1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng đánh giá kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 tại bệnh viện đa khoa tỉnh điện biên năm 2016

82 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 593,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU (0)
    • 1.1. Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam (12)
    • 1.2. Đái tháo đường (14)
      • 1.2.1. Định nghĩa (14)
      • 1.2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (15)
      • 1.2.3. Biến chứng của đái tháo đường (15)
    • 1.3. Gánh nặng của đái tháo đường (18)
    • 1.4. Tự chăm sóc trong đái tháo đường type 2 (19)
      • 1.4.1. Sử dụng thuốc (20)
      • 1.4.2. Chế độ dinh dưỡng (21)
      • 1.4.3. Hoạt động thể chất (22)
      • 1.4.4. Tự theo dõi đường máu (24)
      • 1.4.5. Phòng tránh nguy cơ biến chứng (25)
    • 1.5. Mức độ kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 (25)
    • 1.6. Khung lý thuyết (27)
    • 1.7. Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu (27)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (30)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (30)
    • 2.3. Thiết kế (30)
    • 2.4. Cỡ mẫu (30)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (31)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (31)
    • 2.7. Các biến số nghiên cứu (33)
    • 2.8. Tiêu chuẩn đánh giá (33)
    • 2.9. Phương pháp phân tích số liệu (33)
    • 2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (34)
    • 2.11. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số (34)
  • CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
  • CHƯƠNG 4.BÀN LUẬN (0)
  • KẾT LUẬN (1)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (66)

Nội dung

TÓM TẮT Mục tiêu: Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá kiến thức và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị tại B

QUAN TÀI LIỆU

Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam

Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi, các bệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày một giảm thì ngược lại các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư… đặc biệt là bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hoá ngày càng tăng [8]

Vào những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới dự báo thế kỷ 21 sẽ là thời kỳ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hoá, đặc biệt bệnh đái tháo đường sẽ là bệnh không lây phát triển nhanh nhất Theo số liệu của WHO công bố năm 2010, đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong thứ năm trong 10 nguyên nhân hàng đầu trên toàn cầu Tốc độ mắc bệnh đang gia tăng nhanh và gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế cho xã hội Số người mắc đái tháo đường toàn cầu tăng từ 171 triệu năm 2000 lên 194 triệu năm 2003, 246 triệu năm 2006, lên 366,2 triệu năm 2011 và được dự báo tăng lên 380–399 triệu vào năm 2025 Tuy nhiên, thống kê mới nhất năm 2015 của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế cho thấy số người mắc đái tháo đường ở độ tuổi 20–79 là 415 triệu, gồm 215,2 triệu nam và 199,5 triệu nữ; 269,7 triệu ở khu vực thành thị và 145,1 triệu ở nông thôn, nghĩa là năm 2015 cứ mỗi 11 người lớn thì có một người mắc bệnh đái tháo đường.

1 người mắc đái tháo đường Liên đoàn đái tháo đường quốc tế tiếp tục dự báo năm

2040 số người mắc đái tháo đường sẽ là 642 triệu [37]

Theo cảnh báo của Quỹ đái tháo đường Thế giới (WDF), sự gia tăng bệnh đái tháo đường ở các nước phát triển là 42% từ 51 triệu lên 72 triệu người nhưng ở các nước đang phát triển lại lên tới 170% từ 84 triệu lên 228 triệu người Trong đó chủ yếu là đái tháo đường type 2 chiếm khoảng 85 - 95% tổng số người mắc bệnh đái tháo đường [45] Đứng đầu danh sách trên thế giới về số lượng người mắc đái tháo đường là ba nước Trung Quốc, Ấn Độ và Mĩ với số lượng lần lượt là 109.6 triệu, 69.2 triệu và 29.3 triệu Tiếp theo là các nước Brazil, Nga, Mexico, Indonesia, Ai Cập, Nhật Bản và Bangladesh [37]

Số lượng người mắc đái tháo đường ở khu vực Đông Nam Á tương đối cao, 78.3 triệu người, xếp thứ 2 trong bảy khu vực trên toàn thế giới chỉ sau Tây Thái Bình Dương là 153.2 triệu người Theo kết quả điều tra quốc gia năm 2008 tại Philippine tỷ lệ đái tháo đường là 7.2 % Tỷ lệ đái tháo đường khu vực thành thị là 8.3% và khu vực nông thôn là 5.8% [28] Tại Indonesia là 5.7% [20] Đái tháo đườnghiện nay là một vấn đề sức khỏe toàn cầu phổ biến và nghiêm trọng Đặc biệt đối với hầu hết các nước đã phát triển gắn với những thay đổi nhanh chóng về văn hóa và xã hội, dân số lão hóa, tăng đô thị hóa, thay đổi chế độ ăn uống, giảm hoạt động thể chất và lối sống không lành mạnh Ở Việt Nam số người bệnh đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng, không chỉ ở khu vực thành thị mà còn ở các khu vực miền núi và nông thôn

Tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ người bệnh đái tháo đường năm 1990 là 2.5%, năm 2001 là 3.7% đến năm 2012 là 6.9%, mức cao nhất trong cả nước Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tại Hà Nội năm 1990 là 1.2% đến năm 2000 là 4% dân số và 7% ở độ tuổi trên 35 [7]

Theo Trần Minh Long trong khảo sát năm 2010 tại Nghệ An, tỷ lệ đái tháo đường type 2 ở người từ 30-69 tuổi là 9.4% Theo Huỳnh Nhân Hải năm 2012, tỷ lệ đái tháo đường type 2 tại thành phố Vĩnh Long là 7.4% Dữ liệu về tỉnh Trà Vinh vẫn chưa được công bố đầy đủ.

2012 tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở người trên 45 tuổi là 9.5% [5]

Theo báo cáo của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2013 [1], trong năm

2002 cả nước chỉ có khoảng 2.7% dân số mắc bệnh đái tháo đường nhưng đến năm

2012 điều tra tại 6 vùng trên cả nước tỷ lệ này đã tăng lên gần 5.7%; khu vực Tây Nam Bộ có tỷ lệ cao nhất với 7.2% dân số, khu vực tây Nguyên có tỷ lệ thấp nhất

3.8% dân số Tại 4 thành phố lớn Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỷ lệ bệnh đái tháo đường là 4% Đối với tỷ lệ tiền đái tháo đường cũng có sự gia tăng từ 7.7% (năm 2002) lên tới 12.8% (năm 2012) Cuộc điều tra đã chỉ ra một thực trạng đáng quan tâm, tỷ lệ người bệnh đái tháo đường trong cộng đồng không được phát hiện là 63.6% trong khi tỷ lệ này chung trên thế giới là 50% Thống kê cũng cho thấy nhóm tuổi từ 45-64 tuổi đuợc xem là nhóm đối tượng có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhất; nhóm tuổi mắc đái tháo đường đang có xu hướng trẻ hoá theo thời gian Như vậy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam 10 năm qua đã tăng gấp đôi Đây là con số đáng báo động vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm tỷ lệ mắc đái tháo đường mới tăng gấp đôi Trong khi đó, 75.5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về bệnh đái tháo đường

Tại tỉnh Điện Biên, trong năm 2015, theo thống kê của Trung tâm Nội tiết tỉnh và các Trung tâm y tế huyện, thị, thành phố đã tổ chức khám sàng lọc cho tổng số 8.400 người, kết quả có gần 50% số người mang yếu tố nguy cơ; tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường type 2 là 2.8%; tỷ lệ người mắc tiền đái tháo đường là 18.6% Riêng bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, số lượt người bệnh được chần đoán đái tháo đường đến khám tăng lên theo từng năm: năm 2013 là 5532 lượt; năm 2014 là

6075 lượt và năm 2015 là 6132 lượt.

Đái tháo đường

Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) định nghĩa: Đái tháo đường là một bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng đường huyết do sự phối hợp giữa kháng insulin và thiếu đáp ứng insulin.

Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) định nghĩa: “Đái tháo đường là một bệnh mạn tính xảy ra khi cơ thể không thể sản xuất đủ insulin hoặc không thể sử dụng insulin, và được chẩn đoán bằng cách đánh giá mức độ tăng glucose trong máu [37] Đái tháo đường type 2 đặc trưng bởi kháng insulin và thiếu tương đối insulin, một trong hai rối loạn này có thể xuất hiện ở thời điểm có triệu chứng lâm sàng bệnh

1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường[3],[13]

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường theo IDF năm 2015 dựa vào một trong các tiêu chí:

- Mức đường máu tương lúc đói ≥7.0mmol/l (≥126mg/dl) (Lúc đói được xác định là không dung nạp calo trong 8 giờ)

- Mức đường máu tương ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống (Thực hiện như mô tả của Tổ chức Y tế Thế giới, sử dụng đường có chứa tương đương với glucose khan 75g hòa tan trong nước)

- Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức đường máu tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl)

1.2.3 Biến chứng của đái tháo đường [33]

Đường huyết giảm xuống dưới 3.6 mmol/L (65 mg/dL) là dấu hiệu hạ đường huyết Nguyên nhân phổ biến gồm quá liều thuốc hạ đường huyết (thuốc uống hoặc insulin), ăn kiêng quá mức hoặc bỏ ăn trong khi vẫn dùng thuốc, tập luyện quá sức hoặc uống quá nhiều rượu Triệu chứng nhận biết bao gồm đói cồn cào, mệt mỏi, run chân tay, bủn rủn, ra mồ hôi, choáng váng và hồi hộp đánh trống ngực.

Cách xử trí: Khi có dấu hiệu hạ đường máu nhẹ và trung bình, người bệnh phải nhanh chóng ăn nhẹ như cháo loãng, súp hoặc uống một cốc nước đường, hay ăn 1 chiếc kẹo và nằm nghỉ ngơi yên tĩnh

- Hôn mê do tăng đường máu: Đường máu quá cao có thể gây hôn mê do nhiễm toan ceton hay tăng áp lực thẩm thấu Đây là biến chứng nặng và rất dễ tử vong, đòi hỏi người bệnh phải được cấp cứu ngay lập tức

- Biến chứng ở mắt: Đường máu tăng cao làm tổn thương hệ thống mao mạch ở đáy mắt, gây bệnh võng mạc Dần dần, người bệnh bị suy giảm thị lực, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến mù lòa Đái tháo đường cũng làm tăng nguy cơ một số bệnh về mắt khác như đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, phù hoàng điểm

Cách phòng ngừa: Kiểm soát tốt đường máu, khám mắt tối thiểu mỗi năm một lần Nếu thị lực giảm đột ngột, nhìn mờ hay có cảm giác ruồi bay trước mắt, ấn vào quầng mắt thấy đau, nhức người bệnh phải ngay lập tức đi khám

- Biến chứng tim mạch: Đái tháo đường sẽ gây nên tổn thương sớm ở tế bào nội mạc, làm rối loạn chức năng nội mạc mạch máu Lớp nội mạc là lớp tế bào trong cùng của thành mạch, nơi tiếp xúc trực tiếp giữa thành mạch và các thành phần của máu Khi chức năng nội mạc bị rối loạn, nó sẽ làm cho các phân tử cholesterol dễ dàng chui qua lớp nội mạc vào trong, kết hợp với tăng khả năng kết dính và xuyên thành của tế bào bạch cầu vào trong lớp nội mạc Từ đó sẽ hình thành mảng vữa xơ động mạch, hoặc mảng vữa xơ đã hình thành thì tiến triển rất nhanh dẫn đến hẹp dần lòng mạch, gây nên các biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu máu cục bộ mạn tính ở cơ quan tổ chức Ngoài ra, khi lớp nội mạc mạch máu bị tổn thương, sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho sự co mạch kết hợp với sự kết dính các tế bào tiểu cầu, hình thành nên cục huyết khối trong lòng mạch làm tắc mạch cấp tính, gây nên các biểu hiện lâm sàng của thiếu máu cục bộ cấp tính của tổ chức như cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não đe doạ nghiêm trọng tính mạng người bệnh

Để phòng ngừa hiệu quả, kiểm soát tốt các chỉ số đường máu, mỡ máu và huyết áp ở mức giới hạn cho phép là nền tảng, và cần kết hợp với chế độ ăn uống cân đối cùng chương trình tập luyện khoa học Duy trì đường huyết ổn định giúp ngăn ngừa biến chứng và bảo vệ tim mạch, trong khi kiểm soát mỡ máu (bao gồm LDL, HDL và triglyceride) làm giảm nguy cơ xơ vữa động mạch Giữ huyết áp ở mức an toàn thông qua lối sống lành mạnh và hoạt động thể chất đều đặn là cách chủ động phòng ngừa các bệnh lý tim mạch Toàn diện hơn, việc kết hợp dinh dưỡng hợp lý, tập luyện đều đặn và theo dõi chỉ số sức khỏe sẽ cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm nguy cơ bệnh tối ưu.

+ Bệnh thần kinh ngoại biên: Ảnh hưởng đến những dây thần kinh: cảm nhận được cảm giác như đau, nóng hoặc tiếp xúc và thần kinh kiểm soát vận động, di chuyển cơ bắp

+ Bệnh thần kinh tự chủ: Ảnh hưởng đến dây thần kinh kiểm soát hoạt động tự chủ như nhịp tim, nhịp thở, tuyến tiết (mồ hôi, dịch tiết)…

Cách phòng ngừa: Kiểm soát tốt đường máu, vệ sinh và chăm sóc bàn chân đúng cách hàng ngày là cách tốt nhất để phòng ngừa biến chứng

Lượng đường trong máu cao gây tổn thương tới hàng triệu vi mạch (mạch máu nhỏ) tại thận, làm suy giảm chức năng lọc, bài tiết của thận, nặng hơn là dẫn đến suy thận không hồi phục

Cách phòng ngừa: Duy trì đường máu, huyết áp về ngưỡng bình thường, kết hợp với chế độ ăn giảm muối, giảm đạm Ít nhất mỗi năm 1 lần, người bệnh đái tháo đường type 2 nên làm xét nghiệm microalbumin trong nước tiểu để phát hiện sớm các tổn thương ở thận

Đường huyết cao tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn và đồng thời làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể, khiến người bệnh dễ bị nhiễm trùng như nhiễm trùng răng lợi, nhiễm trùng tiết niệu hoặc sinh dục, cũng như các vết loét lâu lành Tình trạng viêm nhiễm thường kéo dài dai dẳng và khó điều trị, đòi hỏi quản lý đường huyết và chăm sóc y tế chặt chẽ để giảm thiểu biến chứng.

Để phòng ngừa hiệu quả, kiểm soát đường huyết ở mức ổn định và duy trì vệ sinh cơ thể sạch sẽ là nền tảng, đặc biệt lưu ý các vùng dễ nhiễm khuẩn như răng miệng, sinh dục và tiết niệu Việc ăn uống cân đối, tập luyện đều đặn và theo dõi đường huyết định kỳ giúp nâng cao sức đề kháng và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn cũng như biến chứng liên quan Vệ sinh cá nhân đúng cách và khám sức khỏe định kỳ là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe tổng thể và ngăn ngừa các bệnh nhiễm khuẩn ở các khu vực nhạy cảm.

Gánh nặng của đái tháo đường

Đái tháo đường là căn bệnh nguy hiểm, đe dọa tính mạng và gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng Theo Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế, đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong thứ tư phổ biến ở hầu hết các nước phát triển Khoảng 50% người mắc đái tháo đường gặp phải các biến chứng như bệnh mạch vành và bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh lý thần kinh do đái tháo đường, cắt cụt chi, suy thận và mù mắt Những biến chứng này có thể dẫn tới tàn tật và giảm tuổi thọ.

Ở người mắc đái tháo đường, tỷ lệ mắc bệnh lý võng mạc đái tháo đường là khoảng 35% Bệnh lý võng mạc đái tháo đường gây ra khoảng 1.9% tổng số trường hợp khiếm thị trên toàn cầu và chiếm khoảng 2.6% tổng số trường hợp mù tính tới năm 2010.

Theo số liệu tổng hợp từ 54 quốc gia, ít nhất 80% trường hợp bệnh thận giai đoạn cuối được gây ra bởi bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc sự kết hợp của hai bệnh này Tỷ lệ bệnh thận giai đoạn cuối do đái tháo đường nằm trong khoảng 12–55% Người mắc đái tháo đường có nguy cơ mắc bệnh thận giai đoạn cuối cao gấp khoảng 10 lần so với người không mắc bệnh.

- Người có tiền sử bệnh đái tháo đường có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch cao hơn 2-

3 lần người không bị đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ bị cắt cụt chi dưới do nhiễm khuẩn không được chữa trị đúng cách, với tỷ lệ cắt cụt ở người mắc đái tháo đường cao hơn 10–20 lần so với quần thể không mắc bệnh Đái tháo đường là một thách thức kinh tế lớn đối với hệ thống y tế quốc gia, cá nhân và nền kinh tế nói chung, với chi phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh đái tháo đường được ước tính chiếm từ 3% đến 11,6% tổng chi tiêu y tế toàn cầu trong dự toán năm 2010 Một số ước tính cho thấy việc ngăn ngừa và điều trị các biến chứng liên quan sẽ tăng từ 379 tỷ USD năm 2010 lên hơn 490 tỷ USD Trong các dự toán chi phí điều trị và phòng chống, 80% chi phí đến từ các nước phát triển, trong khi các nước trung bình và kém phát triển chiếm ít hơn 20% Các ước tính còn cho thấy chi phí sẽ khác nhau tùy theo độ tuổi và giới tính, với ba phần tư chi tiêu toàn cầu năm 2010 được dành cho nhóm tuổi từ 50 đến 80, và chi phí chăm sóc đái tháo đường cho phụ nữ cao hơn nam giới.

Tự chăm sóc trong đái tháo đường type 2

Tự chăm sóc là một khái niệm đa chiều và có định nghĩa khác nhau Trong số các định nghĩa, định nghĩa của Orem là nhất quán hơn Orem lập luận rằng, tự chăm sóc là một hoạt động cá nhân để chăm sóc, duy trì sức khỏe của chính họ và phòng ngừa biến chứng bệnh liên quan đến bệnh Điều này có thể được thực hiện thông qua việc quản lý và duy trì thực hiện lối sống lành mạnh trong các lĩnh vực của hoạt động thể chất, dinh dưỡng, sử dụng thuốc và kiểm soát bệnh Cùng với điều này, Orem mô tả tự chăm sóc là khả năng của mình để tự đánh giá, giám sát và đưa ra quyết định cho các tình huống trong cuộc sống của bản thân họ Tự chăm sóc là một quá trình liên tục [11]

Cooper định nghĩa tự chăm sóc trong quản lý đái tháo đường là một quá trình phát triển kiến thức và nhận thức để tồn tại trước sự phức tạp của bệnh trong bối cảnh xã hội [30] Anderson và De Weert nhấn mạnh rằng tự chăm sóc là yếu tố then chốt giúp giữ căn bệnh ở trong tầm kiểm soát, với khoảng 95% công việc chăm sóc được thực hiện bởi người bệnh hoặc gia đình họ, bao gồm tự theo dõi đường huyết, dinh dưỡng, hoạt động thể chất và tuân thủ thuốc Bên cạnh đó, Herschbach cho rằng tự chăm sóc không chỉ là thực hiện các hoạt động mà còn là xem xét mối quan hệ giữa chúng với các thay đổi thích hợp trong cuộc sống [11] Để thực hiện tự chăm sóc, người bệnh cần có kỹ năng thể chất, nhận thức và kiến thức về tự chăm sóc, trong đó kỹ năng nhận thức hữu ích ở chỗ giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ hơn là bằng hành động thực tế [25],[53].

Phù hợp với định nghĩa của các học giả ở trên Hernandez và Peterson cho rằng tự chăm sóc là một quá trình học tập, là những nỗ lực của người bệnh để tìm hiểu các cách khác nhau của các chiến lược tự chăm sóc để xác định những gì là cần thiết, thích hợp cho lối sống và điều kiện sống của họ[34] Việc tuân thủ tự chăm sóc không phải sẽ luôn luôn dẫn đến kiểm soát chuyển hóa xứng đáng nhưng tự chăm sóc kém thì sẽ có nhiều khả năng dẫn đến kiểm soát chuyển hóa kém [55].Nghiên cứu được thực hiện bởi Nauck và cộng sự chứng minh rằng việc chăm sóc bệnh đái tháo đường nên được đặt vào từng cá nhân bao gồm theo dõi đường máu, tuân thủ điều trị và lối sống lành mạnh [47]

Các hành vi tự chăm sóc thiết yếu ở những người bị bệnh đái tháo đường mà dự đoán kết quả tốt bao gồm sử dụng thuốc phù hợp, chế độ ăn uống lành mạnh, hoạt động thể lực, phòng tránh nguy cơ biến chứng vàtheo dõi lượng đường trong máu[16].Tất cả những hành vi đã được tìm thấy có mối tương quan tích cực với kiểm soát tốt đường máu, giảm các biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống

Cá nhân bị bệnh đái tháo đường đãđược chứng minh có một tác động đáng kể vào giảm sự phát triển của bệnh bằng cách tham gia tự chăm sóc Nhận thấy tính chất đa diện của vấn đề, một cách có hệ thống, đa hướng và một cách tiếp cận tích hợp là cần thiết cho việc thúc đẩy thực hành tự chăm sóc ở người bệnh đái tháo đường để ngăn chặn biến chứng lâu dài

Quản lý đái tháo đường dựa trên lối sống là nền tảng quan trọng, nhưng lối sống một mình vẫn không đủ để kiểm soát lượng đường huyết ở nhiều người Do đó, các khuyến cáo điều trị thường phối hợp giữa chế độ ăn lành mạnh, hoạt động thể chất và các thuốc hạ đường huyết uống hoặc insulin, tùy theo từng loại và tình trạng bệnh nhân Sự kết hợp này giúp kiểm soát đường huyết hiệu quả, giảm nguy cơ biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Việc sử dụng thuốc cho người bệnh đái tháo đường type 2 có thể giúp kiểm soát đường huyết ở mức tối ưu, nhờ khả năng bình thường hóa đường máu của insulin và góp phần làm giảm HbA1C từ 0,5% đến 2% khi dùng thuốc điều trị đái tháo đường uống [46].

Một số yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến sự tuân thủ dùng thuốc là sự phức tạp của các phác đồ [37], tác dụng phụ của thuốc, mức độ nghiêm trọng của bệnh trầm cảm [29] và thiếu niềm tin của các người bệnh vào những lợi ích trước mắt và trong tương lai của thuốc

Dinh dưỡng là một thành phần không thể thiếu trong phòng chống và quản lý bệnh đái tháo đường.Hiệp hội đái tháo đường Mỹđưa ra khuyến nghị các cá nhân nên thực hiện chế độ dinh dưỡng bởi một chuyên gia dinh dưỡng là người tham gia quá trình điều trị cùng cá nhân đó để đạt được mục tiêu điều trị

Do ảnh hưởng của béo phì đối với kháng insulin, giảm cân là một phần điều trị quan trọng cho người thừa cân và béo phì ở trạng thái tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường Một nghiên cứu đã cho thấy việc giảm cân vừa phải khoảng 5% trọng lượng cơ thể có thể cải thiện kháng insulin và kiểm soát đường huyết ở người mắc đái tháo đường type 2 Vì vậy, giảm cân là mục tiêu điều trị có ý nghĩa để giảm nguy cơ biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Các yếu tố này có liên quan đến giảm đề kháng insulin, giảm đường huyết và giảm huyết áp [48] Dựa trên bằng chứng từ các nghiên cứu về chế độ ăn cho người cao huyết áp, chiến lược dinh dưỡng chính là tăng cường tiêu thụ trái cây và rau quả (8-10 phần ăn mỗi ngày), dùng các sản phẩm từ sữa ít chất béo (2-3 phần ăn mỗi ngày), giảm natri và hạn chế uống rượu để huyết áp được hạ thấp đáng kể [19].

Một số nguyên tắc trong chế độ ăn [2],[4]

- Người bệnh thừa cân, béo phì cần giảm ít nhất 5% so với cân nặng ban đầu

- Năng lượng: 30 kcal/kg cân nặng lý tưởng/ngày

- Đảm bảo cung cấp cân đối năng lượng giữa protein, glucid và lipid theo tỷ lệ:

+ Glucid: 55 - 65% tổng năng lượng Nên sử dụng các glucid phức hợp, glucid có chỉ số đường máu thấp

+ Lipid: 20- 30% tổng năng lượng Axid béo chưa no một nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và axid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid

- Nên dùng các loại carbohydrate hấp thu chậm, không chà xát kỹ như gạo lức, bánh mì đen, ngô, khoai lang Lượng carbohydrate tối thiểu hàng ngày khoảng 130 gam, nhưng không vượt quá 60% tổng số năng lượng

- Đạm khoảng 1-1.5 gam/kg cân nặng/ngày ở người không suy giảm chức năng thận Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần

- Nên chú trọng dùng các loại chất béo chứa acid béo không bão hòa như dầu ô liu, dầu mè, dầu lạc, mỡ cá

- Hạn chế muối < 6 gam/ ngày

Hãy ăn chậm và nhai kỹ để hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả Nên ăn 4–6 bữa mỗi ngày để phân bổ năng lượng cho cơ thể một cách đều đặn Trong trường hợp điều kiện lao động và sinh hoạt chỉ cho phép ăn 3 bữa/ngày, hãy lên kế hoạch phân bổ năng lượng hợp lý giữa các bữa để duy trì sức khỏe và hiệu suất làm việc.

Tập thể dục đều đặn đã được chứng minh cải thiện kiểm soát đường huyết, giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch và hỗ trợ giảm cân Người bị đái tháo đường nên hoạt động thể chất tối thiểu 150 phút mỗi tuần ở cường độ vừa phải Nghiên cứu cho thấy tập luyện ít nhất 8 tuần có thể giảm HbA1C xuống khoảng 0,66% ở người mắc đái tháo đường type 2, và mức độ cường độ tập luyện có liên quan đến mức giảm HbA1C.

Cần chọn những hoạt động dễ thực hiện và trở thành thói quen hàng ngày, thuận lợi thời gian để duy trì hoạt động Một số hình thức tập luyện sức bền phổ biến:

Mức độ kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2

trong 5114 người bệnh Kuwait với bệnh đái tháo đường type 2 trong một môi trường chăm sóc sơ cấp và tìm thấy điểm trung bình 58,9% Sự thiếu hụt kiến thức có trong các câu hỏi liên quan đến chế độ ăn uống[15]

Tại châu Phi, mức độ hiểu biết về bệnh đái tháo đường củangười bệnh bị hạn chế Odili và cộng sựđã đánh giá mức độ hiểu biết trong số 100 người bệnh bị bệnh đái tháo đường; 96% trường hợp có bệnh đái tháo đường type 2 ở một thành phố Nigeria sử dụng 14 mục của test kiến thức về đái tháo đường và thấy thấp với trung bình là 39% ± 16,7% Người bệnh đã được chứng minh có thiếu hụt kiến thức quan trọng trong chế độ ăn uống và tự theo dõi đường máu Thời gian nhận thức bệnh là yếu tố duy nhất có liên quan đáng kể với mức độ kiến thức.[50]

Baumann và cộng sự ở Kampala, Uganda đã đánh giá tự chăm sóc trong số

Trong một nghiên cứu có 340 bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2, cho thấy ít hơn 40% người bệnh nhận biết các dấu hiệu và triệu chứng của hạ đường huyết Ở môi trường chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Nam Phi, Moodley và cộng sự cho thấy người Châu Phi có mức kiến thức về bệnh đái tháo đường ở mức thấp, trung bình 52,2%, so với đối tác Ấn Độ của họ với trung bình 75,9% [21].

Mức độ hiểu biết của người bệnh gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng chăm sóc bệnh đái tháo đường Người bệnh có kỹ năng biết chữ thấp gặp phải những thách thức trong việc theo hướng dẫn của bác sĩ, đọc và sau thuốc theo quy định [24] Những người bệnh có kiến thức kém về quản lý bệnh đái tháo đường tự đặt họ vào nguy cơ kết quả sức khỏe tồi tệ hơn [23]

Padma và cộng sự ở Ấn Độ đã đánh giá vai trò của kiến thức và tự chăm sóc trong quản lý bệnh đái tháo đường ở 117 người bệnh bị bệnh đái tháo đường type 2 tại một trung tâm chăm sóc đã tìm thấy người bệnh có mức độ cao về về bệnh đái tháo đường Những người bệnh này cũng đã chứng minh thực hành tốt chế độ ăn uống, hoạt động thể chất, thuốc và các thực hành tự chăm sóc liên quan đáng kể với kiểm soát đường máu tốt mà đường máu lúc đói dưới 110mg/dl [51]

Ayele và cộng sự ở Ethiopia sử dụng một bảng câu hỏi có cấu trúc tìm thấy 93% người bệnh có cả kiến thức chung về bệnh đái tháo đường và kiến thức cụ thể về chăm sóc bản thân [22]

Hầu hết các nghiên cứu trên đã được tập trung vào các biện pháp can thiệp tự chăm sóc chứ không phải là yếu tố góp phần vào việc tự chăm sóc ở người bệnh với type 2 Do đó, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu tổng quan hệ thống trong đó có kiến thức về tự chăm sóc Kiến thức tự chăm sóc về bệnh đái tháo đường thông qua một chương trình quản lý giáo dục là nhằm tạo điều kiện cho người bệnh hiểu được nguyên nhân, triệu chứng và biến chứng của bệnh, các biện pháp chăm sóc nhăm đạt được mục tiêu đề ra Ngoài ra, nó còn cung cấp đào tạo các kỹ năng cần thiết và tạo động lực cho người bệnh để thích nghi với thay đổi lối sống tích cực giúp họ đối phó với căn bệnh này Bản thân người bệnh là phụ trách chính trong các hành vi tự chăm sóc của họ và những lựa chọn mà họ làm cho mỗi ngày khi họ chăm sóc có ảnh hưởng lớn hơn trên kết quả so với những người thực hiện bởi các chuyên gia y tế [18].

Khung lý thuyết

Biến độc lập Biến phụ thuộc

- Nguồn tiếp nhận thông tin

Kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2

Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới ở Tây Bắc Việt Nam, phía Bắc giáp Lai Châu, phía Đông và Đông Bắc giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Vân Nam của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, và phía Tây cũng như Tây Nam giáp với hai tỉnh Luông Pha Băng và Phong Xa Lỳ của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; diện tích tự nhiên 9562.9 km2, dân số năm 2007 là 468.282 người với cơ cấu dân tộc gồm Thái 40.4%, H’Mông 28.8%, Kinh 19.7% và các dân tộc Khơ Mú, Dao, Hà Nhì, Hoa, Kháng chiếm phần còn lại Địa hình phức tạp, 50% diện tích có độ cao trên 1000m so với mặt biển và 70% diện tích có độ dốc trên 25 độ; khí hậu nhiệt đới núi cao hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Trong giai đoạn 2004–2007, nhịp độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 10.5%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Đời sống ở thành phố và trung tâm thị trấn có sự thay đổi rõ nét khi người lao động từ chân tay chuyển sang lao động trí óc, làm nâng cao mức sống; hệ thống giao thông được nâng cấp và nối liền xã, bản, huyện với trung tâm tỉnh, thành phố, tạo điều kiện phát triển kinh tế và thuận tiện giao lưu hàng hóa Tuy nhiên, vùng sâu vùng xa của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn đối mặt với đói nghèo và phải lao động nặng nhọc, ăn hàng ngày chủ yếu là ngô, khoai và sắn; tiếp cận y tế còn hạn chế, các trạm y tế xã dù có nhưng cơ sở vật chất nghèo nàn, trang thiết bị thiếu thốn, khiến công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh cho đồng bào còn hạn chế về nội dung, hình thức và phương pháp.

Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên là tuyến khám chữa bệnh cao nhất trong địa bàn tỉnh Điện Biên Bệnh viện thực hiện cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú cho tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các bệnh viện khác chuyển đến Bên cạnh đó bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên còn kết hợp với bệnh viện tuyến dưới thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong địa bàn tỉnh, thành phố và các huyện, thị xã Tôi đã chọn địa điểm nghiên cứu là bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên với mong muốn có thể đánh giá một cách tổng quan nhất kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type 2 sinh sống tại tất cả các khu vực trong tỉnh.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng:Người bệnh đãđược chẩn đoán đái tháo đường type 2 theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế năm 2011 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên Từ 01/6/2016 đến 31/8/2016

+ Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu

+ Người bệnh có thể nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Việt

+ Người bệnh có khả năng tham gia trả lời phỏng vấn

+ Người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu

+ Người bệnh quá mệt, không thể tham gia trả lời phỏng vấn

+Người bệnh điếc, câm, rối loạn tâm thần, lú lẫn

+ Người bệnh phải chuyển vào điều trị nội trú.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/4/2016 đến 15/10/2016

- Thời gian thu thập số liệu: Từ 01/6/2016 đến 31/8/2016

- Địa điểm: Phòng khám - Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Thiết kế

Là nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Cỡ mẫu

Cỡ mẫu ước lượng được tính toántheo công thức: n = Z 2 α/2 σ 2 d 2 n - Cỡ mẫu σ- Độ lệch chuẩn Ước tính độ lệch chuẩn của số điểm trung bình về kiến thức ở những người bệnh đái tháo đườngσ = 16.7% [50] d - Sai số chính xác mong muốn = 2.5% α - Mức ý nghĩa thống kê α = 0.05

Zα/2-Giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị α được chọn Z = 1.96

Cỡ mẫu của nghiên cứu tính được là 171 người bệnh đang điều trị ngoại trú đái tháo đường type 2.

Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống

Tại phòng khám, Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên có 358 người bệnh đái tháo đường đăng ký quản lý đái tháo đường type 2,lập danh sách 358 người bệnh đóvà đánh số thứ tự Tiến hành chọn mẫu với khoảng cách mẫu k = 2 (k = N/n 358/171, N là số người bệnhtại địa điểm nghiên cứu, n là cỡ mẫu cho nghiên cứu) Đối tượng nghiên cứu đầu tiên được lựa chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến k bằng phương pháp bốc thăm, những đối tượng tiếp theo được tìm theo nguyên tắc số thứ tự của đối tượng bằng số thứ tự của đối tượng trước nó cộng với hệ số k cho đến khi đủ số lượng cỡ mẫu nghiên cứu

Bốc thăm được đối tượng đầu tiên có số thứ tự là 1 Như vậy các đối tượng tiếp theo có số thứ tự lần lượt là 1, 3, 5, 7, 9………335, 337, 339,341

Trong trường hợp đối tượng được lựa chọn không đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu, hệ thống sẽ lấy đối tượng kế tiếp nằm ngay sau đối tượng đã chọn trong bảng danh sách.

Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Công cụ thu thập dữ liệu

Công cụ thu thập dữ liệu là bộ câu hỏi thiết kế sẵn(Phụ lục 2) có 3 phần chính: Phần thứ nhất có thông tin cá nhân bao gồm tên, tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, khu vực sinh sống, tần suất khám bệnh và thời gian bị bệnh Trọng lượng và chiều cao của người bệnh đã được đo và chỉ số khối cơ thể được tính toán

Phần thứ hailà nội dung về kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 dưới 2 dạng: 21 câu hỏi đúng sai được xây dựng dựa trên bộ công cụ đo lường kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 tại Nigeria của tác giả Maxwell O Adibe và cộng sự và 17 câu hỏi chọn đáp án đúng nhất được xây dựng dựa trên Test trắc nghiệm kiến thức bệnh đái tháo đường (DKT) của trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học về đái tháo đường - trường đại học Michigan [44]

Phần thứ ba là khảo sát nguồn tiếp nhận thông tin tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 của người bệnh

2.6.2 Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu

Thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu sẽ được thực hiện 2 tuần trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu Sẽ tiến hành điều tra thử 30 đối tượng phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn (30 đối tượng này sẽ không tham gia vào 171 đối tượng nghiên cứu sẽ được điều tra sau đó) để xác định tính khả thi của bộ thu thập dữ liệu, khả năng áp dụng của quá trình lấy mẫu và để đánh giá sự hiểu biết, độ dài, khả năng được chấp nhận của bộ công cụ Các kết quả sẽ được sử dụng để chỉnh sửa và cập nhật bộ công cụ cho phù hợp bằng cách điều chỉnh các câu hỏi và những lựa chọn của câu trả lời mà ban đầu không rõ ràng trong bộ công cụ

2.6.3 Phương pháp thu thập thông tin/dữ liệu

Thông tin/dữ liệu sẽ được thu thập trong khoảng 3 tháng từ ngày 01/6/2016 đến ngày 31/8/2016 Người thu thập số liệu tại phòng khám sẽ sử dụng bộ câu hỏi tự điền để điều tra các bệnh nhân đái tháo đường đủ tiêu chuẩn trước khi họ được khám và điều trị.

Tiến trình thu thập thông tin/dữ liệu

- Bước 1: Lựa chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu vào thời điểm trước khi người bệnh được khám và điều trị

- Bước 2: Những đối tượng đủ tiêu chuẩn sẽ được giới thiệu mục đích, nội dung, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu Nếu đồng ý tham gia nghiên cứu thì ký vào bản đồng thuận (phụ lục 1) và được phổ biến hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin trong bộ câu hỏi

Ở Bước 3 của nghiên cứu, những đối tượng tham gia sẽ trả lời toàn bộ bộ câu hỏi về kiến thức tự chăm sóc đái tháo đường (phụ lục 2) Bộ câu hỏi được thiết kế nhằm đánh giá mức độ hiểu biết và kỹ năng tự quản lý bệnh lý của người tham gia Thời lượng phỏng vấn được ấn định và thông báo trước cho người tham gia để đảm bảo thu thập đủ thông tin mà vẫn tôn trọng thời gian của họ.

Các biến số nghiên cứu

-Tuổi:đơn vị là năm, được tính bằng 2016 trừ đi năm sinh

- Giới: có hai giá trị là nam và nữ

- Dân tộc: Kinh, Thái, H’Mông và các dân tộc ít người khác

-Trình độ học vấn:bậc giáo dục cao nhất đã đạt được bao gồm:không biết chữ, tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng đại học và sau đại học

-Thời gian bị bệnh:đơn vị tính là năm, là khoảng thời gian kể từ ngày được chẩn đoán bệnh lần đầu tiên đến thời điểm lấy số liệu

- Nguồn tiếp nhận thông tin:Người bệnh có được kiến thức tự chăm sóc đái tháo đường type 2 từ nguồn nào

Mức độ kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2:bao gồm điểm của người bệnhthu được qua bộ câu hỏi.

Tiêu chuẩn đánh giá

Điểm số được tính như sau: mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, câu trả lời sai hoặc chưa biết được 0 điểm; tổng điểm tối đa là 38 và tỷ lệ điểm được xác định bằng cách chia điểm người bệnh đạt được cho 38 Để đánh giá mức độ kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường, người bệnh được phân thành ba nhóm dựa trên tỷ lệ phần trăm điểm: ≥75% được xem là có kiến thức ở mức tốt, 60–74% ở mức trung bình, và ≤59% ở mức kém Các điểm số này được sử dụng để xác định mức độ kiến thức tổng thể.

Phương pháp phân tích số liệu

Dữ liệu thu thập được được bảo quản trong môi trường an toàn nhằm ngăn ngừa mất mát và vi phạm bí mật Sau khi thu thập, toàn bộ dữ liệu sẽ được làm sạch, xác nhận, mã hóa, xử lý và lưu trữ vào cuối mỗi ngày bởi các nhà nghiên cứu chính.

Sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 22.0 để phân tích

- Đối với các biến số định lượng liên tục, nếu biến số là hàm phân phối chuẩn, mô tả bằng giá trị trung bình, độ lệch chuẩn

- Đối với các biến số định tính (biến nhị phân, biến định danh, biến thứ tự): mô tả bằng tần suất và tỷ lệ

- Tìm yếu tố liên quanthông qua phân tích tương quan Pearson và Chi- square.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu này được phê duyệt bởi Hội đồng đạo đức và có sự đồng ý của lãnh đạo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, được sự cho phép của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên Lời đồng ý bằng văn bản đã được thu thập từ tất cả các người bệnh tham gia nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu đã được giải thích đầy đủ cho người tham gia; các rủi ro, lợi ích và vấn đề bảo mật được truyền đạt trước khi tham gia Tham gia là tự nguyện và các người tham gia được khuyến khích hoàn thành nghiên cứu nhưng họ có quyền rút lui bất cứ lúc nào mà không ảnh hưởng đến chăm sóc y tế của mình Cuộc phỏng vấn có thể dừng bất cứ thời điểm nào nếu người bệnh không thể tiếp tục trả lời do sức khỏe Lời khuyên về kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường được cung cấp đầy đủ Không nhận dạng người bệnh được sử dụng trong các mục nhập dữ liệu và mọi dữ liệu được giữ bí mật.

Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

- Có hạn chế của một nghiên cứu cắt ngang Không nghiên cứu được các thời điểm trước đó

Đây là một nghiên cứu bước đầu nhằm điều tra và đánh giá kiến thức của người bệnh đái tháo đường type 2 về tự chăm sóc, và không tiến hành bất kỳ sự can thiệp hỗ trợ nào trong suốt thời gian nghiên cứu Nghiên cứu tập trung khảo sát mức độ hiểu biết về quản lý bản thân ở người bệnh đái tháo đường type 2, bao gồm nhận thức về chế độ ăn, hoạt động thể chất, kiểm soát đường huyết và nhận diện các dấu hiệu biến chứng, nhằm đưa ra dữ liệu cơ bản để phát triển các chương trình giáo dục sức khỏe và can thiệp tiếp theo.

- Để hạn chế các sai số trong khi thu thập thông tin, chúng tôi tiến hành phỏng vấn thử người bệnh để điều chỉnh bộ câu hỏi và kiểm tra chất lượng thông tin trước khi tiến hành nghiên cứu

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1: Phân bố tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu phần lớn nằm trong nhóm tuổi từ 50-60, chiếm 43.3%; nhóm tuổi trên 60 tuổi chiếm 38.6%; nhóm tuổi từ 40 - 50 tuổi chiếm 16.4%; nhóm tuổi dưới 40 chiếm 1.8% Tuổi trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 58.86 ± 9.674tuổi Người bệnh có tuổi thấp nhất là 34 tuổi Người bệnh có tuổi cao nhất là 79 tuổi

Biểu đồ 3.1: Phân bố dân tộc của đối tượng nghiên cứu Nhận xét: Trong nhóm đối tượng nghiên cứu, nhiều nhất là dân tộc Kinh chiếm 72.5%; đứng thứ hai là dân tộc Thái chiếm 21.6%; và các dân tộc khác chiếm 5.9%

Biểu đồ 3.2:Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

Không biết chữ Tiểu học Trung học Phổ thông Trung cấp,

Cao đẳng Đại học trở lên

Nhận xét: Nhóm đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn Phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất là 33.9%; Tiểu học chiếm 19.3%; Trung học cơ sở chiếm 17.5%; Đại học trở lên chiếm 15.8%; Trung cấp, Cao đẳng chiếm 12.9% và có 0.6% là không biết chữ

Biểu đồ 3.3: Phân bố khu vực sống của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Đối tượng trong nhóm nghiên cứu chủ yếu sống ở khu vực thành phố, chiếm 53.2%, 44.4% sống ở các huyện quanh thành phố và 2.3% là sống ở thị xã

Bảng 3.2: Chỉ số khối cơ thể của đối tượng nghiên cứu

BMI Số lượng người bệnh Tỷ lệ %

Thành phố Thị xã Huyện khác

Nhận xét: 93.0% trong nhóm đối tượng nghiên cứu có thể trạng trung bình; 5.3% thừa cân và 1.8% có thể trạng gầy BMI trung bình là 22.747 ± 1.6042

Bảng 3.3: Người cùng sống và bảo hiểm y tế của đối tượng nghiên cứu

- 97.1% trong nhóm đối tượng nghiên cứu có người cùng sống; 2.9% là sống một mình

- 91.8% trong nhóm đối tượng nghiên cứu có bảo hiểm y tế; 8.2% là không có

Bảng 3.4 Tần suất khám sức khỏe định kỳ của đối tượng nghiên cứu

Tần suất Số lượng người bệnh Tỷ lệ %

Nhận xét cho thấy 72.5% của nhóm đối tượng nghiên cứu thường xuyên đi khám sức khỏe định kỳ mỗi tháng một lần; 15.2% đi khám 2-3 tháng một lần; 1.2% đi khám trên 4 tháng một lần và 11.1% không bao giờ tham gia khám sức khỏe định kỳ.

Bảng 3.5:Thời gian bị đái tháo đường type 2 của đối tượng nghiên cứu

Số năm Số lượng người bệnh Tỷ lệ %

Nhận xét: Trong nhóm đối tượng nghiên cứu có 60.8% là có thời gian bị bệnh từ trên 1 năm đến 5 năm; 25.7% từ trên 5 năm đến 10 năm; 11.7% nhỏ hơn và bằng 1 năm và 1.8% có thời gian bị bệnh trên 10 năm Thời gian bị bệnh trung bình là 4.28 ± 2.4332, người thấp nhất là 7 tháng, người bị lâu nhất là 13 năm

3.2 Mức độ kiến thức tự chăm sóc trong đái tháo đường type 2 và những thiếu hụt trong kiến thức của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.6: Kiến thức về chế độ ăn của người bệnh tham gia nghiên cứu

Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai/

5 Hút thuốc lá có thể làm trầm trọng thêm bệnh đái tháo đường 120 70.2 51 29.8

22 Chế độ ăn uống trong bệnh đái tháo đường 152 88.9 19 11.1

23 Xác định thực phẩm chứa lượng tinh bột cao nhất 150 87.7 21 12.3

24 Xác định thực phẩm chứa lượng chất béo cao nhất 33 19.3 138 80.7

25 Xác định thực phẩm không có năng lượng 95 55.6 76 44.4

27 Ảnh hưởng của nước trái cây không đường đến đường máu 96 56.1 75 43.9

Nhận xét: Đa số đối tượng nghiên cứu còn thiếu kiến thức về việc lựa chọn và tác dụng của các loại thực phẩm

Bảng 3.7: Kiến thức về dùng thuốc của người bệnh tham gia nghiên cứu

Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai/

6 Khi người bệnh đái tháo đường cảm thấy khỏe thì không cần dùng thuốc 159 93.0 12 7.0

7 Uống rượu bia trong khi đang sử dụng các loại thuốc điều trị đái tháo đường không phải là một vấn đề nghiêm trọng

10 Việc sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường không cần phải duy trì suốt đời 112 65.5 59 34.5

35 Cách xử trí khi quên tiêm Insulin trước bữa ăn sáng 111 64.9 60 35.1

37 Mức đường trong máu sẽ thay đổi như nào khi dùng Insulin buổi sáng nhưng lại bỏ qua bữa sáng

Nhận xét: Phần lớn đối tượng nghiên cứu đã biết được tác dụng, tầm quan trọng và cách sử dụng thuốc

Bảng 3.8: Kiến thức về hoạt động thể chất của người bệnh tham gia nghiên cứu

Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai/

2 Hoạt động thể chất (đi bộ nhanh, làm việc nhà…) 20-30 phút mỗi lần và ít nhất là 3 ngày một tuần là rất cần thiết

8 Chế độ ăn uống và tập thể dục không quan trọng bằng thuốc kiểm soát bệnh đái tháo đường

29 Ảnh hưởng của tập thể dục đến đường máu đối với một người kiểm soát đường máu tốt

Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu đã có nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động thể chất đối với bệnh đái tháo đường type 2

Bảng 3.9: Kiến thức về phòng ngừa và xử trí biến chứng của người bệnh tham gia nghiên cứu

Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai/

12 Người bị bệnh đái tháo đường nên chăm sóc cẩn thận bàn chân của mình đặc biệt là khi cắt móng chân

13 Người bị bệnh đái tháo đường nên sử dụng loại tất mềm, có độ đàn hổi tốt, không được bó chặt chân

14 Người bị bệnh đái tháo đường nên chăm sóc răng miệng bằng bàn chải và chỉ nha khoa mỗi ngày

17 Người bị bệnh đái tháo đường nên báo cáo với bác sĩ bất kỳ sự thay đổi nào về thị lực của mình

19 Run rẩy, lú lẫn, thay đổi hành vi và đổ mồ hôi là dấu hiệu của lượng đường trong máu tăng cao

23 Duy trì đường máu cao trong thời gian dài có thể gây ra các vấn đề về mắt bao gồm cả mù lòa

28 Xác định thực phẩm không được dùng để xử trí hạ đường máu 55 32.2 116 67.8

30 Ảnh hưởng của nhiễm trùng đến đường 93 54.4 78 45.6 máu

31 Cách tốt nhất để chăm sóc đôi bàn chân 115 67.3 56 32.7

32 Ăn thức ăn ít chất béo làm giảm nguy cơ mắc bệnh gì 116 67.8 55 32.2

33 Tê bì và ngứa là triệu chứng của bệnh nào 117 68.4 54 31.6

34 Vấn đề nào thường không liên quan đến bệnh đái tháo đường 125 73.1 46 26.9

Những nhận xét cho thấy đa số đối tượng nghiên cứu đã nắm vững kiến thức về phòng ngừa Tuy nhiên, họ vẫn thiếu hiểu biết về việc phát hiện và cách xử trí khi có biến chứng.

Bảng 3.10: Kiến thức về tự theo dõi đường máu của người bệnh tham gia nghiên cứu

Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai/

15 Khi lượng đường trong máu gần bình thường, người bệnh có thể sẽ có nhiều năng lượng hơn, cảm thấy ít khát nước và đi tiểu ít hơn bình thường

16 Chỉ có bác sĩ và các nhân viên y tế mới có thể kiểm tra lượng đường trong máu và huyết áp của người bệnh đái tháo đường

18 Tự theo dõi đường máu cho phép một người bị bệnh đái tháo đường có thể giám sát và phản ứng với những thay đổi của lượng đường trong máu của họ

21 Kiểm soát huyết áp không quan trọng bằng kiểm soát đường máu ở người bệnh đái tháo đường

26 Phương pháp tốt nhất trong việc kiểm tra đường máu 63 36.8 108 63.2

36 Nguyên nhân dẫn đến đường máu thấp 112 65.5 59 34.5

38 Nguyên nhân dẫn đến đường máu cao 121 70.8 50 29.2 Nhận xét: Phần lớn đối tượng nghiên cứu đã có kiến thức về tự theo dõi đưỡng máu

Bảng 3.11: Kiến thức về theo dõi chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 của người bệnh tham gia nghiên cứu

Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai/

1 Chỉ nhân viên y tế mới có thể lập kế hoạch để giúp một người bệnh đái tháo đường đạt được mục tiêu của mình

3 Duy trì cân nặng lý tưởng là không quan trọng trong quản lý bệnh đái tháo đường 135 78.9 36 21.1

4 Người bệnh đái tháo đường chỉ đến các cơ sở y tế khi họ cảm thấy ốm yếu 128 74.9 43 25.1

9 Kiểm tra sức khỏe thường xuyên là không cần thiết khi một người mắc bệnh đái tháo đường cảm thấy khỏe

11 Người bệnh đái tháo đường cần nhận được lời khuyên thích hợp về tự chăm sóc ngay từ lúc bắt đầu được chẩn đoán là đái tháo đường

Nhận xét: Đối tượng còn thiếu kiến thức liên quan để xây dựng kế hoạch chăm sóc riêng cho bản thân

Bảng 3.12: Kiến thức tự chăm sóc đái tháo đường type 2 củangười bệnh tham gia nghiên cứu

Nội dung Tốt Trung bình Kém Điểm trung bình n % n % n %

Tự theo dõi đường máu 40 23.4 35 20.5 96 56.1 4.42 ± 1.332

(63.1%±19%) Phòng và xử trí biến chứng 64 37.4 21 12.3 86 50.3 7.66 ± 1.736

Nhận xét cho thấy 64.9% đối tượng nghiên cứu có kiến thức tự chăm sóc bệnh đái tháo đường type 2 ở mức trung bình, 19.9% ở mức tốt và 15.2% ở mức kém Điểm trung bình là 25.57 ± 3.259, với điểm thấp nhất 18 và cao nhất 33.

Người bệnh đã có kiến thức tốt về hoạt động thể chất và theo dõi chăm sóc, có kiến thức ở mức trung bình về chế độ ăn, sử dụng thuốc, tự theo dõi đường máu, phòng và xử trí biến chứng Đặc biệt người bệnh còn thiếu hụt kiến thức ở chế độ ăn, tự theo dõi đường máu, phòng và xử trí biến chứng

3.3 Sự liên quan của một số yếu tố và kiến thức tự chăm sóc trong đái tháo đường type 2 của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3.4:Sự tương quan giữa tuổi và mức độ kiến thức của đối tượng

Nhận xét: Không nhận thấy có sự tương quan giữa tuổi và mức độ kiến thức của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.13: Sự tương quan giữa giới của đối tượng và mức độ kiến thức

Giới Kém Trung bình Tốt Điểm trung bình n % n % n %

Nhận xét: Không nhận thấy có sự khác nhau về mức độ kiến thức giữa hai giới nam và nữ của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.14: Sự tương quan giữa dân tộc của đối tượng và mức độ kiến thức

Dân tộc Kém Trung bình Tốt Tổng n % n % n % n %

Nhận xét: Không nhận thấy có sự khác nhau về mức độ kiến thức giữa các dân tộc của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.15: Sự tương quan giữa trình độ học vấn và mức độ kiến thức của đối tượng

Kém Trung bình Tốt Tổng n % n % n % n %

Trung cấp, Cao đẳng 0 0 14 8.2 8 4.7 22 12.9 Đại học trở lên 1 0.6 19 11.1 7 4.1 27 15.8 r 0.37 p

Ngày đăng: 01/09/2021, 10:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Y tế (2015). Chế độ ăn cho người bệnh đái tháo đường. http://moh.gov.vn:8086/news/pages/tinkhac.aspx?ItemID=1111, xem 15/8/2016 Link
12. ADA (2015). Types of Activity. http://www.diabetes.org/food-and-fitness/fitness/types-of-activity/what-we-recommend.html, xem 15/8/2016 Link
33. Healthline Editorial Team (2014). Diabetes Complications. http://www.healthline.com/health/diabetes-complications, xem 15/8/2016 Link
1. Bệnh viện Nội tiết Trung ương (2013). Báo cáo Hội nghị tổng kết hoạt động của Dự án phòng chống đái tháo đường quốc gia năm 2012 và triển khai kế hoạch năm 2013 Khác
3. Bộ Y tế (2011). Quyết định về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường type 2 Khác
5. Cao Mỹ Phượng (2012). Nghiên cứu kết quả can thiệp cộng đồng phòng chống tiền đái tháo đường – đái tháo đường týp 2 tại huyện Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Huế Khác
6. Nguyễn Văn Lành (2014). Thực trạng bệnh đái tháo đường, tiền đái tháo đường ở người Khmer tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp, Luận án tiến sĩ Y học, Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương Khác
7. Tạ Văn Bình (2006). Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam, các phương pháp điều trị và biện pháp phòng chống. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Khác
8. Tạ Văn Bình (2012). Thực trạng bệnh đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ ở 4 thành phố lớn của Việt Nam. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. Tạp chí Nội tiết đái tháo đường, Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI Khác
9. Trần Minh Long, Nguyễn Văn Hoàn, Lê Thị Giang (2012). Một số yếu tố liên quan đái tháo đường type 2 ở đối tượng có nguy cơ cao nhóm tuổi từ 30 - 69 tại tỉnh Nghệ An năm 2010. Tạp chí Nội tiết đái tháo đường, Hội nghị Nội tiết đái tháo đường toàn quốc lần thứ VI Khác
10. Ủy ban Giáo dục và Chăm sóc Y tế bệnh Đái tháo đường Úc (2010). Theo dõi đường trong máu. Cục xuất bản Quốc gia, Úc.Tài liệu tham khảo tiếng Anh Khác
11. Abrahim M (2011).Self-Care in Type 2 Diabetes: A Systematic Literature Review on Factors Contributing to Self-Care among Type 2Diabetes Mellitus Patients, Master’s Theses, Linnaus University Khác
13. ADA (2016). Standards of Medical care in diabetes. The Journal of Clinical and Applied Research and Education, 39(1) Khác
14. Adam Kaufman (2012). Engaging Individuals with Diabetes in Self-Care. MDPA Magazine, 20-21 Khác
15. Al-Adsani A.M.S, Moussa M.A.A, Al-Jasem L.I et al (2009). The level and determinants of diabetes knowledge in Kuwaiti adults with type 2 diabetes.Diabetes metabolism, 35(2), 121-8 Khác
16. American Association of Diabetes Edicators (2009). Guidelines for the Practice of Diabetes Self-Management Education and Training Khác
17. Anderson R.J, Freedland K.E, Clouse R.E et al (2001). The prevalence of comorbid depression in adults with diabetes: a meta-analysis. Diabetes Care, 24, 1069-1078 Khác
18. Anderson R.M, Funnell M.M (2000). Compliance and adherence are dysfunctional concepts in diabetes care. The Diabetes Educator, 26(4), 597- 604 Khác
19. Appe L.J, Moore T.J, Obarzanek E et al (1997). A Clinical Trial of the Effects of Dietary Practices on Blood Pressure. New England Journal of Medicine, 336(16), 1117 - 1124 Khác
20. Asman M (2008). Effect of metformin therapy on plasma adiponectin in obesity with prediabetes patients. Faculty of Medecine, Andalas University, Indonesia Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w