1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức của Her2

11 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 7,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định tỉ lệ sống còn không bệnh (SCKB) 5 năm, tỉ lệ sống còn toàn bộ (SCTB) 5 năm của bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab. Khảo sát một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ. Đánh giá một số độc tính hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA HÓA TRỊ HỖ TRỢ KẾT HỢP

BIỂU HIỆN QUÁ MỨC CỦA HER2

TRẦN NGUYÊN HÀ1, PHAN THỊ HỒNG ĐỨC2, LÊ THỊ HỒNG VÂN3

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh (SCKB) 5 năm, tỉ lệ sống còn toàn bộ (SCTB) 5 năm của

b ệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab Khảo sát một số yếu tố có

th ể ảnh hưởng đến sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ Đánh giá một số độc tính hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 197 trường hợp được hóa trị hỗ trợ kết hợp

trastuzumab sau p hẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch hoặc phẫu thuật bảo tồn (tại BVUB TP HCM hoặc nơi khác) được nhập viện điều trị tại BVUB TP HCM từ 01/01/2014 đến tháng 31/12/2016)

Kết quả: SCKB 5 năm là 92,5%, SCTB 5 năm là 98,2% Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về

SCKB 5 năm theo độ tuổi, tình trạng kinh nguyệt, kích thước bướu, grad mô học, giai đoạn sau mổ và phác đồ hóa trị Tình trạng di căn hạch là yếu tố tiên lượng độc lập với SCKB Yếu tố tiên lượng độc lập thì chưa được xác lập đối với SCTB Các độc tính độ 3, 4 về huyết học (giảm BCĐNTT có sốt (6,09%), giảm Hb (2,5%), giảm

TC (2,5%)) không đáng kể và có thể kiểm soát được Độc tính tim mạch: không có trường hợp nào bị suy tim, chỉ có 1,5% giảm LVEF có ý nghĩa

Kết luận: Hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab có hiệu quả cao và độc tính thấp

ABSTRACT

Effect of adjuvant trastuzumab plus chemotherapy for human epidermal growth factor

receptor 2 - positive breast cancer stage I, II, III Purpose: We aimed to assess 5-year disease-free survival (DFS), 5-year overall survival (OS), factors

influencing 5 - year DFS, 5-year OS Evaluating the safety of trastuzumab plus chemotherapy

Methods: In this retrospective nonrandomized study, the authors reviewed records of 197 patients with

adjuvant trastuzumab plus chemotherapy after mastectomy/lumpectomy in HCM oncology hospital from 01/01/2014 to 31/12/2016

Results: 5 - year DFS was 92,5%, 5 - year OS was 98,2%. We found no significant differences in DFS according to age, menopausal status, tumor size, grade, stage, types of chemotherapy Presence of lymph node metastasis was the major independent factors that had effect on DFS The independent prognostic factors for OS was not determined Grade 3/4 hematologic toxicities (Febrile neutropenia (6,09%), anemia

(2,5%), thrombocytopenia (2,5%)) was negligible and they could be controlled Cardiac toxicity: There was no

case for heart failure, only 1,5% significant asymptomatic LVEF decline

Conclusion: It has shown high efficacy and low toxicity in trastuzumab plus chemotherapy

1 BSCKII Trưởng Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

2 TS.BS Phó Trưởng Bộ môn Ung Bướu - Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch,

Bác sĩ điều trị Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu Ung Bướu TP HCM

3 ThS.BSCKI Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư vú là bệnh lý ác tính thường gặp

Ung thư vú đứng hàng thứ nhất ở nữ giới (25,1%)

theo GLOBOCAN 2012 và là nguyên nhân gây

tử vong đứng hàng thứ hai ở nước phương Tây Tại Việt Nam, ung thư vú là bệnh có tỉ lệ mới mắc cao nhất trong các ung thư ở nữ giới Tỉ lệ mới mắc

Trang 2

chuẩn theo tuổi năm 2010 ước tính là 28,1/100.000

phụ nữ[2]

Tại Việt Nam, trastuzumab có mặt từ năm 2006,

được chỉ định cho bệnh nhân ung thư vú có HER2

dương tính ở giai đoạn sớm cũng như giai đoạn di căn,

đã làm phong phú thêm các phác đồ hóa trị hỗ trợ ung

thư vú, góp phần nâng cao tỉ lệ sống còn cho bệnh

nhân Tuy nhiên do giá thành thuốc cao, bảo hiểm y tế

chỉ chi trả 50%, thời gian điều trị hỗ trợ kéo dài 01 năm

nên thực tế số lượng bệnh nhân được điều trị

trastuzumab tại Việt Nam không cao Hiện nay, chưa

có nghiên cứu đánh giá kết quả cũng như độc tính của

trastuzumab kết hợp hóa trị trong điều trị hỗ trợ ung

thư vú tại TP HCM Chúng tôi đặt ra câu hỏi: Vậy kết

quả điều trị của trastuzumab trong trường hợp điều trị

hỗ trợ ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I, II, III tại

bệnh viện Ung Bướu TP HCM như thế nào?

Để trả lời câu hỏi trên chúng tôi đã tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả của hóa trị hỗ

trợ kết hợp trastuzumab trong ung thư vú giai đoạn I,

II, III có biểu hiện quá mức của HER2” Để thực hiện

đề tài này, chúng tôi có các mục tiêu sau:

1 Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh 5 năm, tỉ

lệ sống còn toàn bộ 5 năm của bệnh nhân carcinôm

vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp

trastuzumab

2 Khảo sát một số yếu tố có thể ảnh hưởng

đến sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ

3 Đánh giá một số độc tính hóa trị hỗ trợ kết

hợp trastuzumab ở bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn

I, II, III

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tiêu chuẩn thu nhận

Bệnh nhân nữ, tuổi ≥18

Ung thư vú giai đoạn I, II, III theo AJCC 7 (2010) sau phẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch hoặc phẫu thuật bảo tồn (tại BVUB TP HCM hoặc nơi khác) được nhập viện điều trị tại BVUB TP HCM từ 01/01/2014 đến tháng 31/12/2016)

Giải phẫu bệnh là carcinôm, có xâm lấn, ống tuyến hoặc tiểu thùy

Hóa mô miễn dịch có HER2 (+++) hoặc HER2 (++) kèm theo FISH (+)

Hoá trị hỗ trợ có kết hợp trastuzumab

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không thuộc tiêu chuẩn thu nhận Bệnh nhân mắc ung thư thứ 2

Bệnh nhân ngừng điều trị không phải vì lý do chuyên môn

Xử lý số liệu

Dùng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu Khảo sát sống còn bằng phương pháp Kaplan - Meier

Phân tích tương quan bằng phép kiểm Log - rank

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian từ 01/01/2014 đến 31/12/2016 chúng tôi khảo sát được 197 trường hợp carcinôm vú giai đoạn I, II, III được hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab tại BVUB TP HCM thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ đề ra

2,3

10,3 0

20 40

≤ 30 31-39 40-49 50-59 ≥ 60

Độ tuổi

Biểu đồ 1 Phân bố tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Trang 3

Bảng 1 Lý do nhập viện

Lý do nh ập viện n (N = 197) T ỉ lệ %

Bướu vú + tiết dịch núm vú 2 1

Bảng 2 Các đặc điểm lâm sàng của bướu vú

Vú mang bướu

V ị trí bướu

S ố lượng bướu

Kích thước bướu

Trung bình ± độ lệch chuẩn: 3,36 ± 1,3cm

L ớn nhất: 8cm Nhỏ nhất: 1cm

T4 (kích thước bất kỳ: xâm nhiễm

Vị trí bướu ưu thế ở bên trái (50,8%)

Kích thước bướu vú trung bình là 3,36 ± 1,3cm,

trong đó kích thước bướu trong khoảng 2 - 5cm

chiếm chủ yếu (65%)

Hầu hết các trường hợp ở giai đoạn T2 (65%),

25,9% là giai đoạn T1, còn lại T3 và T4 lần lượt là

8,6% và 0,5%

Bảng 3 Tình trạng di căn hạch nách sau mổ

S ố hạch nách di căn n (N = 197) T ỉ lệ %

Có 60,4% không di căn hạch và 39,6% có di căn hạch nách sau mổ

Số hạch trung vị được nạo là 12 hạch, thấp nhất 2 hạch, nhiều nhất 25 hạch Trong đó 91,4% nạo được từ 10 hạch trở lên

Bảng 4 Giai đoạn bệnh sau mổ theo T, N

Giai đoạn sau mổ (T, N) n (N = 197) T ỉ lệ %

Hầu hết các trường hợp là giai đoạn II (60,9%), giai đoạn I và III với tỷ lệ lần lượt là 17,3% và 21,8% Trong đó 56,8% trường hợp là T1N0 và T2N0

Bảng 5 Đặc điểm giải phẫu bệnh

Gi ải phẫu bệnh n (N = 197) T ỉ lệ %

Carcinôm ống tuyến vú 193 98 Carcinôm ống tuyến vú + Paget núm vú 1 0,5 Carcinôm ti ểu thùy xâm lấn 3 1,5

Trang 4

Biểu đồ 2 Phân bố grad mô học Bảng 6 Tình trạng thụ thể nội tiết

50,3%

HER2

Biểu đồ 3 Phân nhóm sinh học Bảng 7 Phân bố các loại phẫu thuật

Đoạn nhũ tiết kiệm da - tái tạo vú tức thì 35 17,8

Đoạn nhũ - sinh thiết hạch lính gác 3 1,5 Sinh thi ết hạch lính gác - đoạn nhũ nạo hạch - tái tạo 6 3

Trang 5

Biểu đồ 4 Thời gian từ khi phẫu trị đến lúc bắt đầu hóa trị hỗ trợ

Bảng 8 Các phác đồ hóa trị

Theo dõi 197 trường hợp đến ngày 30/07/2019,

ngắn nhất là 32 tháng, dài nhất là 62 tháng, trung vị

45 tháng Có 10 trường hợp (5,07%) mất dấu

Kết thúc nghiên cứu có 188 trường hợp còn

sống không bệnh (95,43%), 7 trường hợp tái phát

và/hoặc di căn (6 trường hợp còn sống, 1 trường

hợp tử vong) (3,55%), 3 trường hợp tử vong

(1,53%)

Có 7 ca tái phát (3,5%) trong thời gian theo dõi,

chủ yếu di căn phổi, xương Thời gian từ lúc phẫu

thuật đến khi tái phát của 7 bệnh nhân lần lượt là:

3 tháng, 18 tháng, 25 tháng, 35 tháng, 41 tháng, 44

tháng, 55 tháng

Bảng 9 Vị trí tái phát

V ị trí tái phát n (N = 7)

H ạch trên đòn cùng bên 1

Trung vị thời gian tái phát/ di căn: 35 tháng

Biểu đồ 5 Sống còn không bệnh 5 năm

Trung bình thời gian sống còn không bệnh (DFS) ước tính theo Kaplan Meier: 60,1 tháng (95%

CI 58,8 - 61,3) Tỷ lệ sống còn không bệnh 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 99%; 98%; 96,9%; 95,2%; 92,5%

Bảng 10 Phân tích đa biến liên quan đến

sống còn không bệnh

Đặc điểm Phân nhóm so sánh Phân tích đơn biến Phân tích đa biến

Tuổi ≤ 35 / >35 0,96 0,83 Kinh nguy ệt Mãn kinh/còn kinh 0,17 0,2

pT pT1 / pT2 / pT3 0 0,72

pN pN (-) / pN (+) 0,01 0,32

pN pN0/ pN1/ pN2/ pN3 0,06 0,39 Giai đoạn

sau m ổ I / II / III 0,22 0,55 Grad mô h ọc 1 / 2 / 3 0,47 0,29 Phác đồ hóa

Tính đến thời điểm 31/7/2019, có 3 bệnh nhân

tử vong Thời gian từ lúc phẫu thuật đến khi tử vong của 3 bệnh nhân lần lượt là: 8 tháng, 16 tháng, 41 tháng

92,5%

Trang 6

Biểu đồ 6 Sống còn toàn bộ

Trung bình thời gian sống thêm toàn bộ ước tính là 61,3 tháng (95% CI 60,5 - 62) Tỉ lệ sống còn toàn bộ 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 99,5%; 99%; 98,2%; 98,2%

Một số tác dụng không mong muốn của phác đồ điều trị

Có 2 bệnh nhân có phản ứng thuốc trastuzumab ở chu kỳ đầu tiên (1,01%), mức độ phản ứng nhẹ (ngứa da)

Bảng 11 Độc tính trên hệ tạo huyết/ tổng số bệnh nhân

Độ S ố trường hợp Gi ảm BC

(%)

Gi ảm BCĐNTT

S ố trường hợp (%)

Gi ảm TC

S ố trường hợp (%)

Gi ảm Hb

S ố trường hợp (%)

Bảng 12 Độc tính ngoài hệ tạo huyết/ tổng số bệnh nhân (1)

Độ Nôn, bu n (%) ồn nôn Viêm niêm m n (%) ạc miệng Tiêu ch n (%) ảy Phù ngo n (%) ại vi

N = 197

0 183 (92,9) 174 (88,3) 168 (85,3) 195 (99)

Bảng 13 Độc tính ngoài hệ tạo huyết/ tổng số bệnh nhân (2)

Độ Đau cơ n (%) R ối loạn thần kinh ngoại vi n (%) Tăng men gan n (%) Độc tính thận n (%)

N = 197

98,2%

Trang 7

Bảng 14 Trì hoãn hóa trị do độc tính hóa trị hỗ trợ

Theo t ổng số trường hợp nghiên cứu

(N = 197) n (%)

Theo phác đồ TCH (N = 163) n (%)

Theo phác đồ AC-TH (N = 34) n (%)

Lý do trì hoãn

Độc tính tim mạch

Suy tim

Phân tích trên 197 bệnh nhân, không có bệnh nhân nào bị suy tim

Bảng 15 Biến đổi phân suất tống máu thất trái (LVEF) qua các thời điểm đánh giá so với giá trị ban đầu

Bi ến đổi LVEF (%) Sau 3 tháng n (%) Sau 6 tháng n (%) Sau 9 tháng n (%) Sau 12 tháng n (%)

Không gi ảm 149 (75,6) 165 (84,2) 168 (86,2) 170 (87,2)

Gi ảm <10% 46 (23,4) 30 (15,3) 27 (13,8) 25 (12,8)

Chỉ có 1,5% trường hợp giảm LVEF >10%

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về

biến đổi phân suất tống máu thất trái liên quan đến

nhóm tuổi, tiền sử mắc bệnh tim mạch, đái tháo

đường tại các thời điểm 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng,

12 tháng

Có 19% trường hợp dùng TCH và 50% trường

hợp dùng AC - TH giảm LVEF tại thời điểm 3 tháng,

điều này có ý nghĩa thống kê (p = 0) Tuy nhiên,

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến

đổi phân suất tống máu thất trái liên quan đến phác

đồ điều trị tại thời điểm 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng

BÀN LUẬN

Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Tuổi trung vị trong nghiên cứu của chúng tôi là

49 tuổi, khoảng tuổi 40 - 60 tuổi chiếm 59,3%, tương

tự kết quả các nghiên cứu trước đây có liên quan

đến ung thư vú HER2 dương tính tại Việt Nam[3,4]

Khối bướu ở vị trí ¼ trên ngoài là thường gặp

nhất (58,9%), theo sau đó là ¼ trên trong (19,8%)

Tác giả Phùng Thị Huyền ghi nhận có 54% bướu ở

¼ trên ngoài[3] Ung thư thường xảy ra ở vị trí ¼ trên

ngoài do đây là vị trí có mô tuyến vú nhiều nhất

Trong nghiên cứu của chúng tôi, kích thước

bướu chủ yếu là T2 (65%), bướu T1 25,9%, kích

thước bướu vú trung bình là 1,84 ± 0,5cm, hầu hết bướu vú ở giai đoạn T1 - 2 (90,9%) So sánh với kết quả trong nghiên cứu của tác giả Cung Thị Tuyết Anh[1]hồi cứu 508 trường hợp giai đoạn I - IIIA ghi nhận 25,2% bướu giai đoạn T1, 71,7% bướu giai đoạn T2 và 3% bướu giai đoạn T3 Hầu như các bệnh nhân ung thư vú ở Việt Nam khi phát hiện bệnh đều ở giai đoạn bướu T2, tỉ lệ bướu T1 thấp hơn nhiều so với các nước phát triển khác trên thế giới

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận hạch âm tính sau mổ (N0) chiếm tỉ lệ cao (60,4%), chỉ 39,6% có hạch nách dương tính Tác giả Phùng Thị Huyền nghiên cứu 63 trường hợp tại Hà Nội cũng ghi nhận kết quả tương tự với tỉ lệ hạch

âm tính là 60,3% và hạch dương tính là 39,7% Trong nghiên cứu BCIRG - 006[10] khảo sát 3222 trường hợp ghi nhận tỉ lệ N0 là 28,6%, N1 là 38,3%, N2 (di căn 4 - 9 hạch) là 23%, N3 (di căn ≥10 hạch)

là 10% Trong nghiên cứu NSABP B - 31 đối tượng nghiên cứu là các trường hợp có hạch nách dương tính, nghiên cứu NCCTG N9831 tỉ lệ di căn hạch nách chiếm 84,6% và 86,3% lần lượt ở nhóm chứng

và nhóm điều trị với trastuzumab[8] Nghiên cứu HERA, số trường hợp có hạch nách âm tính là 32%, dương tính là 57%, và có 11% không đánh giá tình trạng hạch do được hóa trị tân hỗ trợ[6] Lý giải cho

sự khác biệt này, có thể do các nghiên cứu trước

Trang 8

đây ở nước ngoài khi nghiên cứu tiền cứu đánh giá

hiệu quả của trastuzumab thì tiêu chuẩn nhận bệnh

của họ là những trường hợp hạch dương tính hoặc

hạch âm tính có nguy cơ cao còn nghiên cứu của

chúng tôi là nghiên cứu hồi cứu chỉ ghi nhận lại tất

cả trường hợp có sử dụng trastuzumab trong điều trị

hỗ trợ

Các mô thức điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ 1% trường

hợp được phẫu thuật bảo tồn, còn lại 99% là đoạn

nhũ Giải thích cho điều này có lẽ do việc khó khăn

trong việc xác định bờ khối u cả trên lâm sàng, hình

ảnh học, tâm lý bệnh nhân e ngại khi chỉ phẫu thuật

bảo tồn, bệnh nhân không muốn xạ trị thêm sau

phẫu thuật bảo tồn

Trastuzumab được FDA chấp thuận trong điều

trị ung thư vú di căn năm 1998, còn điều trị hỗ trợ

ung thư vú năm 2006 Hóa trị hỗ trợ kết hợp

trastuzumab đã trở thành điều trị chuẩn đối với ung

thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính Phác đồ

hóa trị kết hợp với trastuzumab dù có anthracycline

hay không anthracycline đều được chấp thuận trong

các hướng dẫn điều trị của quốc tế, nhưng độc tính

tim mạch sẽ cao hơn đối với phác đồ có

anthracycline

Nghiên c ứu S ống còn toàn bộ 5 năm (%)

Seferina (N = 476) [84] 90,7

BCIRG - 006

(N = 3222) [88]

92 (AC - TH)

91 (TCH) Conte (N = 627) [24] 95,2

Phùng Thị Huyền (N = 63) [8] 98,4

Nghiên c ứu này (N = 197) 98,2

Không nên điều trị đồng thời trastuzumab

và anthracycline mà nên sử dụng tuần tự do độc tính

tim mạch sẽ tăng cao khi sử dụng đồng thời 2

thuốc này

Theo tác giả Katherine nghiên cứu trên 1077

trường hợp tại Hoa Kỳ, ghi nhận hiện nay đang có

khuynh hướng giảm dần sử dụng phác đồ AC - TH

so với trước đây, chỉ còn 15% vào năm 2011 so với

năm 2005 là 88%, đồng thời tăng sử dụng phác đồ

TCH[9] Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

về độc tính liên quan hóa trị giữa 2 phác đồ này

(AC - TH 34% so với TCH 36,5%; p = 0,46)

Bệnh nhân điều trị phác đồ TCH thì có khả năng

hoàn tất 1 năm liệu trình trastuzumab cao hơn

Kết quả điều trị

Tỉ lệ tái phát là 7/197 trường hợp (3,5%) Tái phát chủ yếu là di căn xa (xương, phổi, gan, não), chỉ có 1 trường hợp tái phát tại vùng (hạch trên đòn cùng bên) Điều này phù hợp với y văn khi tái phát trong ung thư vú khoảng 72,5% là di căn xa, chỉ 27,5% là tái phát tại chỗ tại vùng[11]

Bảng 16 Sống còn không bệnh 5 năm so với các

tác giả khác

Nghiên c ứu S ống còn không bệnh 5 năm (%)

Seferina (N = 476) [84] 80,7 BCIRG - 006

(N = 3222) [88]

84 (AC - TH)

81 (TCH)

Vici (N = 925) [104] 88,6 Adusumilli (N = 212) [10] 92 Phùng Th ị Huyền (N = 63) [8] 92,1 Nghiên c ứu này (N = 197) 92,5 Kết quả từ nghiên cứu BCIRG - 006[88] cho thấy DFS 5 năm ở nhóm AC-TH, TCH và AC-T lần lượt là 84% (HR 0,64; p <0,001), 81% (HR 0,75;

p = 0,04),và 75%

Xác suất sống còn không bệnh 5 năm trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các nghiên cứu khác, cao hơn cả nghiên cứu tương tự ở Hà Nội của

tác giả Phùng Thị Huyền Nhiều yếu tố có thể ảnh

hưởng sự khác biệt về kết quả giữa các nghiên cứu:

Do quần thể nhóm nghiên cứu của chúng tôi không ngẫu nhiên nên có thể có các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng tốt hơn Cụ thể là sự khác nhau về tỉ lệ kích thước bướu, di căn hạch, grad mô học, thụ thể nội tiết ở nghiên cứu của chúng tôi so với các nghiên cứu khác Trong đó di căn hạch là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất đối với sống còn,

tỉ lệ di căn hạch trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ 39,6% trong khi hầu hết các nghiên cứu khác dao động từ 60 - 70%

Đặc điểm tái phát, di căn xa, nhất là di căn những cơ quan sinh tử (gan, phổi, não) và cách thức điều trị sau khi bệnh tái phát, di căn

Cỡ mẫu và thời gian theo dõi

Bảng 17 Sống còn toàn bộ 5 năm so với

các nghiên cứu khác

ống còn toàn bộ

Trang 9

BCIRG-006

(N = 3222) [88]

92 (AC - TH)

91 (TCH) Conte (N = 627) [24] 95,2

Phùng Thị Huyền (N = 63) [8] 98,4

Nghiên cứu này (N = 197) 98,2

Kết quả từ nghiên cứu BCIRG - 006[88]cho thấy

OS 5 năm ở nhóm AC-TH, TCH và AC-T lần lượt là

92% (HR 0,63; p <0,001), 91% (HR 0,77;

p = 0,04) và 87%

Xác suất sống còn toàn bộ 5 năm trong nghiên

cứu của chúng tôi hơi cao hơn các nghiên cứu khác,

có thể do không được phân bố ngẫu nhiên và các lý

do như đã nêu trên

Trong phân tích đơn biến, có di căn hạch nách

là yếu tố có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cho

sống còn không bệnh 5 năm (p = 0,01), điều này phù

hợp với y văn[10]

Trong phân tích đa biến thì không có yếu tố nào

là các yếu tố tiên lượng độc lập đến sống còn không

bệnh 5 năm, có lẽ do số lượng biến cố trong

nghiên cứu của chúng tôi quá ít

Bảng 18 Độc tính huyết học độ 3, 4

so với tác giả khác

Độc tính

Nhóm có trastuzumab (%)

Slamon [88] Phùng Th ị

Huy ền [8]

Nghiên

c ứu này

Gi ảm BCĐNTT có

Tỉ lệ giảm bạch cầu đa nhân trung tính độ 3, 4

trong nghiên cứu của chúng tôi gần tương đồng với

nghiên cứu của Slamon (BCIRG - 006) nhưng cao

hơn nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Huyền

Nguyên nhân do nhóm nghiên cứu của tác giả

Phùng Thị Huyền có sử dụng thuốc kích thích tủy dự

phòng nguyên phát ngay từ đầu còn nghiên cứu của

chúng tôi và Slamon thì không Chỉ định sử dụng

kích thích tủy dự phòng nguyên phát được đưa vào

hướng dẫn điều trị của NCCN từ năm 2017 đối với

phác đồ TCH (nguy cơ sốt giảm bạch cầu hạt

>20%) còn nghiên cứu của chúng tôi lấy nhóm

nghiên cứu được điều trị năm 2014, 2015, 2016

B ảng 19 Độc tính ngoài hệ tạo huyết độ 3, 4 so với

tác giả khác

Độc tính

Nhóm có trastuzumab (%)

Slamon [88] Phùng Th ị

Huy ền [8]

Nghiên c ứu này

R ối loạn thần

Tăng men gan Không ghi nhận 4,8 2

Kết quả độc tính ngoài hệ tạo huyết độ 3, 4 trong nghiên cứu chúng tôi tương tự nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Huyền nhưng ít hơn nghiên cứu của Slamon có thể do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ và nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu hồi cứu, độc tính ngoài hệ tạo huyết chỉ có thể ghi nhận dựa trên

hồ sơ bệnh án

Bảng 20 Tỉ lệ suy tim trong các nghiên cứu

(%)

HERA (N = 5102) [31]

Hóa trị -> trastuzumab 1 năm 0,8 Hóa trị -> trastuzumab 2 năm 0,8

NSABP B-31 (N = 2101) [11]

BCIRG-006 (N = 3222) [88]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có trường hợp nào bị suy tim Có thể do đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi vốn ít có những yếu tố nguy cơ tăng độc tính tim mạch của trastuzumab: chỉ có 3,6% >65 tuổi, 1,5% có BMI >30kg/m2 12,2% trường hợp có bệnh lý tim mạch trước đó (tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim) nhưng tất cả những trường hợp này được khám và điều trị thuốc tim mạch đầy đủ, tỉ lệ dùng phác đồ có không anthracycline là 82,7% còn phác đồ có anthracycline (AC - TH) chỉ 17,3% Trong nghiên cứu BCIRG - 006, tỉ lệ suy tim ở nhóm TCH là 0,4%,

Trang 10

thậm chí còn thấp hơn cả nhóm chứng AC - T

(0,7%)

Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng lớn nghiên

cứu trastuzumab trong điều trị hỗ trợ cho thấy tỉ lệ

suy tim khoảng 0,6 - 3,8%[5,6,7]

Biến đổi phân suất tống máu thất trái qua các

thời điểm điều trị

Trong nghiên cứu HERA, giảm LVEF có ý nghĩa

được định nghĩa là LVEF giảm ≥10% so với trước

điều trị hoặc LVEF < 50% bất cứ thời điểm nào

Bảng 21 Tỉ lệ giảm phân suất tống máu thất trái so

với các nghiên cứu khác

HERA (N = 5102)[31]

Hóa trị -> trastuzumab 1 năm 4,1

Hóa trị -> trastuzumab 2 năm 7,2

NSABP B - 31 (N = 2101)[11]

BCIRG - 006 (N = 3222)[88]

Tỉ lệ giảm LVEF có ý nghĩa trong nghiên cứu

của chúng tôi thấp hơn nhiều so với các thử nghiệm

lâm sàng lớn trên thế giới có lẽ do cỡ mẫu của

chúng tôi nhỏ và do đặc điểm nhóm bệnh nhân

nghiên cứu của chúng tôi ít có những yếu tố nguy cơ

tăng độc tính tim mạch của trastuzumab như đã nói

ở trên

Liên quan biến đổi phân suất tống máu thất trái

với một số yếu tố

Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến đổi phân suất

tống máu thất trái liên quan đến nhóm tuổi (< 50 tuổi,

≥50 tuổi), tiền sử mắc bệnh lý tim mạch, đái tháo

đường Còn với phác đồ điều trị (TCH, AC-TH),

AC-TH gây giảm LVEF nhiều hơn TCH tại thời điểm

3 tháng (p = 0) và không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê tại thời điểm 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng

Lý giải kết quả này có lẽ do cỡ mẫu chúng tôi nhỏ,

cần cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá mối liên quan giữa

KẾT LUẬN

Qua hồi cứu theo dõi 197 trường hợp bệnh nhân carcinôm vú giai đoạn I, II, III được điều trị tại bệnh viện Ung Bướu TP HCM từ 01/01/2014 đến tháng 31/12/2016, sau khi phân tích chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

Xác suất sống còn không bệnh 5 năm là 92,5%, xác suất sống còn toàn bộ 5 năm là 98,2% ở nhóm hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sống còn không bệnh 5 năm theo độ tuổi, tình trạng kinh nguyệt, kích thước bướu, grad mô học, giai đoạn sau mổ và phác đồ hóa trị

Tình trạng di căn hạch là yếu tố tiên lượng độc lập với sống còn không bệnh

Yếu tố tiên lượng độc lập thì chưa được xác lập đối với sống còn toàn bộ

Sử dụng hóa trị hỗ trợ kết hợp trastuzumab trong carcinôm vú tương đối an toàn cho bệnh nhân: các độc tính độ 3, 4 về huyết học (giảm BCĐNTT có sốt (6,09%), giảm Hb (2,5%), giảm TC (2,5%)) không đáng kể và có thể kiểm soát được Độc tính tim mạch: không có trường hợp nào bị suy tim, chỉ có 1,5% giảm LVEF có ý nghĩa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cung Thị Tuyết Anh, Hồ Văn Trung, và cs (2012), "Xạ trị bổ túc sau phẫu thuật đoạn nhũ

nạo hạch ung thư vú giai đoạn sớm" Tạp chí ung Thư Học Việt Nam, tập 4, tr 350 - 355

2 Bùi Diệu Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn và

cộng sự, (2012), "Gánh nặng bệnh ung thư và chiến lược phòng chống ung thư quốc gia đến năm 2020" Tạp Chí Ung Thư Học, tập 1,

tr 13 - 19

3 Phùng Thị Huyền (2016), "Đánh giá kết quả hoá

trị bổ trợ kết hợp trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III", Luận án tiến sĩ Y

học, Trường Đại học Y Hà Nội

4 Trần Nguyên Hà (2013), "Bước đầu đánh giá điều trị tân hỗ trợ ung thư vú có thụ thể HER (+)" Tạp chí ung Thư Học Việt Nam, tập 4,

tr 400 - 408

5 Advani P P., Ballman K V., Dockter T J et al (2016), "Long-term cardiac safety analysis of NCCTG N9831 (Alliance) adjuvant trastuzumab trial" Journal of Clinical Oncology, vol 34 (6),

pp 581

Ngày đăng: 21/01/2021, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w