1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn của điều dưỡng bệnh viện đa khoa tỉnh lâm đồng năm 2019

111 176 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Nghiên cứu mô tả cắt ngang này được tiến hành trên 149 điều dưỡng đang thực hiện chăm sóc người bệnh tại 11 khoa lâm sàng của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2019, nhằm mô tả

Trang 1

BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

HOÀNG TRUNG TIẾN

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNHDỰ PHÒNG TỔN THƯƠNG NGHỀ NGHIỆP DO VẬT SẮC NHỌN CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LÂM ĐỒNG

NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

HOÀNG TRUNG TIẾN

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNHDỰ PHÒNG TỔN THƯƠNG NGHỀ NGHIỆP DO VẬT SẮC NHỌN CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LÂM ĐỒNG

Trang 3

TÓM TẮT

Nghiên cứu mô tả cắt ngang này được tiến hành trên 149 điều dưỡng đang thực hiện chăm sóc người bệnh tại 11 khoa lâm sàng của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2019, nhằm mô tả kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn Kết quả cho

thầy: Về kiến thức,có 80.5% điều dưỡng đạt kiến thức vềTTNN do VSN Tuy

nhiên, chỉ 20.8 % biết cả 6 nguyên nhân dẫn đến TTNN do VSN, 29.5% điều dưỡng cho rằng TTNN do VSN có thể ngăn ngừa hoàn toàn và 39.6% biết mức chứa tối đa của thùng đựng VSN là ¾, 45% biết được các bước xử lý khi bịTTNN do VSN và 35.6% biết thời gian tốt nhất để bắt đầu điều trị HIV Về thái độ, đa số điều dưỡng

đã có thái độ tích cực vềTTNN do VSN, một số rào cản ảnh hưởng đến thực hành như: có 59.8% điều dưỡng cho rằng thiếu dụng cụ và thiết bị an toàn, xấp xỉ 40% cho rằng quá tải công việc, 57% điều dưỡng cho rằng thiếu nhân sự ảnh hưởng đến thực hành của họ Về thực hành, chỉ có 36.9% điều dưỡng thực hành đạt 13/13 tiêu chí Bên cạnh đó, một số thực hành còn đạt ở mức thấp như chỉ có 45.6% điều dưỡng dùng bông, gạc để bẻ ống thủy tinh, 41.6% mang găng khi tiêm và còn 30.2% dùng hai tay đóng nắp sau tiêm.Nghiên cứu đã tìm ra mối liên quan giữa kiến thức với với nhóm tuổi (p = 0.031), trình độ chuyên môn (p = 0.005) và số lần đào tạo (p < 0.001) Và một số mối liên quan giữa thực hành với giới tính (p = 0.007), kinh nghiệm làm việc (p = 0.018), số lần đào tạo (p < 0.001) và kiến thức (p

= 0.01).Nghiên cứu này chỉ thực hiện tại một bệnh viện cấp tỉnh với cỡ mẫu còn bé

và còn sai số nên các nghiên cứu sau về chủ đề này với cỡ mẫu lớn hơn sẽ đưa ra được kết quả chính xác hơn

Từ khóa: Điều dưỡng, tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn, kiến thức, thái độ, thực hành

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các anh chị Điều dưỡng viên tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu tại quý bệnh viện

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban lãnh đạo và các giảng viên khoa Điều dưỡng trường Đại học Yersin Đà Lạt đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong suốt khóa học này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Nam Định, ngày 22 tháng 10 năm 2019

Tác giả

Hoảng Trung Tiến

Trang 5

Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác

đã được công bố ở Việt Nam và trên thế giới Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là trung thực và khách quan Đã được sự đồng ý thu thập số liệu và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này

Nam Định, ngày 22 tháng 10 năm 2019

Tác giả

Hoàng Trung Tiến

Trang 6

MỤC LỤC

Tóm tắt i

Lời cảm ơn ii

Cam đoan iii

Mục lục i

Danh mục từ viết tắt iv

Danh mục bảng v

Danh mục biểu đồ vi

Đặt vấn đề 1

Mục tiêu nghiên cứu 3

Chương 1: Tổng quan tài liệu 4

1.1 Tổng quan về vật sắc nhọn và phơi nhiễm với vật sắc nhọn 4

1.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn 17

1.3 Khung nghiên cứu 24

1.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 25

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26

2.3 Thiết kế nghiên cứu 26

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 26

2.5 Bộ công cụ và phương pháp thu thập số liệu 27

2.6 Các biến số nghiên cứu (chi tiết xem ở phụ lục 2) 29

Trang 7

2.7 Khái niệm, tiêu chí và thang điểm đánh giá 30

2.8 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 31

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 32

2.10 Hạn chế, sai số và biện pháp khắc phục 32

Chương 3: Kết quả nghiên cứu 34

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34

3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng về dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn 35

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của điều dưỡng về dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn 48

Chương 4: Bàn luận 51

4.1 Kiến thức về tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn của điều dưỡng 51

4.2 Thái độ về dự phòng tổn thương nghề nghiệp do VSN của điều dưỡng 55

4.3 Thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn của điều dưỡng 58

4.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn 62

Kết luận 67

Khuyến nghị 69 Tài liệu tham khảo

Phụ lục 1: Thang điểm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn

Phụ lục 2: Những biến số nghiên cứu

Phụ lục 3: Bộ công cụ

Phụ lục 4: Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu

Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CDC Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật HBM Mô hình niềm tin sức khỏe

HBV Vi-rút viêm gan B

HCV Vi-rút viêm gan C

HIV Vi-rút gây suy giảm miễn dịch ở người mắc phải

NVYT Nhân viên y tế

TTNN Tổn thương nghề nghiệp

VSN Vật sắc nhọn

WHO Tổ chức Y tế thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Đặc điểm chung của điều dưỡng 34

Bảng 3.2: Kiến thức đúng về các yếu tố nguy cơ dẫn đến TTNN do VSN 35

Bảng 3.3: Kiến thức về hậu quả của TTNN do VSN 36

Bảng 3.4: Kiến thức về các biện pháp dự phòng TTNN do VSN 36

Bảng 3.5: Kiến thức về cách xử trí khi bị TTNN do VSN 39

Bảng 3.6: Tổng hợp kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về TTNN do VSN 40 Bảng 3.7: Thái độ của điều dưỡng về mức độ nguy hiểm của TTNN do VSN 42

Bảng 3.8: Thái độ của điều dưỡng trong tính nhảy cảm về TTNN do VSN 43

Bảng 3.9: Thái độ của điều dưỡng về tầm quan trọng của các biện pháp dự phòng TTNN do VSN 44

Bảng 3.10: Thái độ về rào cản để thực hiện các biện pháp dự phòng TTNN do VSN 45

Bảng 3.11: Thực hành dự phòng TTNN do VSN 46

Bảng 3.12: Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến với biến phụ thuộc là kiến thức 48

Bảng 3.13: Một số yếu tố liên quan đến thực hành dự phòng TTNN do VSN (Kiểm định Khi bình phương) 49

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu 24Biểu đồ 3.1: Đánh giá kiến thức về TTNN do VSN 41Biểu đồ 3.2: Đánh giá kết quả thực hành dự phòng TTNN do VSN của điều dưỡng 47

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiệm vụ quan trọng của điều dưỡng là thực hiện chăm sóc thể chất và tinh thần nguời bệnh, phối hợp và thực hiện y lệnh của bác sĩ, thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng, tư vấn, giáo dục sức khỏe, đảm bảo an toàn người bệnh và một số công việc chuyên môn khác nhằm phục vụ quá trình chăm sóc sức khỏe cho người bệnh[1]

Trong quá trình chăm sóc người bệnh, điều dưỡng phải đối diện với nhiều nguy

cơ nghề nghiệp như: đau xương khớp nghề nghiệp, quá tải công việc và căng thẳng, các bệnh truyền nhiễm lây lan qua đường máu, tiếp xúc với các hóa chất nguy hiểm và tình trạng bạo lực tại các cơ sở y tế [51] Trong đó, phơi nhiễm với các bệnh truyền nhiễm qua đường máu liên quan đến TTNN do VSN đang là một vấn đề phổ biến và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng với nhân viên điều dưỡng

Theo trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật (CDC), ước tính có 385.000 TTNN do VSN liên quan đến nhân viên y tế tại bệnh viện ở Mỹ mỗi năm Nó có thể làm lây truyền hơn 20 bệnh truyền nhiễm, trong đó ba bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất là HBV, HCV và HIV[32], [33] Theo một nghiên cứu phân tích tổng hợp các bài báo của Cooke C.E và Stephens J.M (2017) cho thấy có14.9% - 69.4% số NVYT bị TTNN do VSN với phạm vi rộng do sự khác biệt về quốc gia NVYT có thể gặp các ảnh hưởng nghiêm trọng về cảm xúc và rối loạn sức khỏe tâm thần sau khi gặp TTNN

do VSN, dẫn đến mất việc và căng thẳng Trong năm 2015, chi phí trung bình của một TTNN do VSN là $ 747[35]

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Dương Khánh Vân (2013) khảo sát tại một

số bệnh viện khu vực Hà Nội cho thấy tỷ lệ NVYT có TTNN do VSN gây ra trong 12 tháng là 66.5%[18] Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Khuê (2015) cho thấy 51.5% điều dưỡng từng bịTTNN do VSN trong vòng 6 tháng, 44.3% các trường hợp do VSN

đã bị nhiễm bẩn[7] Và nghiên cứu của Phạm Ngọc Vinh và cộng sự (2018) cho thấy

có 57.1% điều dưỡng khối ngoại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ bịTTNN do VSN, tần suất 2.9 ±1.7 lần/người/12 tháng[20]

Trang 12

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), có nhiều nguyên nhân đưa đến TTNN do VSN như: lạm dụng mũi tiêm, thiếu vật tư, thiết bị, nhân sự không đáp ứng đủ, thiếu

kỹ năng, thiếu nhận thức và đào tạo[60] Kiến thức, thái độ đúng về TTNN do VSN và thực hành đúng an toàn về các biện pháp dự phòng được xem là một yếu tố quan trọng giúp điều dưỡng giảm nguy cơ phơi nhiễm bệnh truyền nhiễm qua đường máu[41], [45]

Có sự khác nhau về kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng TTNN do VSN ở các cơ sở y tế trên thế giới và tại Việt Nam Một số yếu tố liên quan được đề cập trong các nghiên cứu chủ yếu là các đặc điểm nhân khẩu học là các yếu tố không thay đổi được Khoảng trống tri thức về việc vận dụng các mô hình học thuyết hành vi để giải thích cho hành vi của điều dưỡng trong các nghiên cứu vẫn còn tồn tại

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng là bệnh viện hạng II, trực thuộc Sở Y tế Lâm Đồng Bệnh viện có khoảng 590 giường bệnh, với 36 khoa/ phòng đơn vị chuyên môn và có gần 700 NVYT, trong đó có hơn 260 điều dưỡng tại các khoa,phòng lâm sàng Tuy nhiên thông tin về kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng TTNN do vật sắc nhọn của điều dưỡng tại bệnh viện còn thiếu hụt Vậy, kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng TTNN do VSN của điều dưỡng tại bệnh viện hiện nay như thế nào? Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến vấn đề này? Đáp án của các câu hỏi trên có thể đánh giá được quy mô và nguyên nhân của vấn đề, từ đó đưa ra được các giải pháp can thiệp phù hợp Với mục đích trên việc triển khai nghiên cứu này mang ý nghĩa cấp thiết và

có tính thực tiễn:

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn của điều dưỡng bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2019

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn của điều dưỡng bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm

2019

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về vật sắc nhọn và phơi nhiễm với vật sắc nhọn

1.1.1 Khái niệm và phân loại vật sắc nhọn

VSN là bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua da[2]

VSN bao gồm: các loại kim tiêm, kim luồn, kim bướm, kim chọc dò, kim châm cứu thải bỏ; ống pipet, ống mao dẫn, ống xét nghiệm thủy tinh bị vỡ; lưỡi dao mổ, lưỡi dao cạo dùng cho người bệnh; những VSN khác có dính máu, dịch sinh học người bệnh[8]

1.1.2 Khái niệm về phơi nhiễm với vật sắc nhọn

Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa tác nhân gây bệnh trong khi nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lây nhiễm bệnh[2]

TTNN do VSN là vết đâm xuyên thấu từ kim tiêm, dao mổ hoặc VSN khác có thể dẫn đến tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể khác TTNN do VSN thường là kết quả của việc sử dụng thiết bị nguy hiểm trong môi trường có nhịp độ nhanh, căng thẳng và không được bảo vệ[34]

1.1.3 Yếu tố nguy cơ

Có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến rủi ro TTNN do VSN đó là:[60]

- Lạm dụng thuốc tiêm và VSN không cần thiết;

- Thiếu vật tư: ống tiêm dùng một lần, thiết bịan toàn hơn và hộp đựng VSN;

- Thiếu tiếp cận và không sử dụng thùng chứa VSN ngay sau khi tiêm;

- Thiếu thiết bị bảo vệ cá nhân, thiết bị an toàn và thùng xử lý vật sắc nhọn;

- Nhân sự không đầy đủ;

- Đóng nắp kim sau khi sử dụng;

- Thiếu các điều khiển kỹ thuật như các thiết bị kim an toàn hơn;

- Chuyển dụng cụ từ tay này sang tay khác trong quá trình thực hiện;

- Thiếu nhận thức về mối nguy hiểm và thiếu đào tạo;

Trang 15

- Phản ứng bất ngờ của bệnh nhân

Theo WHO, ở các nước đang phát triển một số yếu tố góp phần gia tăng việc lây truyền mầm bệnh bao gồm: tỷ lệ nhiễm cao hơn với các tác nhân gây bệnh trong máu người bệnh; tiêm không cần thiết; tiêm chủng HBV còn hạn chế ở NVYT; thiếu kiểm soát kỹ thuật và thiếu thiết bị bảo hộ cá nhân; thực hành công việc không an toàn, bao gồm quản lý chất thải sắc nhọn không đúng cách[58]

Theo nghiên cứu của Varsha P và cộng sự (2015) trên các chuyên gia nha khoa của Bangalor, Ấn Độ cho thấy có 81.5% chuyên gia nha khoa đã được tiêm vắc-xin chống viêm gan B Tổng cộng có 27.5% người bị TTNN do VSN trong 12 tháng trước

đó Khoảng 41.8% TTNN do VSN xảy ra trong quá trình đóng nắp thiết bị, có 29.09% không báo cáo sự cố vì nỗi sợ bị đổ lỗi hoặc gặp rắc rối khi báo cáo[57]

Một nghiên cứu của Bekele T và cộng sự (2015) trên 362 NVYT tại bệnh viện

ở vùng Bale, Đông Nam Ethiopia cho thấy gần 58.7% NVYT bị TTNN do VSN đã không báo cáo cho cơ quan liên quan Những lý do chính cho việc không báo cáo các TTNN này là hạn chế về thời gian (35.1%), các VSN gây ra thương tích không được

sử dụng cho bất kỳ người bệnh nào (27.0%), người bệnh nguồn không có bệnh đáng lo ngại (20.3%)[29]

Theo nghiên cứu của Dilie A, AmareD, Gualu T (2016) trên 193 NVYT ở vùng Awi, bang Amhara, Tây Bắc Ethiopia cho thấy những NVYT thực hành bị căng thẳng

Trang 16

liên quan đến công việc lần lượt có nguy cơ phải đối mặt vớiTTNN do kim tiêm và chấn thương mạnh gấp 21.3 và 7.3 lần [36]

Kết quả nghiên cứu về mức độ phổ biến của TTNN do kim tiêm của NVYT tại một bệnh viện chăm sóc đại học của Assam của Jurimoni Gogoi và các cộng sự (2017) cho thấy tỷ lệ TTNN do kim tiêm trong số các NVYT được tìm thấy là 21.1%[38]

Một nghiên cứu của Motaarefi H và cộng sự (2016) tiến hành phân tích các bài báo liên quan đên TTNN do VSN được xuất bản từ tháng 1 năm 1998 đến tháng 5 năm

2015 chỉ ra rằng tỷ lệ bị TTNN do VSN cao nhất được thấy ở các điều dưỡng viên và các yếu tố liên quan là tuổi tác, trình độ học vấn, số ca mỗi tháng và lịch sử đào tạo liên quan Tỷ lệ TTNN do VSN cao nhất có liên quan đến việc chuẩn bị dụng cụ, sau

đó tiêm và đóng nắp kim tiêm đã sử dụng [49]

Theo nghiên cứu của Cooke C.E và Stephens J.M (2017) thực hiện đánh giá các bài báo liên quan đến TTNN do VSN cho thấy tỷ lệ TTNN do VSN ở NVYT là 14.9%

- 69.4% trong phạm vi rộng do sự khác biệt về quốc gia[35]

Nghiên cứu Sharew N.T và cộng sự (2017) trên 195 NVYT tại các bệnh viện khu vực Ethiopia Kết quả cho thấy tỷ lệTTNN do VSN là 32.8% Không được đào tạo nghề tại cơ sở có khả năng bịTTNN do VSN gấp 4.7 lần so với những người được đào tạo tại cơ sở (p <0.001, OR = 4.7, 95% CI = 2.05-10.56)[54]

Kết quả nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp bài báo được chọn được xuất bản từ năm 2003 đến năm 2016 của Ghanei Gheshlagh R và cộng sự (2018) ở các bệnh viện Iran cho thấy tỷ lệ NVYT bịTTNN do VSN là 42.5% Hơn nữa, tỷ lệ bị TTNN do VSN nhiều hơn ở phụ nữ 47% so với nam giới 42% [39]

Một nghiên cứu của Akbari H và cộng sự (2018) tại 5 bệnh viện ở Tehran chỉ ra rằng động lực an toàn và sự mệt mỏi đóng góp quan trọng nhất cho TTNN do VSN Thái độ của người giám sát đối với an toàn và giờ làm việc mỗi tuần là những yếu tố quan trọng nhất trong danh mục không an toàn Sự quản lý và phân bố nhân sự là yếu

tố quan trọng nhất ở cấp độ tổ chức ảnh hưởng đến việc TTNN do VSN[24]

Kết quả nghiên cứu của Joukar F và cộng sự (2018) trên 1010 NVYT cho thấy

có tới 580 người (57.42%) từng bịTTNN do VSN với tổng số lần là 914 Thiết bị chủ

Trang 17

yếu là kim tiêm chiếm 34.47% TTNN do VSN xảy ra thường xuyên nhất trong quá trình đóng nắp kim và tiêm thuốc tương ứng là 37.10% và 16.10% Chỉ 10.07% NVYT báo cáo đến đơn vị kiểm soát nhiễm trùng của bệnh viện Và lý do không báo cáo TTNN do VSN là công việc quá bận rộn tại thời điểm bị thương (140; 27.58%)[44]

Điều dưỡng

Theo nghiên cứu của Honda M và cộng sự (2011) trên 250 điều dưỡng bệnh viện khu vực Thái Lan Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc TTNN do VSN trong 12 tháng là 55.5%, trong đó có 91.1% là có máu Thái độ được coi là yếu tố dự báo mạnh nhất của TTNNdo VSN, người có thái độ tiêu cực đối với việc phòng ngừa TTNN do VSN có khả năng có TTNN cao gấp gần hai lần so với những người có thái độ tích cực [41]

Kết quả nghiên cứu của Zhang X và cộng sự (2015) trên 402 điều dưỡng làm việc tại một bệnh viện giảng dạy của Trung Quốc cho thấy có 261 (64.9%) điều dưỡng bịTTNN do VSN, phổ biến hơn ở nữ giới, điều dưỡng trẻ, điều dưỡng phòng mổ Tuổi tác và bộ phận làm việc là các yếu tố rủi ro độc lập với tỷ lệ TTNN do VSN Kim tiêm chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả các TTNN do VSN (59%), tiếp theo là các vật phẩm thủy tinh (22%) và dây lõi/ ống thông trocar (4%)[62]

Theo nghiên cứu của Jahangiri M và cộng sự (2016) trên 168 điều dưỡng tại một bệnh viện đại học Shiraz, Iran cho thấy tỷ lệ TTNN do VSN trong tổng số năm kinh nghiệm làm việc và trong vòng 1 năm lần lượt là 76% và 54% Kim tiêm rỗng là thiết bị phổ biến nhất liên quan đến TTNN(85.5%) Phần lớn TTNN do VSN xảy ra trong ca sáng (57.8%) và hoạt động phổ biến nhất dẫn đến TTNN do VSN là đóng nắp kim tiêm lại (41.4%) Tỷ lệ không báo cáo là 60.2% và lý do chính cho việc không báo cáo là lịch trình lâm sàng nặng (46.7%) và nhận thức về nguy cơ nhiễm trùng thấp (37.7%) Một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê đã được tìm thấy giữa sự xuất hiện của TTNN do VSN và giới tính, số giờ làm việc/ tuần và tần suất thay đổi/ tháng [42]

Một nghiên cứu của KasatpibeN và cộng sự (2016) trên 2031 điều dưỡng phòng

mổ tại 247 bệnh viện Thái Lan cho thấy rằng tỷ lệ bị TTNNdo kim tiêm, VSN lần lượt

là 23.7%, 9.8% Các yếu tố rủi ro gây TTNN do kim tiêm là đào tạo mà không thực hành (OR, 1.67; 95% CI, 1.29-2.17), vội vàng (OR, 4.81; 95% CI, 3.41-6.79), thiếu

Trang 18

nhận thức (OR, 1.36; 95% CI, 1.04 -1.77), nhân sự không đầy đủ (OR, 1.60; 95% CI, 1.21-2.11) và các hướng dẫn lỗi thời (OR, 1.69; 95% CI, 1.04-2.74)[45]

Theo nghiên cứu của Yi Y và cộng sự (2018) trên 548 điều dưỡng thực hành tại

6 bệnh viện thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc cho thấy 100% những người tham gia đều trải qua TTNN do VSN ít nhất một lần trong suốt sự nghiệp của họ; 65.88% người tham gia đã tiếp xúc với máu ba lần/chất dịch cơ thể và 31.2% trải qua 1-5 lần phơi nhiễm nghề nghiệp trong tháng qua Tuy nhiên, chỉ có 14.6% người tham gia nộp báo cáo phơi nhiễm máu/chất dịch cơ thể cho người giám sát/ quan chức sau mỗi sự cố Phơi nhiễm chất lỏng trong máu/cơ thể có liên quan đến việc không sử dụng các biện pháp an toàn Hầu hết những người tham gia (73.5%) báo cáo không có

hỗ trợ tâm lý sau chấn thương (p<0.01) [61]

Nghiên cứu của Abebe A.M, Kassaw M.W, Shewangashaw N.E (2018) trên

151 điều dưỡng tại bệnh viện Dessie khu vực Amhara, Ethiopia cho thấy tỷ lệTTNN

do VSN là 43%, điều dưỡng làm việc trong khoa cấp cứu có nhiều khả năng gặp chấn thương kim và VSN hơn 11 lần so với các điều dưỡng làm việc ở khoa ngoại trú P = 0.004 (OR = 11.511, 95% CI, 2.134 - 62.09) Những người làm việc ở khoa sức khỏe người lớn có khả năng bị TTNN do VSN hơn 10 lần so với những người tham gia làm việc ở khoa ngoại trú P = 0.006 (OR = 9.742 95% CI 1.904 - 49.859) [21]

1.1.4.2 Tại Việt Nam

Nhân viên y tế

Theo nghiên cứu độc lập cấp nhà nước về NVYT ở Việt Nam Nguyễn Thị Hồng Tú và cộng sự (2006) cho thấy điều dưỡng bịTTNN do VSN chiếm tỷ lệ cao nhất: 64.3% và cao hơn hẳn các nhóm chức danh khác có ý nghĩa thống kê (p<0.01)

Tỷ lệ NVYT bị kim tiêm gây tai nạn thương tích cao nhất (31.7%), tiếp theo là kim có cánh (19.2%), vật sắc nhọn khác (16.1%), kim khâu (16.0%) và kim lấy máu tĩnh mạch (15%) Nơi xảy ra TTNN do VSN chủ yếu là: khoa Ngoại, Gây mê hồi sức là 78.5%, Sản là 69.9%, Hồi sức cấp cứu là 63.7% và Nhi là 63.2%[19]

Kết quả nghiên cứu của Dương Khánh Vân (2013) trên 3462 NVYT tại một số bệnh viện khu vực Hà Nội Kết quả cho thấy tỷ lệTTNN do VSN trong 12 tháng là

Trang 19

64.8% Tần xuất ở điều dưỡng là 19/100 người/năm, bác sĩ 11/100 người/năm, nhóm khác 9/100 người/năm Trong đó, 46% trường hợp xảy ra trong quá trình tiêm, 14.9% trong quá trình rửa dụng cụ Vị trí tổn thương 94.5% ở bàn và ngón tay Và vết thương xuyên thấu da là 77.8%, xước da 19.6% TTNN do VSN chủ yếu xảy ra vào buổi sáng 46.6%, chiều 22.3%, tối 19.8% Thiết bị: Kim tiêm 31.7%, kim cánh bướm 19.2%, VSN khác 16.1%, kim khâu 16% và kim lấy máu tĩnh mạch 15%[18]

Theo nghiên cứu của Trần Thị Minh Phương, Phan Văn Tường và Bùi Thị Mỹ Anh (2017) trên 109 điều dưỡng bệnh viện Hà Đông Kết quả cho thấy rằng có 37.6% điều dưỡng bịTTNN do VSN, trong đó 36.6% bị thương 2-3 lần Nguyên nhân xác định là do thực hiện sai quy trình 75.5%, sự di chuyển bất ngờ của người bệnh 17.1%

và do sơ suất 7.3% Vị trí tổn thương vùng tay chiếm 97.6%, thời điểm vào buổi sáng 68.3%, tối chiếm 14.6% và chiều là 9.8% [52]

Một nghiên cứu của Phạm Ngọc Vinh và cộng sự (2018) ở 198 điều dưỡng tại Khối ngoại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ cho thấy có 57.1% đối tượng bịTTNN, tần suất 2.9 ±1.7 lần/người/12 tháng, tỷ lệ báo cáo thấp 17.9%[20]

Như vậy, TTNN do VSN đã và đang là một vấn đề phổ biến đáng báo động ở các cơ sở y tế trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.Tỷ lệ trung bình có

sự khác nhau giữa các nước và các vùng trên thế giới Đặc biệt các nghiên cứu trên chỉ

ra rằng điều dưỡng là đối tượng có nguy cơ cao nhất gặp những TTNN do VSN Các

Trang 20

nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều yếu tố liên quan đến dẫn đến TTNN do VSN như: tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, khoa làm việc, lịch sử đào tạo, sự phân bố nhân sự, thái độ, kiến thức, kỹ năng thực hành, thời gian làm việc…

Và một thực trạng đáng báo động nữa là tỷ lệ báo cáo sau khi gặp TTNN do VSN với phòng ban có trách nhiệm còn rất thấp Lý do phần lớn được đưa ra là: công việc bận rộn nên không có thời gian báo cáo, nhận thức về nhiễm trùng còn thấp, sợ bị

đổ lỗi hoặc gặp rắc rối khi báo cáo… Chính vì vậy, sẽ càng làm tăng nguy cơ phơi nhiễm những bệnh nguy hiểm từ những tổn thương đó cho NVYT

1.1.5 Hậu quả của tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn

Theo CDC, tại Mỹước tính nguy cơ lây nhiễm HIV từTTNN do VSN cho NVYT là 0.3% (tức cứ 300 trường hợp chấn thương sẽ có nguy cơ 1 trường hợp bị nhiễm HIV) Trong 57 trường hợp ghi nhận HIV từ năm 1981 đến 2006 của NVYT thì

có 48 trường hợp có liên quan đến thương tích qua da Và có khoảng 400 NVYT bị nhiễm HBV trong năm 2001 Con số này giảm 95% so với 17.000 ca nhiễm mới ước tính năm 1983 Sự suy giảm này phần lớn là do tiêm chủng rộng rãi vắc- xin viêm gan

B và sử dụng biện pháp phòng ngừa phổ quát Và khoảng 1% đến 2% NVYT có nguy

cơ nhiễm HCV, tỷ lệđang ngày càng gia tăng[32]

Kết quả nghiên cứu Ước tính gánh nặng bệnh tật toàn cầu do tổn thương VSN ở những NVYT của Annette Prüss Üstün và cộng sự (2005) cho thấy có khoảng 16.000

ca nhiễm HCV, 66.000 ca nhiễm HBV và 1.000 ca nhiễm HIV có thể xảy ra trong năm

2000 trên toàn thế giới trong số các NVYT do phơi nhiễm nghề nghiệp của họ đối với các tổn thương qua da Tỷ lệ nhiễm HCV, HBV và HIV ở NVYT do phơi nhiễm nghề nghiệp với phần thương tích qua da đạt lần lượt là 39%, 37% và 4.4% Trong số NVYT bị phơi nhiễm đó, WHO ước tính đến năm 2030, sẽ có 142 NVYT chết vì HCV, 261 NVYT chết vì HBV và 736 NVYT chết vì HIV [26], [58]

Theo một nghiên cứu phân tích tổng hợp của Cooke C.E và Stephens J.M (2017), TTNN do VSN đã đượcbáo cáo bởi 14.9% -69.4% số NVYT với phạm vi rộng

do sự khác biệt về quốc gia NVYT có thể gặp các ảnh hưởng nghiêm trọng về cảm xúc và rối loạn sức khỏe tâm thần sau khi gặp TTNN do VSN, dẫn đến mất việc và

Trang 21

căng thẳng sau tổn thương Trong năm 2015, chi phí trung bình của một TTNN do VSN là $ 747 [35]

Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư (2010) trên NVYT bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy từ 2/2000-6/2009, tổng số NVYT bị tai nạn nghề nghiệp làm phơi nhiễm với các bệnh nguyên trong máu trong khi thao tác là 327, trong đó phơi nhiễm trên bệnh nhân HIV dương tính là 65 trường hợp Chủ yếu các trường hợp xảy ra là do kim hoặc dao đâm (244; 74.8%) hoặc do máu và dịch tiết bắn vào mắt (53; 16.2%), một NVYT dương tính với HBV [15] Kết quả nghiên cứu của Dương Khánh Vân (2013) tại một số bệnh viện khu vực Hà Nội, ước tính nhiễm khuẩn do VSN gây

ra ở NVYT đối với HBV và HIV lần lượt là 32.16% và 0.52%[18] Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh và cộng sự (2009) cho thấy tỷ lệ NVYT có HBV dương tính là 6.9%; gần 40% các trường hợp nhiễm HBV dương tính thuộc nhóm tuổi từ 40 – 49 Điều dưỡng bị nhiễm HBV với tỷ lệ cao nhất 61.9%, tiếp theo là bác sỹ 17.5%, hộ lý

và y công chiếm 9.5% [9]

1.1.6 Các biện pháp phòng ngừa và xử lý tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn

1.1.6.1 Các biện pháp phòng ngừa tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn

Dự phòng tai nạn nghề nghiệp cho NVYT cần quan tâm đến những việc sau: Khi thực hiện các thủ thuật có liên quan đến các VSN như kim tiêm, kim khâu NVYT cần chú ý đề phòng bịTTNN do VSN Cần tuyệt đối tuân thủ các hướng dẫn về thao tác an toàn trong khi thực hiện các thủ thuật và các quy định về xử lý VSN [2], [3]:

Thao tác an toàn với kim tiêm, kim khâu và các VSN khác

- Thực hiện đúng các quy trình tiêm theo hướng dẫn;

- Xắp xếp nơi làm việc sao cho tất cả các dụng cụ đều trong tầm với của cả hai tay

và phải có thùng thu gom VSN được để sát bên đểloại bỏ các VSN nhanh và an toàn;

- Tập trung vào công việc, không nói chuyện và không nhìn đi chỗ khác;

- Không tháo, đậy, hoặc bẻ cong kim tiêm sau khi dùng Không đậy kim bằng hai tay Trường hợp kỹ thuật đòi hỏi tháo, lắp kim tiêm tách biệt khỏi bơm tiêm thì phải dùng panh Áp dụng kỹ thuật “múc nắp” đậy kim để sẵn trong khay (trước

Trang 22

tiên để nắp kim lên trên một mặt phẳng sau đó dùng một tay đưa đầu kim vào miệng nắp kim và từ từ luồn sâu kim vào nắp Dùng tay kia siết chặt nắp kim);

- Không dùng tay trực tiếp bẻ ống thuốc thủy tinh, sử dụng gòn, gạc bao xung quanh rồi mới bẻ;

- Trong khi thao tác với kim tiêm không để tay trước mũi kim;

- Không đi lại trong khi cầm kim tiêm, kim khâu trong tay Nếu cần di chuyểnthì kim phải được để trong khay;

- Trong khi tiêm, khâu phải đảm bảo rằng người bệnh biết cách giữ yên, khônggiãy dụa Nếu người bệnh là trẻ em cần có người giúp đỡ giữ yên người bệnh;

- Trong khi tiêm không dùng tay dò tĩnh mạch phía trên da, bên ngoài mũi kimtrong khi tay kia đang đẩy kim tìm mạch máu;

- Lấy bệnh phẩm tập trung để tránh phải lấy máu lại nhiều lần;

- Không khâu bằng tay mà phải dùng kẹp mang kim và panh để đón kim;

- Khi VSN (kim tiêm, kim khâu, dao mổ ) rơi, nên để chúng tự rơi, không cố đón;

- Không chuyển kim tiêm, kim khâu, dao mổ cho người khác trực tiếp bằngtay, nên chuyển qua khay;

- Không giữ bình chứa, phiến kính,… bằng tay khi nhỏ dịch thể/máu của ngườibệnh vào Nên để vật chứa bất động trong khay hay trên bàn, ghế,… Không dùng tay để cạo vào phiến kính có mẫu xét nghiệm;

- Có thể sử dụng các dụng cụ tiêm có đặc tính bảo vệ trong trường hợp nguy cơ bị kim đâm cao (ví dụ người bệnh kích thích, giãy dụa…)

Thao tác an toàn khi huỷ bỏ kim tiêm

- Bỏ kim tiêm ngay tại nơi tiến hành tiêm;

- Huỷ kim tiêm với một động tác dứt khoát, huỷ từng cái một bằng máy huỷ kim

tiêm;

- Thả toàn bộ kim tiêm vào hộp an toàn đựng VSN, không nên ấn kimtiêm vào

thùng chứa;

- Nếu cần phải đậy nắp kim (không có thùng đựng VSN tại thời điểm bỏ kim), dùng

kỹ thuật xúc một tay để phòng ngừa tổn thương;

Trang 23

- Không được vứt bỏ bơm kim tiêm vào thùng đựng rác thải sinh hoạt;

- Ở những nơi không có điều kiện huỷ bỏ bơm kim tiêm nên sử dụng bơm kim tiêm

tự huỷ

Quản lý chất thải sắc nhọn

- Thùng thu gom VSN phải không bị xuyên thủng, đủ lớn để chứa các VSN, có nắp

và bố trí ở nơi thích hợp để tiện lợi khi loại bỏ VSN;

- Không được để kim tiêm vương vãi ở ngoài môi trường NVYT khi thấy các kim tiêm trên sàn nhà hoặc trên mặt đất trong bệnh viện cần phải dùng kẹp gắp và bỏ vào thùng thu gom chất thải sắc nhọn;

- Khi thu gom và xử lý các thùng thu gom VSN, cần quan sát kỹ xem có quá đầy và

có các VSN chĩa ra ngoài hay không Tránh để tay quá gần chỗ mở của các thùng chứa các VSN, không nên thu gom các thùng đựng vật sắc nhọn bằng tay không

có găng bảo hộ Vận chuyển thùng bằng xe đẩy và mang găng bảo hộ

Yêu cầu của dụng cụ chứa chất thải sắc nhọn như sau[8], [3]: Phương tiện đựng chất thải sắc nhọn phải phù hợp với phương pháp tiêu huỷ cuối cùng Hộp đựng chất thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn: thành và đáy cứng không bị xuyên thủng;

có khả năng chống thấm; kích thước phù hợp; có nắp đóng mở dễ dàng; Miệng hộp đủ lớn để cho VSN vào mà không cần dùng lực đẩy; có dòng chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI SẮC NHỌN” và có vạch báo hiệu ở mức 3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”; màu vàng; có quai hoặc kèm hệ thống cố định; khi di chuyển VSN bên trong không bị đổ ra ngoài

Đối với các cơ sở y tế sử dụng máy huỷ kim tiêm, máy cắt bơm kim tiêm, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng có thể tái sử dụng và phải là một bộ phận của máy huỷ, cắt bơm kim;

Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái sử dụng, hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ y tế Hộp nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải còn đủ các tính năng ban đầu

Trang 24

Loại bỏ nguy cơ [59]

Loại bỏ hoàn toàn mối nguy hiểm khỏi khu vực làm việc là cách hiệu quả nhất

để kiểm soát các mối nguy hiểm; phương pháp này nên được sử dụng bất cứ khi nào

có thể Các ví dụ bao gồm:

- Loại bỏ VSN và kim tiêm khi có thể;

- Loại bỏ tất cả các mũi tiêm không cần thiết;

- Loại bỏ các VSN khác không cần thiết như kẹp khăn

Các biện pháp hành chính

- Phân bổ các nguồn lực phù hợp;

- Thành lập phòng quản lý phòng chống TTNN do VSN;

- Xây dựng một kế hoạch kiểm soát phơi nhiễm;

- Loại bỏ tất cả các thiết bị không an toàn;

- Đào tạo phù hợp về việc sử dụng các thiết bị an toàn

- Sử dụng các thiết bị thay thế không kim để nối các phần của hệ thống đường truyền tĩnh mạch, hoặc sử dụng các loại kim luồn an toàn (đã và đang được sử dụng ở một số cơ sở y tế)

- Đào tạo NVYT cập nhật các kiến thức, thực hành tiêm an toàn và thận trọng khi làm các thủ thuật liên quan đến tiêm và xử lí các VSN khác

- Trao quyền cho người bệnh lên tiếng với NVYT khi không thực hiện đúng các quy định về vô khuẩn hoặc dùng lại bơm kim tiêm chưa qua xử lý an toàn

- Đưa các tiêu chí đánh giá tiêm an toàn vào kiểm tra chất lượng bệnh việnhàng năm

- Khuyến khích mọi NVYT tiêm phòng vacxin viêm gan B

Trang 25

1.1.6.2 Xử lý khi bị phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường máu liên quan đến tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn

Xử lý tình huống TTNN do VSN [8]:

Bước 1: Xử lý vết thương tại chỗ

- Rửa vết thương ngay bằng xà phòng và nước dưới vòi nước chảy;

- Không sử dụng nước khử khuẩn trên da;

- Không cọ hoặc chà xát, nắn bóp khu vực bị tổn thương

Bước 2: Báo cáo người phụ trách và làm biên bản

- NVYT bị phơi nhiễm cần báo cáo ngay cho người chịu trách nhiệm để xử trí và thực hiện điều trị dự phòng sau phơi nhiễm theo quy định;

- Khai báo theo mẫu thông báo tai nạn nghề nghiệp: Do VSN, văng bắn máu và dịch

cơ thể tại phụ lục 7 của Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27/ 9 /2012 của Bộ Y

tế, về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn [1];

- Giấy chứng nhận bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp (Quyết định số 120/2008/QĐ-TTNNg ngày 29/8/2008)[13]

Bước 3: Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm: Đánh giá theo 3 mức độ

- Không có nguy cơ: Máu và chất dịch của người bệnh bắn vào vùng da lành;

- Nguy cơ thấp: Tổn thương da xây xát nông và không chảy máu hoặc chảy máu ít; máu và chất dịch chất thải của người bệnh bắn vào niêm mạc không bị tổn thương viêm loét;

- Nguy cơ cao: Tổn thương qua da sâu, chảy nhiều máu do kim tiêm cỡ to; Tổn thương qua da sâu, rộng chảy máu nhiều do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải

Bước 4: Đánh giá nguồn gây phơi nhiễm

- Nguồn từ máu và dịch của người bệnh cần được đánh giá tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B, C và HIV: thu thập thông tin từ bệnh án và người bệnh (kết quả xét nghiệm, chẩn đoán khi vào viện, tiền sử bệnh);

- Trong trường hợp không rõ tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B, C và HIV của bệnh nhân là nguồn phơi nhiễm → cần được thông báo về tai nạn nghề nghiệp và

Trang 26

được xét nghiệm để xác định tình trạng nhiễm vi rút gây bệnh qua đường máu và điều trị kịp thời;

- Nếu bệnh nhân là nguồn phơi nhiễm bị nhiễm bệnh, cần cung cấp dịch vụ tư vấn

và điều trị thích hợp cho họ Bên cạnh đó, cần giữ bí mật thông tin về tình trạng bệnh tật của họ

Bước 5: Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm

- NVYT bị phơi nhiễm cần được xét nghiệm HIV trong vòng vài giờ đầu sau khi xảy ra phơi nhiễm;

- Kết quả xét nghiệm HIV đầu tiên này được sử dụng để đánh giá tình trạng nhiễm của NVYT trước khi phơi nhiễm (Kết quả: âm tính);

- Kết quả xét nghiệm của người bị phơi nhiễm với HIV tại một trong các thời điểm

01 tháng hoặc 03 tháng, 06 tháng sau khi bị tai nạn rủi ro nghề nghiệp là dương tính (+) Sau 6 tháng mà kết quả âm tính (-) thì không bị phơi nhiễm HIV

Bước 6: Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm

- Giai đoạn của sổ → thuốc ARV có thể phòng ngừa nhiễm HIV, điều trị càng sớm càng tốt;

- Khuyến cáo nên tiêm ngừa HBV cho tất cả nhân viên làm việc tại các cơ sở y tế (3 lần vào tháng 0, 1 và 6);

- Điều trị dự phòng HCV

Ngoài ra cần tư vấn cho người bị phơi nhiễm [3]:

- Nguy cơ nhiễm HIV, HBV, HCV;

- Các triệu chứng gợi ý bị tác dụng phụ của thuốc và nhiễm trùng tiên phát: sốt, phát ban, buồn nôn hoặc nôn, thiếu máu, nổi hạch, ;

- Phòng lây nhiễm cho người khác: người bị phơi nhiễm có thể làm lây truyền HIV cho người khác dù xét nghiệm HIV âm tính (thời kỳ cửa sổ), vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm;

- Các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ sẵn có;

- Kết quả xét nghiệm của họ cần được giữ bí mật hoàn toàn

Trang 27

1.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn

1.2.1 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng tổn thươngnghề nghiệp

do vậtsắc nhọn

1.2.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Nhân viên y tế

Nghiên cứu của Bhargava A và các cộng sự (2013) trên 600 NVYT cho thấy có

sự khác biệt đáng kể về kiến thức, thái độ và điểm thực hành trung bình giữa các NVYT Mặc dù điểm số tốt hơn về kiến thức cho bác sĩ và điều dưỡng, điểm thực hành vẫn tốt hơn cho nhân viên kỹ thuật Người có điểm thực hành tốt hơn thì đã bị ít

TTNN do VSN hơn[31]

Kết quả nghiên cứu của Tukur D và các cộng sự (2014) trên 166 NVYT tại Bệnh viện giảng dạy Đại học Ahmadu Bello, Zaria, Nigeria cho thấy có 80% số người được hỏi đã được đào tạo về các biện pháp phòng ngừa phổ quát Về kiến thức cho thấy 100% NVYT được hỏi đều biết về việc truyền mầm bệnh truyền qua máu Về thực hành, chỉ 52 (43.3%) số NVYT từng có TTNN do VSN thực hiện biện pháp thích hợp (rửa và khử trùng) vị trí sau khi bị thương[55]

Một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV của 372 NVYT tại Bệnh viện giảng dạy Đại học Lagos của Ajibola S và cộng sự (2014) Về thái độ,83.3% người nhận thức được biện pháp phòng ngừa sau phơi nhiễm (PEP) Mặc dù mức độ nhận thức cao, nhưng kiến thức chỉ có 32% số người được hỏi có thể nêu tên ít nhất hai trong số các loại thuốc được đề nghị cho PEP, chỉ 54% số người được hỏi biết khi nào nên bắt đầu PEP sau khi phơi nhiễm HIV Về thực hành, thực hành PEP thấp chỉ có 6.3% số người được hỏi có PEP mặc dù xảy ra chấn thương do kim tiêm [23]

Kết quả nghiên cứu của Bhardwaj A và cộng sự (2014) trên 153 NVYT thuộc bệnh viện đa khoa Melaka, Malaysia cho thấy có 96.7% có kiến thức về phòng ngừa phổ quát[30]

Trang 28

Nghiên cứu của Koné M, Mallé K (2015) thực hiện trên 82 NVYT để đánh giá kiến thức và thực hành của NVYT bệnh viện ở Mali Kết quả cho thấy kiến thức về các tác nhân truyền nhiễm chính (HIV, HBV và HCV) đã bị bỏ qua 76.6%, khái niệm rửa và khử trùng sau tiếp xúc với máu được biết đến 68.8% Về thực hành, có 78.9% đeo găng tay và 36.0% đóng kim lại sau khi sử dụng Chất khử trùng được áp dụng cho 21.9% các trường hợp gặp TTNN do VSN, thời gian áp dụng cho 69.5%[46]

Một nghiên cứu của BekeleT và các cộng sự (2015) trên 362 NVYT tại bệnh viện ở vùng Bale, Đông Nam Ethiopia cho thấy gần 58.7% trong số NVYT bịTTNN

do VSN đã không báo cáo cho cơ quan liên quan Thiếu kiến thức cần được báo cáo (14.9%)[29]

Kết quả nghiên cứu về kiến thức, thực hành và mức độ phổ biến của tổn thương

do kim tiêm của NVYT tại một bệnh viện chăm sóc đại học của Assam của Jurimoni Gogoi và các cộng sự (2017) Về kiến thức, 100% đã biết về HIV, 98.9% biết về HBV

và 67.8% biết về HCV Về thực hành,chỉ có 21.1% báo cáo về thương tích của họ, khoảng 58.9% NVYT sử dụng găng tay thường xuyên để phòng ngừa các TTNN như vậy, đóng nắp kim tiêm chiếm 66.7%, xử lý rác thải có 37.8% NVYT đã không tuân theo các hướng dẫn xử lý chất thải thích hợp và chỉ 26.3% NVYT đã thực hiện sàng lọc HIV/ AIDS và HBV sau khi họ bị TTNN[40]

Điều dưỡng

Theo nghiên cứu của Honda và cộng sự (2011) trên 250 điều dưỡng cho thấy khoảng 67% có kiến thức trung bình, 20.4% điều dưỡng có kiến thức tốt về việc truyền bệnh truyền nhiễm và phòng ngừa TTNN do VSN, có 50.4% điều dưỡng có thái độ tích cực đối với việc ngăn ngừa TTNN do VSN và 53.9% thực hành tốt phòng ngừa TTNN do VSN[41]

Kết quả nghiên cứu củaArafa E, Mohamed A, Anwar M (2016) trên 310 điều dưỡng để đánh giá kiến thức và thực hành của các điều dưỡng về mầm bệnh truyền qua máu và các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng tại Bệnh viện Beni-Suef được chọn ở

Ai Cập cho thấy điểm trung bình chung về kiến thức, thực hành của các điều dưỡng lần lượt là (trong số 15 điểm) lần lượt là 7.71 ± 3.15, 9.14 ± 2.47 Đánh giá về kiến

Trang 29

thức cho thấy 93.5%; 80.3% và 65.8% điều dưỡng nhận thức được các bệnh lây truyền HIV, HBV và HCV Tuy nhiên, thực hành có 14.8% điều dưỡng đã báo cáo một vết thương do kim tiêm trong 6 tháng qua và chỉ có 53.5% điều dưỡng được tiêm vắc-xin phòng ngừa HBV[27]

Theo nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành phòng phơi nhiễm nghề nghiệp với máu và dịch cơ thể của Olufemi Oludare Aluko và cộng sự (2016) trên 110 điều dưỡng bệnh viện đại học IBN Rochd của Caskish Kết quả cho thấy 74.5% đã làm việc trong hơn một năm, 58.3% chưa từng có các khóa đào tạo về dự phòng tiếp xúc nghề nghiệp với máu và dịch tiết người bệnh (BBF) Về kiến thức, chỉ

có 9%, 6.3% và 9.9% biết tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh tương ứng đối với HBV, HCV

và HIV và 37.6% thừa nhận không bao giờ nghe về các biện pháp phòng ngừa phổ quát[25]

Một nghiên cứu của Mary Zia và cộng sự (2017) đánh giá kiến thức về TTNN

do VSN của 253 điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa ở thành phố Lahore.Trong đánh giá này 77.1% điều dưỡng có kiến thức tốt, 20.2% có kiến thức kém và 2.8% không biết thông tin về tiêm dưới da và vết thương do kim tiêm[47]

Nghiên cứu đánh giá mức độ hiểu biết và thực hành của 259 điều dưỡng bệnh viện thành phố Sana'a ở Yemen của Gawad và Alwabr(2018) Về kiến thức, kết quả cho thấy 44% người có kiến thức kém về các biện pháp phòng ngừa TTNN do VSN, 29% người có kiến thức trung bình và 27% có kiến thức tốt Về thực hành có đến 76.5% người được hỏi có thực hành kém về các biện pháp phòng ngừa TTNN do VSN, 8.9% đã thực hành trung bình và 14.7% thực hành tốt[38]

1.2.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Nhân viên y tế

Kết quả nghiên cứu của Dương Khánh Vân (2013) trên 3462 NVYT tại một số bệnh viện khu vực Hà Nội cho thấy tỷ lệ NVYT có kiến thức về các tác nhân gây bệnh qua đường máu là 81.9% đối với HIV, 81.3% với HBV và 55.3% với HCV Chỉ có 78.3% số người cho rằng TTNN do VSN có thể phòng tránh được Thực hành các thao

Trang 30

tác nguy cơ gây TTNN do VSN còn tồn tại như dùng hai tay đóng nắp kim sau tiêm (14.5%) và dùng cả hai tay đóng trước khi tiêm là 10.9%[18]

Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Hương (2017) trên 388 NVYT tại bệnh viện Nhân dân 115 cho thấy tỷ lệ thái độ đúng với quy trình xử lý phơi nhiễm với máu dịch tiết khá cao chiếm 97.93% Thái độ nhận biết khi thu gom thùng đựng VSN chỉ có 44 nhân viên chiếm 11.34% (NVYT chọn thu gom khi thùng VSN chứa ½), biết cách sử dụng phương pháp xúc một tay khi đậy nắp kim chiếm 93.30% Về Hành vi: Tỷ lệ NVYT có hành vi đúng về việc sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân khi mang 2 găng tiếp xúc với vùng da tổn thương hoặc máu của BN chiếm 61.34% Tỷ lệ NVYT

có hành vi đúng về việc điều trị dự phòng lây nhiễm HIV tốt nhất trong thời gian trong vòng 24h đầu chiếm 94.33%[5]

Điều dưỡng

Kết quả nghiên cứu của Đào Thu Thủy (2012) trên 50 điều dưỡng bệnh viện Da liễu Trung ương cho thấy có 100% điều dưỡng viên có kiến thức tốt về tiêm an toàn[14]

Một nghiên cứu của Phạm Ngọc Tâm (2014) tiến hành trên 106 điều dưỡng viên tại các khoa Nội và 318 mũi tiêm quan sát tại bệnh viện Quân y 103 Kết quả cho thấy 90% được đào tạo tiêm an toàn, 20.13% mũi tiêm chưa được cô lập sau khi tiêm, 15.73% sử dụng tay không tháo kim sau khi tiêm, 19.49% đậy nắp kim sau tiêm (trong

đó 11.54% đậy bằng hai tay, 5.4% đậy nắp bằng một tay [10]

Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Khuê (2015) trên 272 điều dưỡng bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang cho thấy kiến thức phòng ngừa TTNN do VSN là 62.7%, một số nội dung có tỷ lệ trả lời đúng rất thấp như đóng nắp kim tiêm 16.2% Kết quả quan sát thực hành tiêm an toàn cho thấy tỷ lệ mũi tiêm đảm bảo an toàn đạt 17/17 tiêu chuẩn rất thấp, chỉ đạt 5.4% Các tiêu chuẩn liên quan đến phòng ngừa TTNN do VSN chưa được thực hiện tốt như tỷ lệ đóng nắp kim tiêm cao 81.1%, tỷ lệ mang theo thùng đựng VSN khi đi tiêm thấp (74.3%)[7]

Theo nghiên cứu của Phan Văn Tường, Trần Thị Minh Phương và Bùi Thị Mỹ Anh (2012) trên 109 điều dưỡng bệnh viện Hà Đông Kết quả cho thấy 91.7% điều

Trang 31

dưỡng được đào tạo về tiêm an toàn trong năm qua, 95.4% tại phòng khoa có tài liệu tập huấn Về thực hành, tỷ lệ thực hành đạt 23/23 tiêu chí tiêm an toàn là 22.2% Cụ thể, có 97.7% điều dưỡng có chuẩn bị hộp đựng rác thải sắc nhọn, 17% điều dưỡng còn lưu thuốc trên chai, 68.1% mang găng tay khi tiêm tĩnh mạch 88.8% không dùng tay tháo nắp kim, 17.2% chưa cô lập bơm tiêm ngay sau khi tiêm, 93.3% cô lập kim tiêm ngay sau khi tiêm Về kiến thức tiêm an toàn đạt 82.2%[56], [17]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Công Thành, Đỗ Thị Thu Vân, Bùi Văn Trinh (2017) đánh giá việc thực hiện 400 mũi tiêm trước tập huấn và 400 mũi tiêm sau tập huấn lại Trước tập huấn trong 400 mũi tiêm có 109 mũi tiêm (27,3%) đạt

cả 17 tiêu chuẩn, sau tập huấn có 383 (95,8%) mũi tiêm đạt tất cả 17 tiêu chuẩn của Bộ

Y Tế đưa ra cho thực hành mũi tiêm an toàn[11]

Kết quả nghiên cứu của Phạm Ngọc Vinh và cộng sự (2018) ở 198 điều dưỡng tại Khối ngoại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ cho thấy 25% số điều dưỡng tham gia nghiên cứu không đạt về kiến thức phòng ngừa TTNN do VSN[20]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu (2018) trên 146 điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy rằng có 39.0% điều dưỡng có thực hành đạt về tiêm tĩnh mạch an toàn Trong đó, có 97.9% chuẩn bị hộp đựng rác thải sắc nhọn, 41,8% dùng gạc bẻ ống thuốc, có 37.7% cô lập kim tiêm ngay vào hộp an toàn, 44.5% không dùng hai tay để đậy nắp kim tiêm hoặc tháo kim tiêm ra khỏi bơm tiêm, 82.2% phân rác thải đúng quy định[12]

Như vậy, có sự khác biệt về tỷ lệ kiến thức, thái độ và thực hành ở các cơ sở y

tế trên thế giới, cũng như ở Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu chỉ khai thác về kiến thức và thực hành phòng ngừa TTNN do VSN, một số nghiên cứu đề cập đến kiến thức, thái độ, hành vi mà chưa dựa vào quan sát Nhiều nghiên cứu chỉ đánh giá mức

độ kiến thức, thái độ, thực hành phòng ngừa TTNN do VSN nhưng chưa đề cập đến các yếu tố liên quan với ba yếu tố trên

Trang 32

1.2.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn

Các đặc điểm nhân khẩu học

Sự khác biệt trong các đặc điểm liên quan đến giới tính cũng góp phần trong việc thực hành dự phòng TTNN do VSN của điều dưỡng Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu (2018) chỉ ra rằng nguy cơ thực hiện quy trình tiêm an toàn không đạt ở nhóm điều dưỡng nữ cao hơn 3,297 lần so với nhóm điều dưỡng nam (OR = 3,297; CI 95%: 1,282 - 8,474) với p < 0.01 [12] và nghiên cứu của Zhang X và cộng sự (2015) cho thấy TTNN do VSN xảy ra phổ biến hơn ở nữ giới [62] Ngược lại, nghiên cứu của Paraskeui G (2012) cho thấy tỷ lệ nam giới gặp TTNN do VSN nhiều hơn nữ với p

= 0.004 [53]

Tuổi là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng kiến thức và thực hành dự phòng TTNN do VSN Theo kết quả nghiên cứu của Phan Văn Tường, Trần Thị Minh Phương và Bùi Thị Mỹ Anh (2012) cho thấy kiến thức tiêm an toàn dưới 30 tuổi cao hơn 3.3 lần so với nhóm trên 30 tuổi (OR = 4.4; p < 0.05) và nhóm tuổi dưới 30 thực hành tốt gấp 3.1 lần so với nhóm trên 30 tuổi (p < 0.05)[56] Ngược lại, nghiên cứu của Zhang X và cộng sự (2015) cho thấy TTNN do VSN xảy ra phổ biến hơn ở điều dưỡng trẻ do kinh nghiêm làm việc còn ít [62]

Một số nghiên cứu cho thấy trình độ chuyên môn góp phần ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng.Theo nghiên cứu của Đào Thu Thủy (2012) cho thấy trình độ đào tạo liên quan đồng biến với thực hành tiêm an toàn chung của điều dưỡng (r = 0.28, p < 0.01)[14] Và nghiên cứu của Nguyễn Công Thành, Đỗ Thị Thu Vân, Bùi Văn Trinh (2017) đã tìm thấy mối liên quan giữa các mũi tiêm đạt yêu cầu với trình độ, trình độ càng cao thì thực hành tiêm càng an toàn với, p< 0.001 [11] Trình độ chuyên môn cao hơn có kiến thức về tiêm an toàn tốt hơn với p < 0.001 được tìm thấy trong nghiên cứu của Adeleye B.B, Balogun M, Quadri I.O (2016) [22]

Trong một số nghiên cứu cho thấy rằng kinh nghiệm làm việc ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành dự phòng TTNN do VSN của điều dưỡng.Theo kết quả nghiên cứu của Phan Văn Tường, Trần Thị Minh Phương và Bùi Thị Mỹ Anh (2012) cho

Trang 33

thấy, nhóm thâm niên công tác dưới 10 năm có kiến thức cao hơn 4.9 lần sao với nhóm

có thâm niên công tác dưới 10 năm (OR = 4.9; p < 0.05)[56], [17] Nhưng, trong nghiên cứu của Nguyễn Công Thành, Đỗ Thị Thu Vân, Bùi Văn Trinh (2017) lại cho thấy mối liên quan giữa các mũi tiêm đạt yêu cầu với thời gian công tác, những người

có kinh nghiệm trên 5 năm trở lên thì thực hành an toàn hơn so với nhóm dưới 5 năm với P < 0.001 [11] và theo Hoàng Văn Khuê (2015) chỉ ra rằng điều dưỡng có thâm niên công tác dưới 5 năm có nguy cơ tổn thương do VSN cao gấp 2,25 lần so với những người có thâm niên công tác từ trên 5 năm (p<0,05) [7]

Nơi làm việc góp phần ảnh hưởng đến thực hành tiêm an toàn và dự phòng TTNN do VSN Nghiên cứu của Nguyễn Công Thành, Đỗ Thị Thu Vân, Bùi Văn Trinh (2017) chỉ ra mối liên quan giữa các mũi tiêm đạt yêu cầu với nơi làm việc, cụ thể là những phòng khác đạt gấp 3.14 lần so với phòng cấp cứu với P < 0.006 [11].Nghiên cứu của Abebe A.M, Kassaw M.W, Shewangashaw N.E (2018) các nhân viên điều dưỡng làm việc trong khoa cấp cứu có nhiều khả năng gặp chấn thương kim

và VSN hơn 11 lần so với các nhân viên điều dưỡng làm việc ở khoa ngoại trú P = 0.004 (OR = 11.511, 95% CI, 2.134 - 62.09) [21] Và nghiên cứu của Zhang X và cộng

sự (2015) cho thấy nơi làm việc cũng làm tăng nguy cơ gặp TTNN do VSN [62]

Đào tạo, tập huấn góp phần quan trọng vào việc nâng cao kiến thức, nhận thức

và thực hành của điều dưỡng trong việc phòng TTNN do VSN Một só nghiên cứu đã chứng minh điều đó, theo nghiên cứu của Phan Văn Tường, Trần Thị Minh Phương và Bùi Thị Mỹ Anh (2012) chỉ ra tỷ lệ kiến thức trong nhóm đã được tập huấn trong 1 năm vừa qua cao gấp 10.3 lần với nhóm chưa được đào tạo (p < 0.001)[17] Và nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu (2018) qua việc phân tích hồi quy logic cho thấy tỷ lệ tuân thủ tiêm an toàn đạt của nhóm điều dưỡng đã từng tham gia tập huấn về tiêm an toàn cao hơn 7,808 lần so với nhóm điều dưỡng chưa từng tham gia tập huấn về tiêm

an toàn (OR = 7,808; CI 95%: 2,590 - 23,540) với p < 0.001 [12]

Kiến thức

Kiến thức tốt sẽ giúp thực hành đầy đủ và an toàn hơn, nghiên cứu đánh giá mức độ hiểu biết và thực hành của 259 điều dưỡng bệnh viện thành phố Sana'a ở

Trang 34

Yemen của Gawad và Alwabr(2018) cho thấy một mối liên có ý nghĩa thống kê (p < 0.001) giữa kiến thức và thực hành [38], nghiên cứu của Phạm Ngọc Vinh và cộng sự (2018) tại Khối ngoại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ cho thấy kiến thức về tiêm an toàn liên quan chặt chẽ với TTNN do VSN với p < 0.05 [20] và nghiên cứu của Đào Thu Thủy (2012) chỉ ra rằng kiến thức có liên quan khá chặt chẽ với thực hành của điều dưỡng (r = 0.42, p < 0.01) [14]

Thái độ

Thái độ, nhận thức thường quyết định đến hành vi của điều dưỡng trong việc dự phòng TTNN do VSN Theo nghiên cứu của Honda và cộng sự (2011) chỉ ra có mối tương quan đáng kể giữa thực tiễn và thái độ được tìm thấy (r = 0.544, p < 0.001) Kết quả phân tích hồi quy đa biến chỉ ra rằng các điều dưỡng có thái độ tiêu cực đối với việc phòng ngừa TTNN do VSN có khả năng mắc TTNN do VSN cao gấp gần hai lần

so với những người có thái độ tích cực [41]

1.3 Khung nghiên cứu

Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu

Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi, giới, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tình trạng biên chế, nơi làm việc

Thái độ về tổn thương nghề nghiệp

do vật sắc nhọn

Trang 35

1.4 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng nằm ở vị trí trung tâm thành phố Đà Lạt, ngụ tại số 4, Phạm Ngọc Thạch, phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Là bệnh viện hạng II, trực thuộc Sở Y tế Lâm Đồng Trải qua 90 năm hình thành và phát triển với quy mô ban đầu là 100 giường bệnh, đến thời điểm hiện tại quy

mô đã đạt 590 giường bệnh, với gần 700 NVYT Bệnh viện hiện có 36 khoa/phòng đơn vị chuyên môn, đặc biệt mới thành lập các chuyên khoa sâu như: tim mạch, ung bướu, thần kinh, chấn thương chỉnh hình, thăm dò chức năng Bệnh viện đang trang bị nhiều trang thiết bị mới đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Hướng tới năm 2020, bệnh viện sẽ phấn đấu đạt bệnh viện hạng I

Hàng ngày, bệnh viện đón tiếp hàng nghìn lượt người đến khám và chữa bệnh,

số lượng người bệnh đến khám tăng qua các năm, vào năm 2017 bệnh viện đón hơn 300.000 lượt người bệnh, tăng 0.04% so với năm 2016, điều trị nội trú gần 43000 lượt,

và ngoại trú 13000 lượt Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của nhân dân và nâng cao chất lượng phục vụ điều trị Hàng năm, bệnh viện đều cử cán bộ đi đào tạo, tập huấn, cập nhật kiến thức về chuyên môn Bệnh viện cũng không ngừng đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, sáng kiến kỹ thuật, cập nhật thường xuyên phác đồ điều trị Năm

2017, bệnh viện có 12 đề tài nghiên cứu khoa học và 4 sáng kiến khoa học kỹ thuật[16]

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Điều dưỡng làm công tác chăm sóc người bệnh tại các khoa Nội A, Nội B, Nội II, Ngoại Chấn thương, Ngoại Thần kinh, Ngoại Tổng hợp, Cấp cứu lưu, Hồi sức tích cực – chống độc, Nhi, Bệnh Nhiệt đới (Nhiễm), Ung bướu Đây là những khoa có thực hiện nhiều mũi tiêm, truyền, có nguy cơ tiếp xúc với VSN trong quá trình chăm sóc

- Điều dưỡng bao gồm cả nhân viên chính thức, nhân viên hợp đồng và nhân viên học việc

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

Những điều dưỡng đang nghỉ theo chế độ nghỉ thai sản, những người đang đi

học, vắng mặt trong thời gian nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2018 – 09/2019

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích Nghiên cứu bao gồm 2 nội dung là phỏng vấn và quan sát:

- Phỏng vấn: Nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ của điều dưỡng trong việc tổn thương TTNN do VSN

- Quan sát: Nhằm đánh giá thực hành phòng ngừa TTNN do VSN của điều dưỡng

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Chọn mẫu toàn bộ bao gồm tất cả điều dưỡng đang công tác ở các khoa có nguy

cơ tiếp xúc với VSN tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng, đảm bảo đủ các tiêu chí tham gia nghiên cứu

Trang 37

- Các khoa có nguy cơ tiếp xúc với vật sắc nhọn bao gồm: Nội A, Nội B, Nội II, Ngoại Chấn thương, Ngoại Thần kinh, Ngoại Tổng hợp, Cấp cứu lưu, Hồi sức tích cực – chống độc, Nhi, Bệnh Nhiệt đới (Nhiễm), khoa Ung bướu với 163 điều dưỡng

- Cỡ mẫu: 149 điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu, có 09 điều dưỡng từ chối tham gia nghiên cứu và 05 điều dưỡng vắng mặt, nghỉ thai sản trong thời gian nghiên cứu (tổng số 163 điều dưỡng)

2.5 Bộ công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Quy trình xây dựng bộ công cụ nghiên cứu

Được xây dựng dựa trên tài liệu hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn của Bộ Y tế (2012) [6], tài liệu hướng dẫn tiêm an toàn của Bộ Y tế (2012) [2], tài liệu hướng dẫn thực hành tốt nhất của WHO (2010) [59], nghiên cứu của Hoàng Văn Khuê (2015) về

“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn của điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang từ 9/2014 - 02/2015”[7], nghiên cứu của

Mỹ Thị Hải (2016) về “ Khảo sát vết thương vật sắc nhọn gây ra cho sinh viên điều

dưỡng đang thực tập tại bệnh viện” [4]

Bộ công cụ phỏng vấn kiến thức về TTNN do VSN

Thông tin phỏng vấn bao gồm:

- Các thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, biên chế công việc, lịch sử đào tạo;

- Các thông tin về kiến thức của điều dưỡng phòng ngừa TTNN do VSN bao gồm: Kiến thức về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ, kiến thức về hậu quả của TTNN do VSN, kiến thức về các biện pháp phòng ngừa TTNN do VSN và kiến thức về xử

lý khi bị TTNN do VSN;

Bộ công cụ phỏng vấn thái độ của điều dưỡng về TTNN do VSN

Các thông tin về thái độ của điều dưỡng về phòng ngừa TTNN do VSN bao gồm: Nhận thức mối nguy hiểm của TTNN do VSN, nhận thức về tính nhạy cảm với TTNN do VSN, nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp dự phòng TTNN do VSN, nhận thức về các rào cản để thực hiện hành vi

Trang 38

Bộ công cụ quan sát thực hành dự phòng TTNN do VSN của điều dưỡng

Gồm 13 nội dung quan sát thực hành dự phòng TTNNNN do VSN Chúng tôi lựa chọn kỹ thuật tiêm tĩnh mạch để quan sát thực hành dự phòng TTNN do VSN

2.5.2.Quy trình kiểm định bộ công cụ

Bước 1:Kiểm định tính giá trị/độ đặc hiệu: xin ý kiến chuyên gia bao gồm một

chuyên gia mảng Điều dưỡng và một chuyên gia mảng Y tế dự phòng.Bộ công cụ (kèm tài liệu làm căn cứ xây dựng bộ công cụ) được chuyển đến các chuyên gia để xin

ý kiến, ý kiến được các chuyên gia đánh giá và cho ý kiến ngay trên bộ công cụ.Sau

đó, bộ công cụ được chỉnh sửa phù hợp theo ý kiến của chuyên gia Kết quả, 2 chuyên gia đã đồng ý về nội dung được xây dựng trong bộ công cụ nghiên cứu

Bước 2:Kiểm định độ tin cậy: Tiến hành nghiên cứu thử trên 30 mẫu

Đối với thang đo kiến thức và thực hành sử dụng phương pháp test và retest: thời gian đánh giá cách nhau 1 tuần Thang đo kiến thức có độ tin cậy rất cao với hệ số tương quan giữa hai lần kiểm tra trên cùng một đối tượng là 0.972, thang đo thực hành

có độ tin cậy cao với hệ số tương quan giữa hai lần kiểm tratrên cùng một đối tượng là 0.897

Đối với thái độ dùng cronbach anpha: kết quả kiểm định cho thấy hệ số cronbach anpha bằng 0.89

2.5.3 Phương pháp thu thập thông tin

Thời gian thu thập số liệu: từ ngày 01/4/2019 – 17/5/2019

Giai đoạn 1: Phỏng vấn kiến thức, thái độ Thời gian từ ngày 01/4/2019 – 19/4/2019 Giai đoạn 2: Quan sát thực hành dự phòng TTNN do VSN Thời gian từ 22/4/2019 –17/5/2019

2.5.3.1 Nhân sự thu thập số liệu

Nhân sự là 04 giảng viên điều dưỡng của trường Đại học Yersin Đà Lạt được tập huấn kỹ về các nội dung cần thiết trước khi tham gia nghiên cứu nhằm tránh các sai số và đảm bảo sự khách quan trong quá trình quan sát

Trang 39

2.5.3.2 Thu thập số liệu bằng phỏng vấn

Liên hệ với phòng Tổ chức Nhân sự lấy danh sách nhân viên Điều dưỡng tại các khoa tiến hành nghiên cứu Sau đó, liên hệ với Bác sĩ Trưởng khoa, Điều dưỡng Trưởng khoa xin thu thập số liệu tại khoa

Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, điều tra viên sẽ đến các khoa, phòng chọn thời gian phù hợp tránh ảnh hưởng đến công việc của đối tượng Thời gian phỏng vấn là 15

- 30 phút/đối tượng, mối ngày phỏng vấn 3 – 4 đối tượng Đầu tiên điều tra viên trình bày lý do, mục đích và ý nghĩa của việc tiến hành nghiên cứu Nếu đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu, điều tra viên bắt đầu tiến hành đánh giá kiếnthức, thái độ của đối tượng dựa vào bộ công cụ xây dựng sẵn Đối với những điều dưỡng không có mặt tại thời điểm điều tra viên sẽ đến vào ngày hôm sau để tiếp tục việc thu thập số liệu

2.5.3.3 Thu thập số liệu bằng quan sát

149 mũi tiêm tĩnh mạch được quan sát ngẫu nhiên (tương ứng với mỗi đối tượng được quan sát một lần) Buổi sáng (7 giờ - 11 giờ), buổi chiều (2 giờ - 5 giờ),thời điểm này là thời gian làm thuốc trên người bệnh, nên kỹ thuật tiêm nhiều nhất sẽ thuận lợi cho việc quan sát và đây làkỹ thuật nguy cơ gặp TTNN do VSN và phơi nhiễm dịch tiết nhiều nhất Việc quan sát của điều tra viên không làm tác động hay ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu, điều tra viên đã được tập huấn kỹ và cho quan sát thử.Để đảm bảo sự khách quan đối tượng sẽ được thông báo về việc quan sát

ở phần phỏng vấn, nhưng sẽ không cho đối tượng biết về thời điểm quan sát, người thực hiện quan sát (điều tra viên tiến hành phỏng vấn ở khoa này sẽ tiến hành quan sát

ở khoa khác, vì các điều tra viên là giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hành lâm sàng nên sẽ thực hiện quan sát trong quá trình hướng dẫn sinh viên để tránh sự chú ý của đối tượng)

2.6 Các biến số nghiên cứu (chi tiết xem ở phụ lục 2)

- Nhóm biến số độc lập về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, tình trạng biên chế, lịch sử đào tạo

Trang 40

- Nhóm biến số phụ thuộc về kiến thức bao gồm: Kiến thức về nguyên nhân và yếu

tố nguy cơ; kiến thức về hậu quả; kiến thức về các biện pháp phòng ngừa; kiến thức về các biện pháp xử lý khi bị TTNN do VSN

- Nhóm biến số phụ thuộc về thái độ bao gồm: Nhận thức mức độ nguy hiểm; sự nhạy cảm trong nhận thức; nhận thức tầm quan trọng của các biện pháp dự phòng TTNN do VSN; nhận thức rào cản khi thực hiện các biện pháp dự phòng

- Nhóm biến số phụ thuộc về thực hành phòng ngừa TTNN do VSN

2.7 Khái niệm, tiêu chí và thang điểm đánh giá

Đánh giá kiến thức của điều dưỡng về phòng ngừa TTNN do VSN

- Kiến thức: là sự hiểu biết của điều dưỡng liên quan đếnTTNN do VSN

- Công cụ đo lường kiến thức gồm 16 câu Tổng điểm cao nhất cho phần kiến thức

là 38 điểm (chi tiết xem phụ lục 1)

- Đánh giá mức độ đạt về kiến thức dự phòng TTNN do VSN khi đối tượng trả lời đúng từ trên 60% tổng số điểm, dưới 60% là kiến thức không đạt (theo nghiên cứu của Hoàng Văn Khuê (2015) về “thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn của điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang từ 9/2014 - 02/2015”[7]) Tương ứng điều dưỡng trả lời đúng từ 23/38 điểm thì kiến

thức đạt

Đánh giá thái độ của điều dưỡng về phòng ngừa TTNN do VSN

- Thái độ là những biểu hiện ra bên ngoài của quan điểm bên trong của điều dưỡng

về TTNN do VSN

- Công cụ đánh giá thái độ gồm 22 câu Thang điểm đánh giá gồm 5 bậc xây dựng theo thang điểm Likert Trong đó, rất đồng ý tương ứng với 5 điểm, đồng ý tương ứng với 4 điểm, bình thường tương ứng với 3 điểm, không đồng ý tương ứng với 2 điểm và rất không đồng ý tương ứng với 1 điểm (chi tiết xem phụ lục 1)

Đánh giá thực hành của của điều dưỡng về phòng ngừa TTNN do VSN

- Thực hành là những hành động trong thực tế để dự phòng TTNN do VSN trong quá trình thực hiện các thủ thuật nguy cơ gặp TTNN do VSN khi chăm sóc người

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (2012). Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Ban hành kèm theo Quyết định số: 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế), Hà Nội, tr. 2-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Ban hành kèm theo Quyết định số: 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế)
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
3. Nguyễn Thanh Hà và Nguyễn Huy Nga (2015).Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục Quản lý chất thải y tế cho nhân viên y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 69 - 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục Quản lý chất thải y tế cho nhân viên y tế
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà và Nguyễn Huy Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
4. Mỵ Thị Hải (2016). Khảo sát vết thương do dụng cụ y tế sắc nhọn gây ra cho sinh viên điều dưỡng thực tập tại bệnh viện, Luận văn Thạc sỹ Điều dưỡng, Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát vết thương do dụng cụ y tế sắc nhọn gây ra cho sinh viên điều dưỡng thực tập tại bệnh viện
Tác giả: Mỵ Thị Hải
Năm: 2016
5. Ngô Thị Thu Hương (2017).Khảosát hành vi, thái độ của NVYT về thực hành ngăn ngừa tổn thương do vật sắc nhọn và phòng ngừa phơi nhiễm tại Bệnh viện nhân dân 115, &lt;http://www.hics.org.vn/sites/default/files/attachment/b10-ngo_thi_thu_huong.pdf&gt;, xem 15/12/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảosát hành vi, thái độ của NVYT về thực hành ngăn ngừa tổn thương do vật sắc nhọn và phòng ngừa phơi nhiễm tại Bệnh viện nhân dân 115
Tác giả: Ngô Thị Thu Hương
Năm: 2017
6. Lương Ngọc Khuê và Phạm Đức Mục (2012).Tài liệu đào tạo phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn, Bộ Y tế, Hà Nội, tr. 107-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn
Tác giả: Lương Ngọc Khuê và Phạm Đức Mục
Năm: 2012
7. Hoàng Văn Khuê (2015).Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn ở điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang trong 6 tháng từ tháng 9/2014 đến tháng 2/2015, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn ở điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang trong 6 tháng từ tháng 9/2014 đến tháng 2/2015
Tác giả: Hoàng Văn Khuê
Năm: 2015
8. Nguyễn Huy Nga (2015).Sổ tay hướng dẫn quản lý rác thải y tế trong bệnh viện (Ban hành kèm theo Quyết định số105/QĐ-MT ngày 03/7/2014 của Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 22 - 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn quản lý rác thải y tế trong bệnh viện (Ban hành kèm theo Quyết định số105/QĐ-MT ngày 03/7/2014 của Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế)
Tác giả: Nguyễn Huy Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
12. Nguyễn Thị Hoài Thu (2018). Thực trạng tiêm tĩnh mạch an toàn ở điều dưỡng bệnh viện Nhi trung ương, Tạp chí nghiên cứu Y học, TCNCYH 112 (3) – 2018, tr. 102-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Y học
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Thu
Năm: 2018
14. Đào Thu Thủy (2012). Tình hình tổn thương do vật sắc nhọn, kiến thức và thực hành tiêm an toàn của Điều dưỡng viên Bệnh viện Da Liễu Trung ương năm 2012, Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tổn thương do vật sắc nhọn, kiến thức và thực hành tiêm an toàn của Điều dưỡng viên Bệnh viện Da Liễu Trung ương năm 2012
Tác giả: Đào Thu Thủy
Năm: 2012
15. Lê Thị Anh Thư (2010). Hiệu quả của chương trình phòng ngừa phơi nhiễm do nghề nghiệp tại bệnh viện Chợ Rẫy. Y Học TP. Hồ Chí Minh, tập 14, Phụ bản của Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y Học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Thị Anh Thư
Năm: 2010
17. Phan Văn Tường, Trần Thị Minh Phượng, Bùi Thị Mỹ Linh (2012). Đánh giá thực hiện tiêm an toàn tại bệnh viện Hà Đông Hà Nội, năm 2012. Y học thực hành, số 841 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành
Tác giả: Phan Văn Tường, Trần Thị Minh Phượng, Bùi Thị Mỹ Linh
Năm: 2012
18. Dương Khánh Vân (2013).Nghiên cứu tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế và giải pháp can thiệp tại một số bệnh viện khu vực Hà Nội, Luận văn Tiến sỹ, Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế và giải pháp can thiệp tại một số bệnh viện khu vực Hà Nội
Tác giả: Dương Khánh Vân
Năm: 2013
21. Abebe A.M, Kassaw M.W, Shewangashaw N.E (2018). Prevalence of needle- stick and sharp object injuries and its associated factors among staff nurses in Dessie referral hospital Amhara region, Ethiopia, 2018. BMC Res Notes, 11(1), 840 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMC Res Notes
Tác giả: Abebe A.M, Kassaw M.W, Shewangashaw N.E
Năm: 2018
23. Ajibola S, Akinbami A,Elikwu C et al (2014). Knowledge, attitude and practices of HIV post exposure prophylaxis amongst health workers in Lagos University Teaching Hospital.Pan Afr Med J, 19, 172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pan Afr Med J
Tác giả: Ajibola S, Akinbami A,Elikwu C et al
Năm: 2014
24. Akbari H, Ghasemi F, Akbari, H et al (2018). Predicting needlestick and sharps injuries and determining preventive strategies using a Bayesian network approach in Tehran, Iran.Epidemiol Health, 40, e2018042 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiol Health
Tác giả: Akbari H, Ghasemi F, Akbari, H et al
Năm: 2018
25. Aluko O.O, Adebayo A.E, Adebisi T.F et al (2016). Knowledge, attitudes and perceptions of occupational hazards and safety practices in Nigerian healthcare workers.BMC research notes. 9, 71-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMC research notes
Tác giả: Aluko O.O, Adebayo A.E, Adebisi T.F et al
Năm: 2016
26. Annette Prỹss-ĩstỹn, Elisabetta Rapiti và Yvan Hutin (2005). Estimation of the global burden of disease attributable to contaminated sharps injuries among health-care workers.American Journal of Industrial Medicine, 48(6), 482-490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Journal of Industrial Medicine
Tác giả: Annette Prỹss-ĩstỹn, Elisabetta Rapiti và Yvan Hutin
Năm: 2005
32. CDC (2010). Sharps Injuries: Bloodborne Pathogens, stop stick campaign. [online]. Available at: https://www.cdc.gov/niosh/stopsticks/bloodborne.html.[Accessed 10 december 2018] Link
33. Centers for Disease Control and Prevention (CDC).Sharps Safety for Healthcare SeTTNNings. [online] Availableat:https://www.cdc.gov/sharpssafety/ [Accessed 11 december 2018] Link
34. CDC. Stop sticks campaign. [online]. Available at: https://www.cdc.gov/nora/councils/hcsa/stopsticks/default.html.[Accessed 12 december 2018] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w