BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÙI VĂN CƯỜNG THAY ĐỔI KIẾN THỨC TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI KHOA NỘI HÔ HẤP BỆNH VIỆN ĐA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÙI VĂN CƯỜNG
THAY ĐỔI KIẾN THỨC TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI KHOA NỘI HÔ HẤP BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NINH
NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÙI VĂN CƯỜNG
THAY ĐỔI KIẾN THỨC TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI KHOA NỘI HÔ HẤP BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Mã số: 60.72.05.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN HỒNG HẠNH
Nam Định -2017
Trang 3TÓM TẮT
Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước sau cho 60 người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh với nội dung cơ bản là phương pháp tự chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với 2 mục tiêu sau:
1 Khảo sát thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa nội hô hấp bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2017
2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức tự chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa nội hô hấp bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2017 sau can thiệp giáo dục sức khỏe
Kết quả: Sau can thiệp giáo dục sức khỏe, điểm trung bình kiến thức tự
chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đều tăng có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Trước can thiệp điểm trung bình nhận thức là 31,05±6,8 tương ứng với tỷ lệ người bệnh đạt kiến thức tự chăm sóc được là 26,7% và sau can thiệp tỷ
lệ này đạt 100%
Kết luận: Chương trình can thiệp kiến thức tự chăm sóc của người
BPTNMT bước đầu đã cho thấy có hiệu quả
Khuyến nghị: Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe trên
các phương tiện thông tin đại chúng về kiến thức tự chăm sóc BPTNMT Hỗ trợ,
tư vấn cung cấp kiến thức cơ bản, tầm quan trọng cũng như lợi ích cho người bệnh về các phương pháp phục hồi chức năng hô hấp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau Đại học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập khóa học cao học Điều dưỡng
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS.BSCKII: Nguyễn Hồng Hạnh hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Y Tế Quảng Ninh đã tận tâm dìu dắt, hướng dẫn cho tôi trong học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin cảm ơn Đảng ủy – Ban giám hiệu, phòng Tổ chức – Hành chính – Quản trị, Khoa Điều dưỡng trường CĐYT Quảng Ninh tạo điều kiện, giúp đỡ cho tôi trong công tác, được tham gia lớp học một cách thuận lợi nhất
Tôi xin chân thành cám ơn Đảng ủy, Ban giám đốc, Phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Quảng Ninh, tập thể cán bộ- nhân viên Khoa Nội
Hô Hấp và Bệnh Nghề Nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc liên hệ, thu thập số liệu đề tài
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô đã giảng dạy trong chương trình học Cao học Điều dưỡng tại Đại học Điều dưỡng Nam Định những người
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về ngành điều dưỡng làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này và ứng dụng trong công tác
Tôi xin cảm ơn quý đồng nghiệp và các đối tượng nghiên cứu đã nhiệt tình cộng tác để tôi có được số liệu cho công trình nghiên cứu này
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu và thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn BÙI VĂN CƯỜNG
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Bùi Văn Cường
Trang 6MỤC LỤC
Nội dung Trang
TÓM TẮT i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ……… vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 4
1.2 Tự chăm sóc 14
1.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước 18
1.4 Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu 23
2.4 Cỡ mẫu 24
2.5 Cách chọn mẫu 24
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 24
2.7 Các biến số nghiên cứu 25
2.8 Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá 28
2.9 Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu 30
2.10 Phương pháp phân tích số liệu 31
2.11 Đạo đức nghiên cứu 31
Trang 72.12 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 33
3.2 Đặc điểm kiến thức tự chăm sóc của người BPTNMT 35
Chương 4: BÀN LUẬN 46
4.1 Đặc điểm nghiên cứu 46
4.2.Kiến thức của người bệnh 48
4.3 Sự thay đổi kiến thức của người bệnh trước và sau khi can thiệp 54
KẾT LUẬN 59
KHUYẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Bộ câu hỏi phỏng vấn
Phụ lục 2.Nội dung can thiệp giáo dục sức khỏe
Phụ lục 3 Kế hoạch thực hiện
Phụ lục 4 Phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu
Phụ lục 5: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu
Biên bản bảo vệ luận văn thạc sỹ
Biên bản nhận xét của phản biện 1
Biên bản nhận xét của phản biện 2
Biên bản chỉnh sửa luận văn sau bảo vệ
Trang 8GOLD (Global Initiative for Chronic
Obstructive Lung Disease) :
FVC (Forced vital capacity):
Đối tượng nghiên cứu Thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên
Chiến lược toàn cầu phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Dung tích sống thở mạnh
Người bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính Viêm phế quản mạn tính
Tổ chức y tế thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 33
Bảng 3.2 Yếu tố truyền thông của đối tượng nghiên cứu về tự chăm sóc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 34
Bảng 3.3.Kiến thức về tên bệnh 35
Bảng 3.4 Kiến thức về khái niệm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 36
Bảng 3.5 Kiến thức về dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 37
Bảng 3.6 Kiến thức về nguyên nhân chính gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 37 Bảng 3.8 Kiến thức về biểu hiện của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 39
Bảng 3.9 Kiến thức về dung thuốc dự phòng để kiểm soát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 39
Bảng 3.10 Kiến thức về tái khám 40
Bảng 3.11 Kiến thức về thời điểm tái khám 40
Bảng 3.12 Kiến thức về xử trí khi thấy tình trạng bệnh nặng lên 41
Bảng 3.14 Kiến thức về phòng bệnh hoặc tránh tái phát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 42
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 33
Biểu đồ 2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 34
Biểu đồ 3 Kiến thức về các phương pháp làm sạch đường thở 44
Biểu đồ 4 Kiến thức về kỹ thuật ho có kiểm soát 44
Biểu đồ 5 Đánh giá kiến thức chung của đối tượng về kiến thức tự chăm sóc bệnh phỏi tắc nghẽn mạn tính 45
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo tổ chức chiến lược toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (GOLD 2015 Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease ) định nghĩa về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tĩnh: là bệnh lý hô hấp mạn tính có đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn , sự cản trở này thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi và các phân tử hoặc khí độc hại , trong đó khói thuốc đóng vai trò hàng đầu Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có thể dự phòng và điều trị được [4], [19], [20], [23]
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là nguyên nhân gây tàn tật và
tử vong hàng đầu trên thế giới BPTNMT làm gia tăng đáng kể gánh nặng kinh
Cùng với gánh nặng về bệnh tật và tử vong của BPTNMT là gánh nặng về kinh tế Chi phí cho một bệnh nhân sẽ bao gồm chi phí cho phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, điều trị bệnh, phục hồi chức năng và những thiệt hại về vật chất do mức độ tàn phế và tử vong của bệnh
Ở Canada, BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong thứ tư trong các bệnh Theo điều tra y tế cộng đồng chỉ ra chi phí trực tiếp chi trả cho COPD là 1977,81$/ người Như vậy gánh nặng kinh tế hàng năm chi trả bởi BPTNMT là vượt quá 2,4 tỷ $ [29]
Ở Mỹ, Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là ba nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong ở Mỹ Trong năm 2010, chi phí của BPTNMT ở Mỹ được dự báo là
Trang 12khoảng 50 tỷ $, trong đó bao gồm 20 tỷ $ trong chi phí gián tiếp và $ 30 tỷ trong chi phí chăm sóc sức khỏe trực tiếp [22]
Một nghiên cứu khác chỉ ra chi phí y tế cho BPTNMT ước tính là 23,9 tỷ
đô la Chi phí nằm viện sẽ chiếm trên 70% chi phí tổng thể cho điều trị BPTNMT [13]
Tại Việt nam, theo điều tra toàn quốc của bệnh viện phổi trung ương năm
2007, chỉ có khoảng 4,3% trong số 25.000 người được phỏng vấn biết về bệnh này Chi phí nằm viện đối với đợt cấp BPTNMT rất cao với thời gian nằm viện trung bình là 10 ngày và chi phí trung bình là 5,5 triệu đồng [13]
Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh, theo các nhân viên y tế tại khoa nội hô hấp ghi nhận trung bình một tháng có khoảng hơn 60 người mắc bệnh đường hô hấp trong đó có khoảng hơn 20 người BPTNMT chiếm 1/3 người bệnh tại khoa vào nhập viên đại đa số trong tình trạng nặng của bệnh, đợt cấp của BPTNMT, tình trạng suy hô hấp nặng, tình trạng tái nhập viện… Do vậy để hạn chế tình trạng trên người bệnh cần phải được trang bị những kiến thức tự chăm sóc bản thân và tự quản lý Theo một số báo cáo gần đây cho thấy phương pháp điều trị chất lượng cao hơn làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do BPTNMT và tự chăm sóc được tìm thấy để góp phần điều trị chất lượng cao hơn, hành vi tự chăm sóc có thể làm giảm bớt các triệu chứng nghiêm trọng và tăng cường kết quả lâm sàng và cũng làm giảm nhập viện [36], [37] Vì tính phổ biến và nguy hiểm như vậy và hiện nay trong tỉnh chưa có một đề tài nghiên cứu nào về vấn
đề này, vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thay đổi kiến thức tự chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa nội hô hấp bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2017” với 2 mục tiêu sau:
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Khảo sát thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa nội hô hấp bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2017
2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức tự chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa nội hô hấp bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm
2017 sau can thiệp giáo dục sức khỏe
Trang 14
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.1.1 Định nghĩa
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý hô hấp mạn tính có đặc trưng bởi
sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn, sự cản trở này thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi và các phân
tử hoặc khí độc hại, trong đó khói thuốc đóng vai trò hàng đầu Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có thể dự phòng và điều trị được [5], [20], [23]
1.1.2 Dịch tễ học
1.1.2.1 Tình hình dịch tễ thế giới
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) đến năm 1997 đã có khoảng 600 triệu người mắc BPTNMT bệnh đc xếp hàng thứ 4 về nguyên nhân gây tử vong và là nguyên nhân gây tàn tật thứ 12 Ước tính trong thập kỷ này số người mắc BPTNMT tăng gấp 3 – 4 lần và đến năm 2020 bệnh sẽ đứng hàng thứ 3 về nguyên nhân tử vong và đứng thứ 5 trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [5]
Nghiên cứu BOLD (Burden of Obstructive Lung Disease study) công bố kết quả về tỷ lệ mắc của 12 điểm ở 12 quốc gia cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất tại thành phố Cape Town, Nam Phi 22,2% nam giới và 16,7% nữ giới Các điểm châu Á: Quảng Châu, Trung Quốc tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam là 9,3% và
nữ là 5,1 % Ở Manila, Phillippines tới 18,8% ở nam và 6,8% ở nữ giới Tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam giới cao có thể một phần do sự cộng hưởng yếu tố nguy cơ
là hút thuốc lá ở nam giới cao hơn [13], [14] Ở Canada, theo điều tra y tế cộng đồng Canada năm 2005 xác định rằng: 4,4% dân số 35 tuổi trở lên thì có gần
750000 người bị mắc BPTNMT [29]
Theo S.K Jindal và cộng sự (2006) nghiên cứu 35295 đối tượng tại Ấn
Độ cho thấy có 4,1% tỷ lệ người dân được chẩn đoán là BPTNMT trong đó tỷ lệ
Trang 15nam và nữ lần lượt là 1,56 và 1 Tỷ lệ người hút thuốc lá và không hút thuốc lá lần lượt là : 2,56 và 1 [25]
Nghiên cứu của A.Lokke và cộng sự (2006) nghiên cứu 8045 đối tượng trong vòng 25 năm tại Copenhagen (Đan Mạch) đưa ra kết luận: chức năng phổi bất thường từ 4% nam giới không hút thuốc ( 9% nữ giới) tăng lên 41% nam giới liên tục hút thuốc (31% ở phụ nữ hút thuốc) [26]
Cũng theo nghiên cứu của G Viegi và cộng sự (2007) nghiên cứu ở Na
Uy tỷ lệ mắc BPTNMT theo GOLD xác định là 8,6% ở nam giới , 3,6% ở nữ giới, 1,8% ở những người không hút thuốc lá bao giờ và tăng lên 22,7% ở những người hút thuốc lá liên tục trên 20 gói [33]
Tỷ lệ mắc BPTNMT tính cao nhất ở những nước đã thịnh hành việc hút thuốc, ngược lại tỷ lệ mắc BPTNMT thấp ở những nước ít hút thuốc hơn hay những nước có tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá trên mỗi cá thể thấp [5]
1.1.2.2 Tình hình dịch tễ tại Việt Nam
Ở Việt Nam, Ngô Quý Châu và cộng sự (2006) nghiên cứu tỷ lệ mắc BPTNMT trong dân cư một số tỉnh thành phố phía Bắc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chung cho 2 giới là 5,1%, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới là 6,7% , và ở nữ giới là 3,3% [5]
Báo cáo của Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự trong Hội nghị Lao và Bệnh phổi tháng 6 năm 2011 cho biết tỉ lệ BPTNMT trong cộng đồng dân cư Việt Nam từ
40 tuổi trở lên là 4,2%; trong đó nam là 7,1% và nữ là 1,9% Nếu chia theo khu vực thì nông thôn là 4,7%, thành thị là 3,3% và miền núi là 3,6% Các yếu tố nguy cơ cho BPTNMT tại Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới là hút thuốc, vốn gây tỉ lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 4 lần Các tác giả cũng chú ý đến chất đốt sinh khối và cho thấy đun bếp với củi, rơm rạ làm tỉ lệ mắc BPTNMT tăng lên gấp 2 lần so với khí đốt Ngoài thuốc lá và chất đốt sinh khối, tình trạng
ô nhiễm môi trường và đặc biệt là lao phổi đã làm tăng tỉ lệ mắc BPTNMT tại Việt Nam [4]
Trang 16Một nghiên cứu khác của Đinh Ngọc Sỹ và Nguyễn Viết Nhung (2010) nghiên cứu tình hình dịch tễ Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT chung toàn quốc ở tất cả các lứa tuổi nghiên cứu là 2,2%, tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam là 3,4
và nữ là 1,1% Tỷ lệ mắc BPTNMT ở lứa tuổi 40 là 4,2%, trong khi ở nhóm dưới
40 tuổi, tỷ lệ chỉ là 0,4% Có sự khác biệt rõ rệt giữa tỷ lệ BPTNMT ở nam/nữ ở lứa tuổi này (7.1% và 1.9%) Ở nông thôn có tỷ lệ mắc BPTNMT cao hơn miền núi và thành thị, song sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê Trong cộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên, miền Bắc tỷ lệ mắc BPTNMT là cao nhất (5,7%) so với miền trung là 4,6 % và miền nam là 1,9 % [14]
Nghiên cứu của Hoàng Thị Lâm và Nguyễn Văn Tường (2010): Tỉ lệ BPTNMT ở những người từ 23 đến 72 tuổi trong nghiên cứu là 7,1% trong đó nam giới chiếm 10,9%, nữ giới là 3,9% 10% dân số hơn 40 tuổi mắc BPTNMT Hơn một nửa số bệnh nhân là BPTNMT giai đoạn I Bệnh tăng dần theo tuổi và
có mối liên quan chặt chẽ với hút thuốc lá BPTNMT gặp nhiều ở bệnh nhân cao huyết áp, bệnh tim mạch, hen phế quản, viêm phế quản mạn Tỉ lệ BPTNMT ở người lớn từ 23 đến 72 tuổi ở địa bàn Hà Nội là 7,1% Tóm lại BPTNMT trong giai đoạn 2009-2010 ở Hà Nội, tăng dần theo tuổi và có mối liên quan đến hút thuốc lá và các bệnh mạn tính đường hô hấp, tim mạch [12]
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.1.3.1 Hút Thuốc
Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Khoảng 15- 20% số người hút thuốc lá có triệu chứng lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và có khoảng 80-90% bệnh nhân phổi tắc nghẽn mạn tính có hút thuốc Trẻ em trong gia đình có người hút thuốc lá bị các bệnh đường hô hấp với tỷ lệ cao hơn trẻ em ở gia đình không có người hút thuốc lá [4], [5]
Xu hướng hút thuốc lá ở Việt Nam bắt đầu giảm, nhưng tỷ lệ hút vẫn còn cao Năm 2010, tỷ lệ hiện hút thuốc lá (gồm cả thuốc lào) trong số những người
từ 15 tuổi trở lên là 47,4% ở nam giới và 1,4% ở nữ giới Việt Nam vẫn nằm
Trang 17trong nhóm 15 nước có số người hút thuốc lá nhiều nhất trên thế giới với khoảng 15,3 triệu người trưởng thành đang hút thuốc lá Đặc biệt, tỷ lệ hút thuốc lá của thanh thiếu niên Việt Nam vẫn ở mức cao và độ tuổi bắt đầu hút thuốc lá ngày càng trẻ [1]
Với tỷ lệ hút thuốc cao, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đứng đầu khu vực và thế giới Theo ghi nhận của Bộ Y tế, BPTNMT không những tăng số người nhập viện điều trị mỗi năm với tần suất khoảng 6,7% mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội Trong đó, đối tượng nam giới bị ung thư phổi liên quan đến BPTNMT chiếm một tỷ lệ phần lớn Cứ 100 người có 6 người mắc
Theo đánh giá của Hội lồng ngực Mỹ cho thấy, thuốc lá (cả hút thuốc chủ động và thụ động) là yếu tố nguy cơ gây mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính lớn nhất hiện nay 90% người BPTNMT là do thuốc lá gây nên [6] Người hút thuốc
lá hoặc người đã từng hút thuốc lá ≥ 20 gói / năm có nguy cơ mắc COPD cao gấp 7,15 lần so với người không hút thuốc [6]
1.1.3.2 Các yếu tố môi trường
- Ô nhiễm môi trường: Tiếp xúc nhiều với bụi và hóa chất nghề nghiệp ( hơi, chất kích thích, khói), ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà ( khói bếp do đun than củi, rơm, than…)
- Nhiễm trùng đừờng hô hấp: Nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em dưới 8 tuổi gây tổn thương lớp tế bào biểu mô đường hô hấp và các tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng chống đỡ của phổi Nhiễm virus, đặc biệt virus hợp bào hô hấp có nguy cơ làm tăng tính phản ứng phế quản, làm cho bệnh phát triển
- Yếu tố cá thể tăng tính phản ứng của phế quản: là yếu tố nguy cơ phát triển bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn Tăng tính phản ứng phế quản gặp với tỷ lệ 8-14% ở người bình thường
- Thiếu anpha1 – antitrypsin: là yếu tố di truyền được xác định chắc chắn gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Trang 18- Tuổi: tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao hơn ở người già
- Giới tính: Người ta thấy rằng tỷ lệ mắc BPTNMT của nam giới cao hơn
nữ giới liên quan tới hút thuốc lá Nhưng những năm trở lại đây tỷ lệ mắc BPTNMT ở nữ ngày càng tăng Sự khác nhau về giới trong BPTNMT là kết quả của sự tương tác về gen giới tính và sự khác biệt giới tính về văn hoá xã hội trong thời kỳ niên thiếu, dậy thì và trưởng thành.Sự khác biệt về giới tính trong chức năng sinh lý của phổi và đáp ứng của hệ miễn dịch ảnh hưởng đến BPTNMT Ngày càng có nhiều bằng chứng rằng những hormon giới tính ảnh hưởng đến sự phản ứng của đường thở trong suốt cả cuộc đời Ngoài ra sự khác biệt này còn liên quan đến sự khác nhau ở mức độ phơi nhiễm và các loại yếu tố phơi nhiễm khác như khói thuốc lá, nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường…và thường giới nữ có nhiều rủi ro hơn nên cần lưu ý hơn nhất là ô nhiễm trong nhà
Yếu tố giới tính, hút thuốc lá, tiếp xúc với chất đốt sinh khói cho thấy có liên quan đến BPTNMT, yếu tố giới tính đã hiệu chỉnh qua phân tích hồi quy đa biến, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu cho thấy nguy cơ nam giới mắc cao gấp 2,83 lần so với nữ giới người hút thuốc lá nguy cơ mắc BPTNMT cao gấp 7,15 lần so với người không hút thuốc lá và cho thấy người tiếp xúc với chất đốt sinh khói thì nguy cơ mắc bệnh BPTNMT tăng gấp 3,6 lần so với người bệnh không tiếp xúc với chất đốt sinh khói [5], [6], [19], [23]
1.1.4 Triệu chứng
1.1.4.1 Các triệu chứng cơ năng
Các triệu chứng cơ năng chủ yếu của người BPTNMT đó là: ho (thường kèm theo khạc đờm) và khó thở khi gắng sức
+ Ho có đờm thường gặp ở 50% số đối tượng hút thuốc và có thể xuất hiện ngay trong 10 năm đầu tiên hút thuốc Ho khạc đờm mạn tính thường vào buổi sáng hoặc sau khi hút điếu thuốc đầu tiên Ho thường nặng lên trong những tháng mùa đông và đặc biệt là sau nhiễm khuẩn hô hấp Lúc đầu là ho ngắt quãng sau đó là ho hàng ngày và thường ho cả ngày Ở giai đoạn ổn định ho
Trang 19kèm theo khạc đờm nhầy, số lượng đờm thay đổi tuỳ theo từng người bệnh đờm trở thành đờm mủ trong đợt cấp
+ Sự xuất hiện khó thở khi gắng sức làm cho tiên lượng bệnh tồi hơn và chứng tỏ sự suy giảm chức năng hô hấp nặng lên Khó thở tiến triển từ từ và người bệnh cố gắng làm giảm cảm giác khó thở bằng cách tự giảm gắng sức biến đổi kiểu thông khí để thích nghi do vậy việc phát hiện bệnh bị chậm trễ Mức độ khó thở khi gắng sức có thể đánh giá dựa trên khả năng hoạt động của người bệnh trong cuộc sống hàng ngày (leo cầu thang, khoảng cách đi bộ trên đường phẳng) và lượng giá theo thang khó thở
+ Sự giảm sút cân, ăn kém, yếu và suy nhược cơ thể thường gặp trong các giai đoạn tiến triển của bệnh
Trang 20+ Có thể có dấu hiệu của tăng áp lực động mạch phổi và tâm phế mãn: Phù, thổi tâm thu nghe thấy ở mũi ức, phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính,
- Không có thuốc điều trị hiện tại nào có thể làm thay đổi tiến trình xấu đi của chức năng phổi
- Tiêm vắc xin phòng cúm và phế cầu
1.1.5.2 Các thuốc điều trị BPTNMT
- Beta2-agonists: Cường beta2-tác dụng ngắn (Short Acting Beta Agonists
- SABA) Cường beta2 tác dụng kéo dài (Long Acting Beta Agonists - LABA)
- Kháng Cholinergic:Tác dụng ngắn (Short Acting Muscarinic Antagonists - SAMA) Tác dụng kéo dài (Long Acting Muscarinic Antagonists - LAMA)
- Kết hợp thuốc tác dụng ngắn beta2 - agonists + anticholinergic trong một ống hít
- Methylxanthines
- Corticosteroids dạng hít (Inhaled corticosteroid - ICS)
Trang 21- Kết hợp thuốc tác dụng kéo dài beta2 -agonists + corticosteroids trong một ống hít
- Corticosteroid toàn thân
- Các chất ức chế Phosphodiesterase-4 (PDE4-inhibitor)
* Thuốc giãn phế quản:
Giãn phế quản là thuốc chủ lực trong điều trị triệu chứng BPTNMT Thuốc giãn PQ được dùng khi cần hoặc điều trị hàng ngày nhằm ngăn ngừa triệu chứng BPTNMT
Lựa chọn thuốc dựa vào mức độ nặng của bệnh, sự sẵn có của thuốc, đáp ứng của người bệnh và tác dụng phụ Thuốc giãn phế quản dùng là: cường beta
2, kháng cholinergic, theophyllin hoặc dùng kết hợp nhiều thuốc
Giãn phế quản dạng hít tác dụng kéo dài hiệu quả hơn thuận tiện hơn so với giãn phế quản tác dụng ngắn
Giãn phế quản tác dụng kéo dài giúp giảm nguy cơ đợt cấp, nguy cơ nhập viện, cải thiện triệu chứng và chất lượng cuộc sống Trong đó Tiotropium bromide được chứng minh cải thiện chức năng hô hấp hiệu quả
Phối hợp thuốc giãn phế quản với cơ chế khác nhau giúp nâng cao hiệu quả và giảm tác dụng phụ so với việc tăng liều một thuốc giãn phế quản
*Corticoid dạng khí dung (Inhaled corticosteroid - ICS):
- ICS giúp cải thiện CNHH, giảm triệu chứng và giảm tỷ lệ đợt cấp ở người bệnh PTNMT có FEV1 < 60%
- Điều trị với ICS có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ viêm phổi
- Ngưng điều trị đột ngột ICS có thể khiến một vài bệnh nhân rơi vào cơn kịch phát
- Đơn trị liệu kéo dài với ICS không được khuyến cáo
* Corticosreroid toàn thân:
- Không được khuyến cáo vì không mang lại nhiều lợi ích hơn nguy cơ
Trang 22* Thuốc ức chế Phosphodiesterase-4:
- Ở người BPTNMT nặng và rất nặng (GOLD 3 and 4) và có tiền sử đợt cấp, viêm phế quản mạn, đợt cấp thường xuyên kiểm soát không đủ với giãn phế quản tác dụng kéo dài, thuốc ức chế phospodiesterase-4 (PDE-4), roflumilast, giúp làm giảm đợt kịch phát
* Methylxanthines:
- Theophylline không hiệu quả và dung nạp kém hơn giãn phế quản kéo dài và không được khuyến cáo sử dụng như là thuốc giãn phế quản chủ yếu
- Có bằng chứng về tác dụng nhẹ, giảm triệu chứng so với placebo trên
BN BPTNMT Thêm Theoppyline với Salmeterol tốt hơn Salmeterol riêng lẻ
- Theophylline liều thấp giảm đợt kịch phát nhưng không cải thiện CNHH sau test giãn phế quản
* Các lựa chọn điều trị khác:
- Tiêm phòng cúm có thể làm giảm các đợt cấp nặng Vaccin phòng phế cầu được khuyến cáo cho những người bệnh BPTNMT có tuổi > 65, và cho những người BPTNMT trẻ hơn nhưng FEV1 < 40%
- Dùng kháng sinh ngoài mục tiêu điều trị bội nhiễm hiện không được khuyến cáo
- Phục hồi chức năng: giúp cải thiện khả năng gắng sức, cải thiện triệu chứng khó thở, mệt mỏi Thường một chương trình phục hồi chức năng thường kéo dài 6 tuần, tuy nhiên càng kéo dài thì lợi ích càng rõ rệt và nên tiếp tục duy trì chương trình tập tại nhà
- Điều trị oxy: điều trị oxy dài hạn (> 15 giờ/ ngày) cho những người bệnh
có suy hô hấp mạn tính được chứng minh làm gia tăng tỷ lệ sống ở những bệnh nhân giảm oxy máu nặng khi nghỉ
Chỉ định điều trị oxy dài hạn: người BPTNMT giai đoạn IV có biểu hiện: PaO2 < 55 mmHg hoặc SaO2 < 88% có kèm hay không tăng CO2 máu PaO2 từ
55 – 60 mmHg hoặc SaO2 < 88%, có bằng chứng tăng áp phổi, phù ngoại biên,
Trang 23suy tim sung huyết, đa hồng cầu Dụng cụ cung cấp oxy nên là mặt nạ (face mask) hoặc ống thông mũi (nasal cannula), FiO2 từ 24 – 35%, tối thiểu 15 giờ/ngày
- Thông khí hỗ trợ: Kết hợp thông khí không xâm lấn và oxy dài hạn có thể hữu ích ở một số người bệnh, đặc biệt bệnh nhân đã được biết có tăng CO2 ban ngày
- Phẫu thuật giảm thể tích phổi (Lung volume reduction surgery - LVRS)
là lựa chọn hiệu quả hơn điều trị nội khoa cho những người bệnh có giãn phế nang ưu thế thùy trên và khả năng gắng sức kém LVRS hiệu quả kinh tế tương đối so với các chương trình chăm sóc không có phẫu thuật Ở những người BPTNMT rất nặng, được chọn lựa phù hợp, ghép phổi cũng được chứng minh làm cải thiện chất lượng cuộc sống và khả năng hoạt động [2], [11], [19], [23]
1.1.6 Phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Để phòng hoặc tái phát BPTNMT, người bệnh cần bỏ thuốc lá, thuốc
lào, hạn chế đến mức thấp nhất tiếp xúc với khí, hóa chất, khói độc hại, bụi Nếu công việc phải tiếp xúc không thể tránh khỏi (do nghề nghiệp) cần có bảo hộ lao động đúng tiêu chuẩn Cần vệ sinh họng, miệng, răng sạch sẽ để không mắc bệnh đường hô hấp Nếu đã bị viêm phế quản mạn tính cần được khám bệnh và điều trị triệt để Tránh lạnh đột ngột (không tắm nước lạnh, không cho quạt xoáy vào người, khi nằm ngủ ở phòng máy lạnh nên để nhiệt độ khoảng 26-27 độ) Nên tập thể dục đều đặn hàng ngày, nhất là hít thở không khí trong lành trước và sau khi ngủ dậy Người bệnh BPTNMT nên đi bộ và hít thở đúng cách Đi bộ nhanh nhất có thể nhưng đừng chạy và không cần gắng sức quá mức Thời gian
đi bộ ít nhất 30 phút đến 1 giờ vào buổi sáng hoặc tối Hằng ngày tập hít thở kiểu thở chúm môi: hít vào bằng mũi (mím môi), thở ra từ từ bằng miệng (chúm môi lại như thổi sáo) Thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào Nếu hít sâu được thì càng tốt nhưng không cần gắng sức quá Khi nào khó thở khi vận động thì dùng
cách hít thở này
Trang 24- Hướng dẫn bệnh nhân tự làm sạch dịch ứng đọng ở phế quản tại nhà bằng cách uống nhiều nước ( nếu chưa có suy tim) , ho có hiệu quả , nằm tư thế dẫn lưu
- Hướng dẫn bệnh nhân điều trị triệt để những nhiễm khuẩn đường hô hấp theo đơn của thầy thuốc
- Tránh những yếu tố gây kích thích niêm mạc đường hô hấp như bỏ thuốc
lá, thuốc lào, tránh thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh, nơi không khí bị ô nhiễm
- Khuyên bệnh nhân ăn uống bồi dưỡng, tập luyện đúng mức để nâng cao
Theo Orem (1995), tự chăm sóc là một chức năng điều tiết của con người
mà dựa trên khả năng của bản thân để thực hiện các hoạt động chăm sóc của bản thân Orem lưu ý rằng tự chăm sóc là hành vi được học và có thể được thực hiện bởi bản thân của họ Nói cách khác, nếu nhu cầu tồn tại mà không thể được đáp ứng bởi các cá nhân thì có thể được cung cấp ở các mức độ khác nhau của sự hỗ trợ , từ hướng đơn giản đến giảng dạy để hoàn thành chăm sóc Do đó, tự chăm sóc phụ thuộc vào khả năng của một người hay một cơ quan thực hiện tự chăm sóc, lần lượt là tác dụng của các yếu tố điều kiện cơ bản như nhân khẩu học , gia đình và môi trường Yếu tố điều kiện cơ bản kết nối con người với môi trường của họ do đó ảnh hưởng tới hành vi tự chăm sóc [34]
Còn theo tổ chức y tế thế giới đã đưa ra định nghĩa về tự chăm sóc là các hoạt động của cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện nhằm tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, hạn chế dịch bệnh và phục hồi sức khỏe
Mặt khác, theo nghiên cứu của Jarrsma và cộng sự (2003) nhận thấy rằng
tự chăm sóc có thể được định nghĩa là các hoạt động nhằm duy trì ổn định thể
Trang 25chất, phòng tránh các hành vi có thể làm trầm trọng thêm tình trạng của bệnh [35]
Các lĩnh vực của tự chăm sóc bao gồm tăng cường sức khỏe, phòng chống, kiểm soát bệnh tật, tự dùng thuốc và phục hồi chức năng [34]
1.2.2 Mục đích
- Cung cấp cho người bệnh các kiến thức tự chăm sóc BPTNMT cơ bản như hiểu thế nào là bệnh PTNMT, các kiến thức về nguyên nhân, các yếu tố nguy cơ, các biểu hiện của bệnh
- Giúp cho người bệnh có kiến thức về phòng bệnh và tránh tái phát BPTNMT như sử dụng các thuốc dự phòng, tái khám hay các yếu tố làm nặng thêm tình trạng của bệnh hay có kiến thức để xử trí khi bệnh có biểu hiện nặng hơn để từ đó giảm tải tình trạng tái nhập viện của người bệnh
- Ngoài ra còn cung cấp cho bệnh nhân các biện pháp nhằm tăng cường sức đề kháng, phòng tránh bệnh tật như là các bài tập phục hồi chức năng hô hấp giúp bệnh nhân duy trì và bảo tồn hô hấp, hướng dẫn bệnh nhân tập luyện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày để người bệnh có thể hòa nhập với cuộc sống
tốt hơn
1.2.3 Các biện pháp nhằm nâng cao kiến thức tự chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh hiểu các kiến thức cơ bản
về BPTNMT như các yếu tố nguy cơ, nguyên nhân hoặc biểu hiện của bệnh như
thế nào
- Để phòng hoặc tái phát BPTNMT, người bệnh cần bỏ thuốc lá vì hút
thuốc lá là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra BPTNMT Không hút thuốc lào, hạn chế đến mức thấp nhất tiếp xúc với khí, hóa chất, khói độc hại, bụi Nếu công việc phải tiếp xúc không thể tránh khỏi (do nghề nghiệp) cần có bảo hộ lao động đúng tiêu chuẩn Cần vệ sinh họng, miệng, răng sạch sẽ để không mắc bệnh đường hô hấp
Trang 26- Hướng dẫn bệnh nhân tự làm sạch dịch ứng đọng ở phế quản tại nhà
bằng cách uống nhiều nước (nếu chưa có suy tim), ho có hiệu quả, nằm tư thế dẫn lưu
+ Kỹ thuật ho có kiểm soát
Nguồn: Hội Hô Hấp Thành Phố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 27Bước 1: Người bệnh ngồi trên giường bệnh hoặc trên ghế thoải mãi
Bước 2: Hít vào thật chậm và sâu
Bước 3: Nín thở trong vài giây
+ Phải tuân thủ điều trị theo chỉ định của bác sỹ về thuốc, không tự ý bỏ thuốc, thay đổi thuốc hay đổi liều thuốc
+ Người bệnh cần phải tái khám theo hẹn của bác sỹ ngay cả khi tình trạng của bệnh ổn định Thông thường người bệnh sẽ tái khám định kỳ hàng tháng, người bệnh phải quay lại tái khám khi hết thuốc để được kê đơn mới
+ Người bệnh cần phải đi khám ngay nếu có các dấu hiệu sau:
Thấy khó thở nhiều hơn
Đi lại thấy nhanh mệt hơn
Nhịp tim nhanh bất thường
Dùng thuốc theo đơn của bác sỹ thấy không đỡ
- Khuyên bệnh nhân cần ăn uống đầy đủ nâng cao thể trạng, chia nhỏ các bữa ăn trong ngày tránh gây thêm tình trạng khó thở
Nên tập thể dục đều đặn hàng ngày, nhất là hít thở không khí trong lành trước và sau khi ngủ dậy Người bệnh BPTNMT nên đi bộ và hít thở đúng cách
Đi bộ nhanh nhất có thể nhưng đừng chạy và không cần gắng sức quá mức Thời
gian đi bộ ít nhất 30 phút đến 1 giờ vào buổi sáng hoặc tối
Trang 281.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là nguyên nhân gây tàn tật và
tử vong hàng đầu trên thế giới BPTNMT làm gia tăng đáng kể gánh nặng kinh
tế xã hội Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thế giới có khoảng
600 triệu người mắc BPTNMT [5],[17].Mỗi năm có khoảng hơn 3 triệu người chết vì BPTNMT, chiếm khoảng 5% tổng số trường hợp tử vong trên toàn cầu [8], [17]
Một số báo cáo gần đây cho thấy phương pháp điều trị chất lượng cao hơn làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do BPTNMT và tự chăm sóc được tìm thấy
để góp phần điều trị chất lượng cao hơn, hành vi tự chăm sóc có thể làm giảm bớt các triệu chứng nghiêm trọng và tăng cường kết quả lâm sàng và cũng làm
Một nghiên cứu khác của Paul Hernandez và cộng sự (2009) Qua việc nghiên cứu 437 đối tượng tham gia nghiên cứu đã đưa ra kết luận về kiến thức về nguyên nhân gây ra đợt cấp COPD: Có 44% báo cáo rằng họ các hoạt động của
họ và yếu tố sinh lý gây ra đợt cấp của COPD , 34% cảm thấy là do yếu tố môi trường Mặt khác, 26% cho rằng các hoạt động nặng là nguyên nhân gây ra đợt cấp COPD, 21% là do các yếu tố tâm lý căng thẳng , 17% do dị ứng , 15% do
Trang 29hút thuốc lá, cúm là 5%, 16% không biết nguyên nhân gây ra đợt cấp COPD Kiến thức về phòng bệnh : 21% cho rằng hoạt động phòng ngừa hiệu quả nhất là
sử dụng thuôc theo y lệnh của bác sỹ , 20% được hướng dẫn cai thuốc , 15% nói tránh hoạt động gắng sức , 10% tin rằng tránh căng thẳng, 17% nói rằng họ không biết làm thế nào để ngăn chặn Kiến thức về xử trí: 80% trả lời có dùng thuốc khi có đợt cấp , 41% đến gặp bác sỹ của họ , 26% nói chuyện với bác sỹ của họ qua điện thoại, 19% đến khoa cấp cứu , có tới 48% người trì hoãn việc liên hệ với bác sỹ lâu hơn 1 ngày sau khi đợt cấp bùng phát Kiến thức về giáo dục sức khỏe: Có 50% tìm hiểu trên phương tiện truyền thông, 63% được giáo dục bởi các chuyên ra chăm sóc sức khỏe nhưng chỉ có 5% được giáo dục bởi chuyên gia về phổi, 23% được giáo dục từ bệnh viện , phòng khám ,6% dựa vào kinh nghiệm bản thân và 4% dựa vào bạn bè, người thân , đồng nghiệp [29] Nghiên cứu can thiệp khác của Thomas Reema và cộng sự (2010) trên 30 bệnh nhân cho thấy kiến thức tự chăm sóc trước giáo dục là tương đối thấp Cụ thể kiến thức về các yếu tố nguy cơ chỉ chiếm 20% người bệnh có kiến thức, kiến thức về sử dụng thuốc và kiến thức về phục hồi chức năng tương đối thấp < 20% [39]
Cũng theo nghiên cứu của R Graham Barr và các cộng sự (2010) qua
khảo sát 1003 người bệnh cho thấy: Kiến thức về triệu chứng : 61% báo cáo khó
thở vừa và nặng khi gắng sức, 63% mô tả ho mãn tính, 55 % cho thấy khạc đờm mạn tính, 55% ít nhất có 1 đợt viêm phổi Kiến thức về phòng bệnh : 26% chỉ ra rằng có sử dụng Kết hợp thuốc tác dụng kéo dài beta2 -agonists + corticosteroids trong một ống hít, 15% dùng 1 thuốc Kháng Cholinergic tác dụng kéo dài, 40% sử dụng máy khí dung, 65% báo cáo tiêm phòng ngừa cúm Kiến thức về xử trí: 41% báo nhập viện vì đợt cấp COPD, 30% đến bác sỹ của họ từ 3-5 lần, 22% đến từ 6-10 lần và 33% gặp bác sỹ trên 10 lần [24]
Nghiên cứu của Raksha Thakrar và các cộng sự (2014) đã đưa ra kết luận
về kiến thức về bệnh: nói đúng tên bệnh: chiếm 47,84% Kiến thức về nguyên
Trang 30nhân và các yếu tố nguy cơ: 34,8% chỉ rõ được nguyên nhân gây bệnh, 46,5% cho rằng hút thuốc lá là 1 yếu tố nguy cơ gây ra BPTNMT Kiến thức về triệu chứng: 56,7% biết được ý nghĩa của “ khó thở”, 36,9% tin rằng sau bữa ăn nặng
có thể làm nặng thêm tình trạng khó thở, 34% biết được ý nghĩa màu sắc đờm Kiến thức phòng bệnh: trong khi 25,5% (n = 72) tin rằng bất kỳ hình thức tập thể dục có thể làm tăng khó thở, có đến 81,2% (n = 229) của các đối tượng tin rằng các bài tập thở có thể làm nặng thêm khó thở Chỉ có 16,3% (n = 46) coi như tập thể dục thư giãn có liên quan đến tình trạng của bệnh nhân [31]
Cũng theo Maria Conceição de Castro Antonelli Monteiro de Queiroz và các cộng sự (2015) Qua nghiên cứu 692 đối tượng tham gia đã đưa ra kết luận
về kiến thức về bệnh: 9,2% dân số được nghiên cứu công nhận thuật ngữ BPTNMT, kiến thức về triệu cứng của bệnh: có 70,6% người biết được triệu chứng của BPTNMT là khó thở, 2,7% cho là ho, 2,3% cho là khạc đờm Kiến thức về các yếu tố nguy cơ : hầu hết số người được hỏi (87,5% biết rằng hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ của BPTNMT, 4,9% cho biết rằng tiếp xúc với khói bụi cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh Kiến thức về giáo dục sức khỏe: 43,1% tìm hiểu qua phương tiện thông tin đại chúng, 36,4% có người thân bị mắc bệnh, 28,5% qua bạn bè, 23,1% qua bác sỹ , qua dược sỹ chiếm 2,6%
Một hạn chế của nghiên cứu này là không đánh giá một nhóm các bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã xác định BPTNMT trong mẫu nghiên cứu Mà trọng tâm chính của nghiên cứu là người dân nói chung, đó là một mục tiêu quan trọng đối với giáo dục sức khỏe [28]
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay đề tài nghiên cứu trong nước liên quan đến kiến thức tự chăm sóc của người BPTNMT còn rất ít
Trong đó, có nghiên cứu của Trần Thị Thanh (2013) Qua nghiên cứu 154 người bệnh kết quả cho thấy: Kiến thức của bệnh nhân về bệnh: có 66 người gọi đúng tên bệnh (chiếm 42,8%), có 44 người gọi gần đúng tên bệnh và 44 người
Trang 31không biết mình bị bệnh gì (chiếm 28,6%) Có 127 bệnh nhân biết được bệnh không chữa khỏi hoàn toàn (chiếm 82,5%) và 27 bệnh nhân (chiếm 17,5%) cho rằng bệnh có thể chữa khỏi được Có 87 bệnh nhân (chiếm 56,5%) cho rằng khi dùng hết đơn thuốc cần phải đi khám lại, có 67 bệnh nhân (chiếm 43,5%) cho rằng khi dùng hết đơn thuốc không cần phải đi khám lại Kiến thức về các yếu tố nguy cơ của bệnh: có 13 bệnh nhân nêu được yếu tố nguy cơ là hút thuốc lá (chiếm 8,4%), có 14 bệnh nhân nêu được yếu tố nguy cơ là môi trường làm việc độc hại (chiếm 9,1%), có 22 bệnh nhân nêu được yếu tố nguy cơ là môi trường sống ô nhiễm (chiếm 14,3%).Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, có 10 bệnh nhân được bác sỹ giải thích các yếu tố nguy cơ, còn 144 bệnh nhân không được giải thích các yếu tố nguy cơ của bệnh Kiến thức của bệnh nhân trong việc sử dụng thuốc: có 133 bệnh nhân đã dùng thuốc, có 21 bệnh nhân chưa từng dùng các loại thuốc: máy khí dung, bình xịt định liều, Accuhaler, Tubuhaler và Spiriva Trong 133 bệnh nhân đã dùng thuốc, có104 bệnh nhân đã dùng máy khí dung (chiếm 67,5%), 103 bệnh nhân dùng bình xịt định liều (chiếm 66,9%), có
13 bệnh nhân sử dụng Accuhaler (chiếm 8,4%), 9 bệnh nhân sử dụng Tubuhaler (chiếm 5,8%) và 4 bệnh nhân sử dụng viên hít Spiriva (chiếm 2,6%) [18]
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Mai Hương (2015) qua khảo sát 56 người bệnh tham gia nghiên cứu đã đưa ra kết quả kiến thức về tên bệnh: có 67,9% người bệnh gọi đúng tên bệnh, 92,9% biết về bệnh không thể chữa khỏi hoàn toàn Kiến thức về hạn chế tiến triển: 100% dùng thuốc theo chỉ định, 92,9% không hút thuốc lá , 60,7% biết tập thở có hiệu quả, 71,4% biết tránh gắng sức, tuy nhiên chỉ có 10,7% người bệnh biết về việc tiêm phòng cúm là điều đã được khuyến cáo từ lâu Kiến thức tái khám theo hẹn: 92,9% biết phải tái khám theo hẹn,7,1% cho rằng không cần tái khám theo hẹn nếu bệnh không đỡ Kiến thức về sử dụng thuốc dự phòng bình xịt: 3,6% người bệnh không được hướng dẫn sử dụng bình xịt, 3,6% được hướng dẫn sơ sài, 92,8% được hướng dẫn kỹ càng
Trang 32- Hạn chế của nghiên cứu: do hạn chế về mặt thời gian , nguồn lực nên chỉ tiến hành thu thập qua phát vấn và chưa đánh giá được thực hành sử dụng bình xịt của bệnh nhân đến khám không mang theo bình xịt [9]
1.4 Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh là một trong những bệnh viện hạng I (2015) Bệnh viện đa khoa tỉnh hiện có 39 khoa, phòng với 692 cán bộ, y bác sĩ, nhân viên Bệnh viện được giao chỉ tiêu 700 giường kế hoạch, trong đó thực kê 1.200 giường, thường xuyên điều trị cho trên 1.000 bệnh nhân nội trú [16] Trong đó khoa Nội hô hấp là một phần của tổ chức bệnh viện đóng góp một phần quan trọng trong việc điều trị các bệnh liên quan đường hô hấp Với số giường thực kê là 64 giường bệnh, khoa đã tiếp đón khoảng hơn 60 bệnh nhân nội trú trong đó người BPTNMT khoảng 20 người/ tháng chiếm 1/3 số lượng bệnh nhân trong khoa
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Bệnh nhân được chẩn đoán là BPTNMT theo tiêu chuẩn GOLD 2015 điều trị nội trú tại khoa nội hô hấp bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh trong thời gian nghiên cứu
- Người bệnh có thể nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng việt Có khả năng tham gia trả lời phỏng vấn
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân không thể hợp tác vì các lý do:
+ Hôn mê
+ Các bệnh tâm thần
+ Già yếu, lú lẫn hoặc không có khả năng giao tiếp
Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Khoa nội hô hấp - Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh
Thời gian: Từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước sau
- Nội dung can thiệp: Giáo dục sức khỏe cho người bệnh tự chăm sóc bản
thân về: các khái niệm cơ bản về BPTNMT, các yếu tố nguy cơ, các triệu chứng của BPTNMT, cách kiểm soát đợt cấp của BPTNMT, cách sử dụng thuốc và phục hồi chức năng hô hấp
- Người can thiệp: chủ đề tài nghiên cứu
- Chương trình can thiệp:
+ Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh trung bình thời gian nằm viện
Trang 34của người bệnh PTNMT là từ 10- 14 ngày Vì vậy chúng tôi tiến hành thu thập
số liệu và can thiệp trên đối tượng nghiên cứu vào các thời điểm:
+ Đánh giá kiến thức của đối tượng nghiên cứu lần 1 (khi nhập khoa điều trị) bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi có sẵn (phụ lục 1)
+ Tổng hợp, phân tích sơ bộ kết quả đánh giá kiến thức của đối tượng nghiên cứu để tìm ra những thiếu sót, hạn chế của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)
về tự chăm sóc để xây dựng chương trình can thiệp phù hợp với ĐTNC
+ Tiến hành can thiệp giáo dục sức khỏe cho ĐTNC với nội dung được xây dựng phù hợp (Phụ lục 2), trong thời gian người BPTNMT còn nằm điều trị tại bệnh viện (03 ngày kể từ khi đánh giá kiến thức lần 1)
+ Phát cho đối tượng nghiên cứu tờ rơi, tài liệu liên quan (Phụ lục 2) + Đánh giá lại kiến thức của đối tượng nghiên cứu lần 2 (1 tháng sau can thiệp giáo dục người bệnh tái khám) thông qua bộ câu hỏi giống lần 1 (phụ lục 1) để so sánh sự thay đổi kiến thức về tự chăm sóc của ĐTNC sau can thiệp
2.4 Cỡ mẫu
- Cỡ mẫu: Trong quá trình nghiên cứu tôi chọn mẫu toàn bộ theo danh
sách người bệnh điều trị BPTNMT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn trong thời gian lấy số liệu nghiên cứu
Cỡ mẫu: 60 bệnh nhân
2.5 Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu thuận tiện, không ngẫu nhiên Lấy tất cả các người bệnh đang điều trị BPTNMT tại khoa nội hô hấp bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh đồng
ý tham gia nghiên cứu
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
- Sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn với cùng nội dung cho 2 lần đánh giá trước can thiệp ( khi vào viện) và sau can thiệp (trước khi ra viện)
- Tiến trình thu thập số liệu
Trang 35+ Bước 1: Lựa chọn những người bệnh đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
+ Bước 2: Những người bệnh đủ tiêu chuẩn lựa chọn sẽ được giới thiệu mục đích, ý nghĩa, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu Nếu đồng ý người bệnh ký vào bản đồng thuận (phụ lục 4) và được phổ biến về hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin trong bộ câu hỏi
+ Bước 3: Đánh giá nhận thức của người bệnh trước giáo dục sức khỏe bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi (phụ lục 1)
+ Bước 4: Can thiệp giáo dục sức khỏe cho người bệnh thông qua cung cấp nội dung kiến thức về tự chăm sóc (phụ lục 2) Nhà nghiên cứu hướng dẫn trực tiếp cho người bệnh các kiến thức liên quan đến tự chăm sóc BPTNMT sau đó phát kèm tờ rơi và tài liệu liên quan cho người bệnh
+ Bước 5: Đánh giá nhận thức của người bệnh sau giáo dục sức khỏe bằng
bộ câu hỏi (phụ lục 1)
Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên Theo quyết định số 2866/QĐ-BYT ngày 8/7/2015 về việc ban hành tài liệu chuyên môn :”Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” và tài liệu Bệnh học nội khoa tập 1, nhà xuất bản y học Hà Nội năm 2012 Đồng thời có tham khảo một số bộ công cụ trong
các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về kiến thức tự chăm sóc của người bệnh PTNMT [9], [18], [37] Bộ công cụ được thử nghiệm trước khi tiến hành thu thập số liệu Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ câu hỏi và bảng kiểm quan sát sẽ được chỉnh sửa và hoàn thiện
2.7 Các biến số nghiên cứu
Được chia làm 2 nhóm biến số
- Nhóm 1: thông tin chung (nhân khẩu học)
- Nhóm 2: Nhận thức của người bệnh về tự chăm sóc BPTNMT ( Các kiến thức chung về bệnh như khái niệm về bệnh, các yếu tố nguy cơ, các biểu hiện của bệnh
Trang 36+ Các kiến thức về sử dụng thuốc dự phòng và điều trị
+ Các kiến thức về phục hồi chức năng hô hấp như: ho có kiểm soát, kỹ thuật thở ra mạnh, bài tập thở chúm môi hay thở hoành.)
Bảng 2.7.1 Các biến số nghiên cứu
STT Mã biến Tên biến Định nghĩa Các thu thập Loại
Tuổi bé nhất, lớn nhất, trung
vị, tứ phân vị
Biến định lượng
Cân nặng Là chỉ số khối cơ thể
được dùng để theo dõi và đánh giá mức
độ phát triển của người bệnh
Chỉ số chiều cao và cân nặng đo được ghi trong hồ
sơ bệnh án
Biến định lượng
Nơi sống Là nơi ở hiện tại của
đối tượng
Số nhà, tổ, khu, phường, thành
phố/huyện
Biến định lượng
Trình độ học vấn
Là lớp học cao nhất
đã hoàn tất trong hệ thống giáo dục quốc dân mà người bệnh
đã theo học
Được phân theo 4 nhóm:
THCS, THPT, Trung cấp/cao đẳng, Đại học/sau đại học
Biến thứ tự
Trang 37Nghề nghiệp
Là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và phát triển cuộc sống cho người bệnh và gia đình
Tỷ lệ nghề nghiệp của người bệnh : Nội trợ; Công nhân, viên chức; nghề nghiệp khác
Biến định danh
Là sự hiểu biết của nười bệnh về tự chăm sóc BPTNMT
Tỷ lệ người có nhận thức đúng về tự chăm sóc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính như : Khái niệm về bệnh
Các yếu tố nguy cơ, các biểu hiện của bệnh
+Cách sử dụng thuốc dự phòng và điều trị
+ Các kiến thức về phục
Biến phụ thuộc
Trang 38hồi chức năng
hô hấp như: ho
có kiểm soát,
kỹ thuật thở ra mạnh, bài tập thở chúm môi hay thở hoành
2.8 Các khái niệm thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá
2.8.1 Các khái niệm
Tự chăm sóc:
Theo Orem (1995), tự chăm sóc là một chức năng điều tiết của con người
mà dựa trên khả năng của bản thân để thực hiện các hoạt động chăm sóc của bản thân Orem lưu ý rằng tự chăm sóc là hành vi được học và có thể được thực hiện bởi bản thân của họ Nói cách khác, nếu nhu cầu tồn tại mà không thể được đáp ứng bởi các cá nhân thì có thể được cung cấp ở các mức độ khác nhau của sự hỗ trợ , từ hướng đơn giản đến giảng dạy để hoàn thành chăm sóc Do đó, tự chăm sóc phụ thuộc vào khả năng của một người hay một cơ quan thực hiện tự chăm sóc, lần lượt là tác dụng của các yếu tố điều kiện cơ bản như nhân khẩu học , gia đình và môi trường Yếu tố điều kiện cơ bản kết nối con người với môi trường của họ do đó ảnh hưởng tới hành vi tự chăm sóc [34]
Còn theo tổ chức y tế thế giới đã đưa ra định nghĩa về tự chăm sóc là các hoạt động của cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện nhằm tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, hạn chế dịch bệnh và phục hồi sức khỏe
Mặt khác, theo nghiên cứu của Jarrsma và cộng sự (2003) nhận thấy rằng
tự chăm sóc có thể được định nghĩa là các hoạt động nhằm duy trì ổn định thể chất, phòng tránh các hành vi có thể làm trầm trọng thêm tình trạng của bệnh [35]
Trang 39Các lĩnh vực của tự chăm sóc bao gồm tăng cường sức khỏe, phòng chống, kiểm soát bệnh tật, tự dùng thuốc và phục hồi chức năng [34]
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá
- Kiến thức về BPTNMT của người bệnh được đánh giá dựa trên bộ câu hỏi gồm 18 câu hỏi
- Mỗi ý người bệnh trả lời phỏng vấn đúng được tính 1 điểm, trả lời sai
hoặc không biết 0 điểm
C7 Trả lời ý A cho 1 điểm
Trả lời ý B, C không cho điểm
Tối đa: 1 điểm
C8 Trả lời ý A, B, C mỗi ý cho 1 điểm
Trả lời ý D, E, F không cho điểm
Tối đa: 3 điểm
C9 Trả lời ý B cho 1 điểm
Trả lời ý A, C không cho điểm
Tối đa: 1 điểm
C10 Trả lời ý A cho 1 điểm
Trả lời ý B, C, D không cho điểm
Tối đa: 1 điểm
C11 Trả lời ý A,B,C,D,E,F mỗi ý cho 1 điểm
Trả lời ý G không cho điểm
Tối đa: 6 điểm
C12 Trả lời ý A,B,C, mỗi ý cho 1 điểm
Trả lời ý D,E không cho điểm
Tối đa : 3 điểm
C13 Trả lời ý B cho 1 điểm
Trả lời ý A,C không cho điểm
Tối đa : 1 điểm
C14 Trả lời ý A cho 1 điểm
Trả lời ý B,C không cho điểm
Tối đa : 1 điểm
C15 Trả lời ý B cho 1 điểm
Trả lời ý A, C không cho điểm
Tối đa : 1 điểm
C16 Trả lời ý A,B,C,D mỗi ý cho 1 điểm
Trả lời ý E không cho điểm
Tối đa: 4 điểm
Trang 40C17 Trả lời ý A cho 1 điểm
Trả lời ý B,C,D không cho điểm
Tối đa : 1 điểm
C18 Trả lời ý B cho 1 điểm
Trả lời ý A,C,D,E,F không cho điểm
Tối đa: 1 điểm
C19 Trả lời ý A cho 1 điểm
Trả lời ý B,C,D không cho điểm
Tối đa: 1 điểm
C20 Trả lời ý A,B,C,D,F,I,K mỗi ý cho 1 điểm
Trả lời ý L không cho điểm
Tối đa: 7 điểm
C21 Trả lời ý A,B,C,D mỗi ý cho 1 điểm
Trả lời ý F không cho điểm
Tối đa: 4 điểm
C22 Trả lời ý A,B,C,D,E mỗi ý cho 1 điểm
Trả lời ý F không cho điểm
Tối đa: 5 điểm
C23 Trả lời ý A,B,C,D mỗi ý cho 1 điểm
Trả lời ý F không cho điểm
Tối đa: 4 điểm
C24 Trả lời ý B cho 1 điểm
Trả lời ý A,C không cho điểm
Tối đa: 1 điểm
- Như vậy, điểm kiến thức của người bệnh thấp nhất là 0 điểm cao nhất là
46 điểm, điểm càng cao thì kiến thức càng đạt
- Người bệnh tham gia trả lời phỏng vấn với mỗi ý trả lời đúng được 1
điểm, trả lời sai hoặc không biết 0 điểm
- Xác định đúng/sai dựa trên tài liệu chuyên môn: ‘‘Hướng dẫn chẩn đoán
và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” do Bộ Y tế ban hành và tài liệu Bệnh học nội khoa tập 1, nhà xuất bản y học Hà Nội năm 2012
- Đánh giá sự thay đổi sau can thiệp giáo dục so với trước can thiệp dựa trên
sự chênh lệch về tỷ lệ trả lời đúng đối với mỗi nội dung đánh giá
2.9 Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu
Thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu sẽ được thực hiện 2 tuần trước khi bắt