Mục đích: nghiên cứu thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý bệnh của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đà Nẵng năm 2016.. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 3TÓM TẮT Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh lý mạn tính, đòi hỏi người bệnh phải có trách nhiệm cao để tự quản lý tình trạng bệnh hàng ngày Người bệnh tự quản lý tốt kết hợp với sự hỗ trợ của nhân viên y tế có thể kéo dài cuộc sống lâu hơn, ngược lại nếu quản lý bệnh kém thì có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng và tử vong sớm Mục đích: nghiên cứu thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến tự quản
lý bệnh của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đà Nẵng năm
2016 Phương pháp: mô tả cắt ngang, nghiên cứu trên 155 người bệnh ĐTĐ type 2 Kết quả: tự quản lý bệnh của người bệnh ĐTĐ type 2 đạt ở mức độ trung bình Tất
cả các yếu tố bao gồm hỗ trợ xã hội (r=0,42, p<0,01), niềm tin vào hiệu quả điều trị (r=0,56, p<0,01), kiến thức về bệnh ĐTĐ (r=0,43, p<0,01), niềm tin vào bản thân (r=0,54, p<0,01) đều có mối tương quan thuận đối với tự quản lý bệnh ĐTĐ Kết luận: nghiên cứu chỉ ra rằng cần có những biện pháp để hỗ trợ người bệnh ĐTĐ type 2 tự quản lý bệnh trong tương lai
Summary
Diabetes mellitus is a chronic disease that requires a high level of patient responsibility to manage their condition daily If Diabetics manage disease well with the support of healthcare workers, they can live longer life Conversely, it can lead to serious complications and premature death Aim: studying the situation and the factors related to diabetes self management among patient with type 2 Diabetes
at Outpatient of Danang Hospital, 2016 Methodology: cross-sectional descriptive, study on 155 patients with type 2 Diabetes Results: Self-management of patient with type 2 Diabetes reached average level All factors including social support (r=0,42, p<0,01), belief in treatment effectiveness (r=0,56, p<0,01), Diabetes knowledge (r=0,43, p<0,01), self-efficacy (r=0,54, p<0,01) had positive relation to Diabetes self-management Conclusion: Healthcare workers must to support patients with type 2 Diabetes for self-management in the future
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy Cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt những kiến thức, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Duy Tân và các phòng ban có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Bệnh viện Đà Nẵng và các Phòng ban liên quan đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Đặc biệt là các Bác sĩ, Điều dưỡng tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Điều dưỡng và các đồng nghiệp tại Trường Đại học Duy Tân đã động viên, tạo điều kiện về thời gian, cộng tác giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Minh Thầy thuốc nhân dân- Cố vấn Hội Điều dưỡng Việt Nam- Phó Hiệu Trưởng Trường Đại học Duy Tân - Người Thầy đã dành nhiều thời gian quý báu để truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên môn và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ
-Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Nam Định, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý bệnh của người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đà Nẵng năm 2016.” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các thông tin trích dẫn trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Tất
cả số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa được người khác công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào trước đó
Nam Định, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Trang 6MỤC LỤC Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ, hình Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh Đái tháo đường 4
1.1.1 Định nghĩa 4
1.1.2 Phân loại Đái tháo đường 4
1.1.3 Yếu tố nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 5
1.1.4 Chẩn đoán Đái tháo đường 6
1.1.5 Một số thông tin cơ bản về điều trị Đái tháo đường 7
1.1.6 Hậu quả của bệnh Đái tháo đường 8
1.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Đái tháo đường 9
1.2.1 Tình hình Đái tháo đường trên Thế giới 9
1.2.2 Tình hình Đái tháo đường tại Việt Nam 10
1.3 Tự quản lý bệnh ở người bệnh Đái tháo đường type 2 11
1.3.1 Thuật ngữ tự chăm sóc và tự quản lý bệnh Đái tháo đường 11
1.3.2 Những khuyến cáo trong tự quản lý bệnh Đái tháo đường type 2 12
1.3.3 Thực hiện tự quản lý bệnh Đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam15 1.4 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về những yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý bệnh ở người bệnh Đái tháo đường type 2 16
1.4.1 Kiến thức về bệnh Đái tháo đường và việc tự quản lý bệnh 16
1.4.1 Niềm tin vào bản thân và việc tự quản lý bệnh 17
1.4.2 Niềm tin vào hiệu quả điều trị và việc tự quản lý bệnh 17
1.4.3 Hỗ trợ xã hội và việc tự quản lý bệnh 18
1.4.4 Những hạn chế của các nghiên cứu trước đây 19
1.5 Học thuyết nhận thức xã hội (Social cognitive theory) và khung lý thuyết 20
1.6 Một số đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 22
Trang 7Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 23
2.3 Thiết kế: 23
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu: 23
2.5 Phương pháp thu thập số liệu: 24
2.6 Các biến số nghiên cứu: 24
2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 25
2.7.1 Khái niệm về các biến và bộ công cụ nghiên cứu: 25
2.7.2 Cách tính điểm và đánh giá bộ công cụ nghiên cứu 27
2.8 Phương pháp phân tích số liệu: 29
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 30
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
Chương 4: BÀN LUẬN 49
KẾT LUẬN 63
KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 8
Phụ lục 1: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 8
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn 9
Phụ lục 3: Thư đồng ý cho phép sử dụng bộ công cụ nghiên cứuError! Bookmark not defined Phụ lục 4: Hình ảnh trong quá trình nghiên cứu Error! Bookmark not defined
Phụ lục 5: Danh sách những người tham gia nghiên cứuError! Bookmark not
defined
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADA: American Diabetes Association- Hội Đái tháo đường Hoa kỳ
BMI: Body mass index – chỉ số khối cơ thể
CDA : Canada Diabetes Association- Hội Đái tháo đường Canada
DCCT: Diabetes Control and Complications Trial- thử nghiệm biến chứng và kiểm soát Đái tháo đường
ĐTĐ: Đái tháo đường
HA: Huyết áp
IDF: International Diabetes Federation- Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế
NGSP: National Glycohemoglobin Standardization Program- Chương trình tiêu chuẩn hóa quốc gia Glycohemoglobin
WHO: World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị 7
Bảng 2.1 Độ tin cậy của bộ công cụ 29
Bảng 3.1 Đặc điểm giới, dân tộc, tôn giáo 31
Bảng 3.2 Các thông tin khác của người bệnh 32
Bảng 3.3 Đặc điểm bệnh lý khác 34
Bảng 3.4 Các yếu tố liên quan đến sức khỏe 35
Bảng 3.5 Mức độ kiến thức về bệnh Đái tháo đường 36
Bảng 3.6 Mô tả chi tiết kiến thức về bệnh Đái tháo đường 37
Bảng 3.7 Mức độ niềm tin vào bản thân 38
Bảng 3.8 Mô tả chi tiết mức độ niềm tin vào bản thân 38
Bảng 3.9 Mức độ niềm tin vào hiệu quả điều trị 39
Bảng 3.10 Bảng mô tả chi tiết niềm tin vào hiệu quả điều trị 40
Bảng 3.11 Mức độ hỗ trợ xã hội 41
Bảng 3.12 Mức độ tự quản lý bệnh Đái tháo đường 42
Bảng 3.13 Tương quan giữa các biến nghiên cứu 44
Bảng 3.14 Tương quan giữa kiến thức về bệnh Đái tháo đường và các lĩnh vực tự quản lý bệnh Đái tháo đường 45
Bảng 3.15 Tương quan giữa niềm tin vào bản thân và các lĩnh vực tự quản lý bệnh Đái tháo đường 46
Bảng 3.16 Tương quan giữa niềm tin vào hiệu quả điều trị và các lĩnh vực tự quản lý bệnh Đái tháo đường 47
Bảng 3.17 Tương quan giữa hỗ trợ xã hội và các lĩnh vực tự quản lý bệnh Đái tháo đường 48
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Hình 1.1 Mô hình học thuyết nhận thức xã hội (Social cognitive theory) 20
Hình 1.2 Khung lý thuyết 21
Biểu đồ 3.1 Phân nhóm tuổi của người bệnh 31
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm chỉ số cận lâm sàng 33
Biểu đồ 3.3 Người bệnh trả lời đúng câu hỏi 36
Biểu đồ 3.4 Mô tả chi tiết mức độ thực hiện tự quản lý bệnh 43
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những tình trạng báo động về sức khỏe lớn nhất trong thế kỷ 21 Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vào năm
2014, Đái tháo đường type 2 chiếm khoảng 90% số trường hợp Đái tháo đường trên thế giới [80]
Thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2015 cho thấy trên toàn cầu có khoảng 415 triệu người mắc Đái tháo đường, tăng lên 31 triệu người so với thống kê gần nhất vào năm 2013 Trong đó, 8,8% là người lớn nằm trong độ tuổi từ 20 đến 79 Nếu theo xu hướng này, dự đoán đến năm 2040 cứ 10 người sẽ có 1 người mắc Đái tháo đường Có khoảng 75% người bệnh Đái tháo đường thuộc các nước có thu nhập thấp và trung bình [33]
Dựa vào thống kê của IDF năm 2015, tại khu vực Đông Nam Á, ước tính có khoảng 8,5% dân số mắc Đái tháo đường tương đương với 73,8 triệu người mắc Đái tháo đường Theo dự đoán đến năm 2040 số người mắc Đái tháo đường trong khu vực này sẽ lên đến 140 triệu người Tại Việt Nam, ước tính tỷ lệ mắc Đái tháo đường năm 2015 là 3,5% [33].Tỷ lệ Đái tháo đường ở 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh trong năm 2001 là 4,0%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 5,1% [2]
Theo IDF năm 2015, hầu hết các trường hợp mắc bệnh Đái tháo đường thuộc type 2 Nguyên nhân chính dẫn đến mắc Đái tháo đường là do thay đổi hành vi lối sống bắt nguồn từ đô thị hóa tại các nước Một số hành vi không tốt cho sức khỏe như chế độ ăn uống không hợp lý, ăn thực phẩm chứa nhiều chất béo, đường và tinh bột, hạn chế vận động, hút thuốc, uống nhiều rượu bia làm tăng nguy cơ thừa cân và béo phì từ đó làm tăng tỷ lệ Đái tháo đường type 2 [33]
Đái tháo đường gây nên nhiều tổn thất về mặt sức khỏe, kinh tế và xã hội Đái tháo đường đã trở thành một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tử vong sớm tại hầu hết các nước Năm 2012, Đái tháo đường là nguyên nhân trực tiếp của 1,5 triệu ca tử vong [80] Thống kê năm 2015 tại Hoa Kỳ tổng chi phí y tế cho Đái tháo đường vào khoảng 320 tỷ USD [33]
Trang 12Đái tháo đường là một bệnh lý mạn tính, đòi hỏi người bệnh phải có trách nhiệm cao để quản lý tình trạng bệnh hàng ngày 95% quản lý Đái tháo đường là tự quản lý [26] Tự quản lý là một quá trình trong đó người bệnh sẽ phát triển những
kỹ năng để quản lý tình trạng của họ Người bệnh khi được chẩn đoán mắc Đái tháo đường phải điều chỉnh lối sống hàng ngày sao cho phù hợp với tình trạng bệnh của
họ Người bệnh tự quản lý tốt tình trạng của mình kết hợp với sự hỗ trợ của nhân viên y tế có thể kéo dài cuộc sống lâu hơn, ngược lại nếu quản lý bệnh kém thì có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng và tử vong sớm [26]
Theo một số nghiên cứu đã cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý của người bệnh Đái tháo đường type 2 ví dụ như nhân khẩu học, thời gian mắc bệnh, kiến thức, niềm tin vào bản thân, niềm tin vào điều trị, niềm tin tín ngưỡng, sự trao quyền, hỗ trợ từ xã hội Các nghiên cứu cũng phân tích tính tích cực và tiêu cực của từng yếu tố Việc hiểu rõ tất cả các yếu tố liên quan tới tự quản
lý bệnh Đái tháo đường là cần thiết để dự đoán những vấn đề có thể gặp phải khi người bệnh thực hiện tự quản lý từ đó có thể giúp họ tự quản lý hiệu quả hơn tình trạng bệnh của mình
Hiện tại ở Việt Nam, đa số các nghiên cứu chỉ quan tâm đến vấn đề khảo sát
tỷ lệ mắc Đái tháo đường tại các vùng khác nhau và các yếu tố liên quan đến mắc Đái tháo đường hoặc vấn đề điều trị, vẫn còn ít các nghiên cứu khảo sát về tự quản
lý bệnh và các yếu tố liên quan với tự quản lý bệnh ở người bệnh Đái tháo đường type 2 Thành phố Đà Nẵng là thành phố lớn với tốc độ phát triển và tốc độ đô thị hóa nhanh Do đó, có rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến bệnh lý, kể cả việc tự quản lý bệnh ở người bệnh Đái tháo đường type 2 Tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu nào được thực hiện tại Đà Nẵng để khảo sát về vấn đề này, cũng như áp dụng học thuyết điều dưỡng để làm cơ sở nghiên cứu và giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý bệnh Đái tháo đường
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý bệnh của người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đà Nẵng năm 2016”
Trang 13MỤC TIÊU
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng tự quản lý bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng ở người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đà Nẵng năm 2016
2 Xác định mối tương quan giữa một số yếu tố đối với việc tự quản lý bệnh ở người bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đà Nẵng năm 2016 Câu hỏi nghiên cứu
1 Người bệnh Đái tháo đường type 2 tại Đà Nẵng có đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm sức khỏe như thế nào?
2 Mức độ tự quản lý bệnh Đái tháo đường, kiến thức về bệnh Đái tháo đường, niềm tin vào hiệu quả điều trị, niềm tin vào bản thân và hỗ trợ xã hội ở người bệnh Đái tháo đường type 2 hiện tại ra sao?
3 Yếu tố kiến thức về bệnh Đái tháo đường, niềm tin vào hiệu quả điều trị, niềm tin vào bản thân và hỗ trợ xã hội có tương quan với tự quản lý bệnh ở người bệnh Đái tháo đường type 2 không và ở mức độ nào?
Giả thiết nghiên cứu
1 Kiến thức về bệnh Đái tháo đường của người bệnh có tương quan thuận với việc
tự quản lý bệnh
2 Niềm tin vào hiệu quả điều trị có tương quan thuận với việc tự quản lý bệnh
3 Niềm tin vào bản thân có tương quan thuận với việc tự quản lý bệnh
4 Hỗ trợ xã hội có tương quan thuận với đến việc tự quản lý bệnh
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh Đái tháo đường
1.1.1 Định nghĩa
Đái tháo đường là một rối loạn chuyển hóa được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai Việc tăng đường huyết mạn tính trong ĐTĐ dẫn đến những biến chứng
vi mạch máu gây ảnh hưởng đến mắt, thận và thần kinh, cũng như tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch [22]
1.1.2 Phân loại Đái tháo đường
Theo Hội Đái tháo đường Hoa kỳ năm 2016 (American Diabetes Association, 2016)
và Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế năm 2015 (International Diabetes Federation, 2015), Đái tháo đường được chia thành 4 loại: ĐTĐ type 1, ĐTĐ type 2, ĐTĐ thai
kỳ và các type đặc biệt khác [17],[33]
ĐTĐ type 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin): chiếm tỷ lệ khoảng 5-10% tổng số người bệnh ĐTĐ Do nguyên nhân tự miễn, các tế bào β tiết insulin của tuyến tụy bị phá hủy bởi chất trung gian miễn dịch, xuất hiện các tự kháng thể Tình trạng này gây nên sự thiếu hụt insulin tuyệt đối cho cơ thể người bệnh Khởi phát lâm sàng rầm rộ với những dấu chứng đặc hiệu như ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhanh Thường gặp ở trẻ em hoặc người trẻ tuổi Người bệnh ĐTĐ type 1 sẽ sống phụ thuộc insulin hoàn toàn
ĐTĐ type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin): chiếm tỷ lệ khoảng 90-95% tổng
số người bệnh ĐTĐ Đặc trưng của ĐTĐ type 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt insulin tương đối.Thường gặp ở người lớn nhưng ngày càng phát hiện nhiều ở trẻ em và trẻ vị thành niên Người bệnh ĐTĐ type 2 không có các triệu chứng rõ ràng như type 1, người bệnh khi được chẩn đoán thường đã kèm với các biến chứng của ĐTĐ Người bệnh ĐTĐ type 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi lối sống lành mạnh kết hợp uống thuốc để kiểm soát đường huyết Nếu mức đường huyết vẫn tăng thì người bệnh phải điều trị bằng cách sử dụng insulin
ĐTĐ thai kỳ: ĐTĐ gặp ở phụ nữ có thai, lượng đường huyết tăng nhẹ, có xu
Trang 15hướng xuất hiện vào tuần thứ 24 của thai kỳ Triệu chứng của tăng đường huyết rất khó phân biệt với các triệu chứng bình thường khi mang thai Thường biến mất sau sinh nhưng cũng có nguy cơ mắc ĐTĐ thai kỳ vào lần mang thai tiếp theo hoặc mắc ĐTĐ type 2
ĐTĐ khác: ĐTĐ do bất thường về gen, ĐTĐ khởi phát ở người trẻ (MODY),
do các bệnh về ngoại tiết (u xơ nang), do thuốc hoặc hóa chất (sử dụng glucocorticoid, trong điều trị HIV/AIDS, sau cấy ghép nội tạng)
1.1.3 Yếu tố nguy cơ mắc ĐTĐ type 2
Tiền sử gia đình: Những người có mối quan hệ huyết thống với người bệnh ĐTĐ có nguy cơ cao mắc ĐTĐ Người bệnh không có tiền sử gia đình ĐTĐ chậm khởi phát bệnh hơn, có chức năng tế bào beta tốt hơn, hàm lượng HDL cao hơn những người có tiền sử gia đình ĐTĐ [43] Những người có tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn những người không có tiền sử gia đình 3,4 lần [2]
Tuổi: tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ, tim mạch, đột quỵ càng cao ĐTĐ thường xuất hiện ở độ tuổi trung niên, thường trên 45 tuổi Những thay đổi về cấu trúc cơ thể với tình trạng tích lũy mỡ ở bụng, chức năng của cơ xương giảm làm giảm hoạt động thể chất Những thay đổi này làm giảm đáng kể việc phải tiêu hao năng lượng và dễ gây tích lũy mỡ bụng là nguyên nhân gây đề kháng insulin [37] Chủng tộc: ĐTĐ type 2 có thể gặp ở tất cả các dân tộc khác nhau nhưng với tỷ
lệ và mức độ khác nhau Những người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Mexico, người
Mỹ bản địa, thổ dân Hawaii, Thái Bình Dương và người Mỹ gốc Á có nguy cơ cao hơn mắc bệnh ĐTĐ [15]
Lối sống: Sự đô thị hóa và phát triển nhanh chóng có tác động làm tăng nhanh
tỷ lệ mắc ĐTĐ [33] Với chế độ ăn uống không hợp lý, dư thừa năng lượng, lối sống tĩnh tại, hạn chế các hoạt động thể chất dẫn đến thừa cân béo phì, tăng kích thước vòng bụng, kết hợp với hút thuốc lá và uống nhiều rượu bia làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ Tại Việt Nam, nam giới ở thành thị mắc ĐTĐ cao gấp 1,2 lần so với nam giới ở vùng nông thôn [58] Việc tăng tỷ lệ ĐTĐ ở Ấn Độ và các quốc gia đang
Trang 16phát triển khác chủ yếu là do đô thị hóa Ấn Độ sẽ tiếp tục đứng đầu về số lượng người bệnh ĐTĐ do việc đô thị hóa và phát triển kinh tế nhanh chóng [60] Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn 45% so với những người không hút [61] Tỷ lệ mắc ĐTĐ ở những người có BMI ≥ 23 cao hơn gấp 1.52 lần so với những người có BMI bình thường (18.5≤ BMI <23) [58]
Tiền sử ĐTĐ thai kỳ: Phụ nữ có thai ở gia đình có người bị ĐTĐ thế hệ thứ nhất thì nguy cơ ĐTĐ chiếm 50-60% so với những người không có tiền sử gia đình
về ĐTĐ Trẻ mới sinh nặng > 4 kg là một yếu tố nguy cơ mắc ĐTĐ cho mẹ và con Phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 cao hơn gấp 7 lần so với phụ nữ không bị ĐTĐ thai kỳ [15]
Tăng huyết áp: Tăng huyết áp được coi là nguy cơ phát triển ĐTĐ type 2 Người có tiền sử tăng huyết áp có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 2,7 lần so với người không có tiền sử tăng huyết áp [4]
Tiền sử giảm dung nạp glucose: Những người có tiền sử giảm dung nạp glucose thì có khả năng tiến triển thành ĐTĐ rất cao
1.1.4 Chẩn đoán Đái tháo đường
Theo khuyến cáo của Hội ĐTĐ Hoa Kỳ (American Diabetes Association) năm
2016, Chẩn đoán ĐTĐ khi có ít nhất một trong 4 các tiêu chuẩn sau [17]:
1 Đường huyết lúc đói ≥126 mg/dL (7,0 mmol/L)
(Đói được định nghĩa là không dung nạp calo trong ít nhất 8h)
2 Đường huyết 2 giờ ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/L) khi làm test dung nạp glucose (Thực hiện như mô tả của WHO, sử dụng 75g glucose khan hòa tan trong nước)
(1),(2),(3): Trường hợp tăng đường huyết không rõ ràng thì phải làm lại xét nghiệm
Trang 171.1.5 Một số thông tin cơ bản về điều trị Đái tháo đường
Theo hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế năm 2011 [3]
6,2 – 7,0 7,8 - ≤ 10,0
* Người có biến chứng thận- từ mức có microalbumin niệu HA ≤ 125/75
** Người có tổn thương tim mạch LDL-c nên dưới 1,7 mmol/l (dưới 70 mg/dl)
Mục đích:
- Duy trì được lượng đường huyết khi đói, đường huyết sau ăn gần như mức độ sinh
lý, đạt được mức HbA1c lý tưởng, nhằm giảm các biến chứng có liên quan, giảm tỷ
Lựa chọn thuốc và phương pháp điều trị:
Mục tiêu điều trị phải nhanh chóng đưa lượng đường huyết về mức quản lý tốt nhất, đạt mục tiêu đưa HbA1C về khoảng từ 6,5 đến 7,0% trong vòng 3 tháng
Trang 18Không áp dụng phương pháp điều trị bậc thang mà dùng thuốc phối hợp sớm
- Thầy thuốc phải nắm vững cách sử dụng các thuốc hạ đường huyết bằng đường uống, sử dụng insulin, cách phối hợp thuốc trong điều trị và những lưu ý đặc biệt về tình trạng người bệnh khi điều trị bệnh ĐTĐ
- Đối với các cơ sở y tế không thực hiện xét nghiệm HbA1c, đánh giá theo mức glucose huyết tương trung bình
Thuốc hạ đường huyết bằng đường uống: Metformin (Dimethylbiguanide), thuốc ức chế Alpha-glucosidase, Sulphonylurea, Meglitinide/Repaglinide, Gliptin, Thiazolidinedione (Glitazone) Thuốc tiêm: insulin
1.1.6 Hậu quả của bệnh Đái tháo đường
Theo thống kê của IDF năm 2015, những người mắc bệnh ĐTĐ có nguy cơ tàn tật và các vấn đề sức khỏe liên quan đến tính mạng cao hơn so với những người khác Mức đường huyết cao có thể dẫn đến những bệnh lý nghiêm trọng về tim mạch, mắt, thận và thần kinh cũng như có nguy cơ cao mắc các bệnh nhiễm trùng [33] Theo báo cáo của Hội Đái tháo đường Hoa kỳ (ADA) năm 2014 cho biết từ năm 2005–2008, trong số những người bệnh mắc ĐTĐ từ độ tuổi 40 trở lên có 28,5% gặp vấn đề về mắt do ĐTĐ ĐTĐ là nguyên nhân dẫn đến suy thận chiếm 44% các ca mắc mới trong năm 2011 Ước tính có 60% trường hợp bị cắt cụt chi không do chấn thương ở người từ 20 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc ĐTĐ [16]
Trang 19Theo tác giả Tạ Văn Bình 70% tử vong ở người bệnh ĐTĐ là do bệnh tim mạch và
tỷ lệ biến chứng mạch máu lớn ở người bệnh ĐTĐ tại Việt Nam chủ yếu là 38% mạch vành, 1,2% đột quỵ, 27,6% tăng huyết áp [1] Trong số những người mắc ĐTĐ tại Việt Nam 30% có biến chứng về mắt, 20% có biến chứng về thận và 53,2% có biến chứng về thần kinh ngoại biên [19] Theo một nghiên cứu tại tỉnh Phú Thọ năm 2012, tỷ lệ biến chứng ở người bệnh ĐTĐ type2 là 11,8% thiếu máu
cơ tim thầm lặng, 11,8% là tổn thương bàn chân, 49,4% về mắt, 47,6% về thận [11] ĐTĐ và biến chứng của nó là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong sớm ở hầu hết các nước Gần 80% các ca tử vong xảy ra ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình Theo thống kê có 46,6% ca tử vong do ĐTĐ gặp ở những người ở độ tuổi dưới 60 Theo thống kê của Liên đoàn ĐTĐ quốc tế năm 2015 cho biết tính đến cuối năm 2015, ĐTĐ sẽ là nguyên nhân của 5 triệu ca tử vong Tại khu vực Đông Nam Á có số lượng ca tử vong do ĐTĐ cao thứ hai trong bảy khu vực Hội đáo tháo đường quốc tế với 1,2 triệu ca tử vong trong năm 2015 Trong đó, hơn một nửa (53,2%) trong số các trường hợp tử vong xảy ra ở những người dưới 60 tuổi Tại Việt Nam, có hơn 53 nghìn ca tử vong ở độ tuổi từ 20-79 tuổi [33]
ĐTĐ gây nên những tổn thất và gánh nặng to lớn về mặt kinh tế cho cá nhân, gia đình, hệ thống y tế quốc gia và đất nước Chi phí y tế toàn cầu trong năm 2015 cho điều trị và dự phòng biến chứng ĐTĐ là khoảng 673 tỷ USD đến 1,197 tỷ USD Trong đó 75% chi phí y tế cho ĐTĐ là cho những người từ 50-79 tuổi Phần lớn các nước tiêu tốn khoảng 5% đến 20% trong tổng chi phí y tế cho ĐTĐ Hoa kỳ là nước tiêu tốn chi phí y tế cao nhất cho ĐTĐ khoảng 320 tỷ USD, tiếp theo là Trung Quốc với 51 tỷ USD Tại Việt Nam, trung bình chi phí y tế cho một người mắc ĐTĐ vào khoảng 162 USD [33]
1.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Đái tháo đường
1.2.1 Tình hình Đái tháo đường trên Thế giới
Bệnh lý ĐTĐ ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm bởi vì tốc độ phát triển nhanh chóng và sự đe dọa của nó đến sức khỏe và kinh tế xã hội Theo thống kê của WHO năm 2014 trên thế giới có khoảng 422 triệu người mắc bệnh ĐTĐ Theo IDF
Trang 20năm 2015 số người mắc ĐTĐ nhiều nhất là ở khu vực Thái Bình Dương với 153,2 triệu người mắc, trong đó cao nhất là Trung Quốc với 109,6 triệu người mắc Trung bình cứ 11 người lớn thì có 1 người mắc ĐTĐ, dự đoán đến năm 2040 trung bình cứ
10 người lớn thì có 1 người mắc ĐTĐ Ở các nước thu nhập cao, có khoảng 87% - 91% trường hợp chấn đoán ĐTĐ thuộc type 2, 7%-12% thuộc type 1, 1%-3% thuộc các type khác [33]
Theo thống kê năm 2015 trên toàn cầu có khoảng 193 triệu người tương đương với 46,5% mắc ĐTĐ chưa được chẩn đoán Trong đó 81,1% những người chưa được chẩn đoán ĐTĐ sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình [33] Phần lớn người bệnh mắc ĐTĐ nằm trong độ tuổi từ 20 đến 79, cụ thể có 320,5 triệu người trong độ tuổi lao động là 20-64 và 94,2 triệu người trong độ tuổi 65-79 [33] Hơn 60% người bệnh ĐTĐ trên thế giới bắt nguồn từ các nước Châu Á và tỷ
lệ ĐTĐ đang gia tăng ở những nước này Ở các nước đang phát triển thường gặp ĐTĐ ở độ tuổi từ 35 đến 64 [80] Tỷ lệ ĐTĐ đã tăng lên đáng kể ở Ấn Độ và Trung Quốc, đặc biệt tại các khu vực nông thôn Số người mắc ĐTĐ ở thành thị là 269,7 triệu người và nông thôn là 145,1 triệu người [33] Những nguyên nhân chính là do
sự phát triển kinh tế-xã hội và công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng tại hầu hết các nước châu Á làm thay đổi lối sống và tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ [61]
Người bệnh ĐTĐ có thể được tìm thấy ở tất cả các nước, nếu không có biện pháp dự phòng hay các chương trình quản lý hiệu quả thì tỷ lệ ĐTĐ sẽ còn tiếp tục tăng lên trên toàn cầu
1.2.2 Tình hình Đái tháo đường tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thống kê của IDF năm 2015 số người trong độ tuổi từ 20-79 tuổi mắc ĐTĐ là khoảng 3,5 triệu người [33] Kết quả nghiên cứu năm 2015 về tỷ lệ ĐTĐ và các yếu tố nguy cơ ở người lớn tại Việt Nam ước tính cứ 17 người Việt Nam có 1 người mắc ĐTĐ cụ thể cứ 15 nam giới thì có 1 người mắc và cứ 20 nữ giới thì có 1 người mắc ĐTĐ [58]
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ gia tăng ĐTĐ nhanh nhất thế giới Theo thống kê của Viện quốc gia Việt Nam, tính đến cuối tháng 10 năm 2008,
Trang 21tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở Việt Nam tăng gần gấp đôi so với năm 2003 Nghiên cứu trong 6 vùng ở Việt Nam, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên gần 12,8% năm 2012 [28] Tại 2 thành phố lớn của Việt Nam,
tỷ lệ ĐTĐ type 2 ở Hà Nội tăng lên từ chỉ 1,4% vào năm 1994 lên đến 3,7% vào năm 2012, tại Hồ Chí Minh tỷ lệ này còn tăng lên gấp 3 từ 3,8% năm 2004 lên đến 12,4% năm 2010 [51]
Tỷ lệ ĐTĐ ở 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh trong năm 2001 là 4,0%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 10% [2] Tại Việt Nam, bệnh ĐTĐ type 2 ảnh hưởng một cách đáng kể đối với đối tượng là người lớn [42] Năm 2007, Việt Nam đã trở thành một trong mười quốc gia hàng đầu châu Á về mắc bệnh ĐTĐ type 2 và rối loạn dung nạp glucose ở nhóm tuổi từ 20 đến 79 và dự đoán Việt Nam sẽ nằm trong danh sách này cho đến năm 2025 [23]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Ngọc và Eggleston năm
2015, các yếu tố đô thị hóa, dân số già, béo phì và hạn chế vận động thể chất có vai trò quan trọng làm tăng tỷ lệ ĐTĐ tại Việt Nam [58]
Theo một nghiên cứu từ năm 2008, tỷ lệ mắc ĐTĐ trong nhóm 20-64 tuổi tại thành phố Đà Nẵng là 7,38%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 14,9% và rối loạn đường huyết lúc đói là 3,67% [4] Năm 2014 Trung tâm Y tế dự phòng đã tiến hành sàng lọc bệnh ĐTĐ ở quận Hải Châu và quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là hơn 10% và tiền ĐTĐ là trên 25% Một nghiên cứu khác tại Đà Nẵng năm 2013, tỷ lệ thừa cân béo phì là 16% dựa theo tiêu chuẩn của WHO về BMI ≥ 25 kg/m2 Khi áp dụng chỉ số cho khu vực Châu Á với BMI ≥ 23 kg/m2 thì tỷ lệ thừa cân béo phì tăng gấp đôi (33,8%) [46] Nghiên cứu về thực trạng ĐTĐ và một số yếu tố liên quan tại thành phố Đà Nẵng năm 2008 cho thấy hiểu biết của người dân về bệnh ĐTĐ còn chưa đầy đủ [4]
1.3 Tự quản lý bệnh ở người bệnh Đái tháo đường type 2
1.3.1 Thuật ngữ tự chăm sóc và tự quản lý bệnh Đái tháo đường
Vấn đề tự quản lý đặc biệt quan trọng đối với những người mắc các bệnh lý mạn tính, trong đó người bệnh phải có trách nhiệm tự chăm sóc hàng ngày trong suốt
Trang 22quảng thời gian mang bệnh và đối với hầu hết những người bệnh này thì tự quản lý như là một công việc suốt đời [44]
Thuật ngữ "tự quản lý" hoặc "tự chăm sóc" đã được sử dụng rộng rãi để mô tả việc quản lý bệnh ĐTĐ của người bệnh Tự quản lý và tự chăm sóc giống nhau ở điểm đều là thực hiện những hành vi cụ thể để đạt được kết quả như mong muốn Tuy nhiên tự chăm sóc là thực hiện các hoạt động sống hàng ngày như tắm hay vệ sinh, thực hiện các hành vi liên quan đến sức khỏe nhưng không có sự phối hợp hay hướng dẫn từ các nguồn chăm sóc y tế chính thống Không giống như vậy, tự quản
lý tập trung vào kiến thức , niềm tin, kỹ năng tự điều chỉnh, khả năng của bản thân,
hỗ trợ xã hội để quản lý tình trạng bệnh mạn tính hay thực hiện các hành vi liên quan đến sức khỏe [66]
Dựa theo một số nghiên cứu thì tự quản lý bệnh ĐTĐ có thể được hiểu là một quá trình phát triển liên tục kiến thức, kỹ năng và khả năng cần thiết để tự chăm sóc
Tự quản lý bệnh ĐTĐ bao gồm một hệ thống các hành vi liên quan đến điều chỉnh chế độ ăn, thể dục, sử dụng thuốc, tự theo dõi mức đường huyết và duy trì chăm sóc bàn chân [24],[59],[82],[83]
Mục tiêu chung của tự quản lý bệnh ĐTĐ là hỗ trợ đưa ra quyết định, hành vi tự chăm sóc, giải quyết vấn đề, phối hợp hoạt động với các nhóm chăm sóc sức khỏe nhằm cải thiện kết quả lâm sàng, tình trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống [30] 1.3.2 Những khuyến cáo trong tự quản lý bệnh Đái tháo đường type 2 Khi người bệnh thực hiện tự quản lý cần thực hiện theo những khuyến cáo về chế
độ ăn, tập luyện, tự theo dõi đường huyết, sử dụng thuốc, chăm sóc bàn chân Theo khuyến cáo của Hội ĐTĐ Hoa kỳ (American Diabetes Association) năm 2016 và Hội ĐTĐ Canada (Canada Diabetes Association) năm 2013 [17],[22]
Chế độ ăn:
- Mô hình ăn uống: Theo Hội ĐTĐ Canada (CDA) khuyến cáo chế độ ăn cho người bệnh ĐTĐ nên dựa vào sở thích ăn uống, văn hóa, mức sống và mục đích điều trị của từng cá nhân, tổng năng lượng có thể chia theo tỷ lệ 45% - 60% tinh
Trang 23bột, 15% - 20% protein và 20% - 35% chất béo Nên duy trì đều đặn thời gian và khoảng cách giữa các bữa ăn
- Tinh bột: lượng tinh bột không nên ít hơn 130g/ngày để cung cấp đủ năng lượng cho bộ não Nên sử dụng nguồn tinh bột lấy từ ngũ cốc nguyên hạt, rau, trái cây, các loại đậu và sản phẩm từ sữa, cần chú ý lựa chọn những nguồn tinh bột giàu chất xơ và có lượng đường ít Lượng chất xơ cho người lớn mắc ĐTĐ là 25-50g/ngày hoặc 15-25g/1000 kcal
- Đường: nên tránh những nước uống có chứa đường, hạn chế ăn những thực phẩm chứa đường sucrose như bánh bích quy, kẹo ngọt, kem, đường ăn, củ cải đường Lượng đường sucrose (đường ăn) hoặc fructose không nên quá 10 % tổng năng lượng hàng ngày (ví dụ 50-65 g/ngày đối với chế độ ăn 2000-2600 kcal/ngày)
- Chất béo: hạn chế chất béo bão hòa dưới 7% tổng năng lượng hàng ngày (bơ, dầu dừa, dầu cọ, thịt động vật, cream), chất béo công nghiệp ở mức thấp nhất (đồ rán, nướng, khoai tây chiên, bánh quy) Nên ăn chất béo không bảo hòa trong đó chất béo không bảo hòa đơn (ô liu, dầu cải) khoảng 20% tổng lượng calo, chất béo không bão hòa đa (dầu cải, quả óc chó, hạt lanh, salba) và acid béo omega 3 chiếm khoảng 10% tổng lượng calo
- Protein: đối với người bệnh ĐTĐ type 2 ăn protein có thể làm tăng đáp ứng của insulin khi ăn chế độ ăn có tinh bột Nên ăn khoảng 1-1,5g/1kg cân nặng/1 ngày Với những người có bệnh thận ĐTĐ thì lượng protein nên là 0,8g/kg/1 ngày
- Nước uống chứa cồn: nên giới hạn ≤2 ly tiêu chuẩn ngày hoặc <10 ly mỗi tuần đối với phụ nữ và ≤3 ly tiêu chuẩn mỗi ngày hoặc <15 ly mỗi tuần cho nam giới (1 ly tiêu chuẩn: 10 g cồn, 341 mL bia có 5% cồn , 43 ml rượu mạnh có 40% cồn, 142 ml rượu có 12% cồn)
- Muối: hạn chế ăn muối, lượng muối dưới 2300 mg /ngày, người bệnh vừa mắc ĐTĐ vừa có tăng huyết áp thì nên ăn lượng muối 1500 mg/ngày
- Theo khuyến cáo của CDA năm 2013 nên bổ sung 400 IU vitamin D cho người bệnh > 50 tuổi
Trang 24Hoạt động thể chất (Physical activity) : bao gồm tất cả các hoạt động làm tăng việc sử dụng năng lượng của cơ thể Tập thể dục là một hình thức cụ thể của hoạt động thể chất, được thiết kế để cải thiện sức khỏe về mặt thể chất
- Bài tập Aerobic (aerobic exercise): các nhóm cơ lớn hoạt động liên tục cùng một lúc trong ít nhất 10 phút Bài tập mức độ trung bình làm người bệnh toát
mồ hôi nhưng vẫn có thể nói chuyện được, kéo dài 30-60 phút Bài tập mức độ mạnh làm người bệnh thở khó và thở nhanh hơn, chỉ có thể nói được một vài từ
- Tập kháng lực (resistance exercise): lặp lại những bài tập ngắn với các dụng cụ như tạ tay, máy nâng tạ, dây kéo tay lò xo hoặc bài tập chống đẩy nhằm làm tăng sức mạnh, sức chịu đựng của cơ
- Khuyến cáo đối với Người lớn mắc ĐTĐ: ≥ 150 phút/ tuần tập aerobic với mức độ trung bình hoặc ≥75 phút/tuần tập aerobic với mức độ mạnh, hoặc ≥ 3 ngày/tuần và không quá 2 ngày liên tiếp không tập thể dục Tập kháng lực ≥ 2 buổi/ tuần và tốt nhất là 3 lần/tuần (không có chống chỉ định), mỗi buổi tập bao gồm ít nhất 5 bài tập kháng lực khác nhau liên quan đến các nhóm cơ lớn Ngoài ra không nên ngồi một chỗ quá 90 phút Trẻ em mắc ĐTĐ hoặc những người tiền ĐTĐ: hoạt động thể chất ≥ 60 phút/ngày Người bệnh tránh hoạt động mạnh khi bị ketosis Để tránh hạ đường huyết, trước khi tập thể dục người bệnh cần ăn thêm tinh bột nếu mức đường huyết là 100 mg/dL (5,6 mmol/L)
Hút thuốc: người bệnh không nên hút thuốc lá hoặc sử dụng các sản phẩm của thuốc lá, kể cả thuốc lá điện tử
Tự theo dõi đường huyết : nên kiểm tra vào các thời điểm sau: trước bữa ăn hay ăn nhẹ, sau khi ăn, vào giờ đi ngủ, trước khi tập thể dục, khi nghi ngờ đường huyết thấp, sau khi điều trị hạ đường huyết đến khi đường huyết ở mức bình thường, trước khi làm những việc khó để thực hiện như lái xe Người bệnh ĐTĐ type 2 sử dụng insulin nên kiểm tra ít nhất 3 lần/ ngày và 1 lần/ ngày đối với người không điều trị bằng insulin
Chăm sóc bàn chân: quan sát và tự kiểm tra toàn bộ bàn chân mỗi ngày, tránh chấn thương bàn chân, mang dày dép phù hợp (như giày mềm hoặc có bít mũi,
Trang 25không chật) và kiểm tra giày dép trước khi mang, hạn chế hoạt động làm tăng áp lực lên bàn chân, không đi chân trần Theo ADA 2005, nên rửa chân hàng ngày, dùng khăn mềm lau khô chân và chú ý các kẽ ngón chân Nên cắt móng chân sau khi rửa chân, không nên cắt sâu vào ngón chân [14]
Tuân thủ việc sử dụng thuốc: điều trị cho người bệnh ĐTĐ type 2 thường bắt đầu từ điều chỉnh chế độ ăn, giảm cân, tập luyện nếu mức đường huyết không cải thiện thì tiếp tục phối hợp với sử dụng thuốc uống hoặc tiêm
1.3.3 Thực hiện tự quản lý bệnh Đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
Đa số người bệnh ĐTĐ chỉ tìm đến nhân viên y tế một vài giờ mỗi năm, chủ yếu họ tự chăm sóc và quản lý bệnh của mình Việc người bệnh áp dụng các kỹ năng tự quản lý là cần thiết để giúp họ quản lý bệnh ĐTĐ
Mặc dù tự quản lý bệnh ĐTĐ là rất quan trọng trong việc kiểm soát bệnh và có nhiều chương trình đã được phát triển trên thế giới nhưng vẫn có một số lượng đáng
kể người bệnh ĐTĐ type 2 không thực hiện được việc tự quản lý bệnh Nghiên cứu tại Trung Quốc năm 2014, người bệnh thực hiện tự quản lý bệnh khá tốt, 46 % đạt ở mức độ tốt, 45% đạt mức khá và 6% đạt mức kém [32] Nghiên cứu tại Washington,
Mỹ năm 2007 cho biết 1/5 người bệnh ĐTĐ type 2 bỏ dùng thuốc hơn 2 ngày/1 tuần Hầu hết đều hoạt động thể chất ở mức thấp[49]
Nghiên cứu thực hiện tại Trung tâm y tế quận I Tp Hồ Chí Minh năm 2006 nhằm khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng biến chứng ĐTĐ của người bệnh ĐTĐ, chỉ có 21% thực hành việc đo đường huyết tại nhà, 42% người bệnh không có chế độ ăn dành cho mình [9] Theo kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Bình năm 2007, gần 80% người bệnh ĐTĐ ở Việt Nam không tuân theo chế độ ăn đặc biệt nào hay thực hiện bất kỳ bài tập thể dục nào [75]
Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ Các hướng dẫn tự quản lý bệnh vẫn còn phức tạp [54] Nghiên cứu của Nama năm 2011 đưa ra vấn đề gánh nặng về kinh tế cũng là nguyên nhân dẫn đến việc không thể tuân thủ về điều trị ở người bệnh ĐTĐ [48] Hoặc có thể do chưa có đầy đủ kiến thức về bệnh và cách tự quản lý Một nghiên cứu năm 2006 chỉ ra 91%
Trang 26người bệnh ĐTĐ tại trung tâm y tế quận 1 thành phố Hồ Chí Minh không định nghĩa được, không biết được nguyên nhân và biến chứng của bệnh ĐTĐ [9] Nghiên cứu của Nguyễn Vinh Quang năm 2011 cho thấy tỷ lệ đối tượng có kiến thức chung về ĐTĐ rất kém là 57%, chỉ có 1,4% đối tượng có kiến thức chung về ĐTĐ tốt [10] Nghiên cứu năm 2015, chỉ có dưới 10% dân số hiểu được các khái niệm của ĐTĐ type 2, các yếu tố nguy cơ, biến chứng, các phương pháp phòng ngừa và điều trị [78]
1.4 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về những yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý bệnh ở người bệnh Đái tháo đường type 2
1.4.1 Kiến thức về bệnh Đái tháo đường và việc tự quản lý bệnh
Có nhiều nghiên cứu đã tiến hành khảo sát mối quan hệ giữa kiến thức về ĐTĐ và việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 Kết quả từ các nghiên cứu này tương đối khác nhau Đa số các nghiên cứu đều đồng ý với quan điểm kiến thức
về ĐTĐ có ảnh hưởng tích cực tới việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 như kết quả nghiên cứu của King, 2000 ; Xu, 2008; Nunez, 2011; Boogar, 2013; Huang, 2014 ; Luo, 2015 [21],[32],[38],[45],[53],[83]
Một nghiên cứu khác thực hiện trên đối tượng là người Mỹ gốc Phi năm 2011 của Onwudiwe tìm thấy các rào cản chính đối với việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ là sự thiếu kiến thức về mục tiêu đường huyết và huyết áp[56] Nghiên cứu khác tại Hàn Quốc năm 2009 của Song cho thấy rào cản chủ yếu đối với việc tuân thủ tự quản lý ở người bệnh ĐTĐ type 2 là kém hiểu biết hay hiểu biết không đầy đủ về tự quản lý như tầm quan trọng hay cách thực hiện tự quản lý [71] Nghiên cứu tiếp theo của Sohal vào năm 2015 đồng tình với quan điểm kiến thức về ĐTĐ là rào cản chủ yếu đối với việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 ở khu vực Nam Á [70]
Tuy nhiên vẫn có một vài nghiên cứu tìm thấy kết quả ngược lại cho thấy kiến thức về bệnh ĐTĐ ảnh hưởng không đáng kể đến việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 Theo nghiên cứu của Heisler năm 2005 kiến thức về mức HbA1c không ảnh hưởng đáng kể đến việc tự quản lý ở người bệnh, cần kết hợp với nhiều
Trang 27chiến lược hành vi khác để giúp người bệnh quản lý có hiệu quả [31]
1.4.1 Niềm tin vào bản thân và việc tự quản lý bệnh
Theo tác giả Bandura, niềm tin vào bản thân được hiểu là sự tự tin của bản thân khi thực hiện những hành vi liên quan đến sức khỏe [18] Nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về sự tự tin của người bệnh ĐTĐ type 2 về khả năng tự quản lý bệnh ĐTĐ Hầu hết các nghiên cứu đều cùng quan điểm về vai trò tích cực của niềm tin vào bản thân đối với việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2
Năm 2015, sau khi phân tích tổng hợp kết quả của 7 nghiên cứu Luo nhận thấy niềm tin vào bản thân càng cao thì việc tự quản lý ĐTĐ càng tốt [45] tương tự kết quản nghiên cứu của Huang năm 2014 [32]
Nhiều nghiên cứu cũng tìm thấy tác động của niềm tin vào bản thân lên từng lĩnh vực trong tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 Nghiên cứu của Rosland năm 2008 cho thấy niềm tin vào bản thân có ảnh hưởng một cách đáng kể đến kiểm tra đường huyết, tuân theo chế độ ăn và kiểm tra bàn chân [64] Tác giả Sarkar,
2006 cho biết niềm tin vào bản thân có ảnh hưởng đáng kể đến chế độ ăn, tập luyện, chăm sóc bàn chân, tự kiểm tra đường huyết, không ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc [67]
Năm 2003, nghiên cứu của Krichbaum cho thấy việc tăng cường niềm tin vào bản thân sẽ làm tăng khả năng xử lý các vấn đề liên quan đến tự quản lý bệnh của người bệnh [41]
Nghiên cứu khác tại San Bernardino, California năm 2012 của Ramal cho thấy niềm tin vào bản thân vừa có thể là yếu tố làm nâng cao vừa có thể là yếu tố hạn chế việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 [62] Nghiên cứu tại Việt Nam năm
2012 của tác giả Đào Trần Tiết Hạnh chỉ ra một số lượng lớn người bệnh ĐTĐ type
2 ở Việt Nam không cảm thấy tự tin khi thực hiện tự quản lý bệnh ĐTĐ và niềm tin vào bản thân có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tự quản lý bệnh [25]
1.4.2 Niềm tin vào hiệu quả điều trị và việc tự quản lý bệnh
Một số nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa niềm tin vào hiệu quả điều trị
và việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 Hầu như các nghiên cứu đều
Trang 28thống nhất vai trò tích cực của yếu tố này đối với việc tự quản lý bệnh Theo nghiên cứu của Xu vào năm 2008, niềm tin vào hiệu quả điều trị có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đối với tự quản lý bệnh người bệnh ĐTĐ type 2 Tuy nhiên, niềm tin vào hiệu quả điều trị chỉ ảnh hưởng đến đối tượng điều trị bằng insulin [83] Nghiên cứu của Shigaki năm 2010 đã đưa ra kết quả niềm tin vào hiệu quả của các hoạt động tự quản lý bệnh ĐTĐ có ảnh hưởng đáng kể đến việc duy trì chế độ ăn và kiểm tra đường huyết, kết quả nghiên cứu cho thấy cứ tăng một điểm khi đánh giá về niềm tin vào hiệu quả của các hoạt động tự quản lý bệnh ĐTĐ thì tỷ lệ thực hiện kiểm tra đường huyết lại tăng lên 59% Tuy nhiên nghiên cứu trên không tìm thấy ảnh hưởng của yếu tố này đối với việc tập luyện [69]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đào Trần Tiết Hạnh năm 2012 tại Việt Nam, niềm tin vào hiệu quả điều trị có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 [25]
Như vậy vẫn chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa niềm tin vào hiệu quả điều trị và việc tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2
1.4.3 Hỗ trợ xã hội và việc tự quản lý bệnh
Hỗ trợ xã hội có thể được hiểu là sự hỗ trợ về tâm lý, phương tiện, thông tin, đánh giá từ gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp nhân viên y tế Phần lớn các nghiên cứu thống nhất ảnh hưởng tích cực của hỗ trợ xã hội đối với việc tự quản lý bệnh Đái tháo đường
Nghiên cứu của King năm 2010, Fort năm 2013, Huang năm 2014 cho thấy vai trò tích cực của hỗ trợ từ cộng đồng [27] Mạng lưới hỗ trợ xã hội về thông tin
và tâm lý càng lớn thì càng nâng cao khả năng tự quản lý ở người bệnh ĐTĐ type 2
là kết quả nghiên cứu của Koetsenruijter năm 2015 [40] Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra vai trò tích cực của hỗ trợ gia đình đến tự quản lý bệnh ĐTĐ ví dụ như của Song năm 2009; Schiøtz năm 2012; Fort năm 2013 [27],[68],[71] Theo Krichbaum năm 2003, rào cản để thực hiện tốt tự quản lý bệnh ĐTĐ là ít có sự hỗ trợ từ gia đình [41] Nghiên cứu trước đó của Jerant năm 2004 cũng cho biết ít trao đổi với bác sĩ và hỗ trợ từ gia đình kém được xem là rào cản thường thường gặp
Trang 29nhất đối với hoạt động tự quản lý bệnh [34]
Vài nghiên cứu cho thấy 2 chiều hướng ảnh hưởng khác nhau của hỗ trợ xã hội đới với tự quản lý bệnh ĐTĐ Các nghiên cứu của Kadirvelu năm 2012; Ramal năm 2012 và Đào Trần Tiết Hạnh năm 2012 cùng đưa ra quan điểm hỗ trợ xã hội, đặc biệt là hỗ trợ từ gia đình và những người cùng mắc bệnh ĐTĐ vừa là yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực và tích cực đến tự quản lý bệnh ĐTĐ [25],[36],[62] Nghiên cứu của Patel năm 2015 tìm thấy gia đình có vai trò hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh ĐTĐ, tuy nhiên văn hóa xã hội hay thói quen gia đình người bệnh có thể cản trở việc thay đổi lối sống để kiểm soát bệnh ĐTĐ [57]
Một số nghiên cứu lại không đề cao vai trò của hỗ trợ xã hội Nghiên cứu của Oftedal năm 2010 có kết quả ngược lại với những tác giả khác, hỗ trợ xã hội chỉ có vai trò nhỏ đối với tự quản lý bệnh ĐTĐ [55]
1.4.4 Những hạn chế của các nghiên cứu trước đây
Đa số các nghiên cứu hiện tại ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào khảo sát tỷ lệ mắc ĐTĐ như nghiên cứu của các tác giả Bình, 2004; Sơn, 2004; Funnell, 2004 ; Cúc, 2007; Hà, 2009; Ngoc, 2015; Chung, 2015 [2],[4],[6],[28],[42],[51],[58] và các yếu tố nguy cơ mắc ĐTĐ như nghiên cứu của một số tác giả Bình, 2004; Sơn, 2004; Cúc, 2007; Hà, 2009; Kiet, 2013; Ngoc, 2015; Chung, 2015; [2],[4],[6],[42], [46],[51],[58] hoặc những khảo sát liên quan đến biến chứng của ĐTĐ trong nghiên cứu của tác giả Bình 2004; Phong và Ninh, 2006; Chung, 2015 [2],[9],[51]
Không có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam tìm hiểu về vấn đề chăm sóc người bệnh ĐTĐ Chỉ có một số nghiên cứu về tuân thủ chế độ ăn và tập luyện, chất lượng giáo dục về ĐTĐ của tác giả Tạ Văn Bình và Lê Quang Toàn năm 2007 [75], quản
lý ĐTĐ của Kim Cúc năm 2008 [4], tiếp cận phác đồ sử dụng insulin của Beran năm 2008 [19]
Mặc dù tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và dự phòng biến chứng ĐTĐ, cũng đã có nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tự quản lý ĐTĐ nhưng tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về vấn đề này Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu tại
Trang 30Việt Nam được nhắc đến ở trên không dựa trên học thuyết điều dưỡng để tiến hành khảo sát Chỉ tìm thấy 1 nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 tại Việt Nam được thực hiện tại Bệnh viện Chợ Rẫy của tác giả Đào Trần Tiết Hạnh năm 2012 [25]
Vai trò và những ảnh hưởng của các yếu tố đối với thực hiện tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 có thể khác nhau giữa các vùng của cùng một nước hoặc giữa các nước Bởi vì những nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam còn rất hạn chế nên việc thực hiện nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý bệnh ĐTĐ ở người bệnh ĐTĐ type 2 tại Đà Nẵng là cần thiết
1.5 Học thuyết nhận thức xã hội (Social cognitive theory) và khung lý thuyết
Hình 1.1 Mô hình học thuyết nhận thức xã hội (Social cognitive theory) [18]
Dựa trên tóm tắt học thuyết nhận thức xã hội của Bandura [18]
Học thuyết nhận thức xã hội (Social cognitive theory) của Bandura giải thích hành vi sức khỏe dựa trên sự tương tác lẫn nhau giữa các bộ ba yếu tố cá nhân, môi trường và hành vi Ba yếu tố này có mối quan hệ tác động qua laị chặt chẽ với nhau theo 2 chiều Niềm tin vào bản thân là khái niệm cốt lõi của học thuyết, Bandura đã định nghĩa niềm tin vào bản thân là sự tư tin của con người vào khả năng của họ để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó
Có nhiều học thuyết được sử dụng để giải thích sự thay đổi về hành vi như Trans-theoretical model (Prochaska & Velicer,1997), Theory of Planned Behaviours (Ajzen,2012), Self determination theory (Deci & Ryan,1985), Health Belief Model (Rosenstoch,1974), Theory of Planned Behaviours (Ajzen,2012) và
Trang 31Social Cognitive Theory (Bandura) Nghiên cứu này sử dụng học thuyết nhận thức
xã hội (Social cognitive theory) của Bandura là thích hợp nhất Lý do vì tự quản lý
là một qúa trình trong đó người bệnh hàng ngày phải cố gắng để đưa ra các quyết định để làm thế nào có thể quản lý cuộc sống của họ và tình trạng bệnh ĐTĐ của
họ Nói cách khác đó là một quá trình thay đổi hành vi Như vậy, yếu tố cá nhân bao gồm kiến thức về bệnh ĐTĐ, niềm tin vào hiệu quả điều trị, niềm tin vào bản thân, yếu tố môi trường là hỗ trợ xã hội và hành vi là tự quản lý bệnh ĐTĐ Người nghiên cứu có thể dựa trên mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố cá nhân, môi trường và hành vi trong học thuyết này để giải thích những yếu tố liên quan và mối quan hệ giữa chúng Ngoài ra, học thuyết cũng nhấn mạnh yếu tố niềm tin vào bản thân để giải thích các hành vi , dựa trên cơ sở này người nghiên cứu có thể khảo sát
để làm rõ mối quan hệ giữa niềm tin vào bản thân và tự quản lý bệnh ở người bệnh ĐTĐ type 2 từ đó có thể giúp xây dựng những chiến lược can thiệp để cải thiện hành vi này trong tương lai
Do đó, dựa trên Học thuyết nhận thức xã hội (Social cognitive theory) của Bandura, nghiên cứu đưa ra khung lý thuyết như sau :
Hình 1.2 Khung lý thuyết [18]
Hành vi:
Tự quản lý bệnh Đái tháo đường
Yếu tố cá nhân:
Kiến thức về Đái tháo đường
Niềm tin vào hiệu quả điều trị
Niềm tin vào bản thân
Yếu tố môi trường:
Hỗ trợ xã hội
Trang 321.6 Một số đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
Thành phố Đà Nẵng: là một thành phố thuộc trung ương, nằm trong vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam Đây là thành phố lớn thứ 3 trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn nhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên Tổng diện tích là 1285,4 km² Theo kết quả nghiên cứu năm 2013, dân số thành phố là 992800 người Tốc độ tăng trưởng đô thị
là 3,5% với tỷ lệ đô thị hóa cao nhất (87%) trong số các thành phố và các tỉnh của Việt Nam Tốc độ tăng trưởng GDP thành phố Đà Nẵng trung bình 11% trong giai đoạn 2006-2010, gấp 1,5 lần mức trung bình của quốc gia Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam vào năm 2011, thành phố Đà Nẵng có 69 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở Y tế thành phố, trong đó có 12 Bệnh viện, 1 Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng và 56 trạm y tế
Bệnh viện Đà Nẵng: được nâng lên là Bệnh viện hạng 1 vào năm 2003 trực thuộc Sở Y tế thành phố Đà Nẵng, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân thành phố Đà Nẵng và một số tỉnh của khu vực miền Trung Với chỉ tiêu 1010 giường bệnh, hơn 1200 cán bộ nhân viên bao gồm 31 tiến sĩ và bác sĩ chuyên khoa
2 và 204 Thạc sĩ và bác sĩ chuyên khoa 1, thu dung khoảng 2000 người bệnh mỗi ngày
Khoa khám bệnh Bệnh viện Đà Nẵng: Khám bệnh từ 7:00-17:00 từ thứ 2 đến thứ 6 Phòng khám nội tiết gồm 1 bác sĩ và 1 điều dưỡng, mỗi ngày có khoảng 30-50 người bệnh Đái tháo đường type 2 đến khám
Trang 33Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: tất cả những người bệnh Đái tháo đường type 2 đến khám tại Khoa Khám bệnh của Bệnh viện Đà Nẵng
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Đã được chẩn đoán mắc ĐTĐ type 2 ít nhất 6 tháng
Có thể giao tiếp bình thường
Tự nguyện và xác nhận tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
Được chẩn đoán Đái tháo đường type 2 dưới 6 tháng
Không thể giao tiếp bình thường
Người bệnh từ chối tham gia vào nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian: Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 10 năm 2016
Địa điểm: Phòng Khám Nội tiết- Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đà Nẵng, 124 Hải Phòng, phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
2.3 Thiết kế:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
Cỡ mẫu là 155 người bệnh khám tại Phòng Khám Nội tiết- Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đà Nẵng
Phương pháp chọn mẫu:
+ Chọn mẫu thuận tiện
+ Cách thức chọn mẫu : Các điều tra viên lựa chọn tất cả người bệnh Đái tháo đường đến khám tại Phòng Khám Nội tiết- khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đà Nẵng thỏa mãn những tiêu chí chọn mẫu và mời tham gia vào nghiên cứu Việc tiến hành phỏng vấn được diễn ra trong vòng 1 tháng, lấy mẫu toàn bộ trong thời gian từ 23/6/2016 đến 23/7/2016
Trang 342.5 Phương pháp thu thập số liệu:
Việc tổ chức thu thập số liệu được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu
Thiết kế bộ câu hỏi: Bộ câu hỏi nghiên cứu được tác giả dịch sang Tiếng Việt từ
bộ câu hỏi có sẵn bằng Tiếng Anh (mô tả cụ thể ở phần công cụ nghiên cứu), tiếp theo 2 bác sĩ y khoa có chuyên môn về bệnh Đái tháo đường kiểm tra sự chính xác về ngôn ngữ và sự phù hợp về văn hóa của bộ công cụ Bộ công cụ sau khi hoàn thành được sử dụng để điều tra thử trên 15 người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu để xác định độ tin cậy (cỡ mẫu pilot bằng 10% mẫu nghiên cứu) và những người này không được chọn lại vào mẫu nghiên cứu Các câu hỏi được điều chỉnh lại để phù hợp với đối tượng nghiên cứu, sau đó in ấn phục vụ cho điều tra
Bước 2: Tập huấn công cụ nghiên cứu
Đối tượng: 02 giảng viên trường Đại học Duy Tân
Nội dung tập huấn: mục đích của cuộc điều tra, nội dung các câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng tiếp xúc với người bệnh
Thời gian, địa điểm: 01 buổi tại Trường Đại học Duy Tân
Giảng viên tập huấn: tác giả
Bước 3: Tiến hành điều tra
03 Điều tra viên đến tại phòng khám nội tiết mời người bệnh tham gia nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn trong khi người bệnh chờ đến lượt khám hoặc chờ kết quả xét nghiệm hay sau khi Bác sĩ khám bệnh
Người bệnh mất 20-25 phút để trả lời toàn bộ câu hỏi trong phiếu điều tra
Điều tra viên giải đáp những thắc mắc của người bệnh trong phiếu điều tra
Sau khi người bệnh hoàn thành, phiếu điều tra được kiểm tra lại để tránh bỏ sót các thông tin Phiếu điều tra được kiểm tra một lần nữa trước khi phân tích thống kê, nếu vẫn bỏ sót số liệu thì bổ sung hoặc loại bỏ phiếu
2.6 Các biến số nghiên cứu:
Biến phụ thuộc:
Trang 35 Tự quản lý bệnh Đái tháo đường: chế độ ăn chung, chế độ ăn cụ thể, hoạt động thể chất, kiểm tra đường huyết, chăm sóc bàn chân, sử dụng thuốc
Biến độc lập:
Kiến thức về bệnh ĐTĐ: kiến thức chung về bệnh ĐTĐ, nguy cơ bị biến chứng, chăm sóc cơ bản hàng ngày và khi đau ốm, sử dụng thuốc
Niềm tin vào bản thân
Niềm tin vào hiệu quả điều trị: niềm tin tự quản lý rất quan trọng đối với kiểm soát mức đường huyết, niềm tin tự quản lý rất quan trọng đối với ngăn ngừa biến chứng ĐTĐ
Hỗ trợ xã hội: nhân viên y tế, gia đình và bạn bè, bản thân, hàng xóm/cộng đồng, chính sách và phương tiện truyền thông, các tổ chức, công việc
2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.7.1 Khái niệm về các biến và bộ công cụ nghiên cứu:
Tự quản lý bệnh ĐTĐ (Diabetes self management): biến này được đánh giá bằng công cụ tóm tắt các hoạt động tự chăm sóc ĐTĐ (the Summary of Diabetes Self-Care Activities) của Toobert, Hampson, & Glasgow năm 2000 [77] Bộ công
cụ có 16 câu hỏi, tính theo thang điểm 7, khoảng điểm tính từ 0 đến 105 điểm (độ tin cậy 0,863) Tổng số điểm bằng tổng số ngày Điểm cao hơn thì mức độ thực hiện
tự quản lý cao hơn Câu số 3, 4, 5, 6, 7, 9 tác giả có đưa thêm ví dụ để người bệnh
dễ hiểu hơn về câu hỏi Bộ công cụ đánh giá về việc thực hiện tự quản lý của người bệnh ĐTĐ về chế độ ăn, chăm sóc bàn chân, hoạt động thể chất, sử dụng thuốc, kiểm tra đường huyết, hút thuốc
Kiến thức về bệnh ĐTĐ (Diabetes knowledge) có thể được hiểu là sự hiểu biết chung về bệnh ĐTĐ và quản lý bệnh bao gồm kiến thức chung về bệnh ĐTĐ, nguy cơ của biến chứng ĐTĐ, tự chăm sóc lúc bình thường và lúc ốm đau Biến này được đánh giá bằng thang đánh giá kiến thức chung ĐTĐ (General Diabetes Knowledge) của Wongwiwatthananukit, 2004 [79] Bộ công cụ có 21 câu hỏi, lựa chọn đúng hoặc không đúng, với toàn bộ câu trả lời đúng thì tổng điểm là 21 (độ tin
Trang 36cậy 0,858) Điểm càng cao thì kiến thức về bệnh ĐTĐ càng cao Bộ câu hỏi chỉ đánh giá kiến thức chung về ĐTĐ
Hỗ trợ xã hội (Social support): Biến này được đánh giá bằng công cụ khảo sát các nguồn lực bệnh mạn tính (Brief Chronic Illness Resources Survey) của Glasgow năm 2005 [29] Bộ công cụ có 22 câu hỏi, tính theo thang điểm 5, khoảng điểm tính từ 19 đến 110 điểm (độ tin cậy 0,903) Điểm càng cao thì hỗ trợ càng cao
Bộ công cụ dùng để đánh giá những hỗ trợ từ xã hội đối với việc tự quản lý các bệnh mạn tính bao gồm 7 nguồn hỗ trợ từ cá nhân, đội ngũ y tế, gia đình và bạn bè,
tổ chức trong cộng đồng, chính sách và phương tiện truyền thông, công việc
Niềm tin vào bản thân (self efficacy) được hiểu là sự tự tin của bản thân khi thực hiện những hành vi liên quan đến sức khỏe Biến này được đánh giá bằng công
cụ Diabetes Self-Efficacy Scale của Stanford Patient Education Center [73] Bộ công cụ gồm 8 câu hỏi, tính theo thang điểm 10, khoảng điểm tính từ 8 đến 80 điểm (độ tin cậy 0,756) Điểm cho mỗi câu là số mà người bệnh chọn, điểm càng cao thì niềm tin vào bản thân càng cao Câu 3, 5 tác giả có đưa thêm ví dụ để người bệnh dễ hiểu hơn về câu hỏi Bộ công cụ đo lường mức độ tự tin để quản lý hành vi chăm sóc hàng ngày liên quan đến ĐTĐ bao gồm chế độ ăn, hoạt động thể chất, theo dõi đường huyết, chăm sóc cơ bản về ĐTĐ
Niềm tin vào hiệu quả điều trị (belief in treatment effectiveness) được hiểu
là những niềm tin về tầm quan trọng của các hoạt động tự quản lý bệnh ĐTĐ đối với kiểm soát và dự phòng biến chứng lâu dài của ĐTĐ Biến này được đánh giá bằng công cụ đánh giá niềm tin vào hiệu quả điều trị của Xu năm 2008 [83] Bộ công cụ gồm 9 câu hỏi, tính theo thang điểm 5, khoảng điểm tính từ 9 đến 45 điểm (độ tin cậy 0,861) Bộ công cụ đánh giá niềm tin về tầm quan trọng của hành vi tự quản lý đối với việc kiểm soát mức đường huyết (4 câu) và dự phòng các biến chứng của ĐTĐ (5 câu) Tổng số điểm của niềm tin vào điều trị là mức quan trọng của thực hiện quản lý được tin tưởng bởi người bệnh, điểm càng cao thì niềm tin về hiệu quả của thực hiện hoạt động quản lý bệnh càng cao
Trang 372.7.2 Cách tính điểm và đánh giá bộ công cụ nghiên cứu
Bộ câu hỏi niềm tin vào bản thân:
Cách tính điểm: Có 8 câu hỏi, tính theo thang điểm 10, khoảng điểm tính từ 8 đến 80 điểm.Điểm cho mỗi câu là số mà người bệnh chọn Nếu hai số liên tiếp được chọn thì lấy điểm số thấp hơn Điểm của công cụ được tính tổng của 8 câu Nếu nhiều hơn 2 câu không được trả lời thì không tính điểm của bộ công cụ
Đánh giá: điểm càng cao thì niềm tin vào bản thân càng cao Điểm trung bình được phân thành 3 mức độ với khoảng điểm bằng (80-8)/3=24 Từ 8-32: mức độ thấp, từ 32,1-56: mức độ trung bình, từ 56,1-80: mức độ cao
Bộ câu hỏi tự quản lý bệnh ĐTĐ
Cách tính điểm: 16 câu, điểm mỗi câu tính là số ngày, ngoại trừ câu 15
Chế độ ăn chung = Trung bình của câu 1 và câu 2
Chế độ ăn cụ thể = Trung bình của câu 3, câu 4 và câu 5 Câu 4 tính điểm ngược lại (0=7, 1=6, 2=5, 3=4, 4=3, 5=2, 6=1,7=0)
Hoạt động thể chất =Trung bình của câu 6 và 7
Kiểm tra đường huyết =Trung bình của câu 8 và 9
Chăm sóc bàn chân = Trung bình của câu 10, 11, 12, 13 và 14 Trong đó câu 13 tính điểm ngược lại (0=7, 1=6, 2=5, 3=4, 4=3, 5=2, 6=1,7=0)
Sử dụng thuốc = Điểm câu 16
Tình trạng hút thuốc lá = Điểm câu 15 (0 =không hút, 1 =hút thuốc) + số điếu thuốc / ngày
Đánh giá: điểm tự quản lý tính bằng tổng các lĩnh vực ngoại trừ hút thuốc lá Điểm cao hơn thì mức độ thực hiện tự quản lý cao hơn Điểm trung bình được phân thành 3 mức độ với khoảng điểm bằng (105-0)/3=35 Từ 0-35: mức độ thấp, từ 35,1-70: mức độ trung bình, từ 70,1-105: mức độ cao
Bộ câu hỏi hỗ trợ xã hội
Cách tính điểm: có 22 câu hỏi, tính theo thang điểm 5, khoảng điểm tính từ 19 đến 110 điểm Điểm cho mỗi câu là số mà người bệnh chọn Điểm của bộ công
cụ bằng điểm của tất cả các câu hỏi
Trang 38 Hỗ trợ từ nhân viên y tế: câu 1, 2, 3
Hỗ trợ từ nơi làm việc: câu 20, 21, 22
Đánh giá: điểm càng cao thì hỗ trợ càng cao Điểm trung bình được phân thành
3 mức độ với khoảng điểm bằng (110-8)/3=34 Từ 8-42: mức độ thấp, từ 77: mức độ trung bình, từ 77,1-110: mức độ cao
42,1- Bộ câu hỏi về kiến thức về bệnh ĐTĐ
Cách tính điểm: 1 điểm cho 1 câu trả lời đúng, 21 câu đúng là tổng số điểm của
bộ công cụ Tất cả các câu đều có đáp án là ĐÚNG, ngoại trừ các câu 1, 2, 12,
16 có đáp án là SAI
Đánh giá: điểm càng cao kiến thức càng tốt Điểm trung bình được phân thành 3 mức độ với khoảng điểm bằng (21-0)/3=7 Từ 0-7: mức độ thấp, từ 7,1 -15: mức độ trung bình, từ 15,1-21: mức độ cao
Bộ câu hỏi niềm tin vào hiệu quả điều trị
Cách tính điểm: có 9 câu hỏi, tính theo thang điểm 5, khoảng điểm tính từ 9 đến 45 điểm Điểm cho mỗi câu là số mà người bệnh chọn Điểm của bộ công
cụ là tổng điểm của các câu Tổng số điểm của niềm tin vào điều trị là mức quan trọng của thực hiện tự quản lý được người bệnh tin tưởng
Đánh giá: điểm càng cao thì niềm tin về hiệu quả của thực hiện hoạt động quản
lý bệnh càng cao Điểm trung bình được phân thành 3 mức độ với khoảng điểm bằng (45-9)/3=12 Từ 9-21: mức độ thấp, từ 21,1 -33: mức độ trung bình, từ 33,1-45: mức độ cao
Trang 39Bảng 2.1 Kiểm tra độ tin cậy của bộ công cụ (Pilot test)
(Cronbach's Alpha) Kiến thức về
Hỗ trợ xã hội Khảo sát các nguồn lực bệnh mạn tính (Brief
Chronic Illness Resources Survey) của Glasgow, 2005
Self-0,756
Niềm tin vào
hiệu quả điều trị
Niềm tin vào hiệu quả điều trị (Belief in treatment effectiveness) của Xu , 2008
0,861
Tự quản lý bệnh
Đái tháo đường
Tóm tắt các hoạt động tự chăm sóc Đái tháo đường (the Summary of Diabetes Self-Care Activities) của Toobert, Hampson, &
Glasgow, 2000
0,863
Sau khi tiến hành làm pilot, kết quả cho thấy hệ số độ tin cậy α Cronbach của tất cả các bộ công cụ đều >0,7 vì vậy tất cả bộ công cụ này được sử dụng vào nghiên cứu 2.8 Phương pháp phân tích số liệu:
Nhập liệu : toàn bộ số liệu thu thập được nhập liệu bằng phần mềm EPIDATA 3.1
Làm sạch số liệu: sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch bằng cách dùng bảng tần số để phát hiện số liệu lạ, dùng lệnh lọc và tìm kiếm để điều chỉnh
Phân tích số liệu: Các số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
Kỹ thuật thống kê:
Thống kê mô tả: lập bảng phân bố tần số của các biến số
Thống kê phân tích: xác định mối tương quan giữa một số yếu tố và việc tự quản lý bệnh ĐTĐ bằng cách sử dụng phương pháp phân tích tương quan Pearson sau khi kiểm tra biến có phân phối chuẩn
Trang 402.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu đã được sự đồng ý của ban lãnh đạo Bệnh viện Đà Nẵng Nghiên cứu viên giải thích rõ mục đích của nghiên cứu cho người tham gia và mời họ tham gia vào nghiên cứu Nghiên cứu viên chuẩn bị sẵn một mẫu đồng ý tham gia nghiên cứu để người bệnh ký xác nhận tham gia vào nghiên cứu Nghiên cứu viên cam kết
về việc giữ bị mật thông tin và danh tín của người tham gia, tên của người tham gia được mã hóa bằng số Nghiên cứu không gây hại cho người tham gia Người tham gia không nhận được tiền khi tham gia nghiên cứu và được cung cấp thông tin về quyền được dừng lại khi tham gia nghiên cứu và quyết định của họ không ảnh hưởng đến việc chăm sóc hay điều trị cho họ Nghiên cứu viên giải thích cho người tham gia để hoàn thành bộ câu hỏi này cần khoảng 25 đến 30 phút Kết quả chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu, nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh ĐTĐ type 2
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Sai số:
Sai số nhớ lại: không nhớ chính xác số ngày đã thực hiện một hoạt động nào
đó như tuân thủ chế độ ăn, tập luyện hay sử dụng thuốc, theo dõi đường huyết
Sai số ngẫu nhiên: do người được phỏng vấn không hiểu câu hỏi
Biện pháp khắc phục:
Bộ công cụ sử dụng phỏng vấn được điều tra thử để kiểm tra độ tin cậy trước khi tiến hành nghiên cứu
Nghiên cứu viên tiến hành tập huấn kỹ cho 2 điều tra viên khác
Nghiên cứu viên giải thích những thông tin trong phiếu điều tra nếu người bệnh không hiểu rõ
Toàn bộ phiếu điều tra được kiểm tra trong ngày, những phiếu thiếu thông tin được bổ sung hoặc loại bỏ