TÓM TẮT Mục tiêu: Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá kiến thức và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị tại B
Trang 1TÓM TẮT
Mục tiêu: Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá kiến thức và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 171 người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên
Kết quả:64.9% đối tượng nghiên cứu có kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 ở mức trung bình; 19.9% ở mức tốt và 15.2% ở mức kém Điểm trung bình là 25.57 ± 3.259; thấp nhất 18 điểm và cao nhất là 33 điểm
Kết luận:Đối tượng nghiên cứu có kiến thức ở mức trung bình (67.3% ± 8.58%) Người bệnh còn thiếu kiến thức trong việc theo dõi, phát hiện và cách xử trí khi có biến chứng và chế độ ăn uống đặc biệt là cách phân loại và lựa chọn thực phẩm Qua nghiên cứu nhận thấy có 3 yếu tố liên quan đến kiến thức của người bệnh bao gồm: trình độ học vấn, thời gian bị bệnh và tiếp cận thông tin về chăm sóc bệnh
Từ khóa: Kiến thức, tự chăm sóc, đái tháo đường type 2
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng thành kính, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Phòng Đào tạo Sau Đại học và cácthầy giáo, cô giáo của trường đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập vàhoàn thành luận văn Trong quá trình thực hiện luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡnhiệt tình
và sự động viên của cơ quan, các cấp lãnh đạo và nhiều cá nhân Tôixin chân thành cảm ơn tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôitrong quá trình học tập và nghiên cứu
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Minh Tuấn vàTS Ngô Huy Hoàng, là những người thầy đã tận tình hướng dẫn và động viêntôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Y tế Điện Biên và các đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi trong thời gian tiến hành nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng khám và điều trị ngoại trú, quý đồng nghiệp đã nhiệt tình tham giagiúp đỡ tôi thu thập số liệu điều tra thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn những người bệnh đã đồng ý tham gia nghiên cứu này
Một phần không nhỏ của thành công luận văn là nhờsự giúp đỡ độngviêncủa người thân trong gia đình Đặc biệt là bố mẹ tôi đã động viên và giúp đỡ tôikhi tôi gặp khó khăn trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn sâu sắc
Điện Biên, ngày 08tháng 02 năm 2017
Nguyễn Vũ Huyền Anh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức và khảo sát thực tiễn tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên Các số liệu thu thập và kết quả trong luận văn
là trung thực, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi hội đồng đánh giá luận văntrường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Điện Biên, ngày 08 tháng 02 năm 2017
Nguyễn Vũ Huyền Anh
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 4
1.2 Đái tháo đường 6
1.2.1 Định nghĩa 6
1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường 7
1.2.3 Biến chứng của đái tháo đường 7
1.3 Gánh nặng của đái tháo đường 10
1.4 Tự chăm sóc trong đái tháo đường type 2 11
1.4.1 Sử dụng thuốc 12
1.4.2 Chế độ dinh dưỡng 13
1.4.3 Hoạt động thể chất 14
1.4.4 Tự theo dõi đường máu 16
1.4.5 Phòng tránh nguy cơ biến chứng 17
1.5 Mức độ kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 17
1.6 Khung lý thuyết 19
1.7 Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế 22
2.4 Cỡ mẫu 22
Trang 52.5 Phương pháp chọn mẫu 23
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.7 Các biến số nghiên cứu 25
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 25
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 25
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 26
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 26
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
CHƯƠNG 4.BÀN LUẬN 48
KẾT LUẬN 55
KHUYẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Phụ lục 1 64
Phụ lục 2 68
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADA American Diabetes Association Hội đái tháo đường Mỹ
HbA1C Glycated Hemoglobin Hemoglobin được glycate hóa
(Hemoglobin gắn kết với đường máu) IDF International Diabetes Federation Liên đoàn đái tháo đường quốc tế
WDF World Diabetes Foundation Quỹ đái tháo đường thế giới
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 73.9 Kiến thức về phòng ngừa và xử trí biến chứng của người
3.10 Kiến thức về tự theo dõi đường máu của người bệnh tham gia
3.11 Kiến thức về theo dõi chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2
3.12 Kiến thức tự chăm sóc đái tháo đường type 2 của người bệnh
3.13 Sự liên quan giữa giới của đối tượng và mức độ kiến thức 41 3.14 Sự liên quan giữa dân tộc của đối tượng và mức độ kiến thức 41 3.15 Sự liên quan giữa trình độ học vấn và mức độ kiến thức của
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
3.1 Phân bố dân tộc của đối tượng nghiên cứu 28 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 28 3.3 Phân bố khu vực sống của đối tượng nghiên cứu 29 3.4 Sự tương quan giữa tuổi và mức độ kiến thức của đối tượng 40 3.5 Sự tương quan giữa thời gian bị bệnh và mức độ kiến thức
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường type 2 là một bệnh mạn tính không lây liên quan đến chế độ ănuống, béo phì và lối sống,có tốc độ phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới[32] Vào những năm cuối của thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, đái tháo đường là bệnh không lây phát triển nhanh nhất Hiện nay bệnh đái tháo đường có xu hướng gia tăng nhanh ở các nước đang phát triển nơi mà có sự thay đổi nhanh về kinh tế, lối sống và tốc độ đô thị hoá Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2000
có 171 triệu người mắc đái tháo đường trên toàn cầu và dự báo số lượng người mắc vào năm 2030 sẽ là 366 triệu Nhưng trên thực tế chỉ sau 11 năm là vào năm 2011,
số người bệnh đái tháo đường đã là 366.2 triệu trên toàn thế giới
Việt Nam là nước đang phát triển cũng không nằm ngoài quy luật trên Theo nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, năm 2002 cả nước chỉ có khoảng 2.7% dân số mắc bệnh đái tháo đường nhưng đến năm 2012 điều tra tại 6 vùng trên
cả nước tỷ lệ này đã tăng lên gần 5.7% [1] Theo kết quả trong báo cáo của Hội thảo
về đái tháo đường do Bộ Y tế phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch tổ chức tại Hà Nội ngày 29/5/2014, trong 10 năm, số người bệnh mắc bệnh đái tháo đường ở nước
ta tăng 211%, Việt Nam nằm trong số quốc gia có tốc độ tăng người bệnh đái tháo đường cao nhất thế giới
Đái tháo đường type 2 có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm tại mắt, hệ thần kinh, mạch máu, tim và thận Bệnh đái tháo đường kết hợp với các biến chứng
là nguyên nhân của tình trạng khuyết tật, giảm chất lượng cuộc sống và tử vong Ngoài các biến chứng thể chất, đái tháo đường còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần của người bệnh đái tháo đường Tỷ lệ bệnh trầm cảm ở những người có bệnh đái tháo đường được ước tính khoảng từ 10% đến 30% [17],[43].Đái tháo đường còn là một thách thức kinh tế lớn đối với hệ thống y tế quốc gia, các cá nhân
và nền kinh tế nói chung Liên đoàn đái tháo đường quốc tế năm 2010 đã ước tính rằng chi phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh đái tháo đường chiếm từ 3 đến 11.6% tổng chi tiêu y tế trên thế giới trong dự toán2010.[37]
Trang 10Muốn phòng ngừa được các biến chứng nguy hiểm và quản lý hiệu quả bệnh đái tháo đường, người bệnh phải tham gia tích cực trong việc tự chăm sóc của bản thân bao gồm thay đổi lối sống (kiểm soát chế độ ăn uống, tập thể dục thường xuyên, kỹ năng đối phó tâm lý xã hội) và tự chăm sóc y tế (sử dụng thuốc và tự theo dõi đường máu) Tự chăm sóc thích hợp và duy trì sẽ làm giảm biến chứng, kéo dài tuổi thọ và cải thiện chất lượng cuộc sống[14] Việc tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh đái tháo đường mỗi năm có liên quan đến sự thiếu kiến thức và thực hành tự chăm sóc thích hợp Một người bệnhthu nhận được thông tin tốt sẽ có lợi thế tốt nhất để đạt được và duy trì kiểm soát yếu tố nguy cơ đường máu và tim mạch [38] Do đó, kiến thức tự chăm sóc kém có thể gây ra việc thực hành kiểm soát chuyển hóa dài hạn kém dẫn đến sự phát triển của bệnh đái tháo đường
Với những hiệu quả tích cực như trênthì kiến thức tự chăm sóc trong đái tháo đường được coi là một phần thiết yếu của quản lý lâm sàng bệnh Việc xác định những thiếu hụt về kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 là cần thiết Điều này sẽ góp phần xây dựng nội dung cần cung cấp, giáo dục cho người bệnh nhằm nâng cao thực hành tự chăm sóc của người bệnh, nỗ lực phòng ngừa biến chứng và có thể tạo điều kiện cho các can thiệp cụ thể theo nhu cầu của người bệnh.Bên cạnh đó, tại tỉnh Điện Biên chưa có nghiên cứu nào nhằm đánh giá kiến thức của người bệnh đái tháo đường và xác định những thiếu hụt trong kiến
thức của họ Vì vậy, tôi tiến hành đề tài“Đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2016”
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi, các bệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày một giảm thì ngược lại các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư… đặc biệt là bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hoá ngày càng tăng [8]
Vào những năm cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới đã dự báo "Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và rối loạn chuyển hoá, đặc biệt bệnh đái tháo đường sẽ là bệnh không lây phát triển nhanh nhất" Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2010 bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ năm trong 10 bệnh gây tử vong hàng đầu trên thế giới Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội Số người mắc đái tháo đường trên toàn thế giới tăng từ 171 triệu năm 2000 lên 194 triệu năm 2003, 246 triệu năm 2006 đã tăng vọt lên 366.2 triệu năm 2011 và được dự báo tăng lên 380 - 399 triệu vào 2025 Nhưng theo thống kê mới nhất vào năm 2015 của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế, số người mắc đái tháo đường năm 2015 đã là 415 triệu ở người trưởng thành từ 20-79 tuổi, con số này vượt xa mức dự báo cho năm 2025 vào năm 2011, trong đó có 215.2 triệu người là nam giới và 199.5 triệu người là nữ giới, 269.7 triệu người là ở khu vực thành thị và 145.1 người ở khu vực nông thôn Như vậy, trong năm 2015 cứ 11 người lớn thì có
1 người mắc đái tháo đường Liên đoàn đái tháo đường quốc tế tiếp tục dự báo năm
2040 số người mắc đái tháo đường sẽ là 642 triệu [37]
Theo cảnh báo của Quỹ đái tháo đường Thế giới (WDF), sự gia tăng bệnh đái tháo đường ở các nước phát triển là 42% từ 51 triệu lên 72 triệu người nhưng ở các nước đang phát triển lại lên tới 170% từ 84 triệu lên 228 triệu người Trong đó chủ
Trang 13yếu là đái tháo đường type 2 chiếm khoảng 85 - 95% tổng số người mắc bệnh đái tháo đường [45]
Đứng đầu danh sách trên thế giới về số lượng người mắc đái tháo đường là ba nước Trung Quốc, Ấn Độ và Mĩ với số lượng lần lượt là 109.6 triệu, 69.2 triệu và 29.3 triệu Tiếp theo là các nước Brazil, Nga, Mexico, Indonesia, Ai Cập, Nhật Bản
và Bangladesh [37]
Số lượng người mắc đái tháo đường ở khu vực Đông Nam Á tương đối cao, 78.3 triệu người, xếp thứ 2 trong bảy khu vực trên toàn thế giới chỉ sau Tây Thái Bình Dương là 153.2 triệu người Theo kết quả điều tra quốc gia năm 2008 tại Philippine tỷ lệ đái tháo đường là 7.2 % Tỷ lệ đái tháo đường khu vực thành thị là 8.3% và khu vực nông thôn là 5.8% [28] Tại Indonesia là 5.7% [20]
Đái tháo đườnghiện nay là một vấn đề sức khỏe toàn cầu phổ biến và nghiêm trọng Đặc biệt đối với hầu hết các nước đã phát triển gắn với những thay đổi nhanh chóng về văn hóa và xã hội, dân số lão hóa, tăng đô thị hóa, thay đổi chế độ ăn uống, giảm hoạt động thể chất và lối sống không lành mạnh
Ở Việt Nam số người bệnh đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng, không chỉ ở khu vực thành thị mà còn ở các khu vực miền núi và nông thôn
Tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ người bệnh đái tháo đường năm 1990 là 2.5%, năm 2001 là 3.7% đến năm 2012 là 6.9%, mức cao nhất trong cả nước Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tại Hà Nội năm 1990 là 1.2% đến năm 2000 là 4% dân số
và 7% ở độ tuổi trên 35 [7]
Theo Trần Minh Long, năm 2010, nghiên cứu tại Nghệ An, tỷ lệ đái tháo đường type 2 ở người từ 30-69 tuổi là 9.4% [9] Theo Huỳnh Nhân Hải, năm 2012,
tỷ lệ đái tháo đường type 2 tại thành phố Vĩnh Long là 7.4% Tỉnh Trà Vinh năm
2012 tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở người trên 45 tuổi là 9.5% [5]
Theo báo cáo của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2013 [1], trong năm
2002 cả nước chỉ có khoảng 2.7% dân số mắc bệnh đái tháo đường nhưng đến năm
2012 điều tra tại 6 vùng trên cả nước tỷ lệ này đã tăng lên gần 5.7%; khu vực Tây Nam Bộ có tỷ lệ cao nhất với 7.2% dân số, khu vực tây Nguyên có tỷ lệ thấp nhất
Trang 143.8% dân số Tại 4 thành phố lớn Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỷ lệ bệnh đái tháo đường là 4% Đối với tỷ lệ tiền đái tháo đường cũng có
sự gia tăng từ 7.7% (năm 2002) lên tới 12.8% (năm 2012) Cuộc điều tra đã chỉ ra một thực trạng đáng quan tâm, tỷ lệ người bệnh đái tháo đường trong cộng đồng không được phát hiện là 63.6% trong khi tỷ lệ này chung trên thế giới là 50% Thống kê cũng cho thấy nhóm tuổi từ 45-64 tuổi đuợc xem là nhóm đối tượng có tỷ
lệ mắc đái tháo đường cao nhất; nhóm tuổi mắc đái tháo đường đang có xu hướng trẻ hoá theo thời gian Như vậy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam 10 năm qua
đã tăng gấp đôi Đây là con số đáng báo động vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm
tỷ lệ mắc đái tháo đường mới tăng gấp đôi Trong khi đó, 75.5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về bệnh đái tháo đường
Tại tỉnh Điện Biên, trong năm 2015, theo thống kê của Trung tâm Nội tiết tỉnh
và các Trung tâm y tế huyện, thị, thành phố đã tổ chức khám sàng lọc cho tổng số 8.400 người, kết quả có gần 50% số người mang yếu tố nguy cơ; tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường type 2 là 2.8%; tỷ lệ người mắc tiền đái tháo đường là 18.6% Riêng bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, số lượt người bệnh được chần đoán đái tháo đường đến khám tăng lên theo từng năm: năm 2013 là 5532 lượt; năm 2014 là
6075 lượt và năm 2015 là 6132 lượt
1.2 Đái tháo đường
1.2.1 Định nghĩa
Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA)định nghĩa:“Đái tháo đường là bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng đường máu do sự phối hợp giữa kháng insulin và thiếu đáp ứng insulin” [13]
Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) định nghĩa: “Đái tháo đường là một bệnh mạn tính xảy ra khi cơ thể không thể sản xuất đủ insulin hoặc không thể sử dụng insulin, và được chẩn đoán bằng cách đánh giá mức độ tăng glucose trong máu [37]
Trang 15Đái tháo đường type 2 đặc trưng bởi kháng insulin và thiếu tương đối insulin, một trong hai rối loạn này có thể xuất hiện ở thời điểm có triệu chứng lâm sàng bệnh
1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường[3],[13]
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường theo IDF năm 2015 dựa vào một trong các tiêu chí:
- Mức đường máu tương lúc đói ≥7.0mmol/l (≥126mg/dl) (Lúc đói được xác định là không dung nạp calo trong 8 giờ)
Hoặc:
- Mức đường máu tương ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống (Thực hiện như mô tả của Tổ chức Y tế Thế giới, sử dụng đường có chứa tương đương với glucose khan 75g hòa tan trong nước)
Cách xử trí: Khi có dấu hiệu hạ đường máu nhẹ và trung bình, người bệnh phải nhanh chóng ăn nhẹ như cháo loãng, súp hoặc uống một cốc nước đường, hay
ăn 1 chiếc kẹo và nằm nghỉ ngơi yên tĩnh
Trang 16- Hôn mê do tăng đường máu:
Đường máu quá cao có thể gây hôn mê do nhiễm toan ceton hay tăng áp lực thẩm thấu Đây là biến chứng nặng và rất dễ tử vong, đòi hỏi người bệnh phải được cấp cứu ngay lập tức
* Biến chứng mạn tính:
- Biến chứng ở mắt:
Đường máu tăng cao làm tổn thương hệ thống mao mạch ở đáy mắt, gây bệnh võng mạc Dần dần, người bệnh bị suy giảm thị lực, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến mù lòa Đái tháo đường cũng làm tăng nguy cơ một số bệnh về mắt khác như đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, phù hoàng điểm
Cách phòng ngừa: Kiểm soát tốt đường máu, khám mắt tối thiểu mỗi năm một lần Nếu thị lực giảm đột ngột, nhìn mờ hay có cảm giác ruồi bay trước mắt, ấn vào quầng mắt thấy đau, nhức người bệnh phải ngay lập tức đi khám
- Biến chứng tim mạch:
Đái tháo đường sẽ gây nên tổn thương sớm ở tế bào nội mạc, làm rối loạn chức năng nội mạc mạch máu Lớp nội mạc là lớp tế bào trong cùng của thành mạch, nơi tiếp xúc trực tiếp giữa thành mạch và các thành phần của máu Khi chức năng nội mạc bị rối loạn, nó sẽ làm cho các phân tử cholesterol dễ dàng chui qua lớp nội mạc vào trong, kết hợp với tăng khả năng kết dính và xuyên thành của tế bào bạch cầu vào trong lớp nội mạc Từ đó sẽ hình thành mảng vữa xơ động mạch, hoặc mảng vữa xơ đã hình thành thì tiến triển rất nhanh dẫn đến hẹp dần lòng mạch, gây nên các biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu cục bộ mạn tính ở cơ quan tổ chức Ngoài ra, khi lớp nội mạc mạch máu bị tổn thương, sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho
sự co mạch kết hợp với sự kết dính các tế bào tiểu cầu, hình thành nên cục huyết khối trong lòng mạch làm tắc mạch cấp tính, gây nên các biểu hiện lâm sàng của thiếu máu cục bộ cấp tính của tổ chức như cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não đe doạ nghiêm trọng tính mạng người bệnh
Cách phòng ngừa: Kiểm soát tốt các chỉ số đường máu, mỡ máu và huyết áp trong giới hạn cho phép cùng với chế độ ăn, tập luyện khoa học
Trang 17- Biến chứng thần kinh:
+ Bệnh thần kinh ngoại biên: Ảnh hưởng đến những dây thần kinh: cảm nhận được cảm giác như đau, nóng hoặc tiếp xúc và thần kinh kiểm soát vận động,
di chuyển cơ bắp
+ Bệnh thần kinh tự chủ: Ảnh hưởng đến dây thần kinh kiểm soát hoạt động
tự chủ như nhịp tim, nhịp thở, tuyến tiết (mồ hôi, dịch tiết)…
Cách phòng ngừa: Kiểm soát tốt đường máu, vệ sinh và chăm sóc bàn chân đúng cách hàng ngày là cách tốt nhất để phòng ngừa biến chứng
- Biến chứng ở thận:
Lượng đường trong máu cao gây tổn thương tới hàng triệu vi mạch (mạch máu nhỏ) tại thận, làm suy giảm chức năng lọc, bài tiết của thận, nặng hơn là dẫn đến suy thận không hồi phục
Cách phòng ngừa: Duy trì đường máu, huyết áp về ngưỡng bình thường, kết hợp với chế độ ăn giảm muối, giảm đạm Ít nhất mỗi năm 1 lần, người bệnh đái tháo đường type 2 nên làm xét nghiệm microalbumin trong nước tiểu để phát hiện sớm các tổn thương ở thận
- Biến chứng nhiễm trùng:
Đường trong máu cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, đồng thời làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể Vì vậy, rất dễ bị nhiễm trùng, như nhiễm trùng răng lợi, tiết niệu hay sinh dục, vết loét lâu liền… Tình trạng viêm nhiễm thường kéo dài, dai dẳng và khó điều trị
Cách phòng ngừa: Kiểm soát đường máu trong giới hạn, giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ, đặc biệt là một số vùng dễ nhiễm khuẩn như răng miệng, sinh dục hay tiết niệu
Nếu nhận thấy những dấu hiệu cảnh báo nhiễm trùng như: sốt; dịch âm đạo có mùi khó chịu; đau khi đi tiểu, nước tiểu đục, có máu hay mùi hôi Hoặc khi có các vết thương hay xây xước nhỏ lâu lành Người bệnh cần trao đổi ngay với bác sĩ
- Biến chứng ở da:
Trang 18Ngoài các tổn thương do nhiễm trùng, ở da còn có những biểu hiện sau: viêm teo dạng mỡ biểu hiện bằng những nốt mà phần trung tâm teo lại, vùng viền xung quanh tím dần, định vị ở ngón tay hay chi dưới, dị ứng da do insuline, phì đại mô
mỡ hoặc teo mô mỡ
1.3 Gánh nặng của đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường là bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều biến chứng Theo hiệp hội đái tháo đường quốc tế, đái tháo đường là nguyên nhân phổ biến thứ tư gây tử vong ở hầu hết các nước phát triển Khoảng 50% người bệnh đái tháo đường bị các biến chứng như bệnh mạch vành, tim mạch, đột quỵ, bệnh lý thần kinh do đái tháo đường, cắt đoạn chi, suy thận, mù mắt Biến chứng này có thể dẫn đến tàn tật và giảm tuổi thọ [42]
- Tỷ lệ của bệnh lý võng mạc ở người có bệnh đái tháo đường là 35% Bệnh võng mạc đái tháo đường gây ra 1.9% trường hợp khiếm thị trên toàn cầu và 2.6% trường hợp mù trong năm 2010
- Theo số liệu tổng hợp từ 54 quốc gia cho thấy ít nhất 80% các trường hợp bệnh thận giai đoạn cuối gây ra bởi bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc sự kết hợp của hai bệnh Tỷ lệ bệnh thận giai đoạn cuối do bệnh đái tháo đường nằm trong khoảng 12-55% Tỷ lệ bệnh thận giai đoạn cuối ở người bệnh đái tháo đường cao gấp 10 lần so với người không có bệnh
- Người có tiền sử bệnh đái tháo đường có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch cao hơn
2-3 lần người không bị đái tháo đường
- Bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ bị cắt cụt chi dưới do bị nhiễm khuẩn không được chữa trị đúng cách Tỷ lệ cắt cụt chi trong quần thể người bệnh đái tháo đường cao hơn 10-20 lần so với các quần thể không bị đái tháo đường [56]
Đái tháo đường là một thách thức kinh tế lớn đối với hệ thống y tế quốc gia, cá nhân và nền kinh tế nói chung Người ta ước tính rằng chi phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh đái tháo đường chiếm từ 3 đến 11.6% tổng chi tiêu y tế trên thế giới trong
dự toán 2010 Một vài ước tính chỉ ra rằng việc ngăn ngừa và điều trị các biến chứng bệnh đái tháo đường liên quan sẽ tăng lên 379 tỷ USD năm 2010 lên hơn 490
Trang 19tỷ USD Trong số các dự toán chi phí điều trị bệnh đái tháo đường và phòng chống, 80% chi phí từ các nước phát triển, các nước trung bình và kém phát triển chiếm ít hơn 20% Các ước tính hơn nữa cho thấy chi phí sẽ khác nhau tùy theo độ tuổi và giới tính, ba phần tư chi tiêu của thế giới trong năm 2010 đã được sử dụng cho những người trong nhóm tuổi từ 50 đến 80 năm [35] Ngoài ra, chi phí chăm sóc bệnh đái tháo đường cho phụ nữ cao hơn nam giới [35],[45]
1.4 Tự chăm sóc trong đái tháo đường type 2
Tự chăm sóc là một khái niệm đa chiều và có định nghĩa khác nhau Trong số các định nghĩa, định nghĩa của Orem là nhất quán hơn Orem lập luận rằng, tự chăm sóc là một hoạt động cá nhân để chăm sóc, duy trì sức khỏe của chính họ và phòng ngừa biến chứng bệnh liên quan đến bệnh Điều này có thể được thực hiện thông qua việc quản lý và duy trì thực hiện lối sống lành mạnh trong các lĩnh vực của hoạt động thể chất, dinh dưỡng, sử dụng thuốc và kiểm soát bệnh Cùng với điều này, Orem mô tả tự chăm sóc là khả năng của mình để tự đánh giá, giám sát và đưa ra quyết định cho các tình huống trong cuộc sống của bản thân họ Tự chăm sóc là một quá trình liên tục [11]
Cooper định nghĩa tự chăm sóc trong quản lý bệnh đái tháo đường như một quá trình của sự phát triển của kiến thức hay nhận thức bằng cách học để tồn tại với tính chất phức tạp của bệnh đái tháo đường trong một bối cảnh xã hội [30] Anderson và De Weerdtlập luận rằng tự chăm sóc trong bệnh đái tháo đường là một yếu tố quan trọng để giữ cho căn bệnh này trong tầm kiểm soát và khoảng 95% của việc chăm sóc thường được thực hiện bởi các cá nhân bị bệnh hoặc gia đình của họ bao gồm tự theo dõi đường máu, dinh dưỡng, hoạt động thể chất, và tuân thủ với thuốc Ngoài ra, Herschbach cho biết tự chăm sóc không chỉ là thực hiện các hoạt động mà còn là đưa ra sự xem xét mối quan hệ giữa chúng với thực hiện các thay đổi cho thích hợp trong cuộc sống [11]
Để thực hiện tự chăm sóc đòi hỏi ở người bệnh kỹ năng thể chất, nhận thức, và kiến thức về tự chăm sóc Kỹ năng nhận thức rất hữu ích trong việc giải quyết vấn
Trang 20đề của một cá nhân được áp dụng thông qua suy nghĩ hơn là trong thực tế hay hành động [25],[53]
Phù hợp với định nghĩa của các học giả ở trên Hernandez và Peterson cho rằng
tự chăm sóc là một quá trình học tập, là những nỗ lực của người bệnh để tìm hiểu các cách khác nhau của các chiến lược tự chăm sóc để xác định những gì là cần thiết, thích hợp cho lối sống và điều kiện sống của họ[34] Việc tuân thủ tự chăm sóc không phải sẽ luôn luôn dẫn đến kiểm soát chuyển hóa xứng đáng nhưng tự chăm sóc kém thì sẽ có nhiều khả năng dẫn đến kiểm soát chuyển hóa kém [55].Nghiên cứu được thực hiện bởi Nauck và cộng sự chứng minh rằng việc chăm sóc bệnh đái tháo đường nên được đặt vào từng cá nhân bao gồm theo dõi đường máu, tuân thủ điều trị và lối sống lành mạnh [47]
Các hành vi tự chăm sóc thiết yếu ở những người bị bệnh đái tháo đường mà
dự đoán kết quả tốt bao gồm sử dụng thuốc phù hợp, chế độ ăn uống lành mạnh, hoạt động thể lực, phòng tránh nguy cơ biến chứng vàtheo dõi lượng đường trong máu[16].Tất cả những hành vi đã được tìm thấy có mối tương quan tích cực với kiểm soát tốt đường máu, giảm các biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống
Cá nhân bị bệnh đái tháo đường đãđược chứng minh có một tác động đáng kể vào giảm sự phát triển của bệnh bằng cách tham gia tự chăm sóc Nhận thấy tính chất đa diện của vấn đề, một cách có hệ thống, đa hướng và một cách tiếp cận tích hợp là cần thiết cho việc thúc đẩy thực hành tự chăm sóc ở người bệnh đái tháo đường để ngăn chặn biến chứng lâu dài
1.4.1 Sử dụng thuốc
Nền tảng của quản lý đái tháo đường là lối sống Tuy nhiên, nó không đủ để kiểm soát lượng đường trong máu, do đó khuyến nghị về các loại thuốc uống hạ đường máu hoặc insulin được đề cập trong phối hợp với một lối sống lành mạnh
Sử dụng thuốc cho người bệnh đái tháo đường type 2 có thể tạo điều kiện kiểm soát tuyệt vời với khả năng bình thường hóa đường máu của insulin và giảm HbA1C từ 0.5-2% khi sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường uống [46]
Trang 21Một số yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến sự tuân thủ dùng thuốc là sự phức tạp của các phác đồ [37], tác dụng phụ của thuốc, mức độ nghiêm trọng của bệnh trầm cảm [29] và thiếu niềm tin của các người bệnh vào những lợi ích trước mắt và trong tương lai của thuốc
1.4.2 Chế độ dinh dưỡng
Dinh dưỡng là một thành phần không thể thiếu trong phòng chống và quản lý bệnh đái tháo đường.Hiệp hội đái tháo đường Mỹđưa ra khuyến nghị các cá nhân nên thực hiện chế độ dinh dưỡng bởi một chuyên gia dinh dưỡng là người tham gia quá trình điều trị cùng cá nhân đó để đạt được mục tiêu điều trị
Do ảnh hưởng của bệnh béo phì đối với việc kháng insulin, giảm cân là một phần quan trọng trong điều trị đối với cá nhân thừa cân và béo phì bị tiềnđái tháo đường hoặc bệnh đái tháo đường [49] Trong một nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giảm cân vừa phải khoảng 5% trọng lượng cơ thể ở người bệnh đái tháo đường type
2 có liên quan với giảm đề kháng insulin, giảmđường máu và giảm huyết áp [48] Theo bằng chứng từ các nghiên cứu về chế độ ăn cho người cao huyết áp mà nội dung chính là tăng cường tiêu thụ trái cây và rau quả (8-10 phần ăn mỗi ngày), các sản phẩm từ sữa ít chất béo (2-3 phần ăn mỗi ngày), giảm lượng natri và hạn chế uống rượu có thể giúp huyết áp cũng thấp hơn đáng kể.[19]
Một số nguyên tắc trong chế độ ăn [2],[4]
- Người bệnh thừa cân, béo phì cần giảm ít nhất 5% so với cân nặng ban đầu
- Năng lượng: 30 kcal/kg cân nặng lý tưởng/ngày
- Đảm bảo cung cấp cân đối năng lượng giữa protein, glucid và lipid theo tỷ lệ:
+ Protid: 15 - 20% tổng năng lượng
+ Glucid: 55 - 65% tổng năng lượng Nên sử dụng các glucid phức hợp, glucid có chỉ số đường máu thấp
+ Lipid: 20- 30% tổng năng lượng Axid béo chưa no một nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và axid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid
- Lượng chất xơ: 20- 25 g
Trang 22- Nên dùng các loại carbohydrate hấp thu chậm, không chà xát kỹ như gạo lức, bánh mì đen, ngô, khoai lang Lượng carbohydrate tối thiểu hàng ngày khoảng 130 gam, nhưng không vượt quá 60% tổng số năng lượng
- Đạm khoảng 1-1.5 gam/kg cân nặng/ngày ở người không suy giảm chức năng thận Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần
- Nên chú trọng dùng các loại chất béo chứa acid béo không bão hòa như dầu
ô liu, dầu mè, dầu lạc, mỡ cá
- Hạn chế muối < 6 gam/ ngày
- Thực hiện ăn chậm, nhai kỹ Một ngày nên ăn4- 6 bữa Nếu do điều kiện lao động và sinh hoạt chỉ ăn được 3 bữa/ngày năng lượng phân phối như sau:
+ Bữa sáng: 20% năng lượng
+ Bữa trưa: 40% năng lượng
+ Bữa tối : 40% năng lượng
1.4.3 Hoạt động thể chất
Tập thể dục đều đặn đã được chứng minh cải thiện kiểm soát đường máu, giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch và góp phần giảm cân Người bệnh đái tháo đường nên hoạt động thể chất ít nhất 150 phút mỗi tuần với cường độ vừa phải Một nghiên cứu đã chứng minh tập thể dục ít nhất 8 tuần có thể làm giảm HbA1C thấp hơn 0.66% ở những người bị bệnh đái tháo đường type 2[26] Cường độ tập thể dục
có liên quan với những thay đổi trong HbA1C [27]
Cần chọn những hoạt động dễ thực hiện và trở thành thói quen hàng ngày, thuận lợi thời gian để duy trì hoạt động Một số hình thức tập luyện sức bền phổ biến:
- Đi bộ sức khỏe: Trong số các loại hình thể dục thể thao củng cố và nâng cao sức khoẻ thì đi bộ nhanh có vị trí quan trọng và có tính đại chúng cao, đặc biệt là đối với những người cao tuổi Đi bộ có ảnh hưởng tốt lên toàn bộ cơ thể, đặc biệt là đối với hệ thống tim mạch, hô hấp, giảm cân, chữa bệnh cường độ vận động phụ thuộc vào số bước chân trong 1 phút:
Rất chậm, từ 60 đến 70 bước trong một phút (2.5-3km/giờ)
Trang 23Chậm, từ 70 đến 90 bước trong một phút (3-4km/giờ)
Nhanh, từ 120 đến 140 bước trong một phút (5.5-6.5km/giờ)
Rất nhanh, trên 140 bước trong một phút (trên 6.5 km/giờ)
Đi bộ với tốc độ lên đến 6.5 km/giờ thì cường độ vận động đã có thể đạt ở vùng có hiệu quả rèn luyện (Số lượng mạch 120-130 lần/phút), và trong một giờ có thể tiêu hao khoảng 300-400 kcal (khoảng 0.7 kcal/1kg thể trọng/trên 1km đường)
Đi bộ nhanh để củng cố và nâng cao sức khoẻ có thể áp dụng cho những đối tượng
có chống chỉ định đối với chạy, những đối tượng ở các độ tuổi khác nhau mới bắt đầu tham gia tập luyện mà có tình trạng thể lực kém Cùng với sự gia tăng trình độ rèn luyện, các bài tập đi bộ sức khoẻ cần phải được xen kẽ với tập chạy, chạy bước nhỏ.[6]
- Chạy: Trong những năm gần đây, chạy là một loại hình rèn luyện phổ biến,
có số lượng lớn người tham gia, ở mọi lứa tuổi Môn chạy là một loại hình vận động phổ cập nhất để tập thể lực và nâng cao sức khoẻ Trừ một số ngoại lệ, tất cả mọi người đều có thể tập chạy, không phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, trình độ luyện tập Môn chạy rất tự nhiên và đơn giản đến mức không đòi hỏi huấn luyện kỹ thuật đặc biệt, nhưng nó có ảnh hưởng cực kỳ tốt đối với cơ thể con người
Đối với những người bệnh mới bắt đầu tập chạy, những buổi đầu tiên cần chạy với cường độ thấp để cơ thể có thời gian thích ứng dần với lượng vận động Giai đoạn này thường kéo dài khoảng 8-12 tuần Trong thời gian này có thể áp dụng phương pháp tập luân phiên giữa đi bộ nhanh và chạy Ví dụ, 50m đi bộ nhanh + 50m chạy, buổi tập sau 100m đi bộ nhanh + 100m chạy cho đến khi cơ thể có thể duy trì được chạy liên tục
Khi tập luyện bắt đầu cho ta cảm giác dễ chịu, cần tăng dần thời gian chạy đến 20-30 phút/buổi Để đạt được hiệu quả tốt, cần phải tập chạy thường xuyên 3-4 buổi/tuần, cách ngày [6]
- Bơi: Tiêu hao năng lượng của cơ thể trong khi bơi có một loạt các đặc điểm cao hơn của không khí 25 lần Do lực cản và tính chất dẫn nhiệt của nước lớn nên tiêu hao năng lượng khi bơi cao hơn khoảng 4 lần so với đi bộ cùng tốc độ (3
Trang 24kcal/kg/km; 0.7 kcal/kg/km tương đương) Như vậy, tập bơi là một phương pháp tuyệt vời để giảm cân Để đạt được hiệu quả rèn luyện sức khoẻ của tập bơi, cần phải phát triển tốc độ bơi đủ lớn để mạch đập đạt trên 130 lần/phút, tập bơi 3 buổi/tuần, mỗi buổi khoảng 30 phút [12]
- Thể dục nhịp điệu: tập thể dục nhịp điệu giúp cơ thể sử dụng insulin tốt hơn, làm giảm stress, cải thiện lưu thông máu và làm giảm nguy cơ bệnh tim bằng cách
hạ thấp lượng đường trong máu và huyết áp
Để đạt được hiệu quả củng cố, nâng cao sức khoẻ và can thiệp bệnh tật, người bệnh cần phải tham gia tập luyện thường xuyên, tối thiểu 5 ngày một tuần và mỗi lần 30 phút với cường độ phù hợp với lứa tuổi của mình, với yêu cầu có không dưới 2/3 số cơ của cơ thể tham gia vào quá trình vận động Với đối tượng tập luyện từ 40 tuổi trở lên, đối tượng mới bắt đầu tập hoặc sau khi nghỉ tập trong một thời gian dài cần phải tập với cường độ 130-140 nhịp/phút [12]
Lựa chọn hoạt động để thực hiện thành công một chương trình rèn luyện cần lựa chọn một hoạt động hoặc những hoạt động phù hợp cho bản thân, thuận lợi về thời gian và những lợi ích gì sẽ thu được từ hoạt động
1.4.4.Tự theo dõi đường máu[10]
Tự theo dõi đường máulà rất cần thiết ở người bệnh đái tháo đường.Tự theo dõi đường máu sẽ giúp người bệnh kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường,cho phép người bệnh đánh giá phản ứng của cá nhân người bệnh với điều trị và chăm sóc và giúp người bệnh tự đánh giá các mục tiêu trong tự chăm sóc của họ có đạt được hay không Ngoài ra, tự theo dõi đường máu còn giúp người bệnh phòng ngừa các biến chứng, phòng ngừa hạ đường máu, phòng ngừa hôn mê do tăng đường máu…
Để làm được việc này, trước hết người bệnh đái tháo đường cần có một máy
đo đường máu cá nhân Những máy này rất nhỏ gọn, dễ sử dụng và có thể đem theo khi di chuyển Đo đường máu được thực hiện tại vị trí đầu ngón tay
Các thời điểm có thể thực hiện đo đường máu:
- Trước bữa ăn sáng (nhịn ăn)
- Hai giờ sau bữa ăn
Trang 25- Trước hoặc sau khi tập thể dục
- Buổi tối trước khi đi ngủ
Thường xuyên kiểm tra đường máu trong các trường hợp:
- Tăng hoặc giảm hoạt động thể lực
- Căng thẳng về tâm lý
- Có thay đổi thói quen hàng ngày như: ăn uống, đi công tác, du lịch…
- Thay đổi hoặc điều chỉnh thuốc hạ đường máu
- Có các dấu hiệu của tăng đường máu
- Ra mồ hôi đêm hoặc đau đầu vào buổi sáng
1.4.5 Phòng tránh nguy cơ biến chứng
Người bệnh đái tháo đường không nên hút thuốc vì hút thuốc dẫn đến nguy cơ cao các bệnh về tim mạch, tử vong sớm và tăng tỷ lệ biến chứng mạch máu nhỏ Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh hiệu quả của việc giảm và ngừng sử dụng thuốc lá ở người bệnh.[52]
Người bệnh đái tháo đường cần được giáo dục chăm sóc bàn chân và kiểm tra chân toàn diện hàng năm để xác định các yếu tố nguy cơ dự đoán loét chân và cắt cụt.Điều này là cần thiết cho những người có bàn chân có nguy cơ cao đặc biệt là nếu họ đã có một tiền sử loét trước đó hoặc cắt cụt chi Bàn chân cần được quan sát
tỉ mỉ mỗi ngày, các vết trầy xước lâu lành, các cục chai sần, các biến đổi màu sắc của bàn chân (ửng đỏ, tái nhợt, đen), các thay đổi về cảm giác lạnh, tê rần, kiến bò… Tất cả phải được thông báo sớm đến bác sĩ để được chữa trị kịp thời
Thực hiện tốt việc kiểm soát đường máu và huyết áp là điều cần thiết trong việc giảm và làm chậm tiến triển của bệnh võng mạc và bệnh thận ở những người bệnh này [41] Người bệnh bị bệnh đái tháo đường type 2 nên được sàng lọc những biến chứng khi chẩn đoán và trải qua theo dõi tùy thuộc vào sự tiến triển của bệnh 1.5 Mức độ kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 Mức độ kiến thức của người bệnh đái tháo đường type 2 đã được nghiên cứu rộng rãi ở các vùng khác nhau và các thiết lập lâm sàng Al-Adsani và cộng sự đã đánh giá mức độ kiến thức của người bệnh đái tháo đường và các yếu tố liên quan
Trang 26trong 5114 người bệnh Kuwait với bệnh đái tháo đường type 2 trong một môi trường chăm sóc sơ cấp và tìm thấy điểm trung bình 58,9% Sự thiếu hụt kiến thức
có trong các câu hỏi liên quan đến chế độ ăn uống[15]
Tại châu Phi, mức độ hiểu biết về bệnh đái tháo đường củangười bệnh bị hạn chế Odili và cộng sựđã đánh giá mức độ hiểu biết trong số 100 người bệnh bị bệnh đái tháo đường; 96% trường hợp có bệnh đái tháo đường type 2 ở một thành phố Nigeria sử dụng 14 mục của test kiến thức về đái tháo đường và thấy thấp với trung bình là 39% ± 16,7% Người bệnh đã được chứng minh có thiếu hụt kiến thức quan trọng trong chế độ ăn uống và tự theo dõi đường máu Thời gian nhận thức bệnh là yếu tố duy nhất có liên quan đáng kể với mức độ kiến thức.[50]
Baumann và cộng sự ở Kampala, Uganda đã đánh giá tự chăm sóc trong số
340 người bệnh bị bệnh đái tháo đường type 2 và thấy rằng ít hơn 40% người bệnh biết các dấu hiệu và triệu chứng của hạ đường máu Trong một môi trường chăm sóc chính của Nam Phi, Moodley và cộng sự thấy đối tượng Châu Phi có mức kiến thức bệnh đái tháo đường thấp với trung bình 52,2.% So với các đối tác Ấn Độ của mình với trung bình 75,9% [21]
Mức độ hiểu biết của người bệnh gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng chăm sóc bệnh đái tháo đường Người bệnh có kỹ năng biết chữ thấp gặp phải những thách thức trong việc theo hướng dẫn của bác sĩ, đọc và sau thuốc theo quy định [24] Những người bệnh có kiến thức kém về quản lý bệnh đái tháo đường tự đặt họ vào nguy cơ kết quả sức khỏe tồi tệ hơn [23]
Padma và cộng sự ở Ấn Độ đã đánh giá vai trò của kiến thức và tự chăm sóc trong quản lý bệnh đái tháo đường ở 117 người bệnh bị bệnh đái tháo đường type 2 tại một trung tâm chăm sóc đã tìm thấy người bệnh có mức độ cao về về bệnh đái tháo đường Những người bệnh này cũng đã chứng minh thực hành tốt chế độ ăn uống, hoạt động thể chất, thuốc và các thực hành tự chăm sóc liên quan đáng kể với kiểm soát đường máu tốt mà đường máu lúc đói dưới 110mg/dl [51]
Trang 27Ayele và cộng sự ở Ethiopia sử dụng một bảng câu hỏi có cấu trúc tìm thấy 93% người bệnh có cả kiến thức chung về bệnh đái tháo đường và kiến thức cụ thể
về chăm sóc bản thân [22]
Hầu hết các nghiên cứu trên đã được tập trung vào các biện pháp can thiệp tự chăm sóc chứ không phải là yếu tố góp phần vào việc tự chăm sóc ở người bệnh với type 2 Do đó, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu tổng quan hệ thống trong đó có kiến thức về tự chăm sóc Kiến thức tự chăm sóc về bệnh đái tháo đường thông qua một chương trình quản lý giáo dục là nhằm tạo điều kiện cho người bệnh hiểu được nguyên nhân, triệu chứng và biến chứng của bệnh, các biện pháp chăm sóc nhăm đạt được mục tiêu đề ra Ngoài ra, nó còn cung cấp đào tạo các kỹ năng cần thiết và tạo động lực cho người bệnh để thích nghi với thay đổi lối sống tích cực giúp họ đối phó với căn bệnh này Bản thân người bệnh là phụ trách chính trong các hành vi tự chăm sóc của họ và những lựa chọn mà họ làm cho mỗi ngày khi họ chăm sóc có ảnh hưởng lớn hơn trên kết quả so với những người thực hiện bởi các chuyên gia y
type 2
1.7 Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc Việt Nam Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, phía Tây và Tây Nam giáp
Trang 28với 2 tỉnh Luông Pha Băng và Phong Xa Lỳ của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Điện Biên có địa hình chia cắt, phức tạp, 50% diện tích có độ cao trên 1000m
so với mặt biển, 70% diện tích có độ dốc trên 25o Điện Biên có diện tích tự nhiên 9562.9 km Dân số năm 2007 là 468.282 người, trong đó dân tộc Thái 40.4%, dân tộc H’Mông 28.8%, dân tộc Kinh chiếm khoảng 19.7%, còn lại là các dân tộc khác như: Khơ Mú, Dao, Hà Nhì, Hoa, Kháng, Mật độ dân số là 49 người/km2.Điện Biên có khí hậu nhiệt đới núi cao, chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhịp độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2004 – 2007 ước đạt 10.5%, cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng xác định.Đời sống của người dân tại thành phố và trung tâm thị trấn có sự thay đổi rõ nét như từ laođộng chân tay chuyển lao động trí óc, cuộc sống người dân được nâng lên Từ đó sốngười dân có cuộc sống tĩnh tại rất cao trong cộng đồng.Đường xá giao thông đượcnâng cấp, xây dựng nối liền xã, bản, huyện và thông suốt về trungtâm tỉnh, thành phố giúp cho sự phát triển về kinh tế, giao lưu hàng hoá mua bán đượcthuận tiện đời sống của đại đa số người dân được nâng lên Tuy nhiên, một bộ phận người dân đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số sống
ở vùng sâu vùng xa miền núi, đời sống còn nhiều khó khăn, họ phải lao động nặng nhọc và thức ăn chính hàng ngày là ngô, khoai và sắn Thêm vào đó việc tiếp xúc với các cơ sở y tế khám chữa bệnh còn hạn chế nên nên kiến thức phòng ngừa và chăm sóc bệnh tật chưa được đầy đủ Mặc dù các xã đều có trạm y tế nhưng cơ sở vật chất còn nghèo nàn, trang thiết bị còn thiếu thốn nên chưa đáp ứng nhucầu khám chữa bệnh cho người dân Công tác tuyên truyền phòng chống các dịch bệnh chođồng bào còn hạn chế cả về nội dung, hình thức cũng như phương pháp
Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên là tuyến khám chữa bệnh cao nhất trong địa bàn tỉnh Điện Biên Bệnh viện thực hiện cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú cho tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các bệnh viện khác chuyển đến Bên cạnh đó bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên còn kết hợp với bệnh viện tuyến dưới thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong địa bàn tỉnh, thành phố và các huyện, thị xã Tôi đã chọn địa điểm nghiên cứu
Trang 29là bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên với mong muốn có thể đánh giá một cách tổng quan nhất kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 sinh sống tại tất cả các khu vực trong tỉnh
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng:Người bệnh đãđược chẩn đoán đái tháo đường type 2 theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế năm 2011 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên Từ 01/6/2016 đến 31/8/2016
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Người bệnh có thể nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Việt
+ Người bệnh có khả năng tham gia trả lời phỏng vấn
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu
+ Người bệnh quá mệt, không thể tham gia trả lời phỏng vấn
+Người bệnh điếc, câm, rối loạn tâm thần, lú lẫn
+ Người bệnh có thai
+ Người bệnh phải chuyển vào điều trị nội trú
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/4/2016 đến 15/10/2016
- Thời gian thu thập số liệu: Từ 01/6/2016 đến 31/8/2016
- Địa điểm: Phòng khám - Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Trang 31Zα/2-Giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị α được chọn Z = 1.96
Cỡ mẫu của nghiên cứu tính được là 171 người bệnh đang điều trị ngoại trú đái tháo đường type 2
2.5.Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
Tại phòng khám, Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên có 358 người bệnh đái tháo đường đăng ký quản lý đái tháo đường type 2,lập danh sách 358 người bệnh đóvà đánh số thứ tự Tiến hành chọn mẫu với khoảng cách mẫu k = 2 (k = N/n = 358/171, N là số người bệnhtại địa điểm nghiên cứu, n là cỡ mẫu cho nghiên cứu) Đối tượng nghiên cứu đầu tiên được lựa chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến k bằng phương pháp bốc thăm, những đối tượng tiếp theo được tìm theo nguyên tắc số thứ tự của đối tượng bằng số thứ tự của đối tượng trước nó cộng với hệ số k cho đến khi đủ số lượng cỡ mẫu nghiên cứu
Bốc thăm được đối tượng đầu tiên có số thứ tự là 1 Như vậy các đối tượng tiếp theo có số thứ tự lần lượt là 1, 3, 5, 7, 9………335, 337, 339,341
Trường hợp nếu đối tượng được lựa chọn không đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia nghiên cứu thì lấy đối tượng kế tiếp ngay sau đối tượng được chọn trong bảng danh sách
2.6 Phương pháp thuthập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập dữ liệu
Công cụ thu thập dữ liệu là bộ câu hỏi thiết kế sẵn(Phụ lục 2) có 3 phần chính: Phần thứ nhất có thông tin cá nhân bao gồm tên, tuổi, giới tính, dân tộc, trình
độ học vấn, khu vực sinh sống, tần suất khám bệnh và thời gian bị bệnh Trọng lượng và chiều cao của người bệnh đã được đo và chỉ số khối cơ thể được tính toán
Trang 32Phần thứ hailà nội dung về kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 dưới 2 dạng: 21 câu hỏi đúng sai được xây dựng dựa trên bộ công cụ đo lường kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 tại Nigeria của tác giả Maxwell O Adibe và cộng sự và 17 câu hỏi chọn đáp án đúng nhất được xây dựng dựa trên Test trắc nghiệm kiến thức bệnh đái tháo đường (DKT) của trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học về đái tháo đường - trường đại học Michigan [44]
Phần thứ ba là khảo sát nguồn tiếp nhận thông tin tự chăm sóc bệnh đái tháo
đường type 2 của người bệnh
2.6.2 Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu
Thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu sẽ được thực hiện 2 tuần trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu Sẽ tiến hành điều tra thử 30 đối tượng phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn (30 đối tượng này sẽ không tham gia vào 171 đối tượng nghiên cứu sẽ được điều tra sau đó) để xác định tính khả thi của bộ thu thập dữ liệu, khả năng áp dụng của quá trình lấy mẫu và để đánh giá sự hiểu biết, độ dài, khả năng được chấp nhận của bộ công cụ Các kết quả sẽ được sử dụng để chỉnh sửa và cập nhật bộ công cụ cho phù hợp bằng cách điều chỉnh các câu hỏi và những lựa chọn của câu trả lời mà ban đầu không rõ ràng trong bộ công cụ
2.6.3 Phương pháp thu thập thông tin/dữ liệu
Thông tin/dữ liệu sẽ được thu thập trong khoảng 3 tháng từ 01/6/2016 đến 31/8/2016.Người thu thập số liệu ngồi ở phòng khám sẽ sử dụng bộ câu hỏi tự để điều tra những người bệnh đang điều trị đái tháo đường đủ tiêu chuẩn vào thời điểm trước khi người bệnh được khám và điều trị
Tiến trình thu thập thông tin/dữ liệu
- Bước 1: Lựa chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu vào thời điểm trước khi người bệnh được khám và điều trị
- Bước 2: Những đối tượng đủ tiêu chuẩn sẽ được giới thiệu mục đích, nội dung, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu Nếu đồng ý tham gia nghiên cứu thì ký vào bản đồng thuận (phụ lục 1) và được phổ biến hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin trong
Trang 332.7.1.Biến độc lập
-Tuổi:đơn vị là năm, được tính bằng 2016 trừ đi năm sinh
- Giới: có hai giá trị là nam và nữ
- Dân tộc: Kinh, Thái, H’Mông và các dân tộc ít người khác
-Trình độ học vấn:bậc giáo dục cao nhất đã đạt được bao gồm:không biết chữ, tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng đại học và sau đại học
-Thời gian bị bệnh:đơn vị tính là năm, là khoảng thời gian kể từ ngày được chẩn đoán bệnh lần đầu tiên đến thời điểm lấy số liệu
- Nguồn tiếp nhận thông tin:Người bệnh có được kiến thức tự chăm sóc đái tháo đường type 2 từ nguồn nào
2.7.2 Biến phụ thuộc
Mức độ kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2:bao gồm điểm của người bệnhthu được qua bộ câu hỏi
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá
Điểm số được tính toán như sau: Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, câu trả lời sai hoặc không biết được 0 điểm Tổng điểm là 38 điểm Tỉ số điểm được xác định bằng cách chia số điểm người bệnh đạt được cho 38 Để đánh giá mức độ kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường, người bệnh được chia thành ba nhóm trên cơ
sở điểm của họ: ≥75% tổng điểm là có kiến thức ở mức tốt, 60-74% tổng điểm là kiến thức ở mức trung bình, và ≤59% tổng điểm là kiến thức ở mức kém Các điểm
số đã được sử dụng để xác định mức độ kiến thức tổng thể [57]
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
Trang 34Số liệu thu thập được bảo quản trong một môi trường an toàn để tránh mất mát
và vi phạm bí mật Tất cả các dữ liệu thu thập được làm sạch, xác nhận, mã hóa, xử
lý và lưu trữ vào cuối mỗi ngày bởi các nhà nghiên cứu chính
Sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 22.0 để phân tích
- Đối với các biến số định lượng liên tục, nếu biến số là hàm phân phối chuẩn,
mô tả bằng giá trị trung bình, độ lệch chuẩn
- Đối với các biến số định tính (biến nhị phân, biến định danh, biến thứ tự):
mô tả bằng tần suất và tỷ lệ
- Tìm yếu tố liên quanthông qua phân tích tương quan Pearson và square
Chi-2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện sau khi có sự chấp thuận của Hội đồng đạo đức, lãnh đạo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, được sự chấp thuận và cho phép của bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên Sự đồng ý bằng văn bản được lấy từ tất
cả các người bệnh tham gia nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu này đã được giải thích với những người tham gia Những rủi ro, lợi ích và các vấn đề bảo mật đã được truyền đạt trước khi đồng ý tham gia nghiên cứu Sự tham gia trong nghiên cứu này là tự nguyện và tham gia được khuyến khích để hoàn thành nghiên cứu, tuy nhiên, họ được tự do rút nếu không muốn tiếp tục tham gia mà không ảnh hưởng đến chăm sóc của họ theo bất kỳ cách nào.Cuộc phỏng vấn cũng có thể dừng bất cứ lúc nào nếu người bệnh không thể tiếp tục trả lời các câu hỏi vì lí do sức khỏe Lời khuyên thích hợp đã được đưa ra về kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường Không nhận dạng người bệnh đã được sử dụng trong các mục nhập dữ liệu và tất cả các dữ liệu đã được giữ bí mật
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
- Có hạn chế của một nghiên cứu cắt ngang Không nghiên cứu được các thời điểm trước đó
Trang 35- Là một nghiên cứu bước đầu điều tra, đánh giá kiến thức của người bệnh đái tháo đường type 2 về tự chăm sóc mà không tiến hành bất cứ một sự can thiệp
hỗ trợ nào
- Để hạn chế các sai số trong khi thu thập thông tin, chúng tôi tiến hành phỏng vấn thử người bệnh để điều chỉnh bộ câu hỏi và kiểm tra chất lượng thông tin trước khi tiến hành nghiên cứu
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân bố tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu Giới
Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu phần lớn nằm trong nhóm tuổi từ 50-60, chiếm
43.3%; nhóm tuổi trên 60 tuổi chiếm 38.6%; nhóm tuổi từ 40 - 50 tuổi chiếm 16.4%; nhóm tuổi dưới 40 chiếm 1.8% Tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 58.86 ± 9.674tuổi Người bệnh có tuổi thấp nhất là 34 tuổi Người bệnh có tuổi cao nhất là 79 tuổi
Trang 37Biểu đồ 3.1: Phân bố dân tộc của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Trong nhóm đối tượng nghiên cứu, nhiều nhất là dân tộc Kinh chiếm
72.5%; đứng thứ hai là dân tộc Thái chiếm 21.6%; và các dân tộc khác chiếm 5.9%
Biểu đồ 3.2:Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu
Trang 38Nhận xét: Nhóm đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn Phổ thông chiếm tỷ lệ
cao nhất là 33.9%; Tiểu học chiếm 19.3%; Trung học cơ sở chiếm 17.5%; Đại học trở lên chiếm 15.8%; Trung cấp, Cao đẳng chiếm 12.9% và có 0.6% là không biết chữ
Biểu đồ 3.3: Phân bố khu vực sống của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Đối tượng trong nhóm nghiên cứu chủ yếu sống ở khu vực thành phố,
chiếm 53.2%, 44.4% sống ở các huyện quanh thành phố và 2.3% là sống ở thị xã
Bảng 3.2: Chỉ số khối cơ thể của đối tượng nghiên cứu
Trang 39Nhận xét: 93.0% trong nhóm đối tượng nghiên cứu có thể trạng trung bình; 5.3%
thừa cân và 1.8% có thể trạng gầy BMI trung bình là 22.747 ± 1.6042
Bảng 3.3: Người cùng sống và bảo hiểm y tế của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.4 Tần suất khám sức khỏe định kỳ của đối tượng nghiên cứu
Tần suất Số lượng người bệnh Tỷ lệ %
Trang 40Nhận xét: 72.5% trong nhóm đối tượng nghiên cứu thường xuyên đi khám sức khỏe
định kỳ 1 tháng một lần; 15.2% đi khám 2-3 tháng một lần; 1.2% đi khám trên 4 tháng một lần và có 11.1% là không bao giờ đi khám sức khỏe định kỳ
Bảng 3.5:Thời gian bị đái tháo đường type 2 của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Trong nhóm đối tượng nghiên cứu có 60.8% là có thời gian bị bệnh từ
trên 1 năm đến 5 năm; 25.7% từ trên 5 năm đến 10 năm; 11.7% nhỏ hơn và bằng 1 năm và 1.8% có thời gian bị bệnh trên 10 năm Thời gian bị bệnh trung bình là 4.28
± 2.4332, người thấp nhất là 7 tháng, người bị lâu nhất là 13 năm