1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện nội tiết trung ương cơ sở 2

35 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 508,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh viện nội tiết Trung Ương cơ sở 2 có 800 giường bệnh, trong bệnh viện có khoa Đái tháo đường chịu trách nhiệm khám và điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường; và một khoa dinh dưỡng lâ

Trang 1

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2017

Trang 2

Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS TRẦN VĂN LONG

NAM ĐỊNH - 2017

Trang 3

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất hiện nay trên toàn cầu Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), bệnh ĐTĐ type 2 chiếm 85-95% tổng số người mắc bệnh ĐTĐ Dự kiến năm 2025 thế giới sẽ có 300-330 triệu người mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỷ lệ 5,4% dân số toàn cầu, nhưng điều đáng quan tâm là bệnh sẽ tăng nhanh ở khu vực các quốc gia nghèo - các nước đang phát triển Theo dự báo tỷ lệ bệnh ĐTĐ sẽ tăng 48%, số người mắc bệnh sẽ tăng 170% ở các nước đang phát triển, trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ bệnh tăng 27%, số người ĐTĐ tăng 42% [17]

Năm 2010 theo ước tính, trên thế giới có khoảng 285 triệu người trưởng thành tuổi từ 20-79 bị ĐTĐ, con số đó tiếp tục gia tăng 154% từ năm 2010 đến năm 2030 trong đó chủ yếu là do sự gia tăng mạnh mẽ ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á [28] Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống Đái tháo đường Quốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30 - 69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 5,7% (tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ là 7,2%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,8%)

Hàng năm có 17 triệu người tử vong do các biến chứng bệnh tim mạch, bệnh mạch máu ngoại vi và đột quỵ, một triệu người phải lọc máu do biến chứng suy thận của bệnh ĐTĐ, cứ có 30 giây lại có một người ĐTĐ có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi Trung bình người mắc bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi 40 mất đi 10 năm sống lý tưởng Ngân sách cho ngành y tế của các quốc gia trung bình mất khoảng 5-10% cho điều trị bệnh ĐTĐ, trong đó chi phí chủ yếu là dành cho điều trị biến chứng ĐTĐ [17]

Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, dịch vụ y tế còn hạn chế, đặc biệt dịch vụ y tế cho chăm sóc

và điều trị bệnh ĐTĐ Vì vậy, bệnh ĐTĐ thực sự đang là gánh nặng đối với nền kinh tế xã hội, gánh nặng đối với bệnh nhân và gia đình Chính vì vậy cần nâng cao nhận thức và cách tự chăm sóc bản thân, trong đó vai trò của ngành y tế rất quan trọng để ngăn ngừa và hạn chế các biến chứng ĐTĐ Để phòng ngừa được biến chứng có thể xảy ra người bệnh cần phải tuân thủ điều trị, có chế độ tập

Trang 4

luyện thể dục thể thao hợp lý và đặc biệt chế độ dinh dưỡng hợp lý với bệnh nhân tiểu đường type 2 Hiện nay trong cộng đồng của chúng ta, những người bệnh mắc Đái tháo đường chỉ tập trung vào việc dùng thuốc mà chưa coi trọng chế độ

ăn uống, do đó chỉ số đường huyết có sự dao động không ổn định Vấn đề đặt ra

là làm thế nào để thay đổi nhận thức của người bệnh và người nhà người bệnh đái tháo đường về chế độ dinh dưỡng, tư vấn dinh dưỡng sẽ là một trong những biện pháp giúp nâng cao hiểu biết của người bệnh về chế độ dinh dưỡng [2]

Hiện tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương có 2 cơ sở điều trị, đang quản lý

và điều trị với số lượng bệnh nhân rất đông Số bệnh nhân ngày càng tăng Bệnh viện nội tiết Trung Ương cơ sở 2 có 800 giường bệnh, trong bệnh viện có khoa Đái tháo đường chịu trách nhiệm khám và điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường;

và một khoa dinh dưỡng lâm sàng tiết chế; bệnh viện có một phòng tư vấn dinh dưỡng cho tất cả bệnh nhân các khoa của bệnh viện Số lượng bệnh nhân đái tháo đường ngày càng tăng đặc biệt là đái tháo đường type 2, mà bệnh viện chỉ có 1 phòng tư vấn dinh dưỡng chung với số lượng cán bộ chuyên sâu về dinh dưỡng

ít Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tư vấn được với số lượng bệnh nhân ngày một tăng, đó là cả một vấn đề khó đối với bệnh viện nói chung và nhân viên y tế của bệnh viện nói riêng

Để góp phần làm giảm tốc độ gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và các biến chứng của bệnh ĐTĐ, công tác truyền thông – tư vấn dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng nhằm làm thay đổi nhận thức về chế độ ăn ở người có mắc bệnh ĐTĐ type

2 Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành chuyên đề: “Thực trạng vấn đề

tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương (cơ sở 2)”

Trang 6

PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Định nghĩa đái tháo đường

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), ĐTĐ: “là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu/hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động của insulin” [18]

Theo hiệp hội ĐTĐ hoa kỳ (ADA) năm 2008: “ đái tháo đường là một các bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính trong ĐTĐ

sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [8]

Theo quyết định số: 3280/QĐ-BYT - quyết định về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường týp 2: Đái tháo đường là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau: (1) Tăng glucose máu; (2) Kết hợp với những bất thường về chuyển hóa carbonhydrat, lipid và protein; (3) Bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch khác[2]

2.1.2.Phân loại bệnh đái tháo đường

Phân loại bệnh ĐTĐ theo WHO và ADA đang được sử dụng rộng rãi gồm các loại sau:

 Bệnh đái tháo đường type 1(ĐTĐ phụ thuộc insulin)

Phần lớn bệnh xảy ra trẻ em, người trẻ tuổi và thường có yếu tố tự miễn, chiếm khoảng 5-10% trong số bệnh nhân ĐTĐ [11] Ở Việt Nam chưa có số liệu điều tra quốc gia, nhưng theo thống kê từ các bệnh viện thì tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 1 vào khoảng 7-8% tổng số bệnh nhân ĐTĐ

Bệnh ĐTĐ type 1 gồm 2 loại: cơ chế miễn dịch qua trung gian tế bào và không rõ nguyên nhân

 Bệnh đái tháo đường type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin)

Bệnh thường gặp ở tuổi trên 40 nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều

ở tuổi 30, thậm chí ở cả tuổi thanh thiếu niên [17] Hiện tượng này thường gặp ở

Trang 7

các nước đang phát triển, nơi có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống Theo thống

kê của WHO, bệnh ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 85 - 95% tổng số người mắc bệnh ĐTĐ Ở Việt Nam bệnh ĐTĐ type 2 chiếm tỷ lệ 91,8% [16]

Nguyên nhân của bệnh ĐTĐ type 2 thường do thiếu hụt insulin tương đối

có liên quan tới tình trạng kháng insulin và rối loạn tiết insulin; cơ thể béo phì chủ yếu là béo bụng; ảnh hưởng rất mạnh của di truyền và môi trường [5]

Đặc trưng của ĐTĐ type 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối (hơn là thiếu tuyệt đối) Ở giai đoạn đầu, những bệnh nhân ĐTĐ type 2 không cần insulin cho điều trị nhưng sau nhiều năm mắc bệnh, nhìn chung insulin máu giảm dần và bệnh nhân giảm dần dần lệ thuộc vào insulin để cân bằng glucose máu [5]

 Bệnh đái tháo đường thai kỳ

Là trường hợp rối loạn chuyển hóa glucose máu được phát hiện lần đầu tiên khi mang thai Mặc dù trong đa số trường hợp khả năng dung nạp glucose có cải thiện sau thời gian mang thai ĐTĐ thai kỳ chiếm khoảng 3-5% số thai nghén

và chiếm 90% các trường hợp có thai bị ĐTĐ [11] Loại ĐTĐ này không có triệu chứng gì, vì vậy tất cả các phụ nữ có thai nên được kiểm tra glucose máu để phát hiện ĐTĐ vào tuần lễ thứ 24-28 của thời kỳ mang thai [11]

 Các thể bệnh đái tháo đường khác

Tất cả các nguyên nhân khác hiếm gặp hơn có thể gây bệnh ĐTĐ, bao gồm: ĐTĐ là triệu chứng do bệnh lý của hệ thống nội tiết, các bệnh tụy, các hình thái di truyền của bệnh ĐTĐ hoặc bệnh ĐTĐ do thuốc và hóa chất [5]

Có hai loại rối loạn dung nạp glucose máu, chúng là trung gian giữa dung nạp glucose máu bình thường và bệnh ĐTĐ [5]: Rối loạn dung nạp glucose máu được chẩn đoán bằng nghiệm pháp tăng đường huyết, xét nghiệm sau khi uống nước đường 2 giờ và rối loạn đường huyết lúc đói

2.1.3 Triệu chứng lâm sàng

* Đái tháo đường type 1:

- Bệnh nhân thường phát hiện khi còn trẻ tuổi

- Bệnh thường không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, bệnh nhân thường phát hiện khi có biến chứng

Trang 8

- Có thể bệnh nhân có biểu hiện uống nhiều, đái nhiều, khát nước nhiều, thích ăn đồ ngọt

- Bệnh nhân gày sút nhiều do giảm đồng hóa và tăng quá trình dị hóa protid, lipid, làm teo các cơ và lớp mỡ dưới da

- Sụt cân nhiều

- Ăn nhiều, cảm giác nhanh đói

- Mệt mỏi nhiều, hay mắc các bệnh nhiễm trùng như viêm da, cơ, viêm phổi,…

* Đái tháo đường type 2:

- Thường xuất hiện ở các bệnh nhân lớn tuổi

- Bệnh nhân béo phì, thường bệnh diễn biến trong thời gian dài và có yếu tố gia đình

- Biến chứng hay gặp: Tăng áp lực thẩm thấu

- ĐÁi tháo đường nếu không phát hiện và điều trị sẽ có biến chứng sau: + Mất nước, mất điện giải

+ Rối loạn chuyển hóa mỡ

+ Hôn mê do nhiễm toan ceton hay tăng áp lực thẩm thấu

+ Gây tổn thương cơ quan đích như thận, tim mạch, thần kinh ngoại vi,…

2.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường[2]

2.1.4.1 Chẩn đoán sớm bệnh đái tháo đường týp 2: Đối tượng có yếu tố nguy cơ

để sàng lọc bệnh đái tháo đường týp 2: Tuổi ≥ 45 và có một trong các yếu tố nguy cơ sau đây:

Trang 9

2.1.4.2 Chẩn đoán tiền đái tháo đường (Prediabetes)

- Rối loạn dung nạp glucose (IGT), nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống từ 7,8 mmol/l (140 mg/dl) đến 11,0 mmol/l (200 mg/dl)

- Suy giảm glucose máu lúc đói (IFG), nếu lượng glucose huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 6,1 mmol/l (110 mg/dl) đến 6,9 mmol/l (125 mg/dl)

và lượng glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp tăng glucose máu dưới 7,8 mmol/l (< 140 mg/dl) c) Chẩn đoán xác định đái tháo đường: Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường (WHO- 1999), dựa vào một trong 3 tiêu chí: - Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (≥ 126 mg/dl)

- Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống - Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết tương ở thời điểm bất

kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl) Những điểm cần lưu ý:

- Nếu chẩn đoán dựa vào glucose huyết tương lúc đói và/hoặc nghiệm pháp dung nạp tăng glucose máu bằng đường uống, thì phải làm 2 lần vào hai ngày khác nhau

- Có những trường hợp được chẩn đoán là đái tháo đường nhưng lại có

glucose huyết tương lúc đói bình thường Trong những trường hợp đặc biệt này phải ghi rõ chẩn đoán bằng phương pháp nào Ví dụ “Đái tháo

đường týp 2 - Phương pháp tăng glucose máu bằng đường uống”

Trang 10

2.1.5 Các biến chứng đái tháo đường type 2

Hình 1: Các biến chứng do đái tháo đường

(http://suckhoedoisong.vn/bien-chung-cua-benh-dai-thao-duong-n118769.html)

Trong hầu hết các nước có thu nhập cao, bệnh ĐTĐ được xếp hạng trong

số các nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật như mù lòa, suy thận và cắt cụt chi dưới Tại thời điểm chẩn đoán, người bệnh ĐTĐ type 2 phần lớn đã có biến chứng Trong đó, biến chứng võng mạc lên tới 35%, biến chứng thần kinh ngoại vi 12%, protein niệu 2,0% ĐTĐ cũng là một trong nhưng nguyên nhân gây tử vong hàng đầu chủ yếu do tăng đáng kể nguy cơ của bệnh mạch vành và đột quỵ (bệnh tim mạch), người bệnh ĐTĐ có biến chứng và gia đình họ còn bị ảnh hưởng khá nhiều về thu nhập kinh tế Chi phí cho điều trị ĐTĐ, đặc biệt là bệnh ĐTĐ có biến chứng là rất lớn Chi phí bao gồm chi phí trực tiếp cho điều trị, chi phí do mất thu nhập, chi phí cho những người chăm sóc sức khỏe và chi phí kinh tế cho

xã hội trong việc giảm năng suất và liên quan đến mất cơ hội phát triển kinh tế [4]

2.1.5.1 Biến chứng cấp tính của đái tháo đường type 2

 Biến chứng nhiễm toan ceton

Nhiễm toan ceton là tình trạng trầm trọng của rối loạn chuyển hóa glucid

do thiếu insulin nặng gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây toan hóa máu Hậu quả là mất nước và điện giải trong và ngoài tế bào

Trang 11

Rối loạn ý thức, tăng tiết các hormon như catecholamin, glucagon, cortison, GH Đây là một trong những nguyên nhân thường khiến bệnh nhân phải vào viện và

là nguyên nhân tử vong cao nhất trong các biến chứng cấp tính của ĐTĐ Những trường hợp nhiễm toan nặng có thể bị hôn mê và tử vong Khoảng 20 - 40% bệnh nhân ĐTĐ type 2 mới được chẩn đoán vào viện điều trị do nhiễm toan ceton [3]

 Tăng áp lực thẩm thấu

Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là biến chứng của bệnh ĐTĐ type 2 ở người có tuổi, gây ra hội chứng mất nước quá nhiều do tăng cao glucose máu và tăng bài niệu, bệnh nhân không uống đủ nước để bù lượng nước mất đi [21]

Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu chiếm 5-10% trong các loại biến chứng hôn

mê ở bệnh nhân ĐTĐ và là một trong những loại hôn mê nặng nhất, thường gặp

ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 nhiều tuổi (trên 60 tuổi), tỷ lệ tử vong cao nhất 50%) Mặc dù được điều trị tích cực, nguyên nhân tử vong thường do các biến chứng như tắc mạch, phù não hoặc trụy mạch do điều trị bất hợp lý, nhiễm khuẩn [4]

(30- Nhiễm toan acid lactic

Nhiễm toan acid lactic là một rối loạn chuyển hóa nặng thường gặp khi có rối loạn cung cấp oxy tổ chức, acid lactic được sản xuất tăng lên ở các tổ chức như cơ, xương và tất cả các tổ chức khi bị thiếu oxy trầm trọng Tình trạng nhiễm toan acid lactic cũng có thể gặp bất kỳ bệnh nhân nào có suy hô hấp hoặc giảm không khí nặng Nhiễm toan acid lactic có thể là hậu quả của tăng sản xuất acid lactic Đây là một bệnh rối loạn chuyển hóa nặng, mặc dù được điều trị tích cực,

tỷ lệ tử vong rất cao (trên 50% các trường hợp) [4]

 Hạ đường huyết

Hạ glucose máu là một trong những biến chứng cấp tính rất nguy hiểm ở bệnh nhân ĐTĐ và có thể dẫn tới tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời Ở các bệnh nhân lớn tuổi và có bệnh tim mạch từ trước, biến chứng này

có thể làm phức tạp thêm bệnh cảnh và góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong

Hạ glucose máu còn gây suy giảm khả năng nhận biết của cơ thể và mất

cơ chế tự điều hòa bảo vệ và dẫn tới tình trạng kiểm soát glucose máu kém hơn

do ảnh hưởng của các hormon bài tiết khi hạ glucose máu [4]

Trang 12

2.1.5.2 Biến chứng mạn tính

 Biến chứng thận do đái tháo đường

Hình 2: Bệnh lý thận do đái tháo đường

(http://diabetna.vn/lam-sao-ngan-ngua-duoc-suy-than-o-benh-nhan-tieu-duong.html)

Biến chứng thận do ĐTĐ là một trong những biến chứng rất quan trọng trong các biến chứng mạn tính bởi những đặc điểm của nó là ngoài tổn thương thận dẫn tới tàn phế và tử vong đối với bệnh nhân mà còn ảnh hưởng rất xấu tới

sự xuất hiện và tiến triển của các biến chứng mạn tính khác như tăng huyết áp, bệnh lý mạch máu lớn, nhiễm toan, bệnh lý võng mạc [4]

Ở nhiều nước, ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu gây suy thận mạn tính giai đoạn cuối và là nguyên nhân chủ yếu gây ra các bệnh phối hợp và tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ [22]

 Biến chứng mắt do đái tháo đường

Hình 3: Bệnh lý võng mạc do đái tháo đường

(http://diabetna.vn/dai-thao-duong-va-cac-bien-chung-man-tinh-p2.html)

Trang 13

Biến chứng mắt do ĐTĐ là một trong những biến chứng mạn tính thường gặp Biến chứng sớm xuất hiện như xuất huyết võng mạc, giảm thị lực, đục thủy tinh thể, glaucome, có thể gây mù mắt Bệnh mắt do ĐTĐ là nguyên nhân chủ yếu gây mù lòa ở người trưởng thành [4]

 Bệnh lý bàn chân đái tháo đường

Hình 4: Vết loét bàn chân do đái tháo đường

n10354.html)

(http://suckhoedoisong.vn/bien-chung-ban-chan-o-benh-nhan-dai-thao-duong-Bệnh lý bàn chân là một biến chứng mạn tính thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ Bệnh lý bàn chân là hậu quả của sự kết hợp giữa bệnh lý thần kinh, bệnh mạch máu và nhiễm trùng Bệnh lý bàn chân ĐTĐ là một trong những biến chứng nặng

mà hậu quả là loét hoại tử bàn chân, có thể phải cắt cụt chi nếu bệnh nhân không được điều trị kịp thời [4]

Trang 14

 Bệnh lý tim mạch ở người đái tháo đường

Hình 5: Xuất huyết não và nhồi máu cơ tim do đái tháo đường

(http://www.hoilaokhoatphcm.com/detail.php?idproduct=38&t=T%C4%82NG%20HUY%E1%BA%BET%20%C3%81P&idcategory=17)

Đái tháo đường là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh lý tim mạch, đặc biệt

là động mạch vành, người bị ĐTĐ có nguy cơ tử vong vì bệnh tim mạch cao gấp 3-4 lần người không bị ĐTĐ Ở bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi có nguy cơ suy tim, tăng huyết áp cao gấp 3 lần nhóm tuổi khác ĐTĐ được coi là yếu tố nguy cơ độc lập so với các yếu tố nguy cơ khác như tuổi, giới, BMI, tình trạng rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá, tăng huyết áp [5]

 Viêm đa thần kinh do đái tháo đường

Hình 6: Tế bào thần kinh khỏe mạnh và tế bào thần kinh bị tổng thương

chung-than-kinh-dai-thao-duong-3106861.html)

Trang 15

(http://suckhoe.vnexpress.net/tin-tuc/cac-benh/thuoc-va-thuc-pham/dau-do-bien-Bệnh lý viêm đa dây thần kinh do ĐTĐ là một biến chứng muộn thường gặp Biểu hiện lâm sàng rất đa dạng và tiềm ẩn, do đó ít được chú ý khám xét để chẩn đoán, vì vậy quyết định điều trị thường muộn

2.1.6 Phòng ngừa biến chứng do đái tháo đường

Chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm có đề cập đến mục tiêu giảm tỷ lệ mắc, biến chứng và tử vong của bệnh ĐTĐ [23] Phòng các biến chứng ĐTĐ là để bệnh nhân không tiến triển nhanh và để giảm tối đa các biến chứng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh

Hiện nay bệnh ĐTĐ ngày càng phổ biến ở nước ta, mạng lưới y tế quản lý bệnh ĐTĐ chưa phủ khắp toàn quốc mà mới tập trung ở một vài trung tâm y tế lớn của quốc gia; số cán bộ có khả năng khám và điều trị còn thiếu về mặt số lượng và hạn chế về mặt kiến thức; trang bị để chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân còn lạc hậu; bệnh nhân thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn và nhiều biến chứng người mắc bệnh ĐTĐ còn bi quan trong điều trị do thấy rằng điều trị ít có hiệu quả

Để điều trị bệnh cũng như phòng biến chứng của bệnh ĐTĐ có hiệu quả, không chỉ trông chờ vào cơ quan y tế, vào kỹ thuật tiên tiến mà bản thân người bệnh và toàn xã hội phải tự thấy có trách nhiệm, từ việc tuyên truyền, giáo dục, đến việc cải tiến công nghệ thực phẩm, thay đổi lối sống, thực hiện chế độ ăn uống hợp lý kết hợp với gia tăng vận động Điều này không chỉ để phòng ngừa bệnh ĐTĐ mà còn góp phần vào việc phòng ngừa các biến chứng của bệnh nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng nói chung và của người bệnh ĐTĐ nói riêng

Để phòng ngừa biến chứng do ĐTĐ ngoài việc tự bản thân người bệnh cố gắng duy trì tốt việc uống thuốc và các chế độ ăn uống, luyện tập và nghỉ ngơi thì người bệnh ĐTĐ luôn được nhắc nhở:

- Kiểm tra glucose máu thường xuyên, qua đó để đánh giá tốt và duy trì được tốt kết quả điều trị, điều này mang tính chất quyết định vì kiểm soát tốt glucose máu sẽ ngăn cản các biến chứng do glucose máu cao gây nên (biến chứng cấp tính) Glucose máu cao gây đái nhiều, mờ mắt, sụt cân, mệt mỏi Những triệu chứng này sẽ ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe và chứng tỏ rằng bệnh được kiểm soát kém, không có hiệu quả, nếu không được điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến

Trang 16

triển nhanh chóng và dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng Glucose máu cao thường xuyên sẽ gây những rối loạn mà nhiều năm mới bộc lộ (biến chứng mạn tính)

- Ngoài việc kiểm tra máu đều đặn, tuân thủ chế độ điều trị nghiêm ngặt, bệnh nhân ĐTĐ cần khám sức khỏe tổng quát định kỳ 6 tháng/lần để phát hiện sớm, điều trị kịp thời các biến chứng ở mắt, tim, thận…

- Tiết chế ăn uống cũng là một biện pháp phòng ngừa biến chứng ĐTĐ Cần nghiêm túc thực hiện chế độ ăn uống hợp lý Ăn uống bừa bãi dễ dẫn đến các biến chứng cấp tính, tử vong nhanh như hôn mê nhiễm acid ceton

- Việc luyện tập thể dục, thể thao giúp chậm và ngăn chặn các biến chứng mạn tính, giúp cơ thể khỏe mạnh, giúp cơ thể hấp thụ và phát huy tác dụng của thuốc hạ glucose máu hiệu quả hơn và luyện tập thể dục, thể thao còn được coi là một trong những phương pháp điều trị hiệu quả và ít tốn tiền nhất đối với bệnh nhân ĐTĐ Luyện tập là rất cần thiết nhưng phải hết sức chú ý bởi vì có thể xuất hiện các biến chứng như: Hạ đường huyết, đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nếu như luyện tập quá sức và không hiểu biết về tình trạng bệnh của cá nhân Vì vậy để rèn luyện đạt hiệu quả tốt nhất NB cần được sự phối hợp tư vấn của các thầy thuốc chuyên khoa ĐTĐ, các nhà dinh dưỡng, các điều dưỡng viên, các bệnh nhân này phải được các nhóm tư vấn kiểm tra và huấn luyện các bài tập phù hợp với tình trạng bệnh của mình

- Hạn chế tác động của Stress: Khi bị Stress sẽ làm tăng sản xuất một số hormon là giảm tác dụng của insulin khiến đường huyết tăng cao, giảm sút kết quả điều trị, ăn uống kém, khó kiểm soát được đường máu Stress kéo dài sẽ dẫn đến trầm cảm, nên bệnh nhân ĐTĐ cần hạn chế sự căng thẳng về tinh thần, tránh những cảm xúc đột ngột như giận dữ, buồn chán, thất vọng…

- Bỏ thuốc lá thuốc lào: Hút thuốc lá, thuốc lào dễ bị xơ vữa mạch máu, làm hẹp lòng mạch, gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ, dễ bị các biến chứng về thận, thần kinh Nếu người bệnh chưa hút thì không nên hút, nếu người bệnh đã nghiện thì phải kiên quyết bỏ thuốc để dành lấy sự sống trước bệnh tật

2.1.7 Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường type 2[11]

2.1.7.1.Nguyên tắc chung trong dinh dưỡng điều trị

+ Đủ chất đạm, béo, bột, vitamin và các chất khoáng, đủ nước

Trang 17

+ Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn

+ Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn

+ Duy trì được hoạt động thể lực bình thường hàng ngày

+ Duy trì được cân nặng lý tưởng

+ Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, tổn thương thận

+ Phù hợp với thói quen ăn uống (food habit) của bệnh nhân

2.1.7.2 Tổng năng lượng hàng ngày

Phụ thuộc vào từng bệnh nhân béo hay gầy, tình trạng bệnh lý của bệnh nhân (đường máu và lipid máu), tính chất lao động và thói quen ăn uống hàng ngày của bệnh nhân

+ Hạn chế năng lượng nhất là những người béo phì

- Nam giới: 26kcal/kg/ngày

- Nữ giới: 24kcal/kg/ngày

+ Đối với những người ĐTĐ có lao động bình thường được thì có thể tính tổng năng lượng theo quy ước:

- Nằm điều trị tại giường: 25kcal/kg/ngày

- Lao động nhẹ và vừa: 30 - 35kcal/kg/ngày

- Lao động nặng: 35 - 40kcal/kg/ngày

2.1.7.3 Tỷ lệ thành phần thức ăn so với tổng năng lượng

Glucid: 50 - 60% năng lượng khẩu phần

Protein : 15 - 20% năng lượng khẩu phần

Lipid: 20-30% (với người trọng lượng bình thường và lipid máu bình thường); dưới 30 % (với người béo phì)

Acid béo no £ 10%

Acid béo không no đơn £ 10%

Acid béo không no đa £ 10%

Cholesterol: < 300mg/ngày

Chất xơ: 20 - 35g/ngày

Ngày đăng: 24/02/2021, 14:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w