Quản lý môi trường đô thị là môn học được giảng dạy cho các lớp đại học ngành Khoa học môi trường, khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, trường Đại học Lâm nghiệp Vi[r]
Trang 1DƯƠNG THỊ BÍCH NGỌC
Bài giảng
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP, 2013
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU Quản lý môi trường đô thị là môn học được giảng dạy cho các lớp đại học ngành Khoa học môi trường, khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, đến nay Nhà trường vẫn chưa biên soạn được bài giảng, giáo trình cho môn học này Việc tham khảo giáo trình và tài liệu Quản lý môi trường đô thị của các trường khác có thể chưa phù hợp với khung chương trình của ngành khoa học môi trường tại trường Đại học Lâm nghiệp Do đó, để sinh viên có thể vận dụng được kiến thức Quản lý môi trường đô thị vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của ngành, nâng cao chất lượng đào tạo của sinh viên tốt nghiệp thì việc biên soạn bài giảng Quản lý môi trường đô thị là rất cần thiết
Bài giảng môn học Quản lý môi trường đô thị được biên soạn theo đề cương môn học của ngành Khoa học Môi trường trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam Bài giảng được tổng hợp, phân tích và biên dịch từ nhiều nguồn tài liệu được công bố trong và ngoài nước Nội dung của bài giảng được thể hiện trong 5 chương và được bố trí theo chiều sâu tăng dần: Chương 1: Đô thị và môi trường đô thị; Chương 2: Hiện trạng môi trường đô thị Việt Nam; Chương 3: Quản lý các thành phần môi trường đô thị; Chương 4: Hệ thống thông tin trong quản lý môi trường đô thị; Chương 5: Một số giải pháp tiêu biểu cải thiện môi trường đô thị.Trong đó chương 1 và 2 giới thiệu những khái niệm và các thành phần cơ bản về môi trường đô thị, sơ lược quá trình phát triển và thực trạng môi trường đô thị ở Việt Nam Các công cụ và các biện pháp nhằm quản lý môi trường đô thị được trình bày trong chương 3 Tiếp đó, trong chương 4 sinh viên
sẽ được tìm hiểu về khái niệm, vai trò của hệ thống thông tin quản lý môi trường
đô thị, các phương pháp đánh giá môi trường đô thị, và đặc biệt là ứng dụng của công cụ GIS trong quản lý và quy hoạch môi trường đô thị Cuối cùng, thông qua chương 5 sinh viên sẽ được giới thiệu một số bài học và những kinh nghiệm
về việc khắc phục các hậu quả tiêu cực trong môi trường đô thị ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Mặc dù đã cố gắng, song trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc và đồng nghiệp để bài giảng được hoàn thiện hơn
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: Bộ môn Quản lý Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp, Email: ngocdtb@vfu.edu.vn , bngocmt@yahoo.com
Tác giả
Trang 5Các khái niệm và tiêu chí đánh giá về đô thị cũng khác nhau:
- Theo C.Mác và Angghen trong tác phẩm "Tư tưởng Đức" đã cho rằng, điều kiện quan trọng nhất hình thành đô thị là "Sự phân công lao động trong một quốc gia dẫn đến việc tách lao động công nghiệp, thương mại khỏi sản xuất nông nghiệp, từ đó tạo ra hai kiểu phân bố dân cư là đô thị và nông thôn, chúng đối lập nhau về lợi ích"
V.I Lê Nin định nghĩa "Đô thị là trung tâm kinh tế, chính trị và tinh thần của đời sống nhân dân và là động lực của sự tiến bộ"
- V.Gu - Liev định nghĩa "Thành phố của một chế độ nào đó là một điểm dân cư lớn, giữa vai trò là trung tâm chính trị - hành chính, văn hoá và kinh tế có vai trò hấp dẫn và thúc đẩy vùng phụ cận phát triển"
Tại Việt Nam cũng tồn tại khá nhiều các khái niệm, định nghĩa về đô thị như:
- Theo giáo trình Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị thì đô thị Việt Nam được hiểu là: "một khu dân cư, trong đó lực lượng lao động chủ yếu là phi nông nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị"
- Theo Luật Quy hoạch đô thị: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành,
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.”
- Theo nghị định 29/2009/NĐ-CP về quản lý kiến trúc đô thị: “Đô thị là phạm vi ranh giới địa chính nội thị của thành phố, thị xã và thị trấn; bao gồm các quận và phường, không bao gồm phần ngoại thị”
Trang 6- Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP và số 42/2009-NĐ-CP của Chính phủ về phân loại đô thị, phân cấp quản lý đô thị, đô thị là khu dân cư bảo đảm các điều kiện theo qui định của Nhà nước như sau:
a/ Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập;
b/ Các yếu tố cơ bản hình thành một đô thị gồm:
Chức năng là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65% trong tổng số lao động;
Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị; Quy mô dân số ít nhất là
4000 người; Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị
Kiến trúc, cảnh quan đô thị phát triển theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị, phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
Như vậy để được gọi là một đô thị tại Việt Nam thì phải đạt được các yếu
tố tối thiểu đã quy định hai nghị định 72 và 42 này
1.1.2 Phân loại đô thị
Trong lĩnh vực nghiên cứu quy hoạch, quản lý xây dựng đô thị nhiều nước đã xây dựng tiêu chí phân loại đô thị trên cơ sở hai nhóm yếu tố tạo thị:
Theo quy mô dân số: đô thị được xác định, phân loại gồm các siêu đô thị,
đô thị cực lớn, đô thị lớn, đô thị trung bình, đô thị nhỏ:
Siêu đô thị là những đô thị có quy mô rất lớn, trên 10 triệu dân, phát triển
và có ảnh hưởng trong vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm nhiều đô thị và điểm dân
cư Đô thị cực lớn có quy mô trên 1 triệu dân; Đô thị rất lớn có quy mô từ 50 vạn đến 1 triệu dân; Đô thị lớn có dân số từ 25 vạn - 50 vạn; Đô thị trung bình quy mô dân số: 10 vạn - 25 vạn; Đô thị nhỏ quy mô dân số dưới 10 vạn người
Phân loại theo chức năng, tính chất: đô thị được phân thành các loại phụ thuộc vào hoạt động kinh tế-xã hội nổi trội và là yếu tố tạo thị chủ yếu: đô thị công nghiệp, đô thị hành chính, đô thị trung tâm, đô thị văn hoá, đô thị du lịch,
đô thị lịch sử, đô thị khoa học, đào tạo:
Trang 7Đô thị công nghiệp: đô thị lấy sản xuất công nghiệp làm hoạt động chính
và là yếu tố chủ đạo cấu tạo nên đô thị đó;
Đô thị đầu mối giao thông: được hình thành do sự tập trung cao về giao thông vận tải, đòi hỏi phải có các công trình công cộng, dịch vụ, công nghiệp có liên quan được xây dựng đồng bộ;
Đô thị có tính chất khoa học, giáo dục: chủ yếu được hình thành và phát triển từ hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo, giáo dục, dẫn đến cơ cấu chức năng, hệ thống công trình kiến trúc, hạ tầng cũng như cơ cấu dân cư và lao động chủ yếu mang tính chất nghiên cứu khoa học, đào tạo;
Đô thị du lịch: được hình thành do sự tập trung các hoạt động du lịch, trên
cơ sở khai thác điều kiện thiên nhiên nhằm phục vụ nhu cầu giải trí nghỉ ngơi Việc khai thác và xây dựng các công trình du lịch quyết định các mặt quản lý xây dựng và phát triển chủ yếu của đô thị (Điều 33 Luật Du lịch năm 2005)
Đô thị di sản, đô thị lịch sử: nơi tập trung các di sản văn hoá lịch sử có giá trị được quốc gia, quốc tế công nhận Việc quản lý xây dựng và phát triển đô thị căn cứ chủ yếu trên yêu cầu bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá, lịch sử
Đô thị hành chính: Do yêu cầu hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội của các đơn vị hành chính lãnh thổ tập trung các cơ quan quản lý đòi hỏi hình thành
và phát triển những đô thị giữ vai trò trung tâm chính trị, văn hoá, quản lý hành chính Trong hệ thống quản lý hành chính các nước loại đô thị này thường là đô thị trung tâm hành chính tỉnh, vùng lãnh thổ, thủ đô, thủ phủ bang, đơn vị lãnh thổ hành chính khác
Ngoài ra căn cứ những đặc thù nổi trội về tự nhiên, môi trường, tính chất
xã hội, lịch sử, đô thị có thể được phân thành các loại đô thị sinh thái, đô thị xanh, thành phố công viên, thành phố anh hùng
Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP và số 42/2009-NĐ-CP của Chính phủ
về phân loại đô thị, phân cấp quản lý đô thị, đô thị được phân thành 6 loại gồm:
Đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận; theo những tiêu chí như sau:
Chức năng đô thị: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
Trang 8Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động
Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội
và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: i) Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; ii) Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng
hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững
Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
Căn cứ tiêu chí trên, đô thị Việt Nam gồm 6 loại: Đô thị loại đặc biệt, loại
I, loại II, loại III, loại IV và loại V
Bảng 1.1 Phân loại đô thị tại Việt Nam
> 90% phi nông nghiệp
100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng
> 12.000 người/km2 hoặc 10.000 người/km2
> 85% phi nông nghiệp
100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng
công nghệ sạch
> 50% các trục phố chính phải đạt tiêu chuẩn tuyến
phố văn minh
Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ
Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn
Trang 9Loại 2 > 800 nghìn hoặc 300 nghìn người
> 10.000 người/km2 hoặc 8.000 người/km2
> 80% phi nông nghiệp
100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp
dụng công nghệ sạch
> 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn
tuyến phố văn minh
Vũng Tàu; Hải Dương; Thanh Hóa; Pleiku; Phan Thiết; Cà Mau
Loại 3 > 150 nghìn người
> 6.000 người/km2
> 75% phi nông nghiệp
100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp
dụng công nghệ sạch
> 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn
tuyến phố văn minh
Lào Cai, Lạng Sơn, Vĩnh Yên , Móng Cái, Uông
Bí, Đồng Hới Quảng Ngãi
Loại 4 > 50 nghìn người
> 4.000 người/km2
> 70% phi nông nghiệp
Các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng
> 65% phi nông nghiệp
Cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng
là một thách thức lớn Do đó với mỗi loại đô thị thì sẽ tương ứng với các cấp quản lý khác nhau về mặt hành chính
1.1.3 Phân cấp quản lý đô thị
Thành phố trực thuộc trung ương tương đương cấp tỉnh phải là đô thị loại
I hoặc loại II do trung ương quản lý Các thành phố thuộc tỉnh, các thị xã tương đương với cấp huyện đa số thuộc đô thị loại III và IV, một số ít có thể thuộc loại
V và do tỉnh quản lý Các thị trấn tương đương cấp xã thuộc đô thị loại V chủ
Trang 10Tuy nhiên do tình hình phát triển không đồng đều giữa các đô thị trên toàn quốc và trong từng vùng, cho nên vị trí, vai trò và tính chất đô thị đối với từng vùng lãnh thổ cũng khác nhau Trong một số trường hợp đặc biệt một số đô thị được phân cấp quản lý cao hơn hoặc thấp hơn một bậc so với quy định trên 1.2 Môi trường đô thị
1.2.1 Thành phần môi trường đô thị
Môi trường đô thị bao gồm các thành phần tự nhiên và nhân tạo phục vụ cho nhu cầu sống, làm việc, nghỉ ngơi của con người
Thành phần tự nhiên của môi trường đô thị như địa hình, đất, nước, không khí, khí hậu, động thực vật, các hệ sinh thái, sông ngòi, ao hồ
Các thành phần nhân tạo bao gồm các thành phần vật chất và phi vật chất: Thành phần vật chất bao gồm: toàn bộ các công trình xây dựng theo chức năng đô thị phục vụ cho các nhu cầu sống, làm việc và nghỉ ngơi của con người như nhà ở, hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện và các công trình dịch vụ phúc lợi khác; các công trình thể thao, giải trí văn hóa; Hạ tầng giao thông; Hạ tầng môi trường đô thị để đảm bảo nhu cầu nước sạch, năng lượng, xử lý chất thải, chất thải rắn; Công viên, cây xanh, quảng trường, nhà hát; Các công trình sản xuất, nhà máy, xí nghiệp Trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chất lượng môi trường, chăm sóc sức khỏe con người Chất lượng cơ sở hạ tầng phản ánh hiện trạng kinh tế xã hội của một đô thị
Thành phần phi vật chất bao gồm: kinh tế xã hội, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật Đô thị có phát triển và bền vững hay không phụ thuộc chủ yếu vào
ba yếu tố này Phát triển kinh tế xã hội có tác dụng tích cực làm thay đổi cuộc sống và bộ mặt đô thị nhưng cũng có mặt tiêu cực là tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên và thải ra nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường Con người phải không ngừng nâng cao dân trí thì mới đủ trình độ để phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường Khoa học kỹ thuật và công nghệ có tác dụng thúc đẩy sản xuất và làm thay đổi cuộc sống đô thị, làm biến đổi môi trường đô thị theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực
1.2.2 Đặc trưng cơ bản của môi trường đô thị
Đặc trưng cơ bản của môi trường đô thị là sự biến đổi không ngừng, các thành tố tự nhiên được thay thế bằng nhân tạo, môi trường tự nhiên và nhân tạo luôn biến động trong quá trình đô thị hóa làm cho cảnh quan môi trường và bộ mặt đô thị không ngừng thay đổi theo cả hai hướng có lợi và bất lợi Phát triển
Trang 11kinh tế xã hội có tác dụng tích cực làm thay đổi cuộc sống và bộ mặt đô thị những cũng có mặt tiêu cực là tiêu tốn nhiều tài nguyên thiên nhiên và thải ra nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường
Đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc và tác động mạnh nhất đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, là một hệ sinh thái mở có quan hệ mật thiết với các đối tượng xung quanh nhưng hệ sinh thái này rất nhạy cảm và dễ bị nhiễu loạn, suy thoái Đô thị tiêu thụ phần lớn nguyên nhiên liệu của thế giới và kéo theo là một lượng lớn chất thải phát sinh Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp và mâu thuẫn trong phát triển cân bằng giữa nông thôn và thành thị
1.3 Đô thị hóa
1.3.1 Khái niệm về đô thị hóa
Đô thị hóa (Urbanization) là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là
sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất
và đời sống
Khái niệm về đô thị hóa rất đa dạng, bởi vì đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển Các nhà khoa học xem xét và quan sát hiện tượng đô thị hóa từ nhiều góc độ khác nhau
Quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa đất nước Quá trình đô thị hóa là một quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp,
cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị
Mức độ đô thị hóa được tính bằng tỉ lệ phần trăm số dân đô thị so với tổng dân số toàn quốc hay vùng Tỷ lệ dân số đô thị được coi như thước đo về đô thị hóa để so sánh mức độ đô thị hóa giữa các nước với nhau hoặc các vùng khác nhau trong một nước
Tỉ lệ phần trăm dân số đô thị không phản ánh đầy đủ mức độ đô thị hóa của các nước đó Ngày nay, do nền kinh tế phát triển cao cũng như qua nhiều thế
kỷ phát triển, đô thị và công nghiệp hóa đất nước đã ổn định ở các nước phát triển và phát triển cao Chất lượng đô thị hóa ở đây phát triển theo các nhân tố chiều sâu Đó là việc nâng cao chất lượng cuộc sống, tận dụng tối đa những ảnh hưởng tốt của quá trình đô thị hóa nhằm hiện đại hóa cuộc sống và nâng cao chất lượng môi trường đô thị
Trang 12số đô thị không hoàn toàn dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp Hiện tượng bùng nổ dân số bên cạnh sự phát triển yếu kém của công nghiệp đã làm cho quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mất cân đối, sự mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn càng thêm sâu sắc Sự chênh lệch về đời sống đã thúc đẩy sự dịch chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị một cách ồ ạt, làm cho đô thị phát triển nhanh chóng đặc biệt là ở các đô thị lớn, đô thị trung tâm, tạo nên những điểm dân cư đô thị cực lớn mất cân đối trong sự phát triển hệ thống dân cư
1.3.2 Các quá trình đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với quá trình phát triển kinh tế xã hội, văn hóa và không gian kiến trúc Nó gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới Quá trình đô thị hóa có thể được chia làm 3 thời kỳ:
Thời kỳ tiền công nghiệp (trước thế kỷ XVIII)
Đô thị hóa phát triển mang đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp Các
đô thị phân tán, quy mô nhỏ phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu đơn giản Tính chất đô thị lúc bấy giờ chủ yếu là hành chính, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Thời kỳ công nghiệp (đến nửa thế kỷ thứ XX)
Các đô thị phát triển mạnh, song song với quá trình công nghiệp hóa Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm cho nền văn minh đô thị phát triển nhanh chóng, sự tập trung sản xuất và dân cư đã tạo nên những đô thị lớn và cực lớn
Cơ cấu đô thị phức tạp hơn, đặc biệt là các thành phố mang nhiều chức năng khác nhau (nửa sau thế kỷ XX) như thủ đô, thành phố cảng Đặc trưng của thời
kỳ này là sự phát triển thiếu kiểm soát của các thành phố
Thời kỳ hậu công nghiệp
Sự phát triển của công nghệ tin học đã làm thay đổi cơ cấu sản xuất và phương thức sinh hoạt ở các đô thị Không gian đô thị có cơ cấu tổ chức phức tạp, quy mô lớn Hệ thống tổ chức dân cư đô thị phát triển theo kiểu cụm, chùm
và chuỗi
Sơ lược về đô thị hóa ở Việt Nam
Thời kỳ từ năm 1954 về trước
Trong suốt thời kỳ dài Việt Nam bị các triều đại Trung Quốc thống trị, sau đó là thuộc địa của Pháp Tốc độ đô thị hóa chậm, tuy đã hình thành hệ
Trang 13thống đô thị trong cả nước như Hội An, Cố đô Huế, Thành Thăng Long, Phố Hiến, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho… những đô thị này vẫn còn mang
rõ đặc trưng của nền sản xuất hàng hóa nhỏ, manh mún
Thời kỳ 1945 – 1975
Đây là thời kỳ đất nước chia làm hai miền:
Hệ thống đô thị miền Nam phát triển nhanh nhằm phục vụ cho bộ máy tham gia chiến tranh là chủ yếu chứ không phải do nhu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Điển hình là đô thị Sài Gòn, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Biên Hòa
và Nha Trang
Hệ thống đô thị miền Bắc được hình thành và phát triển tương đối đều trên cả vùng nhưng nhỏ bé (do vừa phải chi viện cho miền Nam, vừa xây dựng CNXH) Tốc độ đô thị hóa rất chậm, cơ sở vật chất nghèo nàn Một số đô thị được đầu tư phát triển khá hơn như Hà Nội, Việt Trì, Nam Định, Thái Nguyên, Hải Phòng, Vinh…
Thời kỳ 1975 – 1986
Đây là thời kỳ đất nước thống nhất, tập trung mọi nguồn lực để khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và bảo vệ đất nước Hệ thống đô thị vừa và nhỏ được phát triển không đồng đều nên phải chủ trương phân bố lại dân cư, điều động “di dân theo kế hoạch” để phát triển kinh tế xã hội xây dựng đất nước
Thời kỳ 1986 đến nay
Đây là thời kỳ đổi mới, đất nước xóa bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN Do vậy tốc độ kinh tế và đô thị hóa rất nhanh Năm 1990: 500 đô thị; Năm 2000: 649 đô thị, Năm 2006: 727 đô thị; Năm 2009: 754 đô thị Dân số đô thị từ 11,8 triệu người năm 1986 đã tăng lên
18 triệu người năm 1999 chiếm tỷ lệ 23,5%; giai đoạn 10 năm 1999-2009, dân
số thành thị đã tăng bình quân là 3,4%/năm, năm 2009 đạt gần 25,4 triệu người, chiếm 29,6% tổng số dân toàn quốc và tăng 6,1% so với năm 1999 Tỷ lệ dân số
đô thị năm 2010 là 29,9% tăng 2,04% so với năm 2009 (theo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, xác định đến năm 2010, tỷ lệ đô thị hoá ở Việt nam phải đạt khoảng 33% đến năm 2020 vào khoảng 43 -45%)
Mặc dù đã đạt những kết quả khả quan, tiến trình đô thị hoá Việt Nam diễn ra chưa đáp ứng chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 141.3.3 Các áp lực chính của đô thị hóa và công nghiệp hóa tác động trực tiếp lên tài nguyên và môi trường
Tài nguyên đất sẽ bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị và phát triển công nghiệp, tỷ lệ diện tích cây xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm, bề mặt đất thấm nước, thoát nước bị suy giảm; đất nông nghiệp và đất khác sẽ bị chiếm dụng để xây dựng nhà cửa và công trình đô thị, dân ở vùng đô thị hóa sẽ mất phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống; sẽ bị tác động mạnh mẽ bởi
ô nhiễm môi trường đô thị;
Các dòng vật liệu xây dựng, tài nguyên khoáng sản chuyển vào đô thị và khu công nghiệp rất lớn; nhu cầu tiêu thụ năng lượng và nhiên liệu không ngừng tăng;
Tăng nhu cầu khai thác tài nguyên nước phục vụ cho sinh hoạt, dịch vụ và sản xuất; làm suy thoái nguồn tài nguyên nước
Dân số tăng nhanh gây quá tải đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị (hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước, hệ thống giao thông, thu gom xử lý rác) do sự tăng cao của nước thải, chất thải; gây mất vệ sinh môi trường
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường nước, không khí (đặc biệt là bụi, khí độc và tiếng ồn), đất, trong đó chất thải nguy hại ngày càng tăng lên
Vấn đề nhà ở khó được giải quyết, có thể tạo ra những khu “ổ chuột”, các
“xóm liều”
Những áp lực từ quá trình đô thị hóa lên vấn đề sử dụng đất, khai thác và
sử dụng tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường là rất rõ Do đó cần có những chính sách, biện pháp và công cụ để quản lý môi trường đô thị nhằm tiến tới phát triển đô thị bền vững
1.4 Phát triển đô thị bền vững
1.4.1 Khái niệm
Khái niệm về phát triển bền vững đô thị: Trên cơ sở nguyên lý của PTBV với đặc thù của một đô thị, khái niệm phát triển đô thị bền vững có thể được thể hiện bởi: “mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa: kinh tế đô thị, văn hóa
xã hội đô thị, môi trường-sinh thái đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị và quản lý điều hành đô thị Như vậy khái niệm phát triển đô thị bền vững có thể được thể hiện như mô hình sau:
Trang 15Hình 1.1 Mô hình phát triển đô thị bền vững
1.4.2 Hệ thống tiêu chí phát triển đô thị bền vững trong quá trình đô thị hóa
Trong chuyên đề nghiên cứu về “Phân tích chính sách đô thị hóa trong quá trình đô thị hóa tác động đến phát triển bền vững ở Việt Nam”, thuộc chương trình thiên niên kỷ XXI do UNDP tài trợ, có 10 nhóm tiêu chí lớn tương ứng với 50 tiêu chí cụ thể đã được tổng kết tại bảng 1.2:
Bảng 1.2 Các nhóm tiêu chí phát triển bền vững đô thị
1
Phân bố và quy hoạch đô
thị phù hợp với các vùng
địa lý và điều kiện sinh
thái tự nhiên, bảo vệ môi
trường
Có 4 tiêu chí: 1) 6 vùng địa lý; 2) Các thông
số điều kiện tự nhiên tại 6 vùng địa lý; 3) Khai thác tốt các vùng sinh thái tự nhiên, 4) Đảm bảo tốt môi trường đất, nước, bờ biển, rừng, sông, hồ
mọi người dân đô thị
Có 5 tiêu chí: 1) Tăng trưởng các ngành công nghiệp, 2) Tăng trưởng thương mại và dịch
vụ, 3) Tăng thu nhập từ thuế cho thành phố; 4)
Có nền kinh tế đô thị mang tính cạnh tranh phát triển giữa các đô thị, 5) Tạo nhiều việc làm cho khu vực dân nghèo, thu nhập thấp và khu vực cư dân không chính thức khác
độ đại học và có kỹ năng quản lý đô thị, 3) Có
đủ số cán bộ có kỹ năng quản lý phát triển đô thị có trình độ trung học Số lượng cán bộ
Trang 16sở sinh hoạt văn hoá, mở mang trí tuệ
hạ tầng và công nghệ đô thị tiên tiến
8
Lồng ghép quy hoạch môi
trường trong quy hoạch đô
thị
Có 5 tiêu chí: 1) Tổ chức không gian xanh vùng và đô thị hợp lý, 2) Khai thác mặt nước tối đa có thể, 3) Giữ gìn tốt môi trường xã hội; 4) Đề xuất các giải pháp bảo tồn môi trường
di sản đô thị hiệu quả nhất, và 5) Thực hiện các quy hoạch môi trường chuyên ngành trong
đô thị và vùng khi cần thiết
9
Huy động sự tham gia của
cộng đồng người dân đô
thị trong công tác quy
hoạch, phát triển và quản
Trang 17Nhìn tổng quát có thể thấy nhóm 10 tiêu chí lớn này đã bao trùm toàn bộ
cả năm khía cạnh cơ bản của phát triển bền vững đó là kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường, cơ sở hạ tầng và quản lý môi trường đô thị Nếu cả 10 nhóm tiêu chí lớn này được thực hiện thì chúng ta có thể tin tưởng vào một tương lai của phát triển đô thị bền vững, đô thị sinh thái
1.4.3 Đô thị sinh thái
Nguyên tắc xây dựng một đô thị sinh thái
Từ năm 1988 hội nghị của tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đề ra những nguyên tắc chính để xây dựng thành phố sinh thái như sau:
Xâm phạm ít nhất đến môi trường tự nhiên
Đa dạng hóa nhiều nhất việc sử dụng đất, chức năng đô thị cũng như hoạt động của con người
Trong điều kiện có thể cố giữ cho hệ sinh thái đô thị được khép kín và tự cân bằng
Giữ cho sự phát triên dân số đô thị và tiềm năng của môi trường và tài nguyên thiên nhiên được cân bằng tối ưu
Từ những nguyên tắc trên có thể suy rộng như sau:
Quy mô dân số và phát triển kinh tế xã hội của đô thị được giữ ở mức phù hợp với khả năng “chịu tải” của môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Hệ sinh thái đô thị luôn được giữ ở thế cân bằng và ổn định
Thay đổi cách sống đô thị và các sản xuất để làm sao cho các dòng vật chất, nguyên liệu, năng lượng diễn ra trong chu trình khép kín Dòng vật chất và năng lượng đi vào và đi ra, lưu chuyển trong đô thị hài hòa
Hoạt động của đô thị và con người trong đô thị thải ra ít chất thải nhất, các chất thải được quay vòng sử dụng, tái sử dụng, được thu gom và xử lý hoàn toàn đúng kỹ thuật vệ sinh
Có hạ tầng cơ sở tốt nhất, đáp ứng và cải thiện môi trường như là mạng lưới giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, điện, thông tin, hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn, mạng lưới dịch vụ y tế, giữ gìn vệ sinh công cộng, môi trường đô thị trong sạch Quy hoạch sử dụng đất đa dạng và phân bố hợp lý Bố trí quy hoạch khu ở, khu dịch vụ, chợ cửa hàng, nơi vui choi giải trí hợp lý để con người có thể giảm bớt đi lại bằng xe cơ giới, giảm bớt xe ô tô tư nhân, tăng cường hệ thống giao thông công cộng, tạo điều kiện thuận lợi đi bộ
và đi xe đạp
Nhà cửa đô thị được thiết kế và xây dựng với môi hình gắn bó, hài hòa
Trang 18với môi trường thiên nhiên, tiết kiệm vật liệu, tiết kiệm nhiên liệu, năng lượng được sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch, sử dụng năng lượng mặt trời, gió tự nhiên triệt để tận dụng giải pháp xây dựng kiến trúc và giải pháp tự nhiên để đảm bảo điều kiện vi khí hậu ở bên trong và bên ngoài công trình
Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trong đô thị, đặc biệt là hệ sinh thái thực vật, cây xanh vườn hoa cảnh quan thiên nhiên Phát triển cây xanh bãi cỏ hai bên đường phố trên các bờ kênh mương, hình thành mạng lưới vườn hoa, cây cảnh trong thành phố, cây xanh trong khuôn viên các công trình, đưa cây xanh vào từng hộ gia đình trong đô thị tạo ra môi trường phát triển cho động vật đặc biệt là cư trú của các loài chim Khuyến khích trồn rau xanh, cây ăn quả cay tạo bóng mát, bãi cỏ, vườn hoa….Rau xanh có thể trồng trên các khoảng đất trống của mỗi hộ gia đình, trong khu tập thể cũng như đất công cộng một phần
để cung cấp rau tươi, một phần đẻ sử dụng chất thải sinh hoạt hữu cơ dễ phân hủy để ủ làm phân bón cho rau xanh và vườn cây, vườn cảnh Do đó làm giảm được chất thải rắn cần xử lý Cây xanh trong đô thị có tác dụng tạo ra cân bằng nước, cân bằng nhiệt, cân bằng CO2 cải thiện môi trường vi khí hậu đô thị
Thành phố sinh thái không những phải giữ gìn môi trường trong lành cho chính mình mà còn không gây ra ô nhiễm môi trường và áp lực đối với tài nguyên thiên nhiên của vùng nông thôn xung quanh, nhất là vùng ngoại thành, nằm ở cuối nguồn nước, cuối hướng gió của thành phố
Như vậy, đô thị sinh thái phải là một thành phố được thiết kế, quy hoạch
và xây dựng có tính đến các tác động tới môi trường, nơi người dân có ý thức để giảm thiểu việc sử dụng năng lượng, nước, thực phẩm cũng như giảm thiểu các chất thải
Ngoài ra, đô thị sinh thái còn phải đáp ứng truyền thống nhân văn bản địa, nhu cầu giao tiếp, sinh hoạt cộng đồng, thư giãn cá nhân và gia đình trong một không gian gần gũi với thiên nhiên
1.4.4 Làng sinh thái trong đô thị
Mối quan tâm đối với cải thiện môi trường ngày càng tăng trong cộng đồng dân cưu của nhiều thành phố trên toàn thế giới “Làng sinh thái” là một kết quả thực tế mong muốn của con người nhằm tìm ra một lối sống bền vững dựa trên thái độ và cách tiếp cận đối với vấn đề loại bỏ chất thải Ở nhiều nước phát triển, các chu trình nguyên vật liệu có tính truyền thống được chuyển sang các dòng nguyên vật liệu mới, rộng lớn, từ cơ sở tài nguyên trong thiên nhiên sang bao gồm cả chất thải Việc chuyên môn hóa và sự thay thế lao động chân tay
Trang 19bằng cơ gới đôi khi được coi là phương pháp cho công nghiệp hóa Những nhân
tố này cũng đã được áp dụng để xây dựng các hệ thống thu gom và vận chuyển chất thải Tuy nhiên, ngày càng nhận thức được rằng loại hệ thống quản lý chất thải này không phải là một giải pháp lâu dài, cơ bản để giải quyết vấn đề chất thải Thí dụ không đảm bảo được là các chất độc (dưới dạng kim loại nặng hoặc các hợp chất hữu cơ chứa clo hữu cơ) sẽ không đưa vào các hệ thống xử lý chất thải chung Cũng như không thể thực hiện được việc tách các chất độc đó để xử
lý riêng sau khi đã chôn các loại chất thải chung ở các bãi chôn lấp, hay xử lý trong các nhà máy thiêu đốt
Vậy rõ ràng không thể dễ dàng mà giải quyết được chỉ trong khuôn khổ
xử lý chất thải thông thường như trước đây Mối quan tâm hiện nay trong việc tách chất thải độc hại tại nguyên là theo cách thức của làng sinh thái Tuy nhiên việc phân tách tại nguồn chỉ là một bước của cả quá trình Các giải pháp thực tế giải quyết các vấn đề chất thải có thể tìm thấy ở một mức cơ bản hơn, như là dòng nguyên vật liệu trong các chu trình khép kín có thể được tái tạo lại ở mức chi phí năng lượng thấp hơn so với mức hiện nay Điều này đỏi hỏi phải có công nghệ thực sự có hiệu quả (ngay cả ở mức hệ thống), sự tham gia của cá nhân, sự thay đổi giá trị và lối sống của cộng đồng Làng sinh thái là một minh chứng tốt cho cách tiếp cận tái chế, quản lý dòng tái chế như thế nào cho có hiệu quả, để giải quyết vấn đề chất thải
Mối quan tâm trong quy hoạch đô thị, ngày càng bao gồm nhiều lĩnh vực môi trường, đã tăng đáng kể trong những năm gần đây Có nhiều dự án làng sinh thái đang được thực hiện tại nhiều nơi trên thế giới Các mục đích của làng sinh thái là quy hoạch vật chất bền vững (sử dụng năng lượng thấp, hiệu suất thcao
và sản sinh chất thải thấp) và xã hội (như quy hoạch, nâng cấp các giá trị xã hội văn hóa liên quan tới giá trị vật chất, v.v…)
Trong làng sinh thái, nhà ở thường thuộc kiểu tiêu thụ năng lượng thấp với tổng nhu cầu không quá 10.000KWh/năm (không quá 1/3 mức tiêu thụ hiện nay) Ở mức sử dụng năng lượng thấp đó việc lắp đặt một lò sưởi đốt củi thường không phù hợp Tuy nhiên, để truyền cấp nhiệt, việc dùng các nhiên liệu hóa thạch là khó có thể tránh khỏi Nếu nhà ở xa nơi làm việc hoặc xa các khu thương mại thì cần có xe đi lại và đòi hỏi phải có tiêu thụ nhiên liệu Nhưng có thể giảm chi phí nhiên liệu bằng một số cách thức như tránh sử dụng xe hơi cá nhân, phát triển sử dụng các hệ thống xe lửa hoặc xe lửa hoặc xe điện, xe buýt hoặc các hệ thống giao thông công cộng kết hợp Hàng hóa đưa đến các cửa
Trang 20bộ tới khu vực mua bán, hoạt động thương mại
Trong làng sinh thái việc trồng rau, cây ăn quả, cỏ hoa và cả cây lấy gỗ là một cách thức quan trọng tự thỏa mãn nhu cầu Rau thường được trồng trên các
lô đất tập thể và tư nhân Hiện có ít ỏi các số liệu về sản lượng thu hoạch hay năng suất trồng rau của làng sinh thái ở đô thị (số kg rau/m2) nhờ sử dụng các phương pháp trồng hiện đại và sử dụng phân hữu cơ tự chế Sử dụng các phế thải hữu cơ, làm sạch nước và tăng năng suất sản xuất thực vật Thí dụ, chôn ủ các loại chất thải hữu cơ trong vườn và quay vòng sử dung, ước tính là đã giảm
sự tăng trưởng ngày càng tăng của gần 5m2 chất thải/hộ gia đình mỗi năm
Khối lượng chất thải trong làng là một việc rất được chú ý Việc ủ phân cục bộ, việc tách nguồn hợp lý việc đối giấy loại có thể giảm hàng năm một khối lượng chất thải rắn tại các hộ gia đình từ 250kg/người xuống 100kg/người hoặc thậm chí thấp hơn Bằng cách phân loại các chất dinh dưỡng trong chất thải sinh hoạt cơ thể giảm chất thải rắn cần phải xử lý Việc phát thải ô nhiễm không khí
do CO, H2S, NOx cũng được giảm theo Các biện pháp giảm chất thải lỏng cũng được quan tâm thực hiện trong làng sinh thái
Các mục đích xã hội, như đã nói ở trên, ít ra cũng quan trọng như ccs mục đích về vật chất Các làng sinh thái là một hướng đi đúng Chúng khẳng định được việc gây ra ô nhiễm cho môi trường có thể được giảm xuống tởi mức thấp nhất và có giá trị mới về lối sống Phát triển các cộng động hiện có theo hướng bền vững là một thách thức Vì vật mối quan tâm hiện nay trong quy hoạch làng sinh thái là việc làm rất đáng khuyến khích Các đô thị có thể tránh được các nguy cơ tụt hậu, nếu như sự nhiệt tình của nhân dân kết hợp tốt với kiến thức hiểu biết và sự hợp tác có tính xây dựng ở phạm vi rộng lớn, việc bảo vệ môi trường toàn cầu thường bắt đầu nguồn từ các nước phát triển, nhưng làng sinh thái là hướng phát triển cần phải có trong cả các nước phát triển cũng như đang phát triển để thay đổi các xu hướng sống có hại cho con người và thiên nhiên trên toàn thế giới
1.4.5 Khu công nghiệp sinh thái – công viên công nghiệp
Khu công nghiệp là một bộ phận không thể thiếu của các đô thị, khu công nghiệp tập trung đóng góp một phần không nhỏ vào GDP của thành phố và sự phát triển thịnh vượng của đô thị Tuy nhiên các khu công nghiệp cũng là một nguồn gây ô nhiễm môi trường đô thị lớn Do đó muốn hướng tới một đô thị sinh thái thì khu công nghiệp sinh thái cũng là một nội dung không thể thiếu trong chiến lược bảo vệ môi trường của các đô thị
Trang 21Khu công nghiệp sinh thái là một ý tưởng xuất phát từ chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Dưới đây là một số định hướng về khu công nghiệp sinh thái:
Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp phát sinh chất thải ít nhất
Ví dụ khu công nghiệp Burnside tại bang Nova Scotia thuộc bờ biển phía đông Cananda là một ví dụ về khu công nghiệp sinh thái Đây là một khu công nghiệp lớn, bao gồm 1200 doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ, được hỗ trợ bởi Trung tâm sản xuất sạch và một trung tâm đào tạo kỹ thuật Với sự hỗ trợ của nguồn tài liệu và thực hành môi trường của trường đào tạo Dalhausia, mục tiêu chính của họ là phát triển các ngành trao đổi sử dụng chất thải và tái sinh nguyên liệu, xử lý đất ướt, sử dụng năng lượng nhiệt mặt trời, giới thiệu các hoạt động công nghiệp và chuyển giao công nghệ sạch
Khu công nghiệp sinh thái có thể bao gồm các nhà sản xuất với số lượng chất thải lớn, nhưng các chất thải đều được tái sinh và tái sử dụng thông qua thị trường Ví dụ trung tâm năng lượng Bruce: 6 công ty được bố trí vào cùng một
tổ chức để tận dụng năng lượng từ hơi nước và nhiệt lượng thải ra từ một nhà máy nhiên liệu nguyên tử để dùng trong quá trình khử nước, ngưng tụ, cất nước, thủy phân, sưởi ấm
Gần đây tổ chức môi trường Canada đã tiến hành một loạt những nghiên cứu để đánh giá những cơ hội phát triển của các khu công nghiệp sinh thái tại những khu công nghiệp liên hợp của Canada và đưa ra quyết định về mức độ phối hợp giữa các ngành về các lĩnh vực: chia sẻ sử dụng tài nguyên, tái sử dụng những nguyên liệu thừa và xây dựng hệ thống bổ trợ, dịch vụ về môi trường
Phế phẩm hay chất thải của một ngành có thể trở thành nguyên liệu đầu vào ngành khác Ví dụ như đồng dùng trong sản xuất bảng vi mạch có nguồn gốc từ quặng của ngành khai khoáng và có thể là phế thải của công nghệ luyện kim
Hydro trước đây hay bị thất thoát trong các nhà máy sản xuất sodium clorat nay đã được thu gom và dùng phục vụ cho các ngành có liên quan đến sử dụng Hydro
Thu bụi thép từ chất thải của ngành sản xuất sắt và titan để làm nguyên liệu cho nhà máy khác
Các nhà máy hóa dầu, luyện kim và một số công nghiệp khác có thể sử dụng nhiên liệu thừa và lượng nhiệt thải của nhà máy nhiệt điện và nhà máy hơi nước
Trang 22Phát triển mối quan hệ giữa các ngành sản xuất để giải quyết các vấn đề
có thể gây rắc rối trong khu công nghiệp Lợi ích sử dụng nguyên vật liệu cũng như cơ sở hạ tầng, dịch vụ sẽ được chia sẻ giữa các ngành Mối quan hệ được thể hiện ở sự phối hợp chống hỏa hoạn, sự cố môi trường, xử lý nước thải, dùng chung hệ thống đường giao thông v.v…
Khu công nghiệp sinh thái là một khu công nghiệp xanh: Để trở thành một khu công nghiệp sinh thái thì trước hết phải dành tỷ lệ đất thích đáng để trồng cây xanh, sân cỏ, vườn hoa, mặt nước và tạo ra môi trường vi khí hậu tốt và cảnh quan đẹp ở từng nhà máy và trong toàn bộ khu công nghiệp
Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp sạch: Môi trường vật lý (nước, không khí, đất, khí hậu, tiếng ồn, chất thải rắn) ở bên trong khu công nghiệp cũng như vùng xung quanh khu công nghiệp không những không bị ô nhiễm mà còn đạt chất lượng cao Điều kiện môi trường lao động nghỉ ngơi của người lao động, sinh hoạt và nghỉ ngơi của người lao động đều được thỏa mãn tiện nghi
Nhiệm vụ chủ yếu của công tác quản lý môi trường đô thị và công nghiệp Xây dựng, ban hành và phổ biến các văn bản pháp luật, các quy định và hướng dẫn về bảo vệ môi trường, các tiêu chuẩn môi trường
Quản lý sự tuân thủ pháp luật, quy định bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn môi trường đối với tất cả các hoạt động kinh tế và xã hội của tất cả các tổ chức,
cơ sở sản xuất, tập thể và cá nhân trong xã hội
Quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên đất, nước, sinh vật…
Quản lý các nguồn chất thải và thúc đẩy việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu chất thải (nguồn thải từ sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, từ sản xuất nông nghiệp, từ sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác, nguồn thải
từ giao thông vận tải trên bộ, trên thủy và trên không, nguồn thải từ sinh hoạt và dịch vụ đô thị…)
Quản lý về chất lượng môi trường sống (trước hết là môi trường không khí, nước, chất thải rắn, tiếng ồn và phóng xạ)
Thực hiện các chính sách ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp và đô thị, trước hết là lồng ghép quy hoạch bảo vệ môi trường với quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, thực hiện thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường v.v
Trang 23Kiểm soát ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường
Thanh tra môi trường, xử lý các vi phạm môi trường, các tranh chấp môi trường…
Tiến hành quan trắc và phân tích môi trường, theo dõi sự diễn biến môi trường, định kỳ lập báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường
Tham gia quản lý hạ tầng kỹ thuật bảo đảm môi trường ở đô thị và khu công nghiệp (hệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn, hệ thông giao thông vận tải, thông tin, năng lượng, hệ thống cây xanh, mặt nước trong đô thị và khu công nghiệp
Nâng cao nhận thức cộng đồng, tuyên truyền kiến thức và trách nhiệm về bảo vệ môi trường cho mọi người dân, xây dựng nếp sống thân thiện với môi trường và tài nguyên thiên nhiên, tổ chức các phong trào quần chúng tự nguyện tham gia công tác bảo vệ môi trường
Trang 24Chương 2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ VIỆT NAM
Để quản lý hiệu quả môi trường đô thị thì tìm hiểu về hiện trạng môi trường đô thị là việc làm không thể thiếu Thông tin về hiện trạng các thành phần môi trường đô thị sẽ giúp chúng ta tìm kiếm được những giải pháp phù hợp cho quản lý Trong khuôn khổ của chương này tập trung trình bày về hiện trạng môi trường nước, môi trường không khí và hiện trạng chất thải rắn ở các đô thị lớn tại Việt Nam
2.1 Hiện trạng môi trường nước
2.1.1 Nước cấp đô thị
Nước cấp đô thị là một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo vệ sinh môi trường đô thị Có hai nguồn nước cấp chủ yếu là nước mặt và nước ngầm Theo “Báo cáo đánh giá ngành nước sạch và vệ sinh môi trường” năm 2011 của Cục quản lý môi trường y tế, Bộ y tế thì hiện trạng cấp nước đô thị toàn quốc như sau:
68 công ty cấp nước, thực hiện cung cấp nước sạch cho các dịch vụ đô thị Nguồn nước mặt chiếm 70% tổng nguồn nước cấp và 30% còn lại là nước ngầm
Có hơn 420 hệ thống cấp nước với tổng công suất thiết kế đạt 5,9 triệu m3/ngày, công suất hoạt động cấp nước là 4,5 triệu m3/ngày tức đạt 77% công suất thiết kế
Tính đến năm 2012, có 18,15 triệu người dân đô thị có thể tiếp cận được nước sạch, chiếm 62% tổng số dân thành thị Trong đó 70% là số dân ở đô thị đặc biệt và đô thị loại 1, 45-55% dân số ở đô thị loại II và III, 30-35% dân số ở
đô thị loại IV và chỉ 10-15% dân số ở đô thị loại V được cấp nước sạch Theo đó lượng nước sử dụng trung bình của các đô thị là 80-90 lít/người/ngày đêm (theo Bench marking, Hội Cấp thoát nước Việt Nam) Các số liệu này cho thấy đều thấp hơn kế hoạch mục tiêu quốc gia đặt ra
Bảng 2.1 Các mục tiêu phát triển cấp nước của các đô thị
Chỉ số Loại đô thị Năm 2015 Năm 2020 Năm 2025
Trang 25Nhu cầu cấp nước
Theo trung tâm quan trắc và dự báo Tài nguyên nước năm 2010, tại Hà Nội nguồn nước cấp cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp phần lớn từ nguồn nước ngầm Hiện tại Hà Nội có 29 nhà máy và trạm cấp nước tập trung quy mô lớn, với tổng lượng nước khai thác khoảng 650.000m3/ngày Ngoài ra còn có khoảng 650 giếng khai thác lẻ dạng công nghiệp của các nhà máy xí nghiệp với tổng lượng khai thác khoảng 150.000m3/ngày Như vậy chỉ tính riêng các giếng khai thác quy mô công nghiệp chúng ta đã tiêu thụ khoảng 800.000m3/ngày
Nguồn nước mặt bao gồm nước sông, suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo Nước ta có hệ thống sông suôi khá dày đặc với khoảng 2.360 con sông, lượng mưa trung bình hàng năm là 1960mm, sản sinh dòng chảy lên đến 3244km3/năm Đây là nguồn tài nguyên nước rất phong phú Nhưng trong những năm qua do tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa đã gây ô nhiễm lớn, cùng với công tác bảo vệ nguồn nước ở nước ta triển khai chưa tốt đã làm cho nước mặt bị suy thoái, chất lượng nước giảm sút, gây không ít khó khăn cho việc cấp nước sạch đô thị Ở một số thành phố do khai thác nguồn nước ngầm quá mức
và thiếu biện pháp bảo vệ an toàn nguồn nước đã gây sụt lún đất đô thị và nguồn nước ngầm chớm bị ô nhiễm các chất hữu cơ Ví dụ khu vực khai thác nước ngầm đã gây sụt lún đất lớn nhất tới 30mm/năm ở khu vực 2km2, bao quanh nhà máy nước Pháp Vân Nước ngầm có dấu hiệu bị ô nhiễm nitơ Khai thác nước ngầm quá mức ở một số đô thị vùng ven biển đã làm cho phạm vi vùng đất bị mặn hóa ăn sâu vào đất liền
Trang 262.1.2 Thoát nước và xử lý nước thải đô thị
Hệ thống thoát nước ở các đô thị nước ta đều là hệ thống chung cho cả thoát nước mưa, thoát nước thải sinh hoạt và thoát nước thải công nghiệp Các
hồ, ao, sông, kênh, rạch trong đô thị với chức năng điều hóa và tiêu nước không những ít được nạo vét, gia cố, mở rộng mà còn bị lấn chiếm nghiêm trọng để xây dựng Hệ thống cống rãnh thoát nước thấp kém cùng với mặt nước bị san lấp nhiều đã gây ra tình trạng ngậm úng trầm trọng trong mùa mưa ở rất nhiều
đô thị trong cả nước, gây nhiều trở ngại cho giao thông đi lại, ảnh hưởng xấu đến sản xuất, sinh hoạt, làm thiệt hại lớn về kinh tế và gây ô nhiễm môi trường trầm trọng
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư các đô thị ngày càng tăng nhanh do dân số và sự phát triển các dịch vụ đô thị Hiện nay, hầu hết các đô thị đều chưa
có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt Ở các đô thị đã có một số trạm xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ được xử lý còn thấp so với yêu cầu Hiện nay tổng lượng nước thải sinh hoạt của Tp Hồ Chí Minh khoảng 1,2 triệu m3/ngày Theo quy hoạch của thành phố có 9 nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng đã được xây dựng và đưa vào vận hành với công suất giai đoạn 1 là 141.000 m3/ngày Giai đoạn 2 đang được xây dựng với công suất 450.000m3/ngày, dự kiện kết thúc năm 2015 thì tỷ lệ xử lý cũng chưa đạt 50% Nước thải sinh hoạt trong các khu dân cư, các khu du lịch và nước thải các cơ sở tiểu thủ công nghiệp chưa qua xử lý là nguyên nhân chính làm ô nhiễm hệ thống các thủy vực nội đô và ven đô ở nước ta
Bảng 2.2 Ước tính lưu lượng và thải lượng các chất ô nhiễm trong
nước thải sinh hoạt đô thị qua các năm
(Nguồn: Trung tâm quan trắc môi trường quốc gia – TCMT, 2010)
Từ bảng 2.2 có thể thấy nước thải tăng lên cả về lượng và mức độ ô nhiễm, sau 3 năm (2006 – 2009) lưu lượng nước thải đã tăng lên hơn 10%/ngày, cũng với xu hướng này hàm lượng các chất ô nhiễm TSS, BOD và COD tăng khoảng 10%/ngày Hiện nay phần lớn lượng nước thải được xả thải trực tiếp ra môi trường, đây sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng
Trang 27Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2010 thì ảnh hưởng của
ô nhiễm nước đối với sức khỏe con người có thể thông qua hai con đường: một
là do ăn uống phải nước bị ô nhiễm hay các loại rau quả thủy sản được nuôi
trồng trong nước bị ô nhiễm; hai là do tiếp xúc với môi trường nước bị ô nhiễm
trong quá trình sinh hoạt và laoi động Theo thống kê của Bộ Y tế, gần một nửa
trong số 26 bệnh truyền nhiễm có nguyên nhân liên quan đến ô nhiễm nước
Điển hình nhất là bệnh tiêu chảy cấp, ngoài ra còn có tả, thương hàn, các bệnh
về đường tiêu hóa, viêm gan A, viêm não, ung thư…(bảng 2.3)
Bảng 2.3 Số ca mắc bệnh truyền nhiễm liên quan đến
5 Viên gan virut 9,78 9,55 10,78 10,51 10,67
Nguồn: Niên giám thống kê 2008
Để cải thiện tình hình thoát nước và xử lý nước thải, chúng ta đã đề ra
những mục tiêu như sau:
Bảng 2.4 Các mục tiêu phát triển thoát nước và nước thải của các đô thị
IV hoặc cao hơn
60% ở đô thị loại III hoặc cao hơn
70 – 80% ở đô thị loại IV hoặc cao hơn
40% ở đô thị loại IV
và V và các làng nghề
50% ở đô thị loại
V và các làng nghề Nhà máy xử lý nước thải phân cấp quản lý lắp đặt ở các làng
Trang 28có hệ thống thoát nước riêng
IV hoặc cao hơn
Đường ống cống và kênh sẽ được cải tạo
để tránh cho các khu dân cư tập trung không bị ô nhiễm môi trường
20 – 30% nước thải xử lý sẽ được tái sử dụng
(Nguồn: Quyết định số 1930/QD-TTg ngày 20/11/2009 phê duyệt các định hướng phát triển của ngành thoát nước Việt Nam tại các khu đô thị và khu công nghiệp tới năm 2025 và tầm nhìn 2050)
Như vậy theo các mục tiêu phát triển thoát nước và nước thải đô thị, chúng ta có thể hy vọng vào tương lai môi trường nước tại các đô thị Việt Nam
sẽ được cải thiện đáng kể Trong những năm tới vấn đề thoát nước và xử lý triệt
để được nước thải công nghiệp và bệnh viện được ưu tiên
2.1.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước tại các đô thị
a) Ô nhiễm các dòng sông chảy qua đô thị
Nhóm thải lượng các chất chủ yếu thoát xuống hệ thống sông
Thải lượng các chất ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp
Nước thải từ hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp và KCN là nguồn áp lực lớn nhất đến môi trường nước mặt lục địa Mỗi ngành sản xuất có đặc trưng nước thải khác nhau Nước thải từ ngành cơ khí, luyện kim có kim loại nặng, dầu mỡ khoáng, nước thải ngành dệt nhuộm, giấy có nhiều chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ khó phân hủy và chất tạo màu; nước thải ngành thực phẩm chứa nhiều chất rắn lơ lửng và đặc biệt là chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, chất dinh dưỡng như Nitơ, photpho…
Trang 29Hình 2.1 Cơ cấu tổng lượng nước từ nước thải theo loại hình xả thải của
LVS Cầu và Nhuệ - Đáy (Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2010)
Theo báo cáo hiện trạng quốc gia năm 2010 (hình 2.1), nước thải công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, do hầu hết lượng nước thải đều chưa qua xử lý được xả thẳng ra hệ thống sông nên đây là nguyên nhân lớn nhất gây ô nhiễm môi trường nước mặt lục địa trong 10 năm qua Theo trung tâm công nghệ môi trường (2009) ước lượng lượng nước thải từ các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) như sau:
Vùng KTTĐ Bắc Bộ: 155055 m3/ngày
Vùng KTTĐ miền Trung: 58808 m3/ngày
Vùng KTTĐ phía Nam: 413400 m3/ngày
Vùng KTTĐ vùng đồng bằng sông Cửu Long: 13700 m3/ngày
Đây là một nguồn áp lực lớn gây ô nhiễm môi trường nước mặt do phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải với tính chất đa dạng, phức tạp
Thải lượng các chất ô nhiễm từ hoạt động nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, chủ yếu phục vụ cho tưới tiêu lúa và hoa màu Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học bất hợp lý trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân chủ yếu làm ô nhiễm nguồn nước Trung bình 20 – 30% thuốc bảo vệ thực vật và phân bón không được cây trồng tiếp nhận sẽ theo nước mưa và nước tưới do quá trình rửa trôi đi vào nguồn nước mặt và tích lũy trong đất, nước ngầm dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Đây là hiện trạng phổ biến tại các vùng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là hai châu thổ Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long
Thải lượng các chất ô nhiễm do nước thải đô thị chưa qua xử lý
Trang 30tăng dân số và sự phát triển các dịch vụ đô thị (bảng 2.2) Hiện nay, hầu hết các
đô thị đều chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, hoặc có thì tỷ lệ nước thải được xử lý còn rất thấp Bên cạnh đó nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp chưa qua xử lý cũng là nguyên nhân chính gây ô nhiễm hệ thống các thủy vực nội đô và ven đô ở nước ta
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy
Môi trường nước mặt của LVS Nhuệ - Đáy đang chịu sự tác động mạnh của nước thải sinh hoạt và các hoạt động công nghệ, nông nghiệp, làng nghề và nuôi trồng thủy sản trog khu vực Chất lượng nước của nhiều đoạn sông đã ô nhiễm ở mức báo động, đặc biệt vào mùa khô, các giá trị BOD5, COD, Coliform…tại các điểm đo đều vượt QCVN 08:2008/BTNMT loại A1 nhiều lần
Ví dụ hình 2.2 cho thấy hàm lượng NH4+-N trên sông Nhuệ giai đoạn 2007 –
2009 đều vượt TCCP nhiều lần
Hình 2.2 Hàm lượng NH 4 + - N trên sông Nhuệ giai đoạn 2007 – 2009 (Nguồn: Trung tâm Quan trắc môi trường – TCMT, 2010)
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
Một số đoạn sông trong lưu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng do nước thải của các KCN như sông Thị Vải Sông Sài Gòn nước sông bặt đầu bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật từ khu vực cửa sông Thị Tính và tăng dần về phía hạ lưu Nước sông Sài Gòn khu vực Tp Hồ Chí Minh bị ô nhiễm hữu cơ, hàm lượng BOD5, COD, vi sinh…đều không đạt quy chuẩn chất lượng nước mặt dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt Ví dụ hình 2.3 là diễn biến hàm lượng BOD5 qua các năm dọc sông Sài Gòn
Trang 31Hình 2.3 Hàm lượng BOD 5 dọc sông Sài Gòn qua các năm
(Nguồn: Trung tâm Quan trắc môi trường – TCMT, 2010)
b) Ô nhiễm các hồ tại Hà Nội
Theo PGS.TS Trịnh Thị Thanh [12], hồ có mặt tại hầu hết các đô thị và đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận và điều hoà nước và khí hậu, tạo cảnh quan, và là nơi vui chơi giải trí của cộng đồng Hiện nay, dưới áp lực của quá trình đô thị hoá, hệ thống thu gom nước thải không hợp lý, ý thức của người dân còn kém khiến tải lượng chất gây ô nhiễm xả xuống hồ tăng nhanh là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm nước hồ đô thị Theo số liệu thống kê, hiện nay trong nội thành Hà Nội (trên địa bàn 9 quận) có khoảng 110 hồ và hồ chứa, với tổng diện tích khoảng 1.165ha, trong đó chỉ có 17 hồ ở khu vực nội thành chịu sự quản lý của Công ty Thoát nước Hà Nội Theo tổng kết, hiện trạng các
Hiện nay, các hồ ở Hà Nội đang quá sức chịu tải các chất ô nhiễm, trong
đó chủ yếu là chất thải sinh hoạt Bài viết Chất lượng nước hồ Hà Nội và các biện pháp cải thiện được thực hiện với mục đích góp phần bảo vệ môi trường hồ
Hà Nội
Nhìn chung, các hồ ở Hà Nội bị ô nhiễm do vẫn phải tiếp nhận một phần
Trang 32nước thải chưa xử lý của thành phố đổ vào Lượng nước thải chảy vào hồ đã vượt quá khả năng tự làm sạch của các hồ Sự ô nhiễm đã làm suy thoái chất lượng nước, gây thiếu ôxy và làm tăng trầm tích trong hồ, lớp bùn đáy khá dày,
từ 0,5m đến 1,5m Nguyên nhân chính do cống nước thải trong thành phố đều đổ trực tiếp ra hồ, chỉ có 2 hồ trên địa bàn Hà Nội có trạm xử lý nước thải là hồ Trúc Bạch và hồ Kim Liên
Nồng độ các chất hữu cơ và vô cơ đã và đang vượt quá chỉ tiêu cho phép Tính chất đa dạng sinh học của nhiều hồ đã bị suy thoái Nhìn chung, hầu hết các hồ đều có dấu hiệu ô nhiễm, một số chỉ tiêu vượt quy chuẩn cho phép, nước
có màu xanh hoặc xanh đen, có mùi hôi Một số hồ có lượng nước thải lớn chảy vào như hồ Đền Lừ, Nghĩa Tân, Thiền Quang Nhiều hồ có mật độ tảo lớn như
hồ Hữu Tiệp, Trúc Bạch, Văn Chương, Phương Liệt Trước thời điểm được xử
lý, nước hồ ô nhiễm tới mức bốc lên mùi hôi thối nồng nặc, người dân sống ở khu vực xung quanh phải chịu nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng Chất lượng nước tại một số hồ Hà Nội giai đoạn 2008 như sau:
- BOD5: Giá trị BOD5 trung bình của mùa khô và mùa mưa trên các hồ nói chung đều vượt quy chuẩn; riêng hồ Thủ Lệ đạt quy chuẩn vào cả hai mùa
Sự thay đổi giữa hai mùa là không lớn, chỉ có hồ Hoàn Kiếm là thay đổi lớn: mùa khô lớn hơn mùa mưa khoảng 3,2 lần
- Phốtpho tổng: Nói chung giá trị phốt pho tổng trung bình mùa khô của các hồ đều lớn hơn so với mùa mưa, riêng có hồ Thành Công, Thanh Nhàn và
hồ Vân Trì là ngược lại
- Amoni: Giá trị amoni trung bình giữa mùa mưa và mùa khô tại các hồ Bảy Mẫu, Giảng Võ, Hoàn Kiếm và Thanh Nhàn đều lớn hơn quy chuẩn Riêng hồ Bảy Mẫu lớn hơn quy chuẩn khoảng 5,8 lần vào mùa khô và 8,1 lần vào mùa mưa
- Dầu mỡ: Giá trị dầu mỡ trung bình vào các mùa của các hồ nói chung đều lớn hơn quy chuẩn, riêng hồ Thanh Nhàn và hồ Vân Trì vào mùa mưa nhỏ hơn tiêu chuẩn và nhỏ hơn mùa khô Sự thay đổi hàm lượng dầu mỡ trong nước mặt của các hồ không theo quy luật mùa
Mức độ biến động ô nhiễm theo mùa tại các hồ không lớn, chỉ có hồ Hoàn Kiếm là thay đổi lớn: mùa khô lớn hơn mùa mưa khoảng 3,2 lần
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu sắp xếp mức độ ô nhiễm nước hồ cũng đã được tiến hành nghiên cứu và đã phân chia làm 3 loại ô nhiễm, cụ thể là:
Trang 33- Mức độ 1 gồm 7 hồ: Thiền Quang, Thành Công, Nghĩa Tân, Văn Chương, Văn Quán, Giảng Võ, Hữu Tiệp
- Mức độ 2 có 7 hồ: Trúc Bạch, Đền Lừ, Thanh Nhàn 1, Phương Liệt, ao Lâm Du, hồ Uỷ ban Bồ Đề, hồ Võ
- Mức độ 3 gồm 10 hồ: Thanh Nhàn 2A+ 2B, Thủ Lệ, Công Viên, Giáp Bát, Mục lục, Thủ Lệ, hồ Bách Thảo 1+ 2 và hồ Không Quân
Theo nhận xét của các chuyên gia thì hiện nay, lưu lượng nước thải chảy vào các hồ đã vượt quá khả năng tự làm sạch Tình trạng ô nhiễm và phú dưỡng
đã và đang dẫn đến sự suy thoái chất lượng nước, thiếu ôxy và gia tăng lớp bùn đáy hồ Ngoài việc hồ bị lấn chiếm do đổ đất, phế thải xuống bờ hồ và rác thải
xả vào hồ, các hồ còn bị bồi lắng rất nhiều do không được nạo vét thường xuyên, mặt hồ phủ kín đầy rau muống, bèo các loại gây mất mỹ quan, không phát huy được vai trò điều hoà thoát nước mưa Diện tích các ao hồ đang ngày càng thu hẹp, làm giảm khả năng điều hoà Bên cạnh đó, do tốc độ đô thị hoá rất nhanh và ý thức của một bộ phận dân cư còn thấp nên tại các hồ nằm trong khu vực dân cư thường xuyên bị đổ phế thải xây dựng, đổ đất như hồ Rẻ Quạt, Tai Trâu, Tứ Liên, Đầm Ấu… Một số hồ còn "được" lắp đặt các đăng đó, cửa phai
để dâng nước nuôi cá cũng làm ảnh hưởng đến dòng chảy thoát nước như hồ Tam Trinh, hồ Phương Liệt 1…
Một số hồ có lượng nước thải lớn chảy vào như hồ Đền Lừ, hồ Nghĩa Tân, hồ Thiền Quang Nhiều hồ có mật độ tảo lớn như hồ Hữu Tiệp, hồ Trúc Bạch, hồ Văn Chương, hồ Công Viên, hồ Phương Liệt Nước thải xả vào hồ không qua xử lý làm cho chất lượng nước hồ giảm Do hàng ngày phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý với nồng độ các chất hữu cơ, chất lơ lửng, các muối dinh dưỡng cao và do không được thường xuyên nạo vét nên lượng bùn tích đọng ở đáy hồ, chiều sâu cột nước trong hồ thấp đã làm ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của hồ và gây ảnh hưởng tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng Đặc biệt, một số hồ tổ chức nuôi cá, đưa nước thải và bã bia…vào hồ để nuôi cá đã làm tăng mức độ ô nhiễm của nước hồ
c) Ô nhiễm môi trường nước ngầm
Nước ngầm là nguồn cung nước cấp quan trọng tại các đô thị, theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2010, nước ngầm cung ứng từ 30%-50% tổng lượng nước cấp sinh hoạt đô thị toàn quốc Tuy nhiên nguồn nước này đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái và ô nhiễm nghiệm trọng Các nguyên nhân
Trang 34vùng chứa nước dưới đất, thẩm thấu và rỏ rỉ nước bề mặt đã bị ô nhiễm, do thay đổi mục đích sử dụng đất và khai thác nước bất hợp lý; ngoài ra còn do nước biển dâng dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn vào các tầng chứa nước ven biển
Theo trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Tp Hồ Chí Minh, Trung tâm y tế dự phòng Tp Hồ Chí Minh (2009) thì hiện nay rất nhiều hộ dân tại thành phố đang phải sử dụng nguồn nước dưới đất bị nhiễm vi sinh nặng Trong 107 mẫu nước lấy tại các hộ gia đình thuộc quận 9, quận Thủ Đức và các H Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè, Củ Chi, 52% mẫu nước bị nhiễm
vi sinh vật nặng (nhiễm E.coli, Coliform, Coliform fecal) từ 2100 – 3700 MPN/100ml Trong khi đó theo quy định của Bộ Y tế thì các vi sinh vật này không được phép tồn tại trong nước sinh hoạt
Bảng 2.5 Hàm lượng trung bình các thông số ô nhiễm nước dưới đất
+
-N QCVN 09:2009/BTNMT 0,5 0,05 0,05 0,01 0,001 0,1
Vùng đồng bằng Bắc Bộ
Giá trị TB 0,68 0,024 0,001 0,001 0,0001 8,70 Vùng đồng bằng Nam Bộ
Vùng Tây Nguyên
(Nguồn: Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước, Bộ TN & MT)
Ô nhiễm kim loại nặng cũng là một vấn đề phải lưu tâm, qua bảng 2.5 ta thấy Mn và NH4
+
- N là hai thông số vượt quá QCCP đối với nước ngầm do Bộ
TN & MT quy định năm 2009
2.2 Ô nhiễm môi trường không khí đô thị
Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa với tốc độ nhanh, hiện tượng
ô nhiễm không khí tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng gia tăng là có tính phổ biến hầu hết các nước trên thế giới Ô nhiễm không khí có tác động rất lớn đến sức khỏe cộng đồng, đến các hệ sinh thái, làm han gỉ các thiết bị, đồ dùng, phá hoại các công trình xây dựng…Ô nhiễm không khí còn là nguyên nhân gây mưa axit, gây hiệu ứng nhà kính và làm tăng nhiệt độ của trái đất, phá hoại tầng ozon của khí quyển Ô nhiễm không khí dưới tác động của mưa rơi sẽ gây ô nhiễm môi trường đất, nước Đối với sức khỏe con người, ô nhiễm không khí thường gây ra các bệnh về mắt, bệnh về tai – mũi – họng và các bệnh phổi Các nguồn ô nhiễm môi trường không khí không chỉ gây tác động tới khu vực
đô thị và khu công nghiệp mà còn khuếch tán đi xa, gây ô nhiễm các vùng xung quanh, có tính chất xuyên biên giới
Trang 35Nhiệm vụ chủ yếu của quản lý môi trường không khí đô thị và khu công nghiệp là sử dụng mọi công cụ pháp lý và kinh tế để hạn chế ô nhiễm, duy trì lượng không khí đạt tiêu chuẩn môi trường quốc gia
Có thể phân loại nguồn phát thải chất ô nhiễm môi trường không khí như hình sau:
Nguồn cố định, do đốt nhiên liệu: các ống khói công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp năng lượng, công nghiệp luyện kim, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp dầu khí…
Nguồn di động, do đốt nhiên liệu: các phương tiện giao thông cơ giới như
ô tô, xe máy, máy bay, tàu thủy, tàu hỏa…
Nguồn không phải là do đốt nhiên liệu: đốt chất thải, bụi, khí độc, chất có mùi rò rỉ và bay hơi từ dây truyền sản xuất công nghiệp, từ sản xuất nông nghiệp
và từ khai thác mỏ, vật liệu xây dựng
Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí rất đa dạng, đối với môi trường
đô thị thì nguồn chủ yếu phát sinh từ hoạt động giao thông vận tải, hoạt động xây dựng, hoạt động công nghiệp, sinh hoạt khu dân cư và xử lý chất thải Trong
đó ô nhiễm không khí ở đô thị do hoạt động giao thông chiếm 70% (Bộ Giao thông Vận tải, 2010)
Xét các nguồn phát thải các khí gây ô nhiễm trên phạm vi toàn quốc, ước tính hoạt động giao thông đóng góp 85% khí CO, 95% lượng VOCs Trong khí
đó các hoạt động công nghiệp phát thải chủ yếu là SO2 NO2 thì hoạt động giao thông và công nghiệp phát thải tương đương nhau Riêng đối với TSP, ngành sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng là nguồn phát thải chủ yếu (khoảng 70%)
Hình 2.4 Tỷ lệ phát thải các khí gây ô nhiễm theo nguồn phát thải chính của
Việt Nam năm 2008
Trang 36Các hoạt động sản xuất công nghiệp ở nước ta rất đa dạng và thành phần các khí thải vào môi trường cũng rất khác nhau Nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch, bảng 2.6 giới thiệu về tỷ lệ đóng góp và tổng thải lượng ô nhiễm không khí của các ngành công nghiệp năm 2006 Trong đó ba ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống, các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác, sản phẩm gỗ và lâm sản là ba nhóm ngành phát thải SO2,
NO2, CO và TPS nhiều nhất
Bảng 2.6 Tỷ lệ đóng góp và tổng thải lượng ô nhiễm không khí
của các ngành công nghiệp năm 2006
Sản xuất thực phẩm và đồ uống 25,29 31,39 13,32 31,62 Sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi
Trang 372.3 Chất thải rắn đô thị
Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2010, lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh trong cả nước (bao gồm cả CTR đô thị, công nghiệp, y tế, nông thôn, CTNH) từ 2003 tới 2008 tăng khoảng 1,5 đến 2 lần Năm 2008 tổng lượng chất thải rắn phát sinh lên tới 27,9 triệu tấn/năm Khoảng 80% chất thải rắn được sinh ra từ các hộ gia đình, nhà hàng, chợ và các khu thương mại Tổng số chất thải rắn sinh ra từ các khu công nghiệp là khoảng 2.7 triệu tấn/năm, chiếm khoảng 17% Hàng năm có khoảng 160.000 tấn/năm (khoảng 1%) chất thải nguy hại sinh ra từ các trung tâm y tế, các vật liệu dễ cháy và chất thải nguy hại từ các quá trình sản xuất công nghiệp, thuốc trừ sâu và vỏ thuốc trừ sâu từ các sản phẩm nông nghiệp
Hiện nay, chủ yếu CTR được chôn lấp tự nhiên hoặc chôn lấp có kiểm soát Toàn quốc có khoảng 98 bãi chôn lấp CTR tập trung (trong đó chỉ có 16 bãi đươc coi là chôn lấp hợp vệ sinh) Như vậy, có tới gần 84% bãi chôn lấp không hợp vệ sinh đang tồn tại trên khắp cả nước Đã có một số cơ sở chế biến CTR hữu cơ thành phân Compost, cơ sở xử lí chất thải nguy hại, chất thải y tế bằng phương pháp thiêu đốt, công suất nhỏ Nhìn chung, lượng chất thải rắn được tái chế, tái sử dụng còn rất thấp
Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%; các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Dự báo tổng lượng CTRSH đô thị đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm
Việc thu gom và xử lý chất thải rắn ở các đô thị từ loại IV trở lên được thực hiện bởi các Công ty Môi trường đô thị Tại các thị trấn và thị tứ nhỏ thì các nhóm và hợp tác xã môi trường chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ thu gom
và chôn lấp hay đốt chất thải rắn Tại các khu vực nông thôn, thì chưa có dịch vụ thu gom chất thải rắn Các Công ty Môi trường đô thị có nhiệm vụ thu gom chất thải rắn sinh ra từ các hộ gia đình, rác đường phố, công viên và văn phòng, đồng thời ký hợp đồng thu gom vận chuyển các chất thải rắn không độc hại từ các bệnh viện và nhà máy công nghiệp Hiện nay, rác trong các hồ, kênh mương và sông không có đơn vị nào có trách nhiệm thu gom và xử lý Tại các khu dân cư nghèo, có thu nhập thấp của thành phố, hiện nay không có dịch vụ thu gom chất
Trang 38thải rắn, do các khu làng này quá nhỏ, không có đường bê tông, do đó các dụng
cụ thu gom như xe đẩy không thể vào các khu vực này Hiện nay tại các đô thị có cách thu gom chất thải rắn như sau: tại một thời điểm quy định trong ngày, các xe rác sẽ đi thu gom rác ở các vỉa hè và các phố nhỏ, công nhân sẽ đẩy các xe rác và đánh kẻng để thông báo cho người dân mang rác từ trong nhà (được đựng trong các túi nilon) và vứt lên xe rác Khi xe rác đầy, rác thải này sẽ được thu gom về 1 bãi rác tạm thời tại đầu phố Công nhân sẽ tiếp tục thu gom rác ở các khu vực khác Đến khoảng nửa đêm, các xe tải to chở rác với công suất 6-12m3 sẽ đến thu gom rác tại các bãi rác tạm thời và vận chuyển rác đến bãi chôn lấp
Đối với rác thải công nghiệp và rác thải bệnh viện, Chính phủ quy định các
cơ sở y tế và các nhà máy phải có trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải rắn của mình Tuy nhiên, trên thực tế, điều luật này không được thực hiện và có rất ít số liệu về thu gom và xử lý chất thải rắn y tế và công nghiệp Hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp và y tế ký hợp đồng với công ty môi trường đô thị địa phương thu gom chất thải rắn Trong một số trường hợp, các chất thải độc hại, mặc dù đã được phân loại trong bệnh viện hay cơ sở sản xuất công nghiệp, vẫn bị trọn lẫn với rác thải thông thường trước khi công ty môi trường đô thị đến thu gom
Hiện nay các rác thải sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng các cách sau: tái chế, chôn lấp, đốt tại các bãi chôn lấp và làm phân compost Một số mô hình xử
lý rác hướng tới sản xuất viên đốt hay đốt trực tiếp rác để sinh nhiệt năng đang được thử nghiệm bước đầu Hầu hết các hệ thống xử lý rác thải nguy hại đều chưa đáp ứng được tiêu chuẩn Các hoạt động kiểm tra cũng như đôn đốc các cơ
sở công nghiệp thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải nguy hại còn bộc lộ nhiều yếu kém Hiện nay, việc xử lý chất thải công nghiệp là trách nhiệm của đơn vị sản xuất cũng như đơn vị quản lý khu công nghiệp Quản lý chất thải y tế thuộc trách nhiệm của Bộ Y tế
Trang 39Chương 3 QUẢN LÝ CÁC THÀNH PHẦN MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
3.1 Các công cụ trong quản lý môi trường đô thị
Tổng kết kinh nghiệm quản lý môi trường ở các nước trên thế giới, có thể tập hợp thành hai nhóm phương pháp lớn là nhóm các công cụ pháp lý và nhóm các công cụ kinh tế Nhóm công cụ pháp lý dựa trên nguyên tắc “Mệnh lệnh và kiểm soát” (Command and Control), nhóm công cụ kinh tế dựa trên nguyên tắc
“Người gây ô nhiễm phải trả tiền” hay còn gọi là 3P (Polluter Pays Principle) và nguyên tắc “Người hưởng lợi phải trả tiền”, viết tắt là BPP (Benefit Pays Principle) Ngoài hai nhóm công cụ chủ đạo trên người ta còn sử dụng các công
cụ phụ trợ khác như định giá, trợ giúp kỹ thuật, lựa chọn công nghệ, thương lượng và sức ép của dân chúng (như phong trào xanh, tẩy chay, phản đối của cộng đồng v.v…), giáo dục và truyền thông v.v
Trong khuôn khổ của chương này, trước hết tác giả giới thiệu chung về nhóm công cụ pháp lý, nhóm công cụ kinh tế Sau đó các công cụ này sẽ được giới thiệu cụ thể hóa cho quản lý môi trường nước thải, môi trường không khí và chất thải rắn đô thị
3.1.1 Nhóm công cụ pháp lý
Công cụ pháp lý hay còn gọi là nhóm công cụ tiêu chuẩn, quy định, đây là nhóm công cụ phổ biến trong quản lý môi trường Nhóm công cụ pháp lý bao gồm 2 khía cạnh: một là “yêu cầu” (Command-C) thường được ban hành dưới hình thức như tiêu chuẩn, quy chuẩn – quy định giới hạn ô nhiễm cao nhất cho phép, hai là “kiểm soát” (Control-C) quy định về hoạt động quan trắc, kiểm tra, thanh tra nhằm đảm bảo để thực hiện các “yêu cầu” trên Một cách tổng quát thì
có hai loại tiêu chuẩn, quy chuẩn: tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng môi trường xung quanh và tiêu chuẩn, quy chuẩn thải
Tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng môi trường xung quanh quy định giá trị nhỏ nhất được chấp nhận để đảm bảo chất lượng môi trường không khí, đất và nước hoặc giá trị cao nhất của chất ô nhiễm Ngược lại, tiêu chuẩn thải là tiêu chuẩn quy định giá trị lớn nhất được phép thải ra môi trường
Công cụ pháp lý đã được sử dụng rất phổ biến, chiếm ưu thế ngay từ thời gian đầu tiên thực hiện các chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường ở các nước phát triển và hiện nay vẫn được vận dụng rộng rãi và có hiệu quả ở tất cả các
Trang 40Trình tự tiến hành công cụ pháp lý quản lý môi trường là nhà nước định ra pháp luật các tiêu chuẩn, quy định, giấy phép…về bảo vệ môi trường; các cơ quan quản lý môi trường nhà nước sử dụng quyền hạn của mình tiến hành giám sát, kiểm soát thanh tra và xử phạt để cưỡng chế tất các các cơ sở sản xuất, các tập thể, cá nhân và các thành viên trong xã hội thực thi đúng các điều khoản trong luật pháp, tiêu chuẩn, quy định về bảo vệ môi trường đã được ban hành
Nhìn chung công cụ này đòi hỏi nhà nước phải đặt ra các mục tiêu môi trường lấy bảo vệ sức khỏe cộng đồng và các hệ sinh thái làm gốc Quy định các tiêu chuẩn môi trường hoặc lượng các chất ô nhiễm được phép thải bỏ, hoặc công nghệ mà những người gây ô nhiễm có thể được sử dụng để đạt được các mục tiêu ấy Trong phần lớn các trường hợp nhóm công cụ “Mệnh lệnh và kiểm soát” còn quy định thời gian biểu cho việc đáp ứng các tiêu chuẩn, các thủ tục cấp phép và cưỡng chế thực thi đối với các cơ sở sản xuất, quy trách nhiệm pháp lý và những hình phạt đối với những người vi phạm Trách nhiệm xây dựng và buộc phải thực hiện các tiêu chuẩn cùng các yêu cầu khác, được chia sẻ, theo cách quy định của pháp luật, giữa các cấp chính quyền trung ương
và địa phương
Tuy nhiên công cụ pháp lý cũng tồn tại một số nhược điểm như giới hạn tiêu chuẩn thường khó xác định, đặc biệt với những sản phẩm khó có thể thương mại hóa ví dụ nước, không khí; các công ty không có được sự khích lệ, khuyến khích trong giảm thiểu chất ô nhiễm; các hình thức xử phạt thường có xu hướng nhẹ, không phát huy hiệu quả quản lý môi trường; để phù hợp với điều kiện phát triển thực tế thì công cụ pháp lý cũng cần thây đổi linh hoạt nhưng trên thực tế điều này rất khó thực hiện;
3.1.2 Nhóm công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường có tác động trực tiếp tới thu nhập hoặc hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm ngăn ngừa các tác động tiêu cực tới môi trường Công cụ kinh tế có thể tác động trực tiếp vào các nhà sản xuất dưới dạng thuế môi trường, lệ phí xả thải hoặc trực tiếp vào người tiêu thụ dưới dạng phí sử dụng Trong tất cả các trường hợp đó, công cụ kinh tế đều có mục đích chung là hạn chế lượng chất thải phát sinh, giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài nguyên và năng lượng
Công cụ kinh tế là cho phép hình thành chi phí môi trường, theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, điều này tạo cơ hội cho những người gây ô nhiễm linh hoạt hơn trong việc có trách nhiệm với môi trường Ưu nhược nổi bật