BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH PHẠM THỊ KIM DUNG THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ TUÂN THỦ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
PHẠM THỊ KIM DUNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ
TUÂN THỦ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2020
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Nội người lớn
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS.BS TRƯƠNG TUẤN ANH
NAM ĐỊNH – 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chuyên đề tốt nghiệp này là kết quả quá trình học tập tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định của tôi trong hai năm theo học chương trình Điều dưỡng Chuyên khoa cấp I, chuyên ngành Nội người lớn
Với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, cô giáo chủ nhiệm, cùng toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã hết lòng nhiệt tình truyền thụ kiến thức và luôn hỗ trợ, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS.Trương Tuấn Anh - Người thầy đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo tôi trong toàn bộ quá trình thực hiện và hoàn thành chuyên
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, cùng tập thể lớp Chuyên khoa cấp I - K7 đã động viên, giúp đỡ trong trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Phạm Thị Kim Dung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là học viên lớp Chuyên khoa cấp I, chuyên ngành Nội người lớn K7 - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định xin cam đoan:
Chuyên đề do chính tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Trương Tuấn Anh Các số liệu và thông tin trong chuyên đề hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ chuyên đề nào khác
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!
Thái Bình, ngày 18 tháng 08 năm 2020
Tác giả
Phạm Thị Kim Dung
Trang 5MỤC LỤC Nội dung Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Danh mục các chữ viết tắt iii
Danh mục bảng, biểu đồ iv
Đặt vấn đề 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2 Cơ sở thực tiễn 7
Chương 2: Mô tả vấn đề cần giải quyết 12
2.1 Giới thiệu về Bệnh viện……… ……… 12
2.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡngcủa ĐTNC……… 17
Chương 3: Bàn luận 20
3.1 Thực trạng của vấn đề 20
3.2 Giải pháp để giải quyết, khắc phục vấn đề 27
Kết luận 29
Đề xuất giải pháp 30 Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1: Phiếu điều tra
Phụ lục 2: Cách đánh giá và cho điểm
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ĐTĐ Đái tháo đường
2 IDF Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế
3 DD Dinh dưỡng
4 NB Người bệnh
5 ĐD Điều dưỡng
6 ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
7 NVYT Nhân viên y tế
8 GDSK Giáo dục sức khỏe
Trang 8DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Đặc điểm về tuổi, giới, nơi cư trú và trình độ học vấn của ĐTNC (n=90) 13Bảng 2.2 Đặc điểm về nghề nghiệp và điều kiện sống của ĐTNC (n=90) 14Bảng 2.3 Đặc điểm về bệnh lý/biến chứng kèm theo của ĐTNC (n=90) 15Bảng 2.4 Đặc điểm về hoàn cảnh phát hiện bệnh, nguồn thông tin về chế độ dinh dưỡng của ĐTNC (n=90) 16Bảng 2.5 Thực trạng kiến thức về chế độ dinh dưỡng của ĐTNC (n=90) 17Bảng 2.6 Thực trạng thực hành về chế độ dinh dưỡng của ĐTNC (n=90) 18
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Phân bố theo giới của ĐTNC (n=90) 14Biểu đồ 2.2 Đặc điểm về tiền sử gia đình của ĐTNC (n=90) 15Biểu đồ 2.3 Đặc điểm về thời gian mắc bệnh của ĐTNC (n=90) ………… 16
Trang 9Theo báo cáo quốc gia năm 2017, Việt Nam có tốc độ phát triển bệnh ĐTĐ nhanh Năm 2015, Việt Nam có 3,5 triệu người trưởng thành mắc ĐTĐ, tương đương 6% dân số và dự kiến đến năm 2040 sẽ có 6,1 triệu người trưởng thành có thể mắc ĐTĐ Trong đó, 70% người mắc bệnh ĐTĐ tại Việt Nam chưa được chẩn đoán [4]
Dinh dưỡng (DD) là một trong các phương pháp điều trị cơ bản và cần thiết cho người bệnh (NB) ĐTĐ ở bất kì loại hình điều trị nào Một chế độ DD cân đối và hợp lý không những hữu ích nhằm kiểm soát đường huyết mà còn ngăn ngừa các biến chứng ĐTĐ và duy trì chất lượng cuộc sống của người ĐTĐ [7]
Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NB ĐTĐ không tuân thủ chế độ DD ngày một tăng lên đáng kể, theo nghiên cứu của Mandewo và cộng sự năm 2014 chỉ ra rằng tỷ lệ không tuân thủ với chế độ DD là 43,3% [20] Nghiên cứu của Asnakew Achaw Ayele và cộng sự năm 2017 cho kết quả một tỷ lệ đáng kể với 74,3% những người tham gia nghiên cứu có sự tuân thủ kém với các khuyến nghị về chế độ DD của
NB ĐTĐ type 2 [12] Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài năm 2019 hầu hết những người bệnh ĐTĐ tham gia vào nghiên cứu đều thiếu kiến thức về chế độ DD [5] Theo nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nhân năm 2019 trên 98 NB ĐTĐ type 2 cho thấy tỷ lệ
NB có điểm kiến thức đạt về chế độ DD là 67,35%, tỷ lệ NB có điểm thực hành đạt về chế độ DD là 41,84% [8]
Các kết quả này cho thấy sự hiểu biết và sự tuân thủ về chế độ DD của NB ĐTĐ type 2 còn nhiều hạn chế và đang là vấn đề mang tính thời sự
Việc không tuân thủ chế độ DD sẽ gây những hậu quả không mong muốn cho người bệnh ĐTĐ như là giảm kiểm soát đường huyết, dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như tổn thương mắt, thận, thần kinh, loét chân dẫn đến cắt cụt chi, nhiễm trùng,
Trang 10vv làm cho chi phí dịch vụ y tế tăng lên, điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới NB
mà còn trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội [15]
Thái Bình là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, trong những năm gần đây, số lượng người dân mắc bệnh ĐTĐ trong tỉnh gia tăng nhanh chóng Phòng khám Nội tiết – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình hiện nay đang quản lý hơn 1400 NB ĐTĐ điều trị ngoại trú, trong đó chủ yếu là NB ĐTĐ type 2 Đã có nhiều nghiên cứu về ĐTĐ trên địa bàn tỉnh nhưng đa số tập trung vào vấn đề chẩn đoán, điều trị, quản lý điều trị bệnh mà chưa có nghiên cứu thuộc lĩnh vực điều dưỡng liên quan đến vấn đề DD của
NB ĐTĐ Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi có mong muốn tìm hiểu về vấn đề này làm cơ sở đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị NB ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên
cứu: “Thực trạng kiến thức và thực hành về tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đuờng type 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2020” với 2
mục tiêu cụ thể như sau:
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2020
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức và thực hành về tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2020
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Đại cương về Đái tháo đường
Theo Hiệp hội ĐTĐ thế giới (IDF) năm 2017: “ĐTĐ là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insuline, khiếm khuyết hoạt động của insuline, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim
và mạch máu” [16]
Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ (ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây [14]:
a) Glucose huyết tương lúc đói (FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Người bệnh phải nhịn ăn ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 - 14 giờ) hoặc:
b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của WHO
c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế
d) Ở người bệnh có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân); xét nghiệm chẩn đoán a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày
Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả
để chẩn đoán ĐTĐ là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L)
Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ
Trang 12Phân loại Đái tháo đường [1] [11]
Đái tháo đường type 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin)
ĐTĐ type 1 là do sự phá hủy tế bào Bê-ta của tuyến tụy, nên tụy không sản xuất
ra đủ lượng insulin cần thiết cho cơ thể Phần lớn xảy ra ở trẻ em, người trẻ tuổi và thường có yếu tố tự miễn Ở Việt Nam chưa có số liệu điều tra quốc gia, nhưng theo thống kê từ các bệnh viện thì tỷ lệ mắc ĐTĐ type 1 vào khoảng 7 – 8% tổng số người bệnh ĐTĐ
Đái tháo đường type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin)
Đái tháo đường type 2 là thể thường gặp nhất chiếm tỷ lệ khoảng 90% các thể ĐTĐ, thường gặp ở những người trưởng thành trên 40 tuổi Tuy nhiên trong một vài thập kỷ gần đây thì ĐTĐ type 2 không còn xa lạ ở nhóm trẻ dậy thì và tiền dậy thì, kể
cả ở trẻ nhỏ.Tỷ lệ ĐTĐ tăng nhanh ở những lứa tuổi này liên quan đến tỷ lệ tăng béo phì ở trẻ nhỏ trên thế giới Có 30-50% trẻ em thừa cân béo phì có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ [5] Đặc trưng của ĐTĐ type 2 là kháng insulin làm giảm tác dụng của insulin ĐTĐ type 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng Khi bệnh có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các biến chứng thận, mắt, thần kinh, tim mạch nhiều khi các biến chứng này đã ở mức
độ rất nặng
Điểm quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường, trong đó yếu tố gen có vai trò rất quan trọng Người mắc bệnh ĐTĐ type 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, luyện tập, kết hợp dùng thuốc hạ đường huyết để kiểm soát glucose máu.Ở giai đoạn đầu, những người bệnh ĐTĐ type 2 không cần insulin cho điều trị nhưng sau nhiều năm mắc bệnh, nhìn chung insulin máu giảm dần và người bệnh dần dần lệ thuộc vào insulin để cân bằng đường máu
Đái tháo đường khác
Đái tháo đường thai kỳ thường gặp ở phụ nữ có thai (chiếm 1-2% người mang thai), do đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, thường gặp khi có thai lần đầu
và mất đi sau đẻ Người mẹ bị ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ cao mắc bệnh ĐTĐ thực sự sau này (ĐTĐ type 2) Một số thể khác như khiếm khuyết chức năng tế bào do gen, giảm hoạt tính của insulin do khiếm khuyết gen, bệnh lý của tụy ngoại tiết, do các bệnh nội tiết khác…
Trang 13Biến chứng
Đái tháo đường không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính NB có thể tử vong do các biến chứng này Kể cả những NB được kiểm soát tốt thì biến chứng của bệnh ĐTĐ là điều không thể tránh khỏi Nhưng có thể can thiệp để giảm mức độ các biến chứng và làm chậm quá trình xảy ra biến chứng ở người ĐTĐ
Biến chứng cấp tính: Hạ glucose máu, nhiễm toan ceton và hôn mê nhiễm toan
ceton, hôn mê nhiễm toan acid lactic, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu, các bệnh nhiễm
trùng cấp tính
Biến chứng mạn tính: Tim mạch: nhồi máu cơ tim, bệnh cơ tim, xơ vữa động
mạch; Mắt: bệnh lý võng mạc ĐTĐ, các biến chứng mắt ngoài võng mạc; Thận: bệnh lý
vi mạch thận gây xơ hóa cầu thận dẫn đến suy thận mạn; Thần kinh: bệnh lý đa dây
thần kinh- bệnh lý thần kinh lan tỏa, bệnh lý thần kinh ổ, bệnh lý thần kinh tự động;
Bệnh lý bàn chân ĐTĐ; rối loạn chức năng sinh dục [1]
1.1.2 Dinh dưỡng ở người bệnh đái tháo đường
Kiểm soát chế độ DD là một trong những nền tảng cơ bản điều trị ĐTĐ, một công việc quan trọng trong công tác chăm sóc người bệnh ĐTĐ với mục tiêu đảm bảo cung cấp DD hợp lý, cân đối và đầy đủ cả về số lượng và chất lượng nhằm đưa mức glucose máu trở về giới hạn bình thường hoặc trong mức an toàn để ngăn ngừa và giảm biến chứng Mục tiêu chế độ DD cho người ĐTĐ [1]:
Hỗ trợ kiểm soát glucose máu, giảm nồng độ HbA1c trong máu
Hỗ trợ điều chỉnh rối loạn chuyển hóa lipid máu, các rối loạn chức năng thận, tăng huyết áp và triệu chứng của các bệnh nền khác
Kiểm soát cân nặng
Nguyên tắc chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường:
Cung cấp đủ nhu cầu các chất DD theo lứa tuổi, tình trạng sinh lý, tình trạng lao động, bệnh tật kèm theo
Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn, không làm hạ đường máu lúc xa ăn
Duy trì cân nặng lý tưởng, vòng bụng, vòng bụng /vòng mông trong giới hạn bình thường Duy trì hoạt động thể lực bình thường
Không làm tăng các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được
Phù hợp với tập quán của địa phương và tôn giáo
Trang 14Không nên thay đổi quá nhanh và phức tạp, đảm bảo thuận tiện và dễ thực hiện
Nhu cầu năng lượng của người bệnh đái tháo đường:
Nhu cầu năng lượng của mỗi cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tuổi, giới, loại hình lao động, thể trạng, tình trạng sinh lý và bệnh lý kèm theo
Năng lượng: Người lớn: 30 kcal/kg cân nặng lý tưởng/ngày Người thừa cân: 25 kcal/kg cân nặng lý tưởng/ngày, mục tiêu giảm cân từ từ Người bị ĐTĐ kết hợp bệnh
lý thận: 30-35 kcal/kg cân nặng lý tưởng/ngày
Tỷ lệ các chất dinh dưỡng:
Glucid: 55 - 60% tổng năng lượng, dùng thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp, glucid phức hợp, không ăn thực phẩm có chỉ số đường huyết cao đơn độc
Protein: 15 - 20% tổng năng lượng
Lipid: 20 - 30% tổng năng lượng, hạn chế chất béo bão hòa <7% năng lượng khẩu phần, tăng cường ăn dầu thực vật
Khẩu phần ăn cholesterol <200mg/ngày
Chất xơ: 14g/1000kcal/ngày, trong đó có đủ lượng chất xơ hòa tan Chất xơ có tác dụng giảm nguy cơ tăng đường huyết sau ăn, giảm cholesterol, chống táo bón
Vitamin và chất khoáng: đảm bảo cung cấp đủ theo nhu cầu khuyến nghị
Phân bố bữa ăn trong ngày: nên ăn từ 4 - 6 bữa/ngày, trong đó có bữa phụ vào buổi tối để tránh hạ đường huyết ban đêm Đảm bảo tuân thủ ăn đúng giờ và đúng bữa
Một số lời khuyên về chế độ ăn dành cho người bệnh đái tháo đường [7]:
Giữ lịch bữa ăn đúng giờ, chỉ ăn thịt tối đa trong khuôn khổ cho phép trong 2 bữa, các bữa còn lại ăn rau và các sản phẩm ngũ cốc
Loại bỏ thức ăn nhiều mỡ
Trong bữa ăn nên ăn nhiều thức ăn ít năng lượng Ví dụ: rau, nấm khô, dưa chuột Không được bỏ bữa ngay cả khi không muốn ăn
Làm mọi việc để gây cảm giác ngon miệng khi ăn
Trang 15Ăn chậm, nhai kỹ
Chế biến thức ăn dạng luộc và nấu là chính, hạn chế các thực phẩm rán, chiên Hạn chế ăn mặn
Tránh các đồ uống có cồn
Nên chia ra các bữa ăn chính và các bữa ăn phụ (tốt nhất là 4-6 bữa/ngày) Nên
có bữa ăn phụ trước khi đi ngủ
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
Tình hình đái tháo đường trên thế giới
Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (2016) cho thấy tốc độ phát triển của bệnh
ĐTĐ đang tăng rất nhanh Số lượng người trên thế giới với ĐTĐ đã tăng gấp bốn lần kể
từ năm 1980 [22] Theo IDF (2018), ĐTĐ là một trong những trường hợp khẩn cấp về sức khỏe lớn nhất toàn cầu của thế kỷ 21 Có sự gia tăng toàn cầu về số lượng người mắc bệnh ĐTĐ dẫn đến tăng đáng kể tỷ lệ tử vong và chi phí y tế trên toàn thế giới Tỷ
lệ hiện mắc (chuẩn hóa theo độ tuổi) ĐTĐ đang gia tăng ở tất cả các khu vực Tổng số người mắc ĐTĐ, trong độ tuổi 18-99, trong bảy vùng IDF ước tính là: 162 triệu ở Tây Thái Bình Dương; 84 triệu ở Đông Nam Á; 66 triệu ở châu Âu; 49 triệu ở Bắc Mỹ và Caribbean; 36 triệu ở Trung Đông và Bắc Phi; 32 triệu ở Nam và Trung Mỹ; và 16 triệu
ở Châu Phi Các quốc gia thu nhập thấp có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thấp nhất trong khi các nước thu nhập trung bình có bệnh tỷ lệ mắc bệnh cao nhất Gần một nửa trong số 4 triệu người chết do bệnh ĐTĐ ở độ tuổi dưới 60 tuổi [18]
Tại Đông Nam Á, số người mắc bệnh ĐTĐ là 84 triệu, chiếm 19% tổng số người mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới trong đó hơn một nửa chưa được được chẩn đoán (58%); đến năm 2045, con số này ước tính sẽ tăng lên 156 triệu Bệnh ĐTĐ tăng nhanh nhất ở các nước có tốc độ phát triển nhanh như Trung Quốc (114,1 triệu), Ấn Độ (70,2 triệu) Đông Nam Á có số ca tử vong do bệnh ĐTĐ cao thứ hai thế giới với 1.3 triệu người Tổng chi phí y tế, cho bệnh ĐTĐ của khu vực này năm 2017 là 9,7 tỷ USD [17]
Ngoài các yếu tố khách quan như tăng trưởng và già hóa dân số, di truyền, sắc tộc, môi trường địa lý thì lối sống ít vận động, ăn uống không điều độ, sử dụng thực phẩm ăn nhanh, áp lực công việc gây tình trạng căng thẳng (stress) kéo dài đều là những yếu tố nguy cơ mắc bệnh, nên số người bị ĐTĐ càng gia tăng trong khi tuổi chẩn đoán ĐTĐ ngày càng trẻ hóa Nếu như trước đây bệnh ĐTĐ là bệnh của người giàu,
Trang 16của những nước phát triển thì ngày nay NB ĐTĐ có thể được tìm thấy ở tất cả các nước, nếu không có biện pháp dự phòng hay các chương trình quản lý hiệu quả thì tỷ lệ ĐTĐ sẽ còn tiếp tục tăng lên trên toàn cầu [4]
Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam
Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế năm 2015, Việt Nam có khoảng 3.5 triệu người mắc ĐTĐ, tương đương 6% dân số trưởng thành Cứ 8 người, sẽ có một người trưởng thành ở Việt Nam bị tiền ĐTĐ hoặc ĐTĐ Trong đó, ngành y tế mới quản lý được 28.9%; còn 68.9% số người chưa được phát hiện và có tới hơn 71% số người chưa được điều trị Tổng chi phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh ĐTĐ ở Việt Nam là 765.6 triệu USD, trong đó chi phí y tế cho mỗi người mắc bệnh ĐTĐ trung bình là 216.6 USD [4]
Năm 2017 điều tra toàn tỉnh Thái Bình tại 15 xã, phường tỷ lệ ĐTĐ type 2 trong
độ tuổi 30-69 tại Thái bình là 4.3%, khu vực thành phố là 6.5%, khu vực làng nghề 5.2%, khu vực thị trấn 3.5% và khu vực thuần nông 2.4% Tỷ lệ ĐTĐ type 2 tăng dần theo tuổi, cao nhất ở nhóm trên 60 tuổi 7.51% [9]
Bệnh ĐTĐ type 2 đã và đang là một vấn nạn của xã hội bởi những hệ lụy của nó Bệnh rất nguy hiểm, đe dọa đến tình trạng sức khỏe, tính mạng mọi người bởi gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng Theo IDF (2017) cứ 10 người có 6 người bị biến chứng
do ĐTĐ [16]
1.2.2 Nghiên cứu về kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng ở người bệnh đái tháo đường type 2
Một số nghiên cứu trên thế giới
Bệnh ĐTĐ type 2 gây nên các biến chứng nghiêm trọng nếu không tuân thủ một chế độ DD một cách nghiêm ngặt theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc và các chuyên gia
DD Các biến chứng nguy hiểm có thể kể đến như: Bệnh tim mạch, bệnh võng mạc (mù), bệnh thận (suy thận), bệnh thần kinh (rối loạn thần kinh) và tổn thương chi cũng như các bệnh mạn tính khác [1] [3]
Theo nghiên cứu của Adewale và cộng sự năm 2013 về tuân thủ khuyến nghị chế
độ DD và tập thể dục của NB ĐTĐ type 2 tại bệnh viện Extension II, Botswana Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 105 người bệnh ĐTĐ Kết quả cho thấy tỷ lệ không tuân thủ chế độ DD là 37% Những lý do chính cho không tuân thủ chế độ DD được tìm thấy là: Thiếu kỉ luật là 63,4%; thiếu thông tin là 33,3% và xu hướng ăn ngoài tại các nhà hàng và sử dụng thực phẩm chế biến sẵn là 31,7% [13]
Trang 17Nghiên cứu của Mandewo và cộng sự năm 2014 với mục đích xác định các yếu
tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 tại phòng khám ĐTĐ bệnh viện tỉnh Mutare, Zimbabwe Kết quả từ nghiên cứu này chỉ ra rằng tỷ lệ không tuân thủ với chế độ DD là 43.3% Các yếu tố đã được tìm thấy có ảnh hưởng đáng kể tới những việc không tuân thủ chế độ DD sau khi phân tích đa biến là: Hạn chế tài chính, đi du lịch xa khi bị bệnh nặng, thời gian điều trị lâu (hơn 10 năm), thiếu thông tin chi tiết về việc làm thế nào để DD tốt và hợp lý [20]
Theo nghiên cứu của Kanauchi M và cộng sự năm 2015 về sự tuân thủ chế độ
DD của NB ĐTĐ type 2, kết quả thu được chỉ có 6,6% NB thể hiện sự tuân thủ tốt, trong khi 52% NB thể hiện sự tuân thủ trung bình và 41,4% NB cho thấy tuân thủ thấp với chế độ DD [19]
Nghiên cứu của Sontakke và cộng sự năm 2015: Đánh giá tuân thủ điều trị ở những NB ĐTĐ type 2 với mục tiêu để đánh giá sự tuân thủ điều trị và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng không tuân thủ ở những NB ĐTĐ type 2 tại phòng khám trường Cao đẳng Dược tại Ấn Độ Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang với mẫu là
150 NB, bộ câu hỏi được thiết kế để có được thông tin về sự tuân thủ dùng thuốc, chế
độ DD, kế hoạch tập thể dục và tự giám sát đường huyết Kết quả nghiên cứu cho thấy
tỷ lệ tuân thủ chế độ DD là 68% Nghiên cứu cũng chỉ ra những nguyên nhân chính ảnh hưởng tới tuân thủ của NB đó là thiếu kiến thức, khả năng chi trả kém, hay quên [21]
Việc tuân thủ điều trị trong ĐTĐ cần một cách tiếp cận đa chiều, trong đó ngoài việc tuân thủ dùng thuốc thì việc tuân thủ các quy định về chế độ DD và lịch trình tập thể dục và tự kiểm soát đường huyết cần đặc biệt trú trọng Nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sự tuân thủ điều trị bằng cách tăng tương tác với NB [21]
Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện nay, sự gia tăng của người mắc các bệnh chuyển hóa trong đó
có ĐTĐ type 2 đang là vấn đề mang tính thời sự, để quyết định hiệu quả điều trị thì tuân thủ điều trị của NB phải đặt lên hàng đầu Những năm gần đây đã có những nghiên cứu tại một số bệnh viện nhằm thay đổi kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2, tuy nhiên số lượng nghiên cứu chưa nhiều và chưa khai thác cụ thể, trọng tâm vào chế độ DD của NB ĐTĐ type 2 Trong quá trình tổng quan tài liệu, nhóm nghiên cứu đã tìm và phân tích những nghiên cứu điển hình sau:
Trang 18Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Lan cùng cộng sự năm 2018 được tiến hành trên 150 NB ĐTĐ type 2 đang nằm điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn nhằm mục tiêu mô tả kiến thức, thực hành DD và một số yếu tố liên quan của NB Kết quả cho thấy có 87,42% NB đạt kiến thức và chỉ có 35,76% NB đạt thực hành Nhóm
NB có nghề nghiệp hưu trí, có sự hỗ trợ của gia đình và nhận được tư vấn của CBYT có
tỉ lệ đạt kiến thức cao hơn nhóm NB lao động tự do buôn bán, không được hỗ trợ từ gia đình và chưa nhận được tư vấn của CBYT [6]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài năm 2019 “Kiến thức tự chăm sóc của NB ĐTĐ type 2 khó kiểm soát điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2019” Với phương pháp mô tả cắt ngang được thực hiện trên 105 NB ĐTĐ khó kiểm soát từ 1/9/2019 đến 30/9/2019 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NB có kiến thức tự chăm sóc ở mức thấp (chiếm 30,5%), kiến thức về chế độ DD còn hạn chế, tỷ lệ
NB biết nên có bữa ăn phụ trước khi đi ngủ thấp (chiếm 19%); có 70,5% ĐTNC biết phân loại thực phẩm theo chỉ số đường máu và 65,7% biết cần giữ đúng lịch các bữa ăn, không bỏ bữa ngay cả khi không muốn ăn [5]
Nghiên cứu của Tống Lê Văn và Hoàng Hải năm 2016 về “Kiến thức, thái độ về bệnh ĐTĐ của người bệnh ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp năm 2016” Kết quả nghiên cứu trên 602 NB ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú cho thấy: hơn 90% NB đồng tình với nhận định cần phải tuân thủ theo hướng dẫn của bác sỹ trong quá trình điều trị bệnh Tuy nhiên, còn một số cho rằng việc thay đổi lối sống, chế độ DD không
có tác dụng điều trị và phòng chống bệnh Có 79,9% NB cho rằng nên hạn chế thức ăn nhiều đường; chỉ có 46,7% NB cho rằng nên hạn chế thức ăn giàu chất béo; 37,2% NB biết nên ăn nhiều thức ăn giàu chất xơ; chỉ có 30,1% NB biết rằng nên ăn nhiều bữa, chia nhỏ bữa ăn [10]
Nghiên cứu của Đỗ Văn Doanh cùng cộng sự năm 2016: “Một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh năm 2016” Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 198 người bệnh ĐTĐ type 2 ngoại trú tại Bệnh viện tỉnh Quảng Ninh từ tháng 4 đến tháng 10 năm
2016 Kết quả: tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian mắc bệnh và việc tuân thủ DD Khi mà những người mắc lâu năm thường có sự tuân thủ về DD tốt hơn hẳn những người mới mắc Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra được mối liên quan có
ý nghĩa thống kê giữa việc tuân thủ DD và mức độ thường xuyên nhận được thông tin
Trang 19từ NVYT Qua đó có thể thấy tầm quan trọng của trong việc cung cấp thông tin cho NB của NVYT, đây là hoạt động đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định [2]
Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nhân năm 2019: “Thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của NB ĐTĐ type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang năm 2019 sau giáo dục sức khỏe ” Đây là nghiên cứu sử dụng phương pháp can thiệp giáo dục sức khỏe có so sánh trước sau trên một nhóm gồm 98 NB ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang năm 2019 Kết quả: Điểm trung bình kiến thức về chế độ ăn uống của NB là 5,97 ± 1,92 điểm, trên tổng số 13 điểm; điểm trung bình thực hành về chế độ ăn uống là 13,08 ± 2,40 điểm, trên tổng số 26 điểm Kết quả trên cho thấy kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của NB ĐTĐ type 2 còn hạn chế trước can thiệp [8]
Trang 20Khoa Nội tiết – Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thái Bình được thành lập ngày 20/10/2010
Cơ cấu tổ chức nhân sự:
Tổng số cán bộ viên chức của khoa hiện có 19 cán bộ trong đó có 8 bác sỹ và 11
ĐD (bao gồm: 01 ĐD đại học, 10 ĐD cao đẳng)
Hiện tại Khoa Nội tiết có một phòng khám Nội tiết (G311), hai phòng hành chính, 1 phòng cấp cứu và 14 phòng bệnh (chia 2 khu: điều trị thường và điều trị yêu cầu)
Chức năng, nhiệm vụ:
Thực hiện công tác thăm khám, chẩn đoán và điều trị các bệnh lý của tuyến nội tiết như: bệnh lý tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến yên… theo đúng quy định chuyên môn kỹ thuật và quy chế bệnh viện
Khám, điều trị và quản lý trên 1400 người bệnh ngoại trú về các bệnh Nội tiết như: ĐTĐ, bướu cổ, suy tuyến thượng thận … và các bệnh lý Nội tiết khác
Tư vấn, theo dõi và quản lý chế độ DD và phòng ngừa biến chứng cho người bệnh Chỉ đạo và tham gia các hoạt động phòng chống bệnh nội tiết trong khu vực Phối hợp với trường Đại học Y Dược Thái Bình và Cao đẳng Y tế Thái Bình trong việc đào tạo sinh viên Y khoa và Cử nhân ĐD
Nghiên cứu khoa học và chỉ đạo chuyên khoa cho tuyến dưới
Tình hình người bệnh tại khoa:
Khoa được giao 45 giường kế hoạch, thực kê 48 giường 6 tháng đầu năm 2020
đã có 1155 lượt khám bệnh ngoại trú (trong đó: type 1 là 9 lượt NB, type 2 là 1146 lượt
Trang 21NB), có 602 lượt NB được điều trị nội trú (trong đó: type 1 là 2 lượt NB, type 2 là 580 lượt NB, thai kỳ là 20 NB)
Qua khảo sát 90 NB ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình Thời gian: tháng 7 năm 2020, với phương pháp điều tra
mô tả cắt ngang bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn thu được kết quả sau:
Bảng 2.1: Đặc điểm về tuổi, nơi cư trú và trình độ học vấn của ĐTNC
(n= 90) Nội dung Số lượng Tỷ lệ %
Bảng 2.1 cho thấy: Trong 90 NB tham gia nghiên cứu, có 32 NB thuộc nhóm dưới 60 tuổi và 58 NB thuộc nhóm ≥ 60 tuổi chiếm 64.4%
Có 24 NB sống ở thành thị chiếm tỷ lệ 26.7%; 66 người sống ở nông thôn chiếm 73.3% Trong đó, số người có trình độ học vấn Trung học cơ sở là 37 người chiếm tỷ lệ cao nhất với 41.4%, chỉ có 20% ĐTNC có trình độ từ trung cấp trở nên
Trang 22Biểu đồ 2.1 Phân bố theo giới của đối tượng nghiên cứu (n=90)
Theo Biểu đồ 2.1: Có 46 NB là nam giới tham gia nghiên cứu chiếm 51.1%, 44
NB là nữ giới chiếm 48.9%
Bảng 2.2 Đặc điểm về nghề nghiệp và điều kiện sống của ĐTNC (n=90)
Nội dung Số lượng Tỷ lệ %
Bảng 2.2 cho thấy: Số NB có công việc hiện tại là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất
là 26 người chiếm 28.9%, NB là cán bộ viên chức chiếm tỷ lệ thấp nhất là 12 người chiếm 13.3% Có 88 người đang sống cùng gia đình chiếm 97.8% và 2 người đang sống một mình chiếm 2.2%