nhẹ[32]
Để loại bỏ ung thư cổ tử cung trong thời đại này, các phương pháp sàng lọc phải tính đến các chương trình vắc-xin Đề xuất sàng lọc ung thư cổ tử cung trong kỷ nguyên tiêm vắc-xin HPV vào năm 2018 của Yung-Taek Ouh và Jae Kwan Lee chỉ ra các xét nghiệm DNA HPV nguyên phát sẽ được thay thế cho xét nghiệm Pap smear thông thường trong các xét nghiệm sàng lọc, cho phép xét nghiệm Pap smear chỉ áp dụng cho phụ nữ dương tính với HPV Giáo dục bệnh nhân và nhà cung cấp, một
Trang 21chương trình tiêm chủng hiệu quả để tăng tỷ lệ bao phủ vắc-xin và khuyến khích dựa trên trường học có thể giúp loại bỏ bệnh liên quan đến HPV và UTCTC xâm lấn
Tại Hàn Quốc, một chương trình tiêm chủng quốc gia đã được triển khai từ năm
2016 và các chiến lược để tăng thêm tỷ lệ tiêm chủng cần có sự tham gia của chính phủ, trường học và phụ huynh Vì vắc-xin HPV không bao gồm tất cả các loại vi-rút có nguy cơ cao, nên việc sàng lọc các tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung sẽ không được loại bỏ Trong những thập kỷ sau chương trình vắc-xin HPV quốc gia với
tỷ lệ bao phủ cao, các chiến lược sàng lọc hiện có dựa trên tế bào học chính như Pap smear nên được xem xét, bởi vì tỷ lệ thấp của tế bào học bất thường của cổ tử cung sẽ làm cho việc sàng lọc ít hiệu quả và không hiệu quả Xét nghiệm HPV tiên phát sẽ đóng một vai trò quan trọng vì xét nghiệm sàng lọc và tế bào học nên được dành riêng cho những phụ nữ có xét nghiệm dương tính với HPV[38]
Moyer cùng cộng sự năm 2012 đã cập nhật khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm Dịch vụ dự phòng Hoa Kỳ (USPSTF) năm 2003 về sàng lọc ung thư cổ tử cung Khuyến nghị này áp dụng cho những phụ nữ có cổ tử cung, bất kể tiền sử tình dục Khuyến nghị này không áp dụng cho những phụ nữ đã được chẩn đoán tổn thương
cổ tử cung tiền ung thư hoặc ung thư cổ tử cung mức độ cao, những phụ nữ tiếp xúc với diethylstilbestrol hoặc những phụ nữ bị suy giảm miễn dịch (như những người nhiễm HIV), khuyên nên sàng lọc ung thư cổ tử cung ở phụ nữ từ 21 đến 65 tuổi bằng
tế bào học (Papanicolaou smear) cứ sau 3 năm hoặc đối với phụ nữ từ 30 đến 65 tuổi muốn kéo dài khoảng thời gian sàng lọc, sàng lọc bằng kết hợp xét nghiệm tế bào học
và xét nghiệm HPV cứ sau 5 năm[33]
Để truyền đạt được các thông tin dự phòng UTCTC và giúp phụ nữ tiêm phòng vắc xin và tầm soát còn là một vấn đề với một số nước Tại Nam Ghana kết quả cho thấy 68,4% chưa bao giờ nghe nói về UTCTC, 93,6% không biết gì về các yếu tố nguy
cơ, 2,3% cho rằng nhiều bạn tình và hoạt động tình dục là yếu tố nguy cơ và 92% không biết về dự phòng và điều trị ung thư cổ tử cung Phần lớn 97,7% chưa bao giờ
Trang 22nghe nói về xét nghiệm phết tế bào Pap Chỉ có 0,8% phụ nữ trong số 392 người đã làm xét nghiệm phết tế bào Pap Lý do tìm kiếm xét nghiệm phết tế bào Pap bao gồm giới thiệu, sợ ung thư cổ tử cung và các chiến dịch radio Giáo dục toàn diện về sàng lọc ung thư cổ tử cung và loại bỏ các rào cản tiếp cận là rất quan trọng trong việc giảm nguy cơ liên quan đến bệnh và tăng cường sức khỏe của phụ nữ[23]
Để dự phòng UTCTC hiệu quả còn vướng phải rất nhiều rào cản như nghiên cứu
về rào cản sàng lọc ung thư cổ tử cung, Laura cùng cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu định tính vào năm 2015 ở phụ nữ dân tộc thiểu số, cho thấy rào cản đối với sàng lọc cổ tử cung do tất cả phụ nữ nêu ra là cảm xúc (sợ hãi, bối rối, xấu hổ), thực tế (thiếu thời gian) và nhận thức (không có triệu chứng)[30] Hay theo nghiên cứu của Assoumou năm 2015, lý do phổ biến nhất không thực hiện xét nghiệm Pap smear là bỏ bê (50%) sau đó là thiếu nguồn tài chính (13,6%), vì sợ phát hiện ra một căn bệnh nghiêm trọng (13,6%) và coi đó là không quan trọng (13,6%)[16]
b) Tại Việt Nam
Việt Nam là một trong số các nước được hỗ trợ của GAVI thực hiện tiêm vắc xin HPV phòng UTCTC Tại các khu vực kém phát triển trên thế giới và ở các quốc gia
đủ điều kiện GAVI ung thư cổ tử cung là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở phụ nữ, nơi xảy ra 54% ca tử vong do ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới Nếu việc dự phòng không được thực hiện ở các quốc gia này, chỉ riêng việc tăng dân số sẽ dẫn đến tỷ lệ tử vong tăng lên 63% vào năm 2025[29]
Theo thống kê qua nghiên cứu tại 5 thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh, Huế, Cần Thơ và Thái Nguyên để thu thập thông tin về tỷ lệ nhiễm trùng cổ tử cung HPV Hai loại HPV có nguy cơ cao tại các thành phố này là HPV loại 16 và 18, ở những phụ nữ đã kết hôn trong nghiên cứu này dao động từ 3,1% đến 7,4%, cao nhất là tại Cần Thơ 4,9 % đối với loại HPV 18 Nhưng nhận thức về vắc-xin HPV và vắc-xin HPV vẫn còn thấp trong các mẫu nghiên cứu[50]
Trang 23Việt Nam là 1 trong 4 quốc gia (cùng với Ấn Độ, Peru và Uganda) tham gia vào chương trình toàn cầu và toàn diện về ung thư cổ tử cung, giảm ung thư cổ tử cung qua tiêm vắc xin, sàng lọc và điều trị ung thư cổ tử cung Chương trình này do quỹ Bill & Melinda Gates Foundation tài trợ, được PATH triển khai cùng với các đối tác khác như Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương và Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế Vắc xin Gardasil® được triển khai bởi Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia theo hai chiến lược: tiêm chủng tại trường học cho học sinh lớp 6 (có theo dõi tại cộng đồng) và tiêm chủng tại trạm y tế cho trẻ em gái tuổi 11 ở khu vực thành thị, nông thôn và miền núi từ năm 2008 đến 2010 Tổng số có trên 6.400 trẻ em gái đã nhận được ít nhất 1 liều vắc xin HPV[39], [1]
Hiện nay nước ta đã triển khai tiêm vắc xin dự phòng UTCTC, tuy nhiên theo một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng vắc-xin HPV ở những người trẻ Việt Nam (5,7%) thấp hơn đáng kể so với các đối tác Hoa Kỳ (42%)[28] Lý do cho hiện tượng này bao gồm chi phí cao, thiếu kiến thức về vắc-xin HPV, thái độ tiêu cực đối với vắc-xin HPV[40], và sợ tác dụng phụ[41]… Nghiên cứu của Trần Xuân Bách năm 2016 cho thấy trong khi đa số tin rằng vắc-xin HPV là an toàn (92,8%) và hiệu quả (90,8%),
và mong muốn được tiêm vắc-xin (71,1%), nhưng chỉ có 31,8% người tiêm vắc-xin Số phụ nữ tiêm phòng vắc xin được nhiều hơn khi được tư vấn và nghe nói về vắc-xin HPV từ đội ngũ y bác sĩ[49]
Vắc-xin HPV hiện đang được cung cấp dưới dạng vắc-xin dịch vụ cho trẻ em nữ
và phụ nữ trong độ tuổi 9-26 với liệu trình 3 mũi tiêm trong vòng 6 tháng Tính đến tháng 12/2015 đã có khoảng 514.000 liều vắc-xin Cervarix và 811.000 liều vắc-xin Gardasil được nhập vào Việt Nam, số phụ nữ được tiêm ước tính là 350.000 - 400.000 phụ nữ Chi phí cho liệu trình 3 mũi tiêm trong khoảng 2.400.000 đến 4.000.000 đồng
Chiến lược kiểm soát ung thư Quốc gia 2008 - 2010 cũng có mục tiêu tăng tỉ lệ chẩn đoán ung thư ở giai đoạn sớm từ 20% - 30% (tăng lên 50% trong Chương trình Kiểm soát Ung thư Quốc gia giai đoạn 2010 - 2020) Tuy nhiên chưa có kế hoạch triển
Trang 24khai chi tiết và thiếu nhân lực cũng như tài chính để thực hiện các chiến lược này.Hệ thống các phòng xét nghiệm tế bào cổ tử cung chỉ sẵn có ở tuyến tỉnh và tuyến trung ương, ở tuyến huyện là không đáng kể Đội ngũ nhân lực được đào tạo còn thiếu thốn
và công tác đảm bảo chất lượng tại các đơn vị xét nghiệm này chưa được chú trọng, kết quả là sàng lọc ung thư cổ tử cung chưa được triển khai trên diện rộng[1]
1.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng ung thư cổ tử cung
Năm 2014, theo nghiên cứu của Mark Jit và cộng sự đã xác thực rằng tiêm vắc xin HPV rất hiệu quả về chi phí góp phần ngăn ngừa được nhiều trường hợp ung thư
cổ tử cung hơn và các chương trình thống kê trong nghiên cứu đã tiêm vắc-xin cho 58 triệu bé gái 12 tuổi ở 179 quốc gia đã ngăn ngừa 690.000 trường hợp mắc ung thư cổ
tử cung và 420 000 ca tử vong trong suốt cuộc đời[28], cho thấy một phần tầm quan trọng của việc dự phòng UTCTC để giảm bớt gánh nặng cho cộng đồng
Các phương pháp dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung đã được Tổ chức Y
tế khuyến cáo bao gồm dự phòng cấp 1, cấp 2 và cấp 3 Để thực hiện được tốt các chương trình dự phòng cần triển khai nhiều hoạt động khác nhau từ hoạt động tuyên truyền dự phòng, đến phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung và trường hợp ung thư xâm lấn ở giai đoạn sớm và điều trị tại các cơ sở có đủ điều kiện từ đó giúp nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ [1]
Các thông tin chính xác có vai trò rất quan trọng để nâng cao sự hiểu biết về HPV và ung thư cổ tử cung của phụ nữ Nhiều người không hiểu nguyên nhân và hậu quả của ung thư cổ tử cung và có thể không hiểu được giá trị của vắc xin HPV đối với việc cải thiện tình trạng hiện tại Nếu không có sự hiểu biết như vậy và sự vận động ủng hộ mạnh mẽ, ít có khả năng các cá nhân sẽ ủng hộ việc tiêm vắc xin dự phòng
Trang 25Theo một số nghiên cứu cho thấy yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng UTCTC của phụ nữ được xác định là dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp hay biết người UTCTC, kiến thức thái độ và sự tiếp cận thông tin của ĐTNC
Các đặc điểm nhân khẩu học
Ung thư cổ tử cung là ung thư phổ biến thứ 3 ở phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến
44 tuổi ở nước ta và nhóm tuổi mắc UT CTC tập trung nhiều nhất thường vào phụ nữ ở 35-40 tuổi trở lên Chính vì vậy nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh sản rất được chú ý đến
dự phòng sớm để giảm thiểu tỷ lệ mắc và tử vong ở độ tuổi này[20]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú và cộng sự năm 2017 cho thấy yếu tố dân tộc có mối liên quan đến kiến thức phòng bệnh UTCTC, đối tượng nghiên cứu người Kinh có kiến thức về phòng bệnh UTCTC tốt hơn người đồng bào dân tộc, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01) [11]
Về trình độ học vấn cũng là một trong những yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành dự phòng UTCTC Theo nghiên cứu của Thapa M năm 2018 thì lý do chính của việc không làm xét nghiệm tế bào Pap là thiếu kiến thức về bệnh và xét nghiệm Trình độ học vấn cao của phụ nữ có tác động tích cực đáng kể đến kiến thức
về cổ tử cung ung thư và thực hành xét nghiệm phết tế bào Pap Kiến thức về cổ tử cung là tốt, nhưng kiến thức và thực hành xét nghiệm phết tế bào Pap còn kém[45].Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà chỉ ra rằng kiến thức về phòng UTCTC của nhóm phụ nữ có trình độ học vấn từ cấp III trở lên có trung bình điểm kiến thức cao hơn so với nhóm có học vấn cấp II trở xuống (p<0,01) [4]
Nghề nghiệp của người phụ nữ sẽ tạo ra cơ hội được tiếp cận những thông tin về
dự phòng UTCTC khác nhau Ở Iran năm 2016, Asgarlou cùng cộng sự nghiên cứu trên nữ sinh viên đại học và nhân viên bệnh viện cho kết quả 93% người tham gia coi ung thư cổ tử cung là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng , nhưng có đến 29,1% thừa
Trang 26nhận rằng họ không có thông tin về ung thư cổ tử cung Mối quan hệ có ý nghĩa thống
kê duy nhất với kiến thức là về các biến số giáo dục (p <0,001) và nghề nghiệp (p
<0,001)[15].Theo nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà cho thấy điểm trung bình kiến thức
và điểm trung bình thực hành của phụ nữ làm nghề khác nhau (như công nhân, nhân viên văn phòng…) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với những phụ nữ là nông dân [4]
Mỗi địa phương sẽ có sự truyền thông giáo dục sức khỏe khác nhau nên phụ nữ
sẽ được tiếp cận những thông tin về UTCTC cũng có thể khác nhau Nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú và cộng sự năm 2017 cho thấy có mối liên quan giữa nơi sinh sống của đối tượng nghiên cứu (nông thôn và thành thị) với hiểu biết về các biện pháp phòng ngừa bệnh ung thư cổ tử cung (p<0,01)[11]
Tiền sử gia đình mắc UTCTC là một trong những yếu tố liên quan đến kiến thức
và thái độ dự phòng UTCTC Theo nghiên cứu của Geremew năm 2018 cho thấy đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có trình độ học vấn cao hơn, biết ai đó bị ung thư cổ tử cung và có tiền sử lây truyền qua đường tình dục có liên quan đáng kể đến kiến thức về ung thư cổ tử cung Trong khi đó, tình trạng giáo dục đại học trở lên, biết ai đó
bị ung thư cổ tử cung và có kiến thức về ung thư cổ tử cung có liên quan tích cực với thái độ thuận lợi đối với sàng lọc ung thư cổ tử cung[24]
Để thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng UTCTC của phụ nữ thì nguồn tiếp cận thông tin là một yếu tố liên quan không thể không nhắc tới Gần như tất
cả các bệnh UTCTC là do các loại papillomavirus ở người (HPV) cụ thể gây ra Tiêm vắc xin dự phòng HPV cung cấp phương pháp dự phòng tiên phát hiệu quả nhất chống lại các bệnh liên quan đến HPV Việc sử dụng xét nghiệm Pap và xét nghiệm HPV, theo hướng dẫn được công bố, cung cấp phương tiện sàng lọc UTCTC hiệu quả nhất Vai trò của Điều dưỡng ở một vị trí quan trọng để cung cấp giáo dục sức khỏe với mục tiêu hỗ trợ các hướng dẫn tiêm phòng vắc xin và sàng lọc [47].Năm 2014, theo nghiên cứu của Giambi và cộng sự trong số các bậc cha mẹ đã thảo luận về tiêm chủng với bác
Trang 27sĩ thì sợ về các tác dụng phụ (80% gia đình), thiếu tin tưởng vào một loại vắc-xin mới (76%), và thông tin khan hiếm về tiêm chủng HPV (54%) là những rào cản được báo cáo phổ biến hơn đối với việc tiêm vắc-xin HPV Mặc dù bác sĩ nhi khoa / bác sĩ đa khoa và bác sĩ phụ khoa được coi là nguồn thông tin đáng tin cậy nhất , nhưng số người được tư vấn về tiêm vắc xin HPV còn thấp 49% và 31% Các chuyên gia y tế đóng một vai trò quan trọng là nhà cung cấp thông tin, do đó họ phải được đào tạo tốt hơn để cung cấp các khái niệm rõ ràng, để các thông điệp đồng nhất có thể đến được với đối tượng mục tiêu[25]
Kiến thức và thái độ
Kết quả nghiên cứu của Narayana cùng cộng sự năm 2017 cho thấy đặc điểm xã hội học liên quan chặt chẽ với mức độ kiến thức, thái độ và hành vi Mặc dù phụ nữ đang có kiến thức tốt, thái độ tích cực đối với sàng lọc và phòng ngừa ung thư cổ tử cung vẫn còn một khoảng cách để biến nó thành thực tiễn[35].Theo nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà năm 2013 tại tỉnh Thái Bình cho thấy điểm trung bình về kiến thức và thực hành về phòng ngừa UTCTC lần lượt là 12,1 trên tổng số 23 điểm và 5,1 điểm trên tổng số 13 điểm Kiến thức phòng ngừa UTCTC được xác định có mối liên quan với thực hành phòng ngừa UTCTC[4].Năm 2018, theo nghiên cứu của tác giả Okunowo cùng cộng sự cũng cho thấy những lý do chính để làm phết tế bào Pap là khuyến nghị
từ bác sĩ / điều dưỡng (89,4%) và sợ phát triển ung thư cổ tử cung (23,4%), trong khi lý
do không làm xét nghiệm Pap là thiếu nhận thức (53,8%) và không được khuyến cáo của xét nghiệm bởi các bác sĩ / điều dưỡng (31,0%) Tư vấn trước bởi các bác sĩ / điều dưỡng và biết ai đó bị ung thư cổ tử cung làm tăng đáng kể kiến thức về ung thư cổ tử cung và thực hành test Pap smear, trong khi trình độ học vấn cao chỉ liên quan đáng kể với sự hiểu biết về ung thư cổ tử cung và nhận thức về tế bào Pap Nghiên cứu cũng cho thấy rằng khi các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cung cấp giáo dục sức
Trang 28khỏe thường xuyên và khuyến nghị về xét nghiệm Pap smear, điều này sẽ làm tăng kiến thức về ung thư cổ tử cung và sàng lọc và giảm gánh nặng bệnh tật[37]
1.3 Thực trạng nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ về dự phòng ung thư cổ tử cung trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu tại Gabon, một quốc gia ở trung Phi năm 2014 trong số tất cả những phụ nữ được phỏng vấn, 91,6% đã nghe nói về ung thư cổ tử cung và chỉ 27,9% đã nghe nói về xét nghiệm Pap smear Trong số 126 phụ nữ này, chỉ có 65,1% (82/126) thực hiện sàng lọc ung thư cổ tử cung và 68,3% (56/82) theo đề nghị của bác sĩ [16]
Một nghiên cứu ở Campuchia năm 2016 về kiến thức, thái độ và thực hành đối với công tác dự phòng ung thư cổ tử cung ở phụ nữ ở tỉnh Kampong Speu, Campuchia
Đã cho thấy phụ nữ ở đây có nhận thức thấp về sàng lọc ung thư cổ tử cung và hiếm khi thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung Tuy nhiên, sự sẵn sàng để được xét nghiệm Pap (74%) và tiêm vắc-xin HPV (62%) là cao nhưng chỉ có 1% phụ nữ đã được tiêm vắc-xin ngừa HPV Trong số 440 người được hỏi, 74% và 34% phụ nữ đã nghe nói về ung thư cổ tử cung và xét nghiệm Smear Papanicolaou (Pap), tương ứng, và 7% phụ nữ
đã được kiểm tra bằng xét nghiệm Pap[48]
Một cuộc khảo sát cắt ngang tại bệnh viện ở Nam Ấn Độ năm 2017 về kiến thức, thái độ và thực hành đối với bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ tham gia Khoa Sản phụ khoa Hầu hết (301; 74,6%) số người được hỏi đã nghe về ung thư cổ tử cung
và phần lớn trong số họ được nghe từ phương tiện truyền thông (168; 41,6%) và bạn bè (83; 20,5%) Đa số phụ nữ biết các triệu chứng (259; 64,2%), các yếu tố nguy cơ (253; 62,7%), phương pháp sàng lọc (310; 76,9%) và các biện pháp dự phòng (249; 61,7%) đối với ung thư cổ tử cung Hơn một nửa số phụ nữ (252; 62,5%) có thái độ tích cực đối với sàng lọc Hơn ba phần tư phụ nữ (349; 86,6%) không được thực hành về sàng lọc ung thư cổ tử cung[35]
Trang 29Một nghiên cứu về kiến thức của phụ nữ về ung thư cổ tử cung, thực hiện xét nghiệm Pap smear và các yếu tố ảnh hưởng trong một bệnh viện đại học ở Nigeria năm
2018, cho thấy kiến thức của phụ nữ trong nghiên cứu này liên quan đến các triệu chứng và yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung là rất kém (tương ứng 40% và 15,6%), mặc dù tỷ lệ nhận thức là 78,5% Tương tự như vậy, tỷ lệ chấp nhận làm test Pap smear rất thấp (22,9 %), với tỷ lệ nhận thức là 55,1%[37]
Năm 2018, nghiên cứu về nhận thức về ung thư cổ tử cung và thực hành xét nghiệm phết tế bào Pap ở phụ nữ có vấn đề về phụ khoa cũng được thực hiện tại Nepal.Trong số ĐTNC, có 152 (74%) đã biết về cổ tử cung ung thư Chỉ có 80 phụ nữ (39%) biết về xét nghiệm phết tế bào Pap Số phụ nữ thực hiện xét nghiệm Pap smear
là 34 (16,6%) trong dân số nghiên cứu[45]
Kiến thức toàn diện về ung thư cổ tử cung, thái độ đối với sàng lọc và các yếu tố liên quan ở phụ nữ trong độ tuổi 30 - 49 ở thị trấn Finote Selam, tây bắc Ethiopia Tổng cộng có 1137 phụ nữ tham gia vào nghiên cứu này Có 30,3% của phụ nữ có kiến thức về ung thư cổ tử cung và 58,1% có thái độ thuận lợi đối với sàng lọc ung thư cổ tử cung[24]
Hoda Jradi cùng cộng sự năm 2018 đã nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ Ả Rập Xê Út về ung thư cổ tử cung, cho thấy sự thiếu kiến thức và nhận thức về ung thư cổ tử cung, HPV và vắc-xin HPV, ĐTNC không nhận thấy sàng lọc ung thư cổ tử cung là cần thiết bởi vì phụ nữ không có dấu hiệu và triệu chứng cho rằng mình không có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung Hầu hết các thành viên trong nhóm báo cáo không biết về HPV và đó là một bệnh lây truyền qua đường tình dục Chỉ có 7 người tham gia (9%) có một số kiến thức về HPV Phụ nữ từ các nhóm tập trung bày tỏ rằng sàng lọc ung thư cổ tử cung là không cần thiết vì họ cho rằng bản thân họ không có nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung vì họ không có dấu hiệu và triệu chứng Khoảng 30% các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe không phải là
Trang 30bác sĩ không biết về các phương pháp dự phòng và 63,3% không thực hiện bất kỳ phương pháp sàng lọc nào đối với bệnh ung thư cổ tử cung [27]
1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Năm 2013 Phạm Thọ Dược và các cộng sự đã nghiên cứu trên 1072 phụ nữ tuổi sinh đẻ tại Đắk Lắk cho kết quả tỷ lệ nghe/biết về ung thư cổ tử cung là 83,1%, nghe/biết về HPV là 33,8%, nghe/biết vắc xin phòng HPV dự phòng ung thư cổ tử cung là 47,3% Cần thiết phải có một chương trình truyền thông tích cực với sự phối hợp nỗ lực của các cấp, các ngành để nâng cao nhận thức về bệnh ung thư cổ tử cung
và tiếp cận với các chương trình sàng lọc[14]
Kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng ung thư cổ tử cung của sinh viên nữ năm thứ 3 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 2014 của Đặng Đức Nhu cho thấy trong 60% đối tượng nghiên cứu biết đến các dấu hiệu nghi mắc ung thư
cổ tử cung, dấu hiệu được biết đến nhiều nhất là chảy dịch hôi qua âm đạo (29%) Biện pháp phòng bệnh được đối tượng nghiên cứu biết đến nhiều nhất là khám sức khỏe định kỳ (82,2%) và tiêm phòng vắc-xin HPV (81,64%) Khi có dấu hiệu bất thường hoặc nghi ngờ mắc ung thư cổ tử cung, đối tượng nghiên cứu đều lựa chọn đến cơ sở y
tế khám/điều trị càng sớm càng tốt (92, 66 %) Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đi khám sức khỏe định kỳ và tiêm phòng vắc-xin HPV đều rất thấp[7]
Trần Thị Vân và cộng sự cũng đã nghiên cứu về kiến thức, thực hành về phòng lây nhiễm HPV của phụ nữ tuổi 15-49 có chồng tại Hải Dương và Phú Thọ năm 2014 Kết quả cho thấy trên toàn mẫu có 45,8% đối tượng đã từng nghe tới HPV Tỷ lệ biết hiện đã có vắc xin phòng HPV là 50,4%, nhưng chỉ có 0,5% phụ nữ đã tiêm đủ 3 mũi vắc xin HPV và hơn một nửa phụ nữ không dùng bao cao su (BCS) khi quan hệ tình dục Đáng chú ý trong số phụ nữ đã nghe nói về HPV, chỉ có hơn một nửa số câu hỏi
về kiến thức được trả lời đúng (<45%) Nghiên cứu cho thấy kiến thức và thực hành về phòng lây nhiễm HPV của phụ nữ tuổi 15 - 49 có chồng còn thấp và chưa đầy đủ[13]
Trang 31Tìm hiểu kiến thức của học sinh nữ trường trung cấp y tế Quảng Bình về phòng
và phát hiện sớm ung thư cổ tử cung năm 2016 của Phan Thị Thanh Tâm và cộng sự cho thấy 100% học sinh biết/nghe nói về bệnh UTCTC; 96,0% biết UTCTC là bệnh ung thư hay gặp ở phụ nữ; 55,2% học sinh nữ biết UTCTC không thể điều trị khỏi hoàn toàn; 88,5% học sinh biết độ tuổi có nguy cơ mắc UTCTC là từ 35- 30 tuổi, đã quan hệ tình dục Tỷ lệ hiểu biết của học sinh nữ về phương pháp phát hiện sớm UTCTC không cao (< 50%) và có 15,9% học sinh không biết về phương pháp phát hiện sớm UTCTC Biện pháp phòng ngừa UTCTC được học sinh nữ biết đến nhiều nhất là khám phụ khoa định kỳ 93,7 % Tỷ lệ học sinh biết về bệnh UTCTC có vắc xin phòng ngừa chiếm tỷ lệ cao 73,8%[8]
Nghiên cứu “Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về ung thư cổ tử cung và các biện pháp phòng ngừa của phụ nữ 15 - 49 tuổi tại Bình Định, năm 2017” của Nguyễn Thị Như Tú và cộng sự cho thấy kết quả tỷ lệ phụ nữ có kiến thức ở mức độ đạt về các biện pháp phòng ngừa bệnh ung thư cổ tử cung là 11,5% và về bệnh UTCTC là 2,7%[11]
Trang 32Nguồn tiếp cận thông
tin truyền thông về dự
phòng UTCTC
Thực hành: hành vi dự
phòng UTCTC của các ĐTNC: khám phụ khoa định
kỳ, tiêm phòng vắc xin HPV, khám sàng lọc…
Thái độ: về các vấn đề
nghiêm trọng của bệnh UTCTC, sự cần thiết khám phụ khoa định kỳ, tiêm vắc xin, khám sàng lọc
Kiến thức
- Đặc điểm bệnh UTCTC
- Các phương pháp dự phòng và phát hiện sớm UTCTC
Nguồn tiếp cận thông
tin truyền thông về dự
phòng UTCTC
Thực hành: hành vi dự
phòng UTCTC của các ĐTNC: khám phụ khoa định
kỳ, tiêm phòng vắc xin HPV, khám sàng lọc…
Thái độ: về các vấn đề
nghiêm trọng của bệnh UTCTC, sự cần thiết khám phụ khoa định kỳ, tiêm vắc xin, khám sàng lọc
Kiến thức
- Đặc điểm bệnh UTCTC
- Các phương pháp dự phòng và phát hiện sớm UTCTC
Trang 331.5 Địa bàn nghiên cứu
1.5.1 Tỉnh Lâm Đồng
Lâm Đồng, vùng đất thuộc Nam Tây Nguyên, nằm ở độ cao trung bình từ 800 – 1000m so với mặt nước biển Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam tính đến năm 2016, Lâm Đồng có diện tích tự nhiên khoảng 9.783 km2, dân số trung bình
là 1288 nghìn người, mật độ trung bình khoảng 132 người/ km2 Lâm Đồng có 12 đơn
vị hành chính gồm 02 thành phố (Đà Lạt, Bảo Lộc) và 10 huyện, là một tỉnh duy nhất
ở Tây Nguyên có 2 thành phố[8] Thành phố Đà Lạt là trung tâm hành chính-kinh
tế-xã hội của tỉnh, về hướng Bắc cách thủ đô Hà Nội 1.500 km, về hướng Nam cách thành phố Hồ Chí Minh 320 km và về hướng Đông cách cảng biển Nha Trang 210
km Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Lâm Đồng có 187 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Trong đó có 14 Bệnh viện, 22 phòng khám đa khoa khu vực và 148 Trạm y tế phường xã, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, với 3015 giường bệnh
1.5.2 Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng được xây dựng tại thành phố Đà Lạt, đến năm 2017 Bệnh viện hiện có quy mô 590 giường bệnh với gần 700 cán bộ y bác sĩ, nhân viên phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tỉnh, các tỉnh lân cận và khách du lịch Bệnh viện có 36 khoa /phòng đơn vị chuyên môn, đặc biệt mới thành lập các khoa chuyên sâu như: tim mạch, ung bướu, thăm dò chức năng,…được trang bị nhiều thiết bị y tế hiện đại có thể tầm soát ung thư, cũng như triển khai các kỹ thuật cao
và mới điều trị ung thư cùng tất cả các mặt bệnh khác, giúp công tác khám bệnh, chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người dân càng ngày tốt hơn Bệnh viện đã đủ đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng II và đang tiến tới phấn đấu xây dựng bệnh viện hạng I vào năm 2020
Hàng ngày, Bệnh viện đón tiếp hàng ngàn lượt bệnh nhân tới khám và điều trị tại tất cả các khoa phòng Số lượng bệnh nhân tăng qua các năm, năm 2017 đón tiếp
Trang 34hơn 300.000 lượt khám bệnh, tăng 0.04% so với năm 2016 [9] Theo thống kê của Bệnh viện, tại khoa Sản của bệnh viện có 9000 lượt bệnh nhân tới khám phụ khoa trên năm, trung bình mỗi tháng có khoảng 750 phụ nữ tới khám phụ khoa
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ từ 15 – 49 tuổi đến khám phụ khoa tại phòng khám Sản khoa Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Lâm Đồng từ tháng 3/ 2019 đến tháng 5/2019
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
- Chưa tham gia vào các nghiên cứu tương tự
- Có khả năng trả lời bảng câu hỏi
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những người đang mắc và điều trị UT CTC
- Không thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu nêu trên
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gianthu thập dữ liệu: Từ tháng 3/2019 đến tháng 5/2019
- Địa điểm: Phòng khám Sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- / : Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95 %, Z = 1.96
- : Tỷ lệ phụ nữ có kiến thức tốt về dự phòng UTCTC, ước tính khoảng 50%, như vậy là p = 0,5 (Theo nghiên cứu Bùi Thị Thu Hà năm 2013) [4]
- : làkhoảng sai lệch chấp nhận được so với thực tế cộng đồng
Trang 36Chọn d = 0.05
- Thay số vào công thức trên ta có n = 384, cỡ mẫu chúng tôi đã phỏng vấn trong nghiên cứu này là 400 người
2.5 Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu thuận tiên, tất cả các đối tượng đến khám tại phòng khám Sản phụ khoa
đủ tiêu chuẩn lựa chọn đều được đưa vào nghiên cứu cho đến khi đủ cỡ mẫu Về phần thực hành cỡ mẫu này có thể nhỏ hơn mẫu kiến thức, vì vậy lấy mẫu kiến thức làm đại diện
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Xin ý kiến chuyên gia: trước khi thử nghiệm bộ công cụ
Chuyên gia bao gồm một chuyên gia Tiến sỹ y học tại Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe tỉnh Lâm Đồng đang giảng dạy bộ môn Điều dưỡng Sản phụ khoa
-và một chuyên gia là bác sĩ chuyên khoa I Khoa Sảntại Bệnh viện Đa khoa huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
Bộ công cụ được chuyển đến các chuyên gia để xin ý kiến, ý kiến được các chuyên gia đánh giá và cho ý kiến ngay đối với chủ nhiệm đề tàivề một số nội dung sau:
- Trình bày lại ý của một số câu hỏi để đối tượng được phỏng vấn dễ hiểu
- Sắp xếp lại thứ tự các câu hỏi trong bộ công cụ cho hợp lý trong phần III
- Chỉnh sửa một số nội dung của câu hỏi để chính xác hơn
Sau đó, bộ công cụ được chỉnh sửa phù hợp theo ý kiến của chuyên gia Kết quả, 2 chuyên gia đã đồng ý về nội dung được xây dựng trong bộ công cụ nghiên cứu
Thử nghiệm bộ công cụ: trước khi tiến hành thu thập chính thức, bộ câu hỏi đã
được thử nghiệm và chỉnh sửa thông qua phỏng vấn thử với 40 người phụ nữ tới khám phụ khoa từ 15 - 49 tuổi(pilot test), trong đó Pretest (10 người), Pilot test (30 người) tới khám để hoàn thiện công cụ
Trang 37Sau khi tiến hành Pretest và Pilot test trên 40 người bệnh chọn ngẫu nhiên trong mẫu nghiên cứu nhận thấy không có lỗi bất thường đến từ nguồn dữ liệu cũng như bộ công cụ (không xuất hiện lỗi logic, thừa, thiếu thông tin ) nên bộ công cụ không điều chỉnh gì thêm
Pilot test giúp xác định điểm cắt kiến thức, thái độ, thực hành của ĐTNC như sau:
- Điểm cắt của kiến thức = 30 điểm
- Điểm cắt của thái độ = 8 điểm
- Điểm cắt của thực hành = 12 điểm
Tiến hành thu thập số liệu: Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn ĐTNC
dựa trên bộ câu hỏi có sẵn về kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng ung thư cổ tử cung Địa điểm hỏi tại nơi chờ khám bệnh tại phòng khám Sản lúc ĐTNC đang chờ khám bệnh và đo huyết áp
Điều tra viên: Để tạo niềm tin cho ĐTNC và đảm bảo thu thập thông tin thuận
lợi, điều tra viên (ĐTV) là 5sinh viên Điều dưỡng thực tập tại phòng khám Sản ĐTV được tập huấn về nội dung nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn, các yêu cầu và kỹ năng khi phỏng vấn nhằm đảm bảo độ chính xác của thông tin thu thập
Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, ĐTV sẽ đến phòng khám Sản chọn thời gian phù hợp tránh ảnh hưởng đến thời gian khám bệnh của ĐTNC Thời gian phỏng vấn là 15 -
30 phút/đối tượng, trung bình phỏng vấn 10 người/ngày Đầu tiên ĐTV trình bày lý do, mục đích và ý nghĩa của việc tiến hành nghiên cứu Nếu đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu, ĐTV bắt đầu tiến hành đánh giá kiếnthức, thái độ, thực hành của đối tượng dựa vào bộ công cụ xây dựng sẵn
- Người giám sát viên là Điều dưỡng trưởng khoa Sản cùng học viên xác suất kiểm tra các ĐTV khi đang phỏng vấn ĐTNC và sau mỗi ngày sẽ thu thập phiếu điều tra lại ngay để nhập liệu, tránh mất mát và sai sót
Trang 382.7 Biến số nghiên cứu (chi tiết tại phụ lục 2)
2.7.1 Nhóm biến số kiến thức về dự phòng UTCTC
- Kiến thức về đặc điểm bệnh UTCTC như mức độ trầm trọng của bệnh, nguyên nhân gây ra bệnh, triệu chứng, yếu tố nguy cơ…
- Kiến thức về các phương pháp dự phòng và phát hiện sớm UTCTC như: tiêm phòng vắc xin, các phương pháp dự phòng, sàng lọc, các phương pháp sàng lọc…
2.7.2 Nhóm biến số thái độ dự phòng UTCTC
Biến thái độ dự phòng UTCTC gồm các biến số liên quan đến ý kiến của ĐTNC về các vấn đề nghiêm trọng của bệnh UTCTC, sự cần thiết khám phụ khoa định kỳ, tiêm vắc xin, khám sàng lọc và QHTD an toàn…
2.7.3 Nhóm biến số thực hành dự phòng UTCTC
Biến thực hành dự phòng UTCTC gồm các biến số liên quan đến hành vi dự phòng UTCTC của các ĐTNC như khám phụ khoa định kỳ, tiêm phòng vắc xin HPV, khám sàng lọc…
2.8 Các khái niệm và thước đo,tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Công cụ thu thập dữ liệu
Số liệu được thu thập với hình thức phỏng vấn (thông qua bộ câu hỏi): Kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng ung thư cổ tử cung
Bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu có tham khảo các tài liệu
về bệnh ung thư cổ tử cung, kế hoạch hành động quốc gia dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung giai đoạn 2016-2025, đồng thời tham khảo bộ câu hỏi của các nghiên cứu về dự phòng ung thư cổ tử cung trước đây của một số tác giả như: Bùi Thị Thu Hà (2013)[4], Đặng Đức Nhu (2014)[7], Phạm Thọ Dược (2015)[14], bộ câu hỏi được thiết kế gồm 5 phần:
- Phần I: Thông tin cá nhân chung của đối tượng nghiên cứu: Gồm 9 câu hỏi từ câu A1- A9
- Phần II: Kiến thức về đặc điểm bệnhUTCTC : Gồm 9 câu hỏi từ câu B1 đến B9
Trang 39- Phần III: Kiến thức về các biện pháp dự phòngvà phát hiện sớm UTCTC : Gồm
11 câu hỏi từ câu C1 đến C11
- Phần IV: Thái độ dự phòng UTCTC: Gồm 7 câu hỏi từ câu D1 đến D7
- Phần V: Thực hành dự phòng UTCTC: Gồm 11 câu hỏi từ câu E1 đến E11
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá (chi tiết tại phụ lục 4)
Sau khi chạy Pilot test, xác định điểm cắt (cut off) theo từng biến cho ra mức để đánh giá, phân loại mức độ kiến thức, thái độ và thực hành đạt hay không đạt dự phòng UTCTC như sau:
Đánh giá kiến thức của ĐTNC về dự phòng ung thư cổ tử cung:
- Kiến thức là sự hiểu biết của ĐTNC liên quan đến dự phòng UTCTC
- Dựa vào câu trả lời của ĐTNC để đánh giá kiến thức của họ Cho điểm mỗi câu trả lời đúng ĐTNC theo từng mức độ, trả lời sai 0 điểm, sau đó tính tổng điểm kiến thức Tổng số điểm kiến thức tối đa là 51 điểm, số điểm càng cao thì kiến thức dự phòng UTCTC của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ càng cao
- Điểm cắt = 30 theo ROC Curve Những ĐTNC điểm kiến thức từ 30 điểm trở lên
là đạt, dưới 30 điểm là chưa đạt
Đánh giá thái độ của ĐTNC về dự phòng ung thư cổ tử cung:
- Thái độ là những biểu hiện ra bên ngoài của ĐTCN về những quan điểm liên quan đến dự phòng UTCTC
- Sử dụng thang đo thái độ Likert 5 mức độ: hoàn toàn đồng ý, đồng ý, không ý kiến, không đồng ý, hoàn toàn không đồng ý.Nghiên cứu này có 7 quan điểm được sử dụng để đolường thái độ của phụ nữ (từ D1-D7) Mỗi câu ĐTNC chọn hoàn toàn đồng ý 2 điểm, đồng ý 1 điểm, các mức chọn còn lại được 0 điểm Tổng số điểm thái độ tối đa là 14 điểm, số điểm càng cao thì thái độ dự phòng UTCTC của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ càng tích cực
Trang 40- Điểm cắt = 8 theo ROC Curve Những ĐTNC điểm thái độ từ 8 trở lên là tích cực, dưới 8 là chưa tích cực
Đánh giá thực hành của ĐTNC về dự phòng ung thư cổ tử cung:
Dựa vào câu trả lời của ĐTNC để đánh giá thực hành của họ Cho điểm mỗi câu trả lời đúng ĐTNC, trả lời sai 0 điểm, sau đó tính tổng điểm thực hành Tổng số điểm thực hành tối đa là 16 điểm, số điểm càng cao thì thực hành dự phòng UTCTC của phụ
nữ trong độ tuổi sinh đẻ càng cao
Điểm cắt = 12 theo ROC Curve Những ĐTNC điểm thực hành từ 12 trở lên là thực hành đúng, dưới 12 là thực hành chưa đúng
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu sau khi được làm sạch được nhập, kiểm tra bằng phần mềm Epidata 3.1
- Các kết quả nghiên cứu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
- Các số liệu được trình bày dưới dạng số lượng và tỷ lệ phần trăm (%),Khi bình
phương, tỷ suất chênh OR và khoảng tin cậy 95%để tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng UTCTC của phụ nữ từ 15
- 49 tuổiđến khám phụ khoa tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đánh giá ở ngưỡng xác suất p<0,05
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện sau khi Hội đồng Khoa học và Đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định thông qua
Nghiên cứu được tiến hành với sự đồng ý của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng Trước khi trả lời ĐTNC đã được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu Quá trình lấy số liệu nghiên cứu chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của người tham gia, trường hợp nếu thấy không thích hợp, ĐTNC có thể từ chối không tham gia
Các thông tin thu thập được chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu Tất cả các thông tin về việc tham gia vào nghiên cứu của người tham gia nghiên cứu sẽ được bảo