1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thay đổi nhận thức về dự phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ xã đồng quế huyện sông lô tỉnh vĩnh phúc năm 2018

117 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Đánh giá sự thay đổi nhận thức về dự phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ - xã Đồng Quế - huyện Sông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc - năm 2018 sau can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe.. Truy

Trang 1

VŨ THI MINH THI

Trang 2

VŨ THI MINH THI

Trang 4

TÓM TẮT NGHIÊN cứu

Nghiên cứu can thiệp 1 nhóm có so sánh trước sau cho 200 phụ nữ có độ tuổi

từ 1 5 - 4 9 tuổi tại Xã Đồng Quế - Huyện Sông Lô - Tỉnh Vĩnh Phúc với nội dung nhận thức về dự phòng UTCTC với mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng nhận thức về dự phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ - xã Đồng Quế - huyện Sông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc - năm 2018 (2) Đánh giá sự thay đổi nhận thức về dự phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ - xã Đồng Quế - huyện Sông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc - năm 2018 sau can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe

Kết quả: Sau can thiệp giáo dục sức khỏe, điểm trung bình kiến thức về

dự phòng ung thư cổ tử cung đều tăng có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp với p < 0,05 Điểm trung bình kiến thức đạt được tại thời điểm trước can thiệp là 10,6 ± 5,6 điểm, ngay sau can thiệp điểm trung bình tăng lên 19.8 ± 2.5 điểm và sau can thiệp 1 tháng điểm trung bình còn 17,5 ± 4,0 điểm Điểm trung bình thái

độ về dự phòng UTCTC trước can thiệp đạt 44,0 ±5, 6 ngay sau can thiệp ngay sau can thiệp đạt 60.9 ± 4.9 điểm và sau can thiệp 1 tháng còn 56,1 ±7,1 điểm

Kết luận: Chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức về

dự phòng UTCTC bước đầu đã cho thấy có hiệu quả

Khuyến nghị: Tiếp tục nhân rộng chưomg trinh can thiệp và thường xuyên tổ

chức các chương trình tuyên truyền - giáo dục sức khỏe về dự phòng UTCTC để nâng cao và duy trì nhận thức về dự phòng UTCTC của phụ nữ

Trang 5

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Lê Thanh Tùng, người thầy đã tận tình dìu dắt và dành nhiều thời gian hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo và tập thể Trường Trung cấp

Y tế Vĩnh Phúc, Bệnh Viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, xã Đồng Quế - huyện Sông Lô

- tỉnh Vĩnh Phúc, đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi được tham gia và hoàn thành khóa học này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các phụ nữ tham gia nghiên cứu này đã tạo điều kiện để tôi phỏng vấn và hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ cho luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Nam Định, ngày tháng năm 2018

Vũ Thị Minh Thi

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Vũ Thị Minh Thi, là học viên lớp cao học Khóa III — Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Tôi xin cam đoan:

Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác

đã được công bố ở Việt Nam

Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Đã được đồng ý thu thập và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện việc thu thập số liệu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này

Nam Định, ngày tháng năm 2018

Vũ Thị Minh Thi

Trang 8

1.1.5 Các nghiên cứu về nhận thức dự phòng UTCTC trên thế giới và Việt Nam 101.2 Can thiệp thay đổi nhận thức dự phòng ung thư cổ tử cung 15

1.2.2 Truyền thông - giáo dục sức khỏe trong thay đổi nhận thức của người dân 201.2.3 Nghiên cứu hiệu qủa của truyền thông giáo dục sức khỏe 22

Trang 9

2.6.2 Công cụ giáo dục: 29

2.7.2 Việc tiếp cận dịch vụ y tế và các thông tin về dự phòng UTCTC 32

2.8.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về dự phòng UTCTC [18], [61], 332.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá thái độ về dự phòng UTCTC [61] 34

3.2 Thực trạng nhận thức về dự phòng ung thư cổ tử cung của đối tượng nghiên cứu 42

Trang 10

3.3.1 Thay đổi kiến thức về phòng UTCTC sau giáo dục sức khỏe 503.3.2 Thay đổi thái độ về phòng ung thư cổ tử cung sau TT - GDSK 52

4.2 Thực trạng nhận thức về dự phòng ung thư cổ tử cung của đối tượng nghiên cứu 5 8

4.2.2 Thực trạng thái độ của phụ nữ về phòng ung thư cổ tử cung 634.3 Thay đổi kiến thức, thái độ về phòng UTCTC sau giáo dục sức khỏe 654.3.1 Thay đổi kiến thức về phòng UTCTC sau giáo dục sức khỏe 654.3.2 Thay đổi thái độ về phòng ung thư cổ tử cung sau giáo dục sức khỏe 67

PHỤ LỤC 1: LIỆT KÊ BIẾN VÀ ĐỊNH NGHĨA BIỂN

PHỤ LỤC 3: PHIẾU ĐIỀU TRA

PHỤ LỤC 4 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC sức KHỎE

PHỤ LỤC 5 TỜ RƠI

Trang 12

Đối tượng nghiên cứu

Vi - rút gây ung thư cổ tử cungLây truyền qua đường tình dụcQuan hệ tình dục

Trung tâm y tếUng thư cổ tử cungTrung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sảnTruyền thông giáo dục sức khỏe

Trang 13

DANH MỤC BẢNG •

Bảng 3.1 Trình đô học vấn và nghề nghiệp của đối tượng nghiên cửu (n = 200) 38

Bảng 3.3 Các biên pháp tránh thai đã dùng của đối tương nghiên cửu (n = 200) 39Bảng 3.4 Các thông tin nhân đươc của đối tương nghiên cửu (n = 200) 41Bảng 3.5 Kiến thức chung về phòng ung thư cồ tử cung (n = 200) 42Bảng 3.6 Kiến thức về các yếu tố nguy cơ gây ung thư cồ tử cung (n = 200) 43Bảng 3.7 Điểm trung bình kiến thức về phỏng ưng thư cồ tử cung theo từng 44

Bảng 3.8 Điểm trung bình kiến thức về phòng ung thư cổ tử cung 45

Bảng 3.9 Điểm trung bình kiến thức về phỏng ung thư cổ tử cung 45

Bảng 3.10 Thái đô của tiêu cực đối tưọmg nghiên cứu về phòng UTCTC 46

Bảng 3.11 Thái đô của tích cưc đối tương nghiên cứu về phòng UTCTC (n = 200) 47 Bảng 3.12 Điểm trung bình thái đô của đối tựọrng nghiên cứu về phỏng ung thư cổ

Bảng 3.13 Điểm trung bình thái đô của đối tương nghiên cứu về phỏng ung thư cổ

Bảng 3.14 Thay đồi kiến thức về dự phòng ung thư cồ tử cung theo mức đô đạt

Bảng 3.15 Thay đồi điểm trung bình kiến thức về dự phòng ung thư cồ tử cung

Báng 3.16 Thay đồi thái đô tiêu cực về dự phòng UTCTC theo nội dung (n = 200) 52 Bảng 3.17 Thay đổi thái đô tích cưc về dư phỏng UTCTC theo nôi dung 54

Bảng 3.18 Thay đổi điểm trung bình thái đô về dư phỏng ung thư cồ tử cung theo

Trang 14

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, s ơ ĐỒ

Hình 1.1 Mô hình hoc thuyết về hoc tâp xã hôi của Albert Bandura 25

Biểu đồ 3 ■ 1 Phân bố nhỏm tuồi của đối tương nghiên cứu (n = 200) 37Biểu đồ 3.2 Số lần sinh con của đối tương nghiên cửu (n = 200) 39Biểu đồ 3.3 Tiếp cận nguồn thông của đối tuợng nghiên cứu (n = 200) 40Biểu đồ 3.4 Điểm thái đô về phỏng ung thư cố từ cung (n = 200) 48

Trang 16

tử vong hàng đầu cho phụ nữ Trong những năm gần đây mặc dù có nhiều biện pháp phòng UTCTC xong tỷ lệ mắc có xu hướng gia tăng và tử vong Theo thống kê ước tính năm 2012, trên thế giới đã phát hiện khoảng gần 527,624 ca ung thư cổ tử cung, và 265,672 phụ nữ chết vì bệnh này, gần 90% trong số đó ở các nước có thu nhập trung bình thấp [41] Cùng năm này, tại Việt Nam đứng ở vị trí thứ 4 về tỷ lệ mắc trong các bệnh ung thư, tỷ lệ mắc và tử vong do UTCTC ở Việt Nam là 5,146/100.000 và 2,423/100.000 phụ nữ [42] Tại cần Thơ và Đồng Bằng Sông Cửu Long có tỷ lệ mắc mới là 17,1/100.000 dân; Bệnh có xu hướng gia tăng nhưng thường phát hiện ở giai đoạn muộn nên biện pháp can thiệp sẽ kém hiệu quả và tỷ lệ

tử vong tăng [2],[21] Nếu không có các can thiệp sàng lọc, dự phòng và điều trị ung thư cổ tử cung thì trong khoảng 10 năm nữa, tỷ lệ mắc mới và chết do ung thư

cổ tử cung sẽ tăng thêm 25% và đến năm 2030, hầu hết các trường họp tử vong do ung thư cổ tử cung xảy ra ở các nước đang phát triển [5]

Mặc dù UTCTC là một căn bệnh nguy hiểm, nhưng hoàn toàn có thể phòng tránh được nếu người phụ nữ có kiến thức và thái độ phòng chống UTCTC tốt Các biện pháp phòng ngừa UTCTC bao gồm như hành vi lối sống lành mạnh, khám sàng lọc đều đặn và tiêm vắc-xin phòng bệnh Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới phương pháp dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung bao gồm bao gồm tuyên truyền giáo dục nhằm quan hệ tình dục an toàn, tiêm vắc-xin phòng nhiễm HPV, tránh hoặc làm giảm các yếu tố nguy cơ khác như lập gia đình sớm, có con sớm, hút thuốc lá (kể cả chủ động và thụ động) [5]

Mục tiêu chung của “Ke hoạch hành động quốc gia về dự phòng

và kiểm soát ung thư cổ tử cung giai đoạn 2016 - 2025” là dự phòng, sàng lọc và kiểm soát ung thư cổ tử cung nhằm phát hiện sớm, giảm tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung, góp phần đạt được mục tiêu của Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030 Để đạt được mục tiêu này thì một ừong những biện pháp đó là đẩy mạnh công tác

Trang 17

truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao kiến thức và tầm quan trọng của công tác

dự phòng UTCTC [5] Truyền thông giáo dục sức khỏe thúc đẩy dự phòng UTCTC

là rất hữu ích, đã có nhiều tác giả trên thế giới đã có những nghiên cứu đánh giá hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với thay đổi kiến thức, thái độ, hành vi của phụ nữ về dự phòng UTCTC [45],[48],[60] Đe đánh giá hiệu quả của công tác truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ về

dự phòng UTCTC tại xã Đồng Quế chứng tôi tiến hành nghiên cứu “Thay đổi nhận

thức về dự phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ - xã Đồng Quế - huyện Sông Lô tinh Vĩnh Phúc - năm 2018 ”

Trang 18

MỤC TIÊU NGHIÊN • cứu

1 Mô tả thực trạng nhận thức về dự phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ trong

độ tuổi sinh sản từ 15 - 49 - xã Đồng Quế - huyện Sông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc

- năm 2018

2 Đánh giá sự thay đổi nhận thức về dự phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 15 - 49 - xã Đồng Quế - huyện Sông Lô - tỉnh Vĩnh Phúc - năm 2018 sau can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Kiến thức về dự phòng ung thư cổ tử cung

1.1.1 Môt số khái niêm: • m

Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [8]

Ung thư cổ tử cung là u ác tính nguyên phát ở cổ tử cung, có thể xuất phát từ các tế bào biểu mô vảy, biểu mô tuyến hoặc các tế bào của mô đệm Tuy nhiên, hầu hết các ung thư cổ tử cung là ung thư biểu mô, trong đó chủ yếu là ung thư biểu mô vảy [3]

1.1.2 Dịch tễ học ung thư cồ tử cung

1.1.2.1 Tình hình ung thư cổ tử cung trên thế giới

Theo thống kê ước tính năm 2012, trên thế giới đã phát hiện khoảng gần 527,624 ca ung thư cổ tử cung, và 265,672 phụ nữ chết vì bệnh này, gần 90% trong số đó ở các nước có thu nhập trung bình thấp Nếu không có sự chú ý khẩn cấp, tử vong do ung thư cổ tử cung dự kiến sẽ tăng gần 25% trong 10 năm tới [41]

Ung thư cổ tử cung xảy ra trên toàn thế giới, nhưng tỷ lệ mắc cao nhất được tìm thấy ở Nam Á, Đông Nam Á, Đông Phi, Nam Mĩ, Đông Âu, Tây Phi với các tỷ

lệ mắc lần lượt là 14,946; 50,566; 45,707; 45,008; 33,882; 27,326 trên 100.000 phụ

nữ [41]

Tại Châu Á, UTCTC cũng là một trong bệnh ung thư gây tử vong hàng đầu cho phụ nữ các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Thái Lan, Myanmar và Việt Nam Trong đó tỷ lệ tử vong do UTCTC cao nhất ở Ấn Độ (67,477/100.000 phụ nữ), tiếp theo là Trung Quốc (29,526/100.000 phụ nữ) [41]

Trong khi đó ở Australia tỷ lệ mắc UTCTC là 938/100.00 phụ nữ và 357/100.000 số phụ nữ chết, tỷ lệ mắc UTCTC rất thấp so với các nước có thu nhập thấp [41]

Trang 20

1.1.2.2 Tình hình ung thư cổ tử cung ở Việt Nam

UTCTC tại Việt Nam đứng ở vị trí thứ 4 về tỷ lệ mắc trong các bệnh ung thư Ước tính năm 2012 tỷ lệ mắc và tử vong do UTCTC ở Việt Nam là 5,146/100.000 và 2,423/100,000 phụ nữ [42]

Theo nghiên cứu của Lê Thanh Hà và cộng sự, tỷ lệ nhiễm HPV ở Hà Nội là 6,13 % thấp hom so với Thành phố Hồ Chí Minh 8,27% [9] Nghiên cứu này cũng tương ứng với nghiên cứu của Lê Trung Thọ, Trần Văn Họp tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ

nữ Hà Nội là 5,13%, trong đó tỷ lệ nhiễm HPV cao ở nhóm tuổi từ 20-39 (18,47%) [22] Nghiên cứu của Trần Thị Lợi, Lê Thị Kiều Dung và Hồ Văn Phúc về tỷ lệ mắc HPV độ tuổi tử 18- 69 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh là 10,84% [15]

Tại Cần Thơ: Theo nghiên cứu của Lâm Đức Tâm phụ nữ từ 18 -69 tuổi nhiễm HPV là 99/1490 phụ nữ chiếm 6,64% [19]

Tổ chức Y tế thế giới dự báo nếu không có các can thiệp sàng lọc, dự phòng

và điều trị ung thư cổ tử cung thì trong khoảng 10 năm nữa, tỷ lệ mắc mới và chết

do ung thư cổ tử cung sẽ tăng thêm 25% và đến năm 2030, hầu hết các trường họp

tử vong do ung thư cổ tử cung xảy ra ở các nước đang phát triển [5]

1.1.3 Các yếu tố nguy cơ mắc ung thư cỗ tử cung [2],[3]

Quan hệ tình dục sớm

Quan hệ tình dục với nhiều người

Sinh đẻ nhiều

Vệ sinh sinh dục không đúng cách

Viêm cổ tử cung mạn tính, nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục Nhiễm virus HPV

Điều kiện dinh dưỡng, kinh tế xã hội thấp

Hút thuốc lá, đái tháo đường, suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV)

1.1.4 Chẩn đoán và điều trị ung thư cổ tử cung

1.1.4.1 Chẩn đoán [3]

a Lâm sàng

- Giai đoạn tại chỗ, vỉ xâm nhập:

Trang 21

Ở giai đoạn này, các triệu chứng cơ năng rất nghèo nàn Khi khám cổ tử cung có thể thấy hình thái bình thường hoặc có vết loét trợt hoặc vùng trắng không điển hình hoặc tăng sinh mạch máu.

- Giai đoạn ung thư xâm nhập:

+ Ra máu âm đạo bất thường hay ra máu sau giao họp

+ Khám bằng mỏ vịt thường thấy khối sùi, dễ chảy máu khi chạm vào

+ Giai đoạn muộn có thể thấy cổ tử cung biến dạng, có loét sâu hoặc cổ tử cung mất hẳn hình dạng

+ Suy giảm sức khỏe toàn thân, đái máu, đại tiện ra máu, đau hông lưng

b Cận lâm sàng

- Soi cổ tử cung:

+ Các hình ảnh bất thường: vết trắng ẩn, vết trắng, Chấm đáy, Lát đá, Vùng biểu mô không bắt màu lugol, Mạch máu không điển hình

+ Nghi ngờ ung thư xâm lấn qua soi cổ tử cung: vùng loét, sùi, tổn thương loét sùi

+ Soi cổ tử cung không đạt: không thấy vùng chuyển tiếp giữa biểu mô lát và biểu mô trụ, viêm nhiễm nặng, cổ tử cung không thể nhìn thấy do âm đạo hẹp

Các tổn thương nghi ngờ khi soi cổ tử cung càn được bấm sinh thiết làm mô bệnh học

- Chẩn đoán tế bào học phụ khoa:

Có các loại kỹ thuật: Papanicolaou (Pap) thông thường, kỹ thuật Thin Prep

và phương pháp tế bào học chất lỏng thế hệ 2 (LiquiPrep) Các kỹ thuật Thin Prep

và Liqui Prep có ưu điểm là hình ảnh mô học đẹp hơn, dễ đọc hơn qua đó làm tăng

độ nhậy, độ đặc hiệu của việc phát hiện các tế bào biểu mô bất thường và vẫn có giá trị dự báo dương tính, trong đó, kỹ thuật LiquiPrep có nhiều ưu điểm hơn so vói ThinPrep Chẩn đoán tế bào học theo phân loại Bethesda cải tiến 2001 như sau:

Trang 22

Te bào vẩy: Te bào biểu mô tuyến

- Tế bào vẩy không điển hình - Không điển hình

+ Ý nghĩa chưa xác định (ASCUS) + Tế bào tuyến cổ tử cung liên quan+ Không thể loại trừ tổn thương nội tân sản ác tính

biểu mô vẩy độ cao (ASCUS-H) +Te bào tuyến liên quan tân sản

- Tổn thương tế bào nội biểu mô vẩy ác tính

độ thấp (LSIL), bao gồm HPY, Loạn - Ung thư tế bào biểu mô tuyến cổ tử

- Tổn thương tế bào nội biểu mô vảy - Ung thư tế bào biểu mô tuyến

độ cao (HSIL), bao gồm loạn sản + Biểu mô tuyến cổ tử cung

trung bình, loạn sản nặng, + Biểu mô tuyến nội mạc tử cung

- Có dấu hiệu nghi ngờ ung thư xâm + Biểu mô tuyến không định loạinhập

- Ung thư tế bào biểu mô vảy

(NOS)

- Sinh thiết cổ tử cung:

Sau khi soi cổ tử cung và xác định có tổn thương nghi ngờ hoặc có kết quả tế bào không bình thường Sinh thiết hai mảnh: một mảnh ở ranh giới lát - trụ, một mảnh ở chính giữa tổn thương Nếu nghi ngờ tổn thương trong ống cổ tử cung thì dùng thìa nạo sinh thiết Khi các tổn thương nằm hoàn toàn trong cổ tử cung —> Khoét chóp cổ tử cung

Trang 23

d Phân loại giai đoạn lâm sàng

0 Ung thư tại chỗ (CIS), ung thư nội biểu mô

I Ung thư chỉ giới hạn tại cổ tử cung

IA Ung thư tiền lâm sàng, chỉ chẩn đoán được bởi vi thể

IA1 Xâm nhập rõ tối thiểu chất đệm.Tổn thương sâu < 3mm từ màng đáy,

rộng <7mm từ bề mặt hay tuyến mà nó phát sinh

IA2 Tổn thương sâu < 5mm, rộng <7mm, nếu rộng hơn thì ở nhóm Ib

IB

Tổn thương có kích thước lớn hơn ở giai đoạn la dù có thấy được trên lâm sàng hay không Tổn thương vùng không gian có trước không làm thay đổi việc định giai đọan mà cần ghi lại đặc biệt để dùng cho những quyết định điều trị tương lai

IB1 Đường kính lớn nhất của tổn thương < 4 cm

IB2 Đường kính lớn nhất của tổn thương >4 cm

II Ung thư xâm lấn quá cổ tử cung nhưng chưa đến thành xương chậu

hay chưa đến 1/3 dưới âm đạo

IIA Chưa xâm lấn dây chằng rộng

IIB Xâm lần dây chằng rộng

III Ung thư lan đến thành xương chậu và/hoặc tới 1/3 dưới âm đạo hoặc

đến niệu quản

IIIA Ung thư lan đến 1/3 dưới âm đạo, nhưng chưa đến thành xương chậu.

IIIB Ung thư lan đến thành xương chậu chèn ép niệu quản, làm thận ứ

nước hoặc mất chức năng

IV Ung thư lan đến ngoài khung chậu hay là xâm lấn niêm mạc bàng

quang và trực tràng

IVA Xâm lấn các cơ quan lân cận

Trang 24

e Chẩn đoán phân biệt: trên lâm sàng, các ung thư cổ tử cung cần phân biệt với

các tổn thương sau ở cổ tử cung:

- Lộ tuyến, loét trợt cổ tử cung

a Ung thư cổ tử cung giai đoạn tại chỗ

Khoét chóp cổ tử cung và theo dõi hoặc cắt tử cung hoàn toàn tùy nhu cầu sinh con tiếp theo

b Ung thư cổ tử cung gỉaỉ đoạn IA1

Nếu có nhu cầu sinh con thì khoét chóp cổ tử cung và kiểm tra diện cắt: nếu còn ung thư tại diện cắt thì phải cắt tử cung Nếu không còn nhu cầu sinh con thì cắt

tử cung hoàn toàn

c Ung thư cổ tử cung giai đoạn IA2

Nếu có nhu cầu sinh con thì khoét chóp cổ tử cung và lấy hạch chậu hai bên: kiểm tra diện cắt và hạch chậu Nếu còn ung thư tại diện cắt thì phải cắt tử cung hoàn toàn Nếu có di căn hạch thì xạ trị hệ hạch chậu Nếu không có nhu cầu sinh con thì cắt

tử cung hoàn toàn, lấy hạch chậu hai bên và xạ trị nếu có di căn hạch chậu

d Ung thư cổ tử cung giai đoạn IB - IIA

- Đối với giai đoạn I B 1 : phẫu thuật Wertheim

Áp dụng cho phụ nữ trẻ cần bảo tồn buồng trứng và có kích thước u < 2cm Phương pháp: cắt tử cung mở rộng , một phần âm đạo và lấy hạch chậu 2 bên Tia xạ sau phẫu thuật

- Đối với giai đoạn I B2 - IIA: xạ trị kết họp với phẫu thuật

+ Xạ trị tiền phẫu:

u < 4cm: xạ áp sát

u > 4cm: xạ ngoài thu nhỏ u sau đó xạ áp sát

Trang 25

+ Phẫu thuật: tiến hành sau khi nghỉ xạ trị 4 - 6 tuần, cắt tử cung mở

rộng và lấy hạch chậu hai bên

+ Xạ trị hậu phẫu

- Phương pháp xạ trị triệt căn

e Ung thư cổ tử cung giai đoạn IIB - III:

- Phương pháp xạ trị triệt căn

- Phương pháp hóa trị kết họp xạ trị

- Sau xạ sẽ đánh giá lại tổn thương xem có nên phẫu thuật không

g Ung thư cổ tử cung giai đoạn IV:

- Nếu còn khả năng phẫu thuật thì vét đáy chậu sau đó kết họp hóa trị và xạ trị sau mổ (ít làm)

- Nếu không còn khả năng phẫu thuật: hóa và xạ trị

1.1.5 Các nghiên cứu về nhận thức dự phòng UTCTC trên thế giới và Việt Nam 1.1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

a Kiến thức về ung thư cổ tử cung

Ung thư cồ tử cung

Tỷ lệ phụ nữ được cung cấp thông tin về UTCTC trong một số nghiên cứu dao động 11,6% - 98,4% Năm 2007, Marian K Pitts và cộng sự với 1100 phụ nữ

độ tuổi từ 18 đến 61 tuổi được phỏng vấn cho thấy có 51,2% nghe nói về bệnh này [50] Tỷ lệ này trong nghiên cứu của Serena Donati và cộng sự (2008) trên 667 phụ

nữ 1 8 - 2 6 tuổi tại Italian cho thấy có 83% nghe nói về bệnh này [56] Nghiên cứu của Li Ping Wong (2008) trên 499 phụ nữ Asian cho thấy tỷ lệ này chỉ là 11,6% [49] Tuy nhiên theo nghiên cứu của Krishnaveni và cộng sự (2017) trên 500 phụ nữ

20 - 70 tuổi cho thấy tỷ lệ nghe nói về bệnh này là 98,4% [47]

Mặc dù virus HPV là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra UTCTC nhưng tỷ lệ biết đến virus này tương đối thấp Theo nghiên cứu của Azadeh Stark (2003) chỉ có 19% xác định virus HPV là yếu tố nguy cơ chính gây UTCTC [29] Nghiên cứu của Song - Nan Chow và cộng sự (2008) trên 1.617 bà mẹ ở bốn nước Châu Á là Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan cũng chỉ có 19% bà mẹ nghe nói đến virus

Trang 26

HPV [57] Theo nghiên cứu của Sami Abdo Radman Al-Dubai và cộng sự (2009) trên 300 phụ nữ Malaysia đến khám tại bệnh viện cho thấy tỷ lệ này chỉ là 26% [54] Serena Donati và cộng sự (2008) trên 667 phụ nữ 1 8 - 2 6 tuổi tại Italia có 74,1% biết về virus HPV [56].

Tỷ lệ phụ nữ biết đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD)

là yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC trong một số nghiên cứu tương đối thấp dao động từ 21% - 49,4% Theo nghiên cứu của Song - Nan Chow và cộng sự (2008) cho thấy tỷ lệ phụ nữ biết về bệnh LTQĐTD tăng nguy cơ của bệnh UTCTC trên 1.617 ở các bà mẹ bốn nước Châu Á là Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan là 38% [57] Nghiên cứu của Chuenkamon Charakom và cộng sự (2009) tỷ lệ 49,4% biết về nguy cơ của bệnh này [39] Cũng trong năm này, Sami Abdo Radman Al-Dubai và cộng sự trên 300 phụ nữ Malaysia đến khám tại bệnh viện cho thấy tỷ lệ này chỉ có 21% [54]

Hành vi tình dục có nguy cơ gồm QHTD với nhiều người, bạn tình/chồng QHTD và QHTD sớm là các yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC Nghiên cứu của Song - Nan Chow và cộng sự (2008) trên 1.617 phụ nữ 4 nước Châu Á tỷ lệ là 36% biết đến hành vi QHTD có nhiều bạn tình [57] Theo nghiên cứu của Chuenkamon Charakom và cộng sự (2009) trên 764 phụ nữ đến khám tại bệnh viện

có 55,8 % [39] Nhưng theo nghiên cứu của Krishnaveni và cộng sự (2017) trên 500 phụ nữ 20 - 70 tuổi cho thấy tỷ lệ là 20,5% phụ nữ biết đến các hành vi QHTD với nhiều bạn tình là yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC [47]

Hành vi hút thuốc lá, uống rượu, ma túy, thiếu tập thể dục, yếu tố di truyền là những yếu tố nguy cơ có thể gây ra UTCTC [56] Theo nghiên cứu của Nacy Innocentia Ebu (2010) trên 392 phụ nữ thì 0% phụ nữ biết hút thuốc là về yếu tố nguy cơ gây UTCTC [51]

Tiêm phòng vắc-xin HPV

Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nghe đến vắc-xin HPV Theo nghiên cứu của Chuenkamon Charakom và cộng sự (2009) trên 764 phụ nữ đến khám tại bệnh

Trang 27

viện và nghiên cứu Silviana Arrossi và cộng sự (2009-2010) trên 1200 phụ nữ từ

1 8 - 4 9 tuổi là nghe nói về văc-xin HPV tuơng ứng là 36% và 36,5% [39],[58]

Các kênh thông tin về vắc-xin HPV, trong nghiên cứu của Li Ping Wong (2008) trên 499 phụ nữ Asían cho thấy thông tin đuợc nghe về vắc - xin HPV qua bạn bè là 45,7%, 31,4% qua tivi, 20% qua báo, 17,1% qua đài, 10% qua tạp chí [49] Theo nghiên cứu P.Cheena Chawla (2012-2013) trên 590 ĐTNC 81% đuợc

biết về sự tồn tại của văcxin phòng ngừa ung thu cổ tử cung nhung chỉ có 47 %

nguời đuợc hỏi đề nghị phụ nữ trẻ đuợc tiêm phòng HPV [34] Tại Anh, 76,4% trẻ

em gái từ 12-13 tuổi đuợc tiêm vắc-xin HPV thuờng quy trong năm 2009/2010 đã hoàn thành ba liều vắc-xin HPV, 82,3% đuợc tiêm ít nhất hai liều và 84,3% ít nhất một liều [40]

Sàng lọc ung thư cỗ tử cung

Có thể phát hiện sớm UTCTC bằng xét nghiệm sàng lọc Pap mear Theo nghiên cứu S.Aswathy và cộng sự (2009) trên 809 phụ nữ tại có 74,2% biết rằng có thể phát hiện sớm UTCTC qua xét nghiệm sàng lọc Nhung khi đuợc hỏi về thời điểm làm Pap mear thì có đến 89,7% không biết khi nào lên làm [31]

Theo nghiên cứu cứu Anne F Rositch và cộng sự (2009) trên 409 phụ nữ có 69% phụ nữ biết xét nghiệm Pap mear để kiểm tra phòng UTCTC [32],

Theo Samira Zoa Assoumou (2014) trên 452 phụ nữ từ 16 tuổi trở lên chỉ có 27,9% nghe nói về phòng UTCTC thông qua khám sàng lọc [55]

b Thái độ về dự phòng ung thư cổ tử cung

Tại Trung Quốc, theo Jing Li và cộng sự (2005-2007) trên 3654 có 60,7% phụ nữ báo cáo rằng họ có con gái Trong đó, 86,4% (3156/3654) sẵn sàng chủng ngừa con gái của họ, 13% (474/3654) không muốn, chủ yếu là (61,4%, 291/474) vì

họ nghi ngờ về sự an toàn của văcxin, tiếp theo là vì con gái của họ còn quá trẻ để đuợc chủng ngừa (38,6%, 183/474) [44] Serena Donati và cộng sự (2008) tại Italia cho thấy 72% phụ nữ 18-26 tuổi chấp nhận tiêm vắc-xin HPV cho bản thân, 22% cần thêm thông tin truớc khi quyết định và 6% không muốn tiêm vắc-xin [56]

Trang 28

Theo S Aswathy và Mariya Amin Quereshi cho biết chỉ có 32,6% sẽ đi khám sàng lọc; 3,1% không biết; 64,3% không dự định đi khám [31] Phụ nữ đưa ra nhiều lý do về việc họ không khám sàng lọc UTCTC chẳng hạn như không được bác sĩ khuyến cáo [36],[59], sợ phát hiện ra bệnh [58] và không có triệu chứng của bệnh [36],[59] Những lý do khác gồm ngại, sợ đau, sợ nhiễm trùng [44], không biết

về sàng lọc và không có thời gian do bận [36]

1.1.5.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam

a Kiến thức về ung thư cổ tử cung

Ung thư cồ tử cung

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2012) về “Kiến thức và thực hành phòng ung thư cổ tử cung của phụ nữ có con gái 11-14 tuổi học tại trường trung học cơ sở Dịch Vọng, quận cầu Giấy, Hà Nội, năm 2012” có 98% bà mẹ nghe đến UTCTC, nhưng chỉ có 39% bà mẹ có kiến thức về UTCTC đạt [18] Tỷ lệ nghe nói về bệnh UTCTC trong nghiên cứu của Christine Poulos và cộng sự (2009) tại Vĩnh Long là 85% trong tổng số 236 bà mẹ có con gái 9-17 tuổi [35]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Khuyên với 1.226 phụ nữ ở trong cộng đồng dân cư huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, tham gia vào nghiên cứu khi hỏi có kiến thức gì về bệnh lý UTCTC có 31,1% trả lời có, 68,9% trả lời không, về

chương trình tầm soát UTCTC có 20,2% trả lời có, 79,8% không Qua đó tác giả Nguyễn Ngọc Khuyên ghi nhận rằng kiến thức về bệnh UTCTC của phụ nữ thuộc cộng đồng dân cư huyện Chợ Mới còn thấp [13]

Vi rút HPV là yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh UTCTC, Không một bà mẹ nào tham gia nghiên cứu của Christine Poulos và cộng sự (2009) tại Vĩnh Long biết nguyên nhân của bệnh UTCTC là do nhiễm vi rút HPV [35] Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2012) chỉ có 31,3% bà mẹ biết tới vi - rút HPV [18]

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh UTCTC cho thấy 65,2% bà mẹ cho rằng vệ sinh sinh dục kém, không đúng cách là yếu tố nguy cơ của bệnh UTCTC, tiếp theo là QHTD với nhiều người (57,2%), viêm nhiễm sinh dục kéo dài (54,2%), mắc bệnh LTQĐTD (47,3%) và di truyền 42,3% Chỉ có 31,3% bà mẹ biết tới vi rút

Trang 29

HPV Còn 12,4% số đối tượng không biết bất kỳ yếu tố nào có thể làm gia tăng nguy cơ phát triển ƯTCTC ở nữ giới [18].

QHTD với nhiều người được nhắc tới nhiều hơn so với QHTD sớm hay mắc các bệnh LTQĐTD Tỷ lệ biết yếu tố có nhiều bạn tình trong nghiên cứu của Lê Thị Phương Mai và cộng sự (2010, Trần Thị Minh Tâm (2009) tại Sóc Sơn và Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2008) tại Củ Chi và Từ Liêm đưa ra tỷ lệ lần lượt là 69,8%, 70,4%; 85,5% [17],[20],[23]

Sàng lọc UTCTC

Theo nghiên cứu của Bùi Diệu và cộng sự (2008) trên 8085 ĐTNC tại 10 tỉnh:

Hà Nội, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Ninh Bình, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh đã có 51,3% đã từng nghe thông tin về xét nghiệm tế bào CTC để phát hiện UTCTC [7] Trịnh Hữu Vách và cộng sự (2010) trên 900 người dân từ 15 đến 65 tuổi tại Hà Nội, Huế, Thành Phố Hồ Chí Minh tỷ lệ người dân

biết về UTCTC lần lượt là 47,7 %; 48%; 66,3% [27].

Phan Hồng Vân Và Nguyễn Duy Tài đã thực hiện nghiên cứu trên 1.126 phụ

nữ 25 - 65 tuổi đến khám phụ khoa tại Trạm Y tế của 8 xã thuộc huyện Hòa Thành, Tây Ninh Kết quả chỉ có 20,78% biết rằng Pap mear là một phương pháp giúp phát hiện sớm UTCTC và có đến 80,99% chưa từng đi khám sàng lọc UTCTC [28]

Nghiên cứu của Christine Poulos và cộng sự (2011) cho thấy có 83% trong

số 236 bà mẹ từng khám phụ khoa, 12% trong số 236 bà mẹ cho biết đã từng khám

Trang 30

sàng lọc bằng một xét nghiệm nào đó 24/35 bà mẹ từng làm Pap mear chưa từngnghe đến xét nghiệm này [35].

b Thái độ về phòng ung thư cổ tử cung

Trong nghiên cứu của Lê Thị Phương Mai và cộng sự, tỷ lệ đó là 74,1% tại

Hà Nội đến 91,3% tại Thái Bình [17] Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2012) trên 202 bà

mẹ có con từ 11 - 14 tuổi có 94% gia đình không cho trẻ gái đi tiêm phòng vắc - xin phòng UTCTC lý do họ nghĩ con gái họ không có nguy cơ, sợ vắc - xin có tác dụng phụ, giá vắc - xin cao [18]

Nguyễn Thị Thi Thơ và cộng sự (2008) cho thấy chỉ có 70% phụ nữ ở Củ Chi

và 80% ở Từ Liêm từng khám phụ khoa và 50% khám phụ khoa định kỳ 6-12 tháng/làn [23] Nguyễn Minh Hiệp và cộng sự (2008) 62,4 % cho rằng không cần thiết đi khám phụ khoa vi không có triệu chứng, 46,5% sẽ điều trị được nếu phát hiện sớm, 75,7% cho rằng tầm soát UTCTC là cần thiết [12]

1.2 Can thiệp thay đổi nhận thức dự phòng ung thư cổ tử cung

1.2.1 Các biện pháp dự phòng ung thư cỗ tử cung

- Giữ gìn vệ sinh phụ nữ, vệ sinh sau giao họp và vệ sinh kinh nguyệt

- Khám phụ khoa định kỳ ít nhất 1 năm/1 lần, hoặc đi khám ở các cơ sở chuyên khoa khi có dấu hiệu bất thường như: ra máu sau giao họp, khí hư bất thường

- Thực hiện nếp sống lành mạnh, một vợ một chồng, không quan hệ tình dục phức tạp và sớm

1.2.1.2 Các khuyến cáo của tồ chức Y tế thế giới về dự phòng UTCTC [5]

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới phương pháp dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung bao gồm dự phòng cấp 1, dự phòng cấp 2, dự phòng cấp 3:

Trang 31

- Dự phòng cấp 1 bao gồm tuyên truyền giáo dục nhằm giảm lối sống tình dục có nguy cơ cao, quan hệ tình dục an toàn, tiêm vắc-xin phòng nhiễm HPV, tránh hoặc làm giảm các yếu tố nguy cơ khác như lập gia đình sớm, có con sớm, hút thuốc lá (kể cả chủ động và thụ động).

- Dự phòng cấp 2 bao gồm phát hiện các tổn thương tân sản nội biểu mô cổ tử cung và xử trí phù hợp Các phương pháp hiện được dùng trong phát hiện các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung bao gồm xét nghiệm tế bào cổ tử cung, quan sát cổ

tử cung với dung dịch acid acetic hoặc dung dịch Lugol, xét nghiệm ADN HPV Sau khi được phát hiện, tổn thương tiền ung thư có thể được điều trị bằng các phương pháp cắt bỏ (khoét chóp bằng dao, dao điện, laser, LEEP) hoặc phá hủy (áp lạnh, đốt điện, hóa hơi bằng laser)

- Dự phòng cấp 3 bao gồm phát hiện các trường họp ung thư xâm lấn ở giai đoạn sớm và điều trị tại các cơ sở có đủ điều kiện

- Điều trị ung thư giai đoạn tiến xa và chăm sóc giảm nhẹ là các thành tố không thể thiếu trong dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung

1.2.13 Thực trạng dự phòng và kiểm soát UTCTC [5]

* Trẽn thế giói

Nhờ các chương trình tuyên truyền và kiểm soát UTCTC mà tỷ lệ mắc mới

về UTCTC cũng giảm được đáng kể như sau:

Australia có chương trình sàng lọc tế bào cổ tử cung quốc gia rất hiệu quả từ năm 1991 Chương trình triển khai sàng lọc tế bào 2 năm/lần (kèm theo hệ thống theo dõi, nhắc nhở) cho phụ nữ từ 18 - 69 tuổi (hoặc sau khi có quan hệ tình dục được 2 năm), trong đó bao gồm phụ nữ đã được tiêm phòng HPV Xét nghiệm HPV chỉ áp dụng cho phụ nữ đã điều trị tổn thương tiền ung thư, sau đó có thể tiếp tục được soi và sinh thiết cổ tử cung Chương trình đã có hiệu quả làm giảm tỷ lệ hiện mắc ung thư cổ tử cung ở tất cả các nhóm tuổi (từ 12,7 xuống còn 4,9 trên 100.000),

là một trong những quốc gia có tử vong do ung thư cổ tử cung thấp nhất trên thế giới (1,4/100,000) [4]

Trang 32

Chương trình truyền thông và giáo dục sức khỏe tại trường học được triển khai tùy theo bang, thường bao gồm các chủ đề về sức khỏe tinh dục trong đó có bệnh lây truyền qua đường tình dục Chiến lược truyền thông đại chúng cũng được

sử dụng để tăng kiến thức của người dân về tiêm phòng vắc xin và chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung

Ở Thụy Điển, nhờ chương trình sàng lọc mà tỷ lệ mắc UTCTC giảm từ 20/100.000 năm 1965 xuống còn 6,6/100.000 năm 2005 Tại Anh tỷ lệ mắc UTCTC

đã giảm khoảng 70% so với 30 năm trước

* Tại Việt Nam

Công tác tiêm vắc-xin HPV (dựphòng cấp 1)

Cả hai loại vắc xin Gardasil® và Cervarix® được cấp phép và có mặt tại Việt Nam từ năm 2009 mặc dù chưa đưa vào chương trình tiêm chủng quốc gia Việt Nam có chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia rất thành công, vắc xin được cung cấp qua chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia dưới sự quản lý của

Bộ Y tế và triển khai bởi nhiều bên liên quan khác nhau ví dụ như Viện Vệ sinh dịch tễ Trưng ương, Viện vệ sinh dịch tễ khu vực, Trưng tâm y tế dự phòng và Trạm y tế

Việt Nam là 1 trong 4 quốc gia (cùng với Ấn Độ, Peru và Uganda) tham gia vào chương trình toàn cầu và toàn diện về ung thư cổ tử cung, giảm ung thư cổ tử cung qua tiêm vắc xin, sàng lọc và điều trị ung thư cổ tử cung Chương trình này do quỹ Bill & Melinda Gates Foundation tài trợ, được PATH triển khai cùng với các đối tác khác như Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương và Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em,

Bộ Y tế Vắc xin Gardasil® được triển khai bởi Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia theo hai chiến lược: tiêm chủng tại trường học cho học sinh lớp 6 (có theo dõi tại cộng đồng) và tiêm chủng tại trạm y

tế cho trẻ em gái tuổi 11 ở khu vực thành thị, nông thôn và miền núi Tổng số có trên 6.400 trẻ em gái đã nhận được ít nhất 1 liều vắc xin Mỗi chiến lược có sự quan tâm và chú ý khác nhau do ưu nhược điểm của chúng, nhưng nhìn chung các bên liên quan đều chấp nhận và độ bao phủ lớn, khoảng 94% trẻ em gái được tiêm

Trang 33

chủng đầy đủ trong năm thứ hai triển khai nếu tiêm tại trường học (năm đầu tiên đạt 83%) và 98% tại cơ sở y tế khi triển khai năm thứ 2 (93% trong năm đầu tiên) Phòng chống ung thư là lý do chính khiến bố mẹ, cán bộ y tế, giáo viên và các em gái chấp nhận và tham gia vào chương trinh.

Vắc-xin HPV hiện đang được cung cấp dưới dạng vắc-xin dịch vụ cho trẻ em

nữ và phụ nữ trong độ tuổi 9 - 2 6 với liệu trình 3 mũi tiêm trong vòng 6 tháng Tính đến tháng 12/2015 đã có khoảng 514.000 liều vắc-xin Cervarix và 811.000 liều vắc- xin Gardasil được nhập vào Việt Nam, số phụ nữ được tiêm ước tính là 350.000 - 400.000 phụ nữ Chi phí cho liệu trình 3 mũi tiêm trong khoảng 2.400.000 đến 4.000.000 đồng

* Công tác sàng lọc ung thư cổ tử cung (dựphòng cấp 2)

Việt Nam đã có hệ thống sàng lọc ung thư cổ tử cung nhưng còn nhiều hạn chế do địa hình phức tạp và hầu hết là chương trình bị động, dựa trên chẩn đoán triệu chứng; mặt khác phác đồ sàng lọc chưa được thống nhất là rào cản lớn nhất trong việc chuẩn hóa các dịch vụ sàng lọc

Hoạt động dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung được triển khai thực hiện với quy mô nhỏ lẻ tại các cơ sở y tế tuyến trung ương và tuyến tỉnh từ những năm 1970 - 1980 bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung Cuối những năm 1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung do Dự án phòng chống ung thư cổ tử cung Việt - Mỹ triển khai, cũng dựa vào xét nghiệm tế bào cổ tử cung

Sàng lọc và điều trị ung thư cổ tử cung cũng là vấn đề được đưa vào Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu tăng “tỉ lệ cơ sở y tế cung cấp chẩn đoán sớm” lên 50% (mục tiêu 5) Chiến lược kiểm soát ung thư Quốc gia 2008 - 2010 cũng có mục tiêu tăng tỉ lệ chẩn đoán ung thư ở giai đoạn sớm từ 20% - 30% (tăng lên 50% trong Chương trình Kiểm soát Ung thư Quốc gia giai đoạn 2010 - 2020) Tuy nhiên chưa có kế hoạch triển khai chi tiết và thiếu nhân lực cũng như tài chính để thực hiện các chiến lược này Hệ thống các phòng xét nghiệm tế bào cổ tử cung chỉ sẵn có ở tuyến tỉnh và tuyến trung

Trang 34

ương, ở tuyến huyện là không đáng kể Đội ngũ nhân lực được đào tạo còn thiếu thốn và công tác đảm bảo chất lượng tại các đơn vị xét nghiệm này chưa được chú trọng, kết quả là sàng lọc ung thư cổ tử cung chưa được triển khai trên diện rộng.

Từ tháng 3/2009 - 3/2011, Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế và Tổ chức PATH đã triển khai Dự án “Tăng cường dự phòng thứ cấp ung thư cổ tử cung tại Việt Nam” tại 3 Tỉnh Thanh Hóa, Thừa Thiên - Huế và cần Thơ Trong khuôn khổ Dự án, VIA được sử dụng để sàng lọc tổn thương cổ tử cung tại tất cả các tuyến, đặc biệt là tuyến xã Các trường họp bất thường phát hiện được xử trí theo quy định, trong đó phàn lớn được điều trị ngay hoặc trì hoãn ngắn tại tuyến huyện bằng phương pháp áp lạnh cổ tử cung Các trường họp vượt quá chỉ định điều trị áp lạnh được chuyển lên tuyến tỉnh/trung ương và được điều trị với phương pháp LEEP Tổng số có 38.187 phụ nữ trong độ tuổi 30 - 49 tuổi được sàng lọc bằng VIA, trong đó tỷ lệ VIA dương tính là 3% Đánh giá định lượng và định tính cho thấy triển khai VIA có nhiều thuận lợi và được đón nhận dễ dàng cả

từ phía ngành y tế lẫn khách hàng

Nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết về kiến thức và kỹ năng đối với cán bộ y tế trong cung cấp dịch vụ sàng lọc, dự phòng và điều trị ung thư cổ tử cung tại các tuyến y tế cơ sở, Bộ Y tế đã xây dựng và ban hành "Hướng dẫn sàng lọc, điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp ung thư cổ tử cung" vào ngày 16/5/2011,

bổ sung cho Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS được Bộ Y tế ban hành năm 2009, giúp điều chỉnh các dịch vụ y tế nhằm giải quyết các nhu cầu về sàng lọc, dự phòng và điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp ung thư

cổ tử cung lồng ghép trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Kể từ ngày ban hành, Hướng dẫn nói trên đã giúp cho nhiều tỉnh triển khai công tác sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng cách phối họp giữa xét nghiệm tế bào cổ tử cung và test VIA ở tất cả 3 tuyến y tế

Trong giai đoạn 2010-2015, nhiều đối tác quốc tế và tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam như UNFPA, PATH, GIZ, Marie Stopes International đã trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ cho một số tỉnh thành ữiển khai các chương trình sàng lọc ung

Trang 35

thư cổ tử cung và xử trí các trường họp bất thường được phát hiện Các chương trình này đã đạt được hiệu quả nhất định và đã rút ra được một số bài học hữu ích trong quá trình triển khai.

* Công tác điều trị ung thư cổ tử cung (dựphòng cấp 3)

Một trong những khó khăn chính để triển khai rộng là sự chồng chéo trong

hệ thống điều trị ung thư ở Việt Nam Ung thư cổ tử cung được điều trị bởi bệnh viện ung bướu, được chuyển lên từ các khoa ung thư của bệnh viện tỉnh, nhưng do liên quan đến đường sinh sản nên bệnh cũng được điều trị (và phẫu thuật) tại các bệnh viện phụ sản, TTCSSKSS, khoa sản các bệnh viện, bệnh viện sản nhi Bên cạnh hai loại hình này, y tế tư nhân ngày càng phát triển và thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân hơn Mặt khác việc chưa thống nhất phác đồ xử trí ung thư, bao gồm điều trị và chăm sóc giảm nhẹ tại các tuyến và các cơ sở y tế là rào cản lớn nhất trong công tác đảm bảo chất lượng và triển khai đồng bộ công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân UTCTC

Như vậy, ở Việt Nam cả 3 cấp độ dự phòng UTCTC đều phải đối mặt với sự thiếu hụt về nhân lực được đào tạo bài bản và có trình độ được chuẩn hóa, đồng thời

sự biến động nhân lực và các hạn chế, thiếu hụt về cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên ngành làm cho tỷ lệ cán bộ nhân viên tiếp tục thực hành cung cấp dịch vụ sau đào tạo giảm xuống đáng kể

1.2.2 Truyền thông - giảo dục sức khỏe trong thay đổi nhận thức của người dân [11] 1.2.2.1 Khái niệm chung về truyền thông - giáo dục sức khỏe

Truyền thông - Giáo dục sức khỏe (TT- GDSK) là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho các cá nhân, tập thể, cộng đồng

1.2.2.2 Ỷ nghĩa truyền th ô n g -g iá o dục sức khỏe

TT-GDSK là sự trao đổi giữa người làm TT-GDSK với đối tượng, với phương pháp này người TT-GDSK có thể nhận được tin phản hồi từ đối tượng

Trang 36

TT-GDSK là quá trình cung cấp thông tin, giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện để mọi người hiểu được vấn đề sức khỏe của họ và biết được cách giải quyết thích họp nhất vấn đề ấy.

TT-GDSK có tác động vào 3 lĩnh vực của đối tượng được truyền thông là: Kiến thức, thái độ và thực hành để giải quyết vấn đề sức khỏe

Thực chất của TT-GDSK là quá trình dạy và học, trong đó tác động giữa người thực hiện TT-GDSK và người được giáo dục sức khỏe (GDSK) theo 2 chiều Người thực hiện TT-GDSK không chỉ là người “dạy”mà còn phải biết

“học” từ đối tượng của mình qua việc thu nhận các thông tin phản hồi từ đối tượng được TT-GDSK để có thể điều chỉnh, bổ sung nhằm nâng cao kỹ năng, hiệu quả khi thực hiện TT-GDSK

1.2.2.3 M ục đích của truyền thông - giáo dục sức khỏe

Giúp cho cá nhân và cộng đồng đủ kiến thức để xác định nhu cầu chăm sóc sức khỏe của họ và giới thiệu các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe để cá nhân và cộng đồng có thể tiếp cận và sử dụng họp lý

Giúp đối tượng được người thực hiện TT-GDSK hiểu rõ những việc cần làm

để giải quyết các vấn đề sức khỏe bằng những khả năng của chính mình với sự giúp

đỡ, hỗ trợ của cán bộ y tế cũng như những người liên quan

Quyết định và thực hiện các hành động thích họp nhất để có cuộc sống khỏe mạnh, đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được

1.2.2.4 Vị trí, vai trò của giáo dục sức khỏe trong thay đỗi nhận thức về bệnh của người dân

a Vi trí của GDSK

Giáo dục sức khỏe đã được tuyên ngôn Alma-Ala (1978) coi như giải pháp hàng đầu để thực hiện chiến lược toàn cầu “Sức khỏe cho mọi người đến những năm 2000”

Sau hội nghị Alma Ata, ngành Y tế Việt nam cũng đã đưa GDSK lên chức năng số một của tuyến Y tế cơ sở ừong 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu

Trang 37

Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, TT-GDSK giữ vị trí quan trọng bậc nhất, bởi vì nó tạo điều kiện để chuẩn bị, thực hiện và củng cố kết quả các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu khác,

b Vai trò của TT-GDSK

TT- GDSK là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành

vi sức khỏe, nó có vai trò to lớn trong việc góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm giảm tỷ

lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ vong nhất là ở các nuớc đang phát triển

TT-GDSK càn thiết thúc đẩy những người sử dụng các dịch vụ y tế cũng như thúc đẩy phát triển các dịch vụ này

Thực tế cho thấy: Nếu không làm tốt TT-GDSK thì nhiều chưomg trình y tế đạt kết quả thấp, không bền vững, thậm trí có nguy cơ thất bại

So với các dịch vụ y tế khác, TT-GDSK là một công tác khó làm và khó đánh giá kết quả, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất đặc biệt là tuyến y tế cơ sở

1.2.3 Nghiên cứu hiệu qủa của truyền thông giáo dục sức khỏe

I.2.3.I Nghiên cứu hiệu qủa của truyền thông giáo dục sức khỏe trên thế giới

Truyền thông giáo dục sức khỏe thúc đẩy dự phòng UTCTC là rất hữu ích,

đã có nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu đánh giá hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với sự thay đổi kiến thức, thái độ và hành vi của phụ nữ về

dự phòng UTCTC Hầu hết các nghiên cứu này đã cho thấy sự thay đổi đáng kể sau khi được truyền thông giáo dục sức khỏe

Theo nghiên cứu của Joelle 1 Rosser (2015) về thay đổi kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến sàng lọc UTCTC ở Kenya các can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe làm tăng đáng kể về điểm nhận thức sau 3 tháng tăng 53,8% [45]

Theo nghiên cứu của L Stewart Massad về thay đổi kiến thức về ung thư cổ

tử cung sau khi giới thiệu vắc-xin papillomavirus ở người ở phụ nữ có nguy cơ cao mắc ung thư cổ tử cung Sau khi can thiệp truyền thông điểm trung bình kiến thức tăng từ 12,8 lên đến 14,3 [60]

Trang 38

Theo nghiên cứu của Papa (2009) về đánh giá vai trò của giáo dục đối với kiến thức của phụ nữ và chấp nhận xét nghiệm Papillomavirus có nguy cơ cao ở người để sàng lọc ung thư cổ tử cung cho thấy phụ nữ đã có 77% phụ nữ sẵn sàng test HPV và 67% phụ nữ sẽ quay lại khảm phụ khoa hàng năm ngay cả khi họ có xét nghiệm HPV âm tính [53].

I.2.3.2 Nghiên cứu hiệu qủa của truyền thông giáo dục sức khỏe tại Việt Nam

Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi của phụ

nữ về dự phòng UTCTC Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ

mô tả thực trạng chứ ít đi sâu và tập trung vào can thiệp để thay đổi nhận thức, thái

độ dẫn đến thay đổi hành vi của phụ nữ về dự phòng UTCTC

Một nghiên cứu truyền thông giáo dục sức khỏe của Huỳnh Thị Thu Thủy

và Nguyễn Điền về hiệu quả tư vấn về phòng ngừa nhiễm HPV và dự phòng UTCTC tại bệnh viện Từ Dũ kiến thức sau tư vấn tăng lên đáng kể từ 55,1% tăng lên 94,6% [26]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Hải Lê về mối liên quan giữa tiếp cận với truyền thông và kiến thức phòng lây nhiễm HPV ở phụ nữ 15 - 49 tuổi cho thấy khi

sử dụng càng nhiều loại hình truyền thông có xu hướng làm tăng kiến thức tốt hơn

so với sử dụng một hoặc ít loại hình Điều đó đã chứng tỏ can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đã có những hiệu quả nhất định trong nâng cao kiến thức của phụ

nữ về dự phòng UTCTC [14]

1.3 Học thuyết áp dụng trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu học thuyết người nghiên cứu áp dụng là học thuyết học tập

xã hội của Albert Bandura (1977a, 1986) Ông đã tiếp tục phát triển khái niệm hóa học tập xã hội về hành vi con người, vấn đề mà ông và các triết gia học tập xã hội khác bỏ dở trước đây Albert Bandura cho rằng lý thuyết hành vi tương đối đơn giản, máy móc không thể giải thích đầy đủ các hành vi phức tạp của con người Các

lý thuyết đó cho rằng học tập chỉ xảy ra khi các phản ứng thực sự được thực hiện và hậu quả của chúng được trải nghiệm Quan điểm học tập xã hội về hành vi con người là sản phẩm duy nhất không thuộc sự kích thích của môi trường cũng không

Trang 39

thuộc các sức mạnh bên trong Nói đúng hơn, có một sự tương tác hỗ tương liên tục của các yếu tố thuộc ngôi vị và môi trường Các nhân tố quyết định này tương tác vói nhau để ảnh hưởng đến hành vi phức tạp của con người Ngoài ra, Bandura đã xác nhận rằng mọi người thực ra không cần thực hiện các phản ứng để học tập chúng Nói đúng hơn, đa số việc học tập qua kinh nghiệm trực tiếp xảy ra một cách

ủy nhiệm khi cá nhân quan sát hành vi của người khác và học tập được qua quá trình quan sát này Trong học thuyết này, phương pháp thử và sai được thay thế bằng quan sát và chỉ dẫn [1]

Theo Bandura đã công nhận là các ảnh hưởng bên ngoài đối với hành vi hoạt động qua trung gian của các yếu tố nhận thức Nhận thức cố vai trò quan trọng đặc biệt trong điều chỉnh các chức năng tâm lý làm thay đổi một hành vi nào đó Quá trình nhận thức đóng vai trò cốt lõi cho việc thúc đẩy hành vi của con người [1]

Theo ông, sự phát triển nhân thức chính là sự phát triển của hành vi Hành vi được phát triển thông qua quá trình quan sát và khả năng tự kiểm soát Bandura phân biệt bốn giai đoạn trong quá trình học tập (một hành vi mới) thông qua quan sát như sau: chú ý, giữ lại, lặp lại, động cơ Tự kiểm soát bao gồm: Tự quan sát mình, đánh giá cân nhắc, cơ năng tự phản hồi [1]

Trang 40

H ình 1.1 Mô hình học thuyết về học tập xã hội của Albert Bandura

Trong nghiên cứu này chon yếu tố nhận thức để can thiệp trên cơ sở của học thuyết Albert Bandura Ông cho rằng nhận thức cố vai trò quan trọng đặc biệt trong điều chỉnh các chức năng tâm lý làm thay đổi một hành vi Chúng tôi tiến hành nghiên cứu can thiệp thông qua truyền thông giáo dục sức khỏe giúp cho người phụ nữ thay đổi hành vi của mình thông qua bốn giai đoạn: chú ý, giữ lại, lặp lại, động cơ

1.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Xã Đồng Quế là xã miền núi nằm phía Đông bắc của huyện Sông Lô với tổng diện tích tự nhiên là: 1.351,28 ha, số hộ: 1.226 hộ với 4780 nhân khẩu, được chia làm 10 thôn, dân cư được phân bố không đều do đặc điểm tự nhiên của xã

Là xã thuần nông, nhân dân trong xã chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, song nhân dân trong xã có truyền thống cần cù lao động sáng tạo đã xây

Ngày đăng: 04/03/2021, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w