1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn và đường dưới hàm trên phim X quang

9 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 354,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng với 94 bệnh nhân gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới tại khoa phẫu thuật hàm mặt- Bệnh viện Răng Hàm Mặt TW TP.HCM. Nghiên cứu nhằm theo dõi và đánh giá trên phim X quang kết quả điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn so sánh với đường dưới hàm.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY CỔ LỒI CẦU XƯƠNG HÀM DƯỚI BẰNG KẾT HỢP XƯƠNG QUA ĐƯỜNG MIỆNG VỚI NỘI SOI HƯỚNG DẪN

VÀ ĐƯỜNG DƯỚI HÀM TRÊN PHIM X QUANG

Hồ Nguyễn Thanh Chơn*, Lâm Hoài Phương*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Theo dõi và đánh giá trên phim X quang kết quả điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới bằng kết

hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn so sánh với đường dưới hàm

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng với 94 bệnh

nhân gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới được chia thành hai nhóm kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn (nhóm B) và đường dưới hàm (nhóm A) tại khoa Phẫu thuật hàm mặt- Bệnh viện Răng Hàm Mặt

TW TPHCM, được theo dõi và so sánh đánh giá trên phim toàn cảnh và Towne’s cho đến sau phẫu thuật 6 tháng

Kết quả: 92% ổ gãy nhóm A và 90% nhóm B có tiếp hợp xương tốt ngay sau phẫu thuật, 100% nhóm A và

98 % nhóm B có tiếp hợp xương tốt sau phẫu thuật 6 tháng Mỗi nhóm có 88% ổ gãy lành thương xương tốt đến giai đoạn cuối cùng ở thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật

Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới bằng kết hợp xương qua đường

miệng với nội soi hướng dẫn và đường dưới hàm đều mang lại kết quả lành thương tốt, đúng giải phẫu học trên phim, tuy nhiên có một tỉ lệ nhỏ lỏng vít ở cả hai nhóm được ghi nhận

Từ khóa: Gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới, đường miệng, nội soi hướng dẫn, lỏng vít

ABSTRACT

RADIOGRAPHIC EVALUATION OF TREATMENT OUTCOME OF SUBCONDYLAR MANDIBULAR FRACTURES BY OSTEOSYNTHESIS VIA ENDOSCOPIC-ASSISTED INTRAORAL APPROACH

Ho Nguyen Thanh Chon, Lam Hoai Phuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 276 - 284

Objectives: To radio graphically follow up and evaluate the treatment outcomes of mandibular subcondylar

fractures by osteosynthesis via endoscopic-assisted intraoral approach compared with submandibular approach

Methods: A randomized controlled trial with 94 patients of subcondylar fractures divided into two groups

by osteosynthesis via endoscopic-assisted intraoral approach (group B) and submandibular approach (group A) at Department of Maxillofacial Surgery-National Hospital of Odonto-Stomatology at Ho Chi Minh City, were radio graphically followed up and evaluated by panoramic radiograph and Towne’s up to 6 months

Results: 92% fracture sites of group A and 90% group B are healed well with right anatomical position

postoperatively, 100% group A and 98% group B are healed well 6 months postoperative There are 88% fracture sites with good anatomy to final stage each group at 6 months postoperative

Conclusion: This study showed that osteosynthesis of subcondylar fractures via endoscopic-assisted

intraoral approach and submandibular approach provided the success for bone healing and anatomy, but there are some cases of screw loosening in both groups

Key words: Mandibular subcondylar fractures, intraoral approach, endoscopic-assisted, screw loosening

* Bộ môn Phẫu thuật hàm mặt-Khoa Răng Hàm Mặt-Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tỉ lệ gãy lồi cầu xương hàm dưới chiếm tỉ

lệ khá cao trong gãy xương hàm dưới, khoảng

30-50%(9,12) và gần một nửa con số đó là gãy cổ

lồi cầu Lồi cầu đóng vai trò quan trọng trong

chức năng ăn nhai, vận động hàm dưới và còn

đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng

trưởng của xương hàm dưới Do vậy, gãy lồi

cầu sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến chức năng của hệ

thống nhai; sự di lệch của lồi cầu gãy sẽ phá

vỡ sự toàn vẹn cấu trúc diện khớp, đĩa khớp,

các dây chằng và cơ bám dính vào khớp; từ đó

có thể để lại các di chứng như loạn năng khớp,

cứng khớp, rối loạn vận động hàm dưới, rối

loạn tăng trưởng hàm dưới, sai khớp cắn…ảnh

hưởng trực tiếp đến chức năng ăn nhai và

thẩm mỹ của bệnh nhân(10)

Với hai phương pháp bảo tồn và phẫu thuật

trong điều trị gãy cổ lồi cầu, trong đó phương

pháp bảo tồn tương đối đơn giản tuy nhiên

không thể đạt được sự nắn chỉnh đúng giải phẫu

học tại ổ gãy, nhất là trong các trường hợp gãy di

lệch nhiều và gãy trật khớp Trong khi đó,

phương pháp phẫu thuật với việc nắn chỉnh hở

và kết hợp xương (KHX) tại ổ gãy đã chứng tỏ

kết quả tốt về giải phẫu và chức năng tốt ngay

sau phẫu thuật(5,7,10) Do đó, hiện nay cùng với

việc phát triển mạnh mẽ về vật liệu, dụng cụ và

trang thiết bị hỗ trợ phẫu thuật, thì việc điều trị

gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới (CLC XHD) bằng

phương pháp phẫu thuật đang ngày càng trở

nên phổ biến Có nhiều đường vào phẫu thuật

kết hợp xương cổ lồi cầu, trong đó các đường

vào phẫu thuật ngoài mặt gồm các đường vào

trước tai, sau hàm và dưới hàm đã được báo cáo

có một số biến chứng xảy ra như dò nước bọt,

sẹo mổ có thể nhìn thấy được, tổn thương tạm

thời hay vĩnh viễn nhánh của thần kinh mặt Bên

cạnh đó, đường vào phẫu thuật trong miệng với

nội soi hướng dẫn đang dần chứng minh được

ưu điểm với việc hạn chế tối đa các biến chứng

trên(4,6,13) Tuy nhiên, các đường vào phẫu thuật

đều có đề cập đến các biến chứng có thể xảy ra

khi khảo sát trên phim X quang như gãy nẹp, lỏng vít, biến dạng nẹp… Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị gãy

cổ lồi cầu xương hàm dưới bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn trên phim X quang” nhằm đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật KHX CLC qua đường miệng với nội soi hướng dẫn khi so sánh với đường dưới hàm trên phim X quang với các mục tiêu sau:

Đánh giá trên phim X quang kết quả điều trị phẫu thuật gãy CLC XHD qua đường dưới hàm Đánh giá trên phim X quang kết quả điều trị phẫu thuật gãy CLC XHD qua đường miệng với nội soi hướng dẫn

So sánh trên phim X quang kết quả điều trị phẫu thuật gãy CLC XHD qua đường miệng với nội soi hướng dẫn và đường dưới hàm

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

94 bệnh nhân (BN) chấn thương gãy CLC XHD có di lệch một bên hoặc hai bên (theo phân loại của Dechaume)(2) nhập viện vào khoa Phẫu thuật hàm mặt, bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương TPHCM, trong khoảng thời gian từ tháng

9 năm 2011 đến tháng 10 năm 2013

Tiêu chuẩn chọn mẫu

- BNcó chỉ định điều trị phẫu thuật gãy cổ lồi cầu theo Bhagol & cs(1)

- BN có sức khỏe toàn thân cho phép tiến hành gây mê phẫu thuật

- BN có các răng còn lại trên hai hàm đủ vững chắc và đạt được vị trí lồng múi tối đa

- BN đồng ý phẫu thuật và đồng ý tham gia nghiên cứu

- BN có khả năng hợp tác trong quá trình điều trị, bao gồm việc tái khám đúng hẹn, chụp

đủ phim theo yêu cầu và thực hiện tốt việc tập luyện tại nhà theo đúng hướng dẫn

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

- BN gãy cổ lồi cầu do bệnh lý, gãy vụn/gãy

thiếu hổng cổ lồi cầu

- BN có bệnh lý toàn thân chống chỉ định

phẫu thuật gây mê toàn diện qua nội khí quản

- BN không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm

chứng

Dụng cụ-vật liệu nghiên cứu

- Máy khoan xương và bộ dụng cụ phẫu

thuật kết hợp xương hàm mặt

- Bộ dụng cụ sử dụng nẹp-vít nhỏ cùng nẹp,

vít và bộ trocar (Jeil, Hàn Quốc)

- Bộ dụng cụ sử dụng nẹp-vít nhỏ với tay

khoan và bắt vít 90o và bộ dụng cụ hỗ trợ kết hợp

xương CLC qua đường miệng dưới hướng dẫn

nội soi (Synthes, Hoa Kỳ)

- Máy nội soi với ống nội soi đường kính

4mm, góc nghiêng 300 (Wolf, Đức)

- Cung và chỉ thép cố định hàm

Tiến trình nghiên cứu

Chuẩn bị bệnh nhân:

- Giải thích cho bệnh nhân rõ về sự cần thiết

của điều trị phẫu thuật và tái khám đúng hẹn

- Giải thích bệnh nhân về ưu và nhược điểm

của mỗi phương pháp đồng thời cung cấp cho

bệnh nhân bảng thông tin đi kèm với bản chấp

thuận tham gia nghiên cứu, trong đó bệnh

nhân/thân nhân là người chọn (ký tên) phương

pháp phẫu thuật theo đường dưới hàm hay theo

đường miệng với nội soi hướng dẫn, nhấn mạnh

đường dưới hàm là phương pháp quen thuộc

thường được thực hiện tại bệnh viện, còn đường

miệng dưới nội soi hướng dẫn là phương pháp

mới được triển khai tại bệnh viện

- Hỏi bệnh nhân về tiền sử và bệnh sử, khám

bệnh nhân và lập hồ sơ bệnh án nghiên cứu

- Chụp phim: Toàn cảnh, mặt thẳng, Towne’s

và cắt lớp điện toán có tái tạo 3 chiều (nếu cần)

Thu thập thông tin trước phẫu thuật

- Ghi nhận mức độ di lệch (sử dụng phân loại của Bhagol)(1): có 3 mức độ di lệch: di lệch ít/

di lệch trung bình/di lệch nhiều

- Ghi nhận tương quan giữa đầu lồi cầu và hõm khớp (sử dụng phân loại của Lindahl)(8): không di lệch/ có di lệch trong hõm khớp/trật khớp

- Ghi nhận các vị trí gãy khác ở xương hàm dưới (cằm/cành ngang/góc hàm/cành cao/mỏm vẹt) và tầng giữa mặt (nếu có)

Tiến trình điều trị

Các bệnh nhân được chia thành 2 nhóm, nhóm A là nhóm bệnh nhân chọn phẫu thuật theo đường dưới hàm, nhóm B là nhóm chọn phẫu thuật theo đường miệng với nội soi hướng dẫn

Đánh giá kết quả

Tất cả bệnh nhân đều được đánh giá trên phim X quang bằng một người đánh giá độc lập

Các tiêu chí đánh giá: Bệnh nhân được chụp phim toàn cảnh và Towne’s và đánh giá kết quả ở tuần đầu tiên sau mổ, một tháng và sáu tháng sau mổ; được ghi nhận các dấu hiệu sau trên phim:

- Tiếp hợp xương: tốt/lệch ít/lệch nhiều

- Tương quan lồi cầu-hõm khớp: không di lệch/lệch ít/trật khớp

- Gãy nẹp/vít: có/không

- Lỏng vít: có/không

- Đánh giá sự lành thương xương trên phim vào thời điểm 6 tháng sau mổ, chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: không có sự thay đổi trên phim, không có hình ảnh canxi hóa giữa các đường gãy, có một đường thấu quang ở đường gãy

Trang 4

+ Giai đoạn 2: tìm thấy hình ảnh tiêu xương

và có sự tăng vùng thấu quang ở vị trí đường

gãy

+ Giai đoạn 3: có hình ảnh canxi hóa giữa các

đường gãy, có sự tạo xương ở đường gãy

+ Giai đoạn 4: không có hình ảnh thấu quang

ở vị trí đường gãy, quan sát thấy hình ảnh liền

xương, không còn phân biệt được đường gãy

Xử lý và phân tích kết quả

Các dữ liệu sau mỗi lần điều trị và theo dõi

được nhập liệu và phân tích bằng phần mềm

SPSS 14.0 for Windows, sử dụng các kiểm định

χ2, t test khi cần thiết, với độ tin cậy p<0.05 và

khoảng tin cậy 95%

KẾT QUẢ

Kết quả nghiên cứu có 94 BN với 103 ổ gãy

CLC được kết hợp xương chia đều cho 2 nhóm,

mỗi nhóm 47 BN, trong đó nhóm A có 52 ổ gãy

(5 BN KHX 2 bên), nhóm B có 51 ổ gãy (4 BN

KHX 2 bên) Bảng 1 cho thấy tuổi trung bình của

mẫu nghiên cứu là 28 và tuổi trung bình của 2

nhóm gần tương đương nhau (27 so với 29), sự

khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05,

trong đó nhóm B có bệnh nhân tuổi lớn nhất là

62 tuổi so với nhóm A là 44 tuổi

Bảng 1 Phân bố tuổi của mẫu nghiên cứu

Nhóm A Nhóm B Tổng mẫu P

Tuổi trung bình 27 ± 7,8 29 ± 9,8 28 ± 8,9 0,376*

* So sánh tuổi trung bình giữa 2 nhóm (t-test)

Bảng 2 Phân bố giới tính của mẫu nghiên cứu

Nhóm A (n=47)

Nhóm B (n=47)

Tổng mẫu (n=94)

p*

Nam

Số lượng

79 p=0,398

Nữ

Số lượng

* So sánh khác biệt giới tính giữa 2 nhóm A và B (χ 2 =0,714) ** So sánh khác biệt giữa hai giới (phép kiểm χ 2 )

Bảng 2 cho thấy tỉ lệ nam vượt trội trong mỗi nhóm với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05), trong đó tỉ lệ nữ trong nhóm B ít hơn trong nhóm A, tuy nhiên sự khác biệt này không

có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Bảng 3 Mức độ di lệch ổ gãy cổ lồi cầu trước phẫu thuật

Nhóm A (n=52) Nhóm B (n=51) Tổng mẫu (n=103)

p*

p=0,233

* So sánh khác biệt mức độ di lệch giữa 2 nhóm A và B (χ 2 =1,423) ** So sánh khác biệt giữa các mức độ di lệch (phép kiểm χ 2 )

Bảng 3 cho thấy không có bệnh nhân nào có

mức độ di lệch ít trong mẫu nghiên cứu Đa số

bệnh nhân có mức độ di lệch trung bình (85% ở

nhóm A và 92% ở nhóm B) với khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p<0,05) Tuy nhiên, mức độ di lệch của ổ gãy giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Bảng 4 Tương quan giữa đầu lồi cầu và hõm khớp trước phẫu thuật

Nhóm A (n=52) Nhóm B (n=51) Tổng mẫu (n=103)

p*

p=0,272

* So sánh khác biệt tương quan lồi cầu và hõm khớp giữa 2 nhóm A và B (χ 2 =2,600) ** So sánh khác biệt giữa các mức độ

Trang 5

Bảng 4 cho thấy đa số bệnh nhân ở cả hai

nhóm có đầu lồi cầu không di lệch trong hõm

khớp (73% ở nhóm A và 78% ở nhóm B), còn lại

là di lệch ít và trật khớp với khác biệt có ý nghĩa

thống kê (p<0,05) So sánh giữa hai nhóm cho

thấy tỉ lệ bệnh nhân trật khớp ở nhóm A là 15% cao hơn ở nhóm B (6%), tuy nhiên sự khác biệt

về các mức độ tương quan giữa đầu lồi cầu và hõm khớp giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Bảng 5 Tỉ lệ và số lượng gãy phối hợp các vị trí khác ở xương hàm dưới

Vị trí gãy Nhóm A (n=47) Nhóm B (n=47) Tổng mẫu (n=94)

Số BN Tỉ lệ Số BN Tỉ lệ Số BN Tỉ lệ

Bảng 5 cho thấy vùng cằm chiếm tỉ lệ cao

nhất trong gãy XHD phối hợp ở cả hai nhóm, kế

đến là vùng cành ngang, góc hàm Cả hai nhóm

đều có một tỉ lệ khá tương đồng bệnh nhân gãy

CLC đơn thuần, không có gãy phối hợp XHD ở các vị trí khác

Bảng 6 Tỉ lệ và số lượng bệnh nhân gãy xương tầng giữa mặt (TGM) phối hợp

Vị trí gãy Nhóm A (n=47) Nhóm B (n=47) p Tổng mẫu (n=94)

Số BN Tỉ lệ Số BN Tỉ lệ Số BN Tỉ lệ

Gãy phức hợp gò má/

cung tiếp đơn thuần

p=0,263

Bảng 6 cho thấy số lượng gãy xương tầng

giữa mặt phối hợp chiếm trên ¼ tổng số BN,

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

giữa 2 nhóm

Bảng 7 Đánh giá hình ảnh tiếp hợp xương

1 tuần 1 tháng 6 tháng

SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ

Nhóm A

(n=52)

Nhóm B

(n=51)

Tổng

mẫu

(n=103)

Bảng 7 cho thấy đa số bệnh nhân đều có tiếp

hợp xương tốt sau phẫu thuật (91%) (không thay

đổi sau phẫu thuật 1 tuần và 1 tháng), hầu hết đều tốt ở thời điểm tháng thứ 6 (98%) và chiếm tỉ

lệ khá tương đương giữa 2 nhóm với khác biệt không có ý nghĩa thống kê (χ2 = 1,033, p = 0,597 > 0,05 ở 1 tuần và 1 tháng; χ2 = 2,080, p=0,149 > 0,05

ở 6 tháng)

Bảng 8 Đánh giá tương quan giữa đầu lồi cầu-hõm

khớp

1 tuần 1 tháng 6 tháng

SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ

Nhóm A (n=52)

Không lệch 50 96% 50 96% 51 98%

Nhóm B (n=51)

Không lệch 49 96% 49 96% 50 98%

Tổng mẫu (n=103)

Không lệch 99 96% 99 96% 101 98%

Trang 6

Bảng 8 cho thấy tương quan giữa đầu lồi

cầu và hõm khớp tương tự nhau trong tuần

đầu và sau phẫu thuật 1 tháng Không có

trường hợp nào sau phẫu thuật có tình trạng

trật khớp, hầu hết là không di lệch, chiếm 96%

tương đương nhau ở cả 2 nhóm Sau phẫu

thuật 6 tháng, tương quan giữa đầu lồi cầu và

hõm khớp giữa 2 nhóm cũng tương đương

nhau, trong đó tình trạng không di lệch tăng

lên với tỉ lệ 98%, tuy nhiên sự khác nhau này

so với sau phẫu thuật 1 tháng không có ý

nghĩa thống kê (p=0,317>0,05)

Bảng 9 cho thấy nhóm A có biến chứng gãy

nẹp ở 1 trường hợp xảy ra sau mổ 2 tháng Mỗi

nhóm đều có 1 trường hợp lỏng vít, nhóm A xảy

ra sau mổ 1 tháng còn nhóm B sau mổ 2 tháng

Bảng 9 Các biến chứng liên quan nẹp-vít

1 tháng 2 tháng 6 tháng

SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ

Gãy nẹp

Tổng mẫu (n=103)

Lỏng vít

Tổng mẫu (n=103)

Bảng 10 Đánh giá lành thương xương sau phẫu thuật 6 tháng

Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Giai đoạn 4

p*

SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ

* So sánh khác biệt giữa các giai đoạn lành thương xương trong mỗi nhóm và tổng mẫu ** So sánh khác biệt lành thương xương giữa hai nhóm A và B (χ 2 =1,092)

Bảng 10 cho thấy đa số ổ gãy đều lành

thương xương tốt đến giai đoạn cuối cùng (giai

đoạn 4) với tỉ lệ tương đương nhau ở cả 2 nhóm

(88%) ở thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật, không

có ổ gãy lành thương ở giai đoạn 1, tuy nhiên

nhóm A có 1 trường hợp lành thương xương

chậm, chỉ đến giai đoạn 2 (khác biệt về tỉ lệ ổ gãy

ở các giai đoạn lành thương xương có ý nghĩa

thống kê với p<0,05, nhưng không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh giữa hai

nhóm với p>0,05)

BÀN LUẬN

Với 94 BN trong nghiên cứu có độ tuổi trải

dài từ 16 đến 62, có thể nói rằng mẫu nghiên cứu

đại diện được cho các bệnh nhân trong độ tuổi

trưởng thành (bảng 1) Trong đó, độ tuổi trung

bình của hai nhóm đều nằm trong lứa tuổi lao

động, tham gia giao thông nhiều nên tỉ lệ chấn

thương cao hơn các nhóm lứa tuổi khác và phù

hợp với nhiều nghiên cứu chấn thương trong y

mẫu nghiên cứu (84%) cũng là vấn đề thường gặp và phù hợp với y văn (bảng 2)

Mức độ di lệch của ổ gãy cổ lồi cầu được Bhagol & cs (2011)(1) chia thành 3 mức độ di lệch và từ đó đưa ra chỉ định điều trị phẫu thuật hay bảo tồn Mức độ di lệch ít gồm các trường hợp gập góc dưới 100 và/hoặc giảm chiều cao cành cao dưới 2mm được tác giả chỉ định điều trị bảo tồn Không có bệnh nhân nào trong mẫu nghiên cứu có mức độ di lệch ít Mức độ di lệch trung bình chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn mức độ di lệch nhiều trong mẫu nghiên cứu cho thấy gãy cổ lồi cầu thường gặp mức

độ di lệch trung bình hơn, đó là các trường hợp giảm chiều cao cành cao từ 2 đến 15 milimet và/hoặc độ di lệch gập góc trong khoảng 10-350 (bảng 3) Không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê về mức độ di lệch giữa hai nhóm nghiên cứu cho thấy sự tương đồng về mức độ di lệch của ổ gãy cổ lồi cầu trước phẫu thuật ở hai nhóm, dễ dàng thực hiện việc so

Trang 7

sánh đánh giá kết quả điều trị giữa hai nhóm

với độ tin cậy cao

Về tương quan giữa đầu lồi cầu và hõm

khớp trong mẫu nghiên cứu trước phẫu thuật

cho thấy tỉ lệ đầu lồi cầu không di lệch trong

hõm khớp chiếm ưu thế hơn hai trường hợp

còn lại là di lệch ít trong hõm khớp và trật

khớp (bảng 4) Các trường hợp trật khớp trong

mẫu nghiên cứu chủ yếu là trật khớp ra trước

và/hoặc vào trong do sự co kéo của cơ chân

bướm ngoài Việc kết hợp xương cổ lồi cầu

trong trường hợp có trật khớp là một thách

thức đáng kể, làm kéo dài thời gian PT hơn các

trường hợp không có trật khớp một cách

khách quan, nhất là trong trường hợp phẫu

thuật qua đường miệng với nội soi hướng dẫn

Trong mẫu nghiên cứu không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm phẫu thuật

về tương quan giữa đầu lồi cầu và hõm khớp

trước phẫu thuật nên có thể thực hiện so sánh

đánh giá kết quả điều trị một cách tương

đồng

Với cơ chế chấn thương gãy CLC do tác

động lực vào vùng cằm thì gãy xương phối hợp

ở vùng cằm xảy ra với tỉ lệ cao nhất vượt trội ở

cả hai nhóm là rất phù hợp, kế đến là vùng cành

ngang (bảng 5) Cần thiết phải kết hợp xương

đúng giải phẫu nếu có chỉ định ở các vị trí gãy

phối hợp này tạo thuận lợi cho việc nắn chỉnh và

KHX CLC và dễ dàng đưa về được khớp cắn

đúng như trước khi chấn thương Trong nghiên

cứu còn có một tỉ lệ đáng kể (16%) gãy CLC đơn

thuần, đây là số lượng BN có giá trị để đánh giá

kết quả điều trị, giảm thiểu khả năng gây nhiễu

như trong trường hợp có gãy phối hợp XHD ở vị

trí khác mặc dù các vị trí này cũng đã được KHX

đúng giải phẫu

Một tỉ lệ không nhỏ, chiếm trên ¼ mẫu là

các trường hợp gãy phối hợp tầng giữa mặt

(bảng 6) Trong đó, với một nửa là gãy phức

hợp gò má/cung tiếp đơn thuần và một nửa là

các kiểu gãy làm di lệch cung răng trên Gãy

phức hợp gò má/cung tiếp đơn thuần mặc dù

không làm di lệch cung răng trên, không ảnh

hưởng đến tiến trình can thiệp vào ổ gãy cổ lồi cầu và khớp cắn nhưng cũng ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình hồi phục, đến quá trình theo dõi và đánh giá vận động chức năng hàm dưới Trong khi đó, các trường hợp gãy di lệch cung răng trên như các kiểu gãy Lefort I, II, III, gãy dọc giữa/dọc bên xương hàm trên, gãy khối xương ổ răng hàm trên sẽ có sự can thiệp vào khớp cắn, ảnh hưởng đến kế hoạch điều trị phối hợp với gãy cổ lồi cầu, ảnh hưởng đến quá trình điều trị do có khả năng cố định liên hàm tăng cường, đồng thời cũng ảnh hưởng đến tiến trình theo dõi và đánh giá khớp cắn cũng như vận động chức năng hàm dưới Các trường hợp này thường là các bệnh nhân chấn thương gãy phức hợp liên tầng mặt và việc điều trị cũng phức tạp hơn

Việc đánh giá trên phim được thực hiện trên

cả hai mặt phẳng đứng dọc (phim toàn cảnh) và đứng ngang (phim Towne’s) để bổ sung cho nhau Đánh giá dấu hiệu tiếp hợp xương ngay sau phẫu thuật đều thể hiện đa số bệnh nhân có tiếp hợp xương tốt với tỉ lệ rất cao tương đương nhau ở hai nhóm (92% ở nhóm đường dưới hàm

và 90% ở nhóm đường miệng với nội soi hướng dẫn) Chỉ có 1 bệnh nhân ở nhóm đường miệng với nội soi hướng dẫn có kết quả tiếp hợp xương lệch nhiều trên phim chụp kiểm tra ngay sau phẫu thuật (bảng 7) Tuy nhiên, do hiện tượng tiêu xương bên dư và tạo xương bên thiếu tại ổ gãy theo thời gian nên sau thời gian theo dõi đến thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật, thì 100% nhóm đường dưới hàm và 98% nhóm đường miệng với nội soi hướng dẫn có tiếp hợp xương tốt, còn lại trường hợp tiếp hợp xương lệch nhiều ngay sau phẫu thuật ở nhóm đường miệng với nội soi hướng dẫn trở thành tiếp hợp xương lệch ít Trong khi đó, khi so sánh với nghiên cứu của Schneider & cs (2007) cho thấy chỉ 52% nhóm đường miệng và 88% nhóm đường ngoài mặt được nắn chỉnh chính xác giải phẫu khi đánh giá trên phim(11)

Hầu hết ổ gãy đều có đầu lồi cầu không di lệch trong hõm khớp sau phẫu thuật (bảng 8),

Trang 8

chỉ 4% của mẫu nghiên cứu có tình trạng di lệch

ít trong hõm khớp ngay sau phẫu thuật và

không thay đổi sau phẫu thuật 1 tháng Tất cả

tình trạng trên đều tương đương nhau ở cả hai

nhóm phẫu thuật theo đường dưới hàm và

đường miệng với nội soi hướng dẫn ở các thời

điểm đánh giá Ở thời điểm 6 tháng sau phẫu

thuật, 98% ổ gãy trong mẫu nghiên cứu có tương

quan giữa đầu lồi cầu và hõm khớp hoàn toàn

bình thường, chỉ còn 1 trường hợp ở mỗi nhóm

có đầu lồi cầu di lệch ít trong hõm khớp Năm

2011, trong nghiên cứu về các trường hợp biến

chứng sau phẫu thuật kết hợp xương cổ lồi cầu

qua đường miệng với nội soi hướng dẫn,

Domanski & cộng sự đã trình bày một trường

hợp nắn chỉnh kém, bắt vít vào ngay đường gãy

nên dẫn đến ổ gãy vẫn còn gập góc nhiều và trật

khớp vào trong(3) Trong thực tế, các trường hợp

trật khớp trước phẫu thuật phải được nắn chỉnh

vào đúng hõm khớp trong quá trình phẫu thuật

cùng với việc nắn chỉnh đúng tiếp hợp xương

Thực sự việc nắn chỉnh ổ gãy có trật khớp khó

khăn hơn hẳn các trường hợp ổ gãy không trật

khớp Quá trình nắn chỉnh đầu lồi cầu vào hõm

khớp phải gián tiếp thông qua việc nắn chỉnh

mảnh gãy lồi cầu vào đúng tiếp hợp xương đồng

thời khớp cắn vào đúng

Các biến chứng liên quan đến việc KHX

nẹp-vít gồm gãy nẹp và lỏng nẹp-vít được đánh giá trong

bảng 9 cho thấy rằng nhóm đường dưới hàm có

1 BN gãy nẹp xảy ra ở thời điểm 2 tháng sau

phẫu thuật trong khi nhóm đường miệng với nội

soi hướng dẫn không có BN nào có biến chứng

này Nẹp bị gãy tại vị trí cầu nối giữa hai bên ổ

gãy trên nẹp có 2 vít ở mỗi bên ổ gãy Tuy nhiên

trong nghiên cứu này nhiều bệnh nhân được

KHX bằng hai nẹp giúp gia cố ổ gãy và chịu lực

được tốt mặc dù đây là KHX theo kiểu “chia

lực” Do đó, ở BN gãy nẹp hiện tượng gãy xảy ra

trên nẹp bắt ở phía bờ sau CLC và ổ gãy còn có

một nẹp phía bờ trước ổ gãy để chịu lực Theo cơ

sinh học của XHD thì bờ trước CLC là nơi chịu

lực căng khi ăn nhai do đó sự hiện diện của nẹp

một đai giảm căng Mặc khác, hiện tượng gãy nẹp ghi nhận được ở thời điểm 2 tháng sau phẫu thuật là thời điểm ổ gãy CLC đã có sự lành thương xương cần thiết để chịu lực Bên cạnh đó, nghiên cứu còn ghi nhận được hiện tượng lỏng vít với 1 trường hợp ở nhóm đường dưới hàm vào thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng và ở nhóm đường miệng với nội soi hướng dẫn vào thời điểm sau phẫu thuật 2 tháng Cả hai nhóm đều

có vít lỏng trên nẹp có 2 vít ở mỗi bên ổ gãy Ở nhóm đường dưới hàm hiện tượng lỏng vít chỉ xảy ra trên 1 vít tại vị trí lỗ phía xa của mảnh gãy lồi cầu còn ở nhóm đường miệng với nội soi hướng dẫn xảy ra hiện tượng lỏng ở cả hai vít trên mảnh gãy lồi cầu Không có vít nào bị lỏng ở phần lỗ bắt vào vị trí cành cao trong cả hai nhóm Cũng như hiện tượng gãy nẹp thì vít lỏng xảy ra trên nẹp bắt ở vị trí bờ sau CLC Tuy trường hợp ở nhóm đường miệng với nội soi hướng dẫn có cả hai vít đều lỏng nhưng ghi nhận ở thời điểm sau phẫu thuật hai tháng và còn có một nẹp bắt ở vị trí bờ trước CLC nên không ảnh hưởng đến sự vững ổn của ổ gãy Tuy vậy, điều cần lưu ý là mảnh lồi cầu gãy sẽ có xương xốp hơn các vị trí còn lại của xương hàm dưới nên cần cẩn thận khi khoan lỗ bắt vít trên mảnh gãy lồi cầu và đường kính mũi khoan nên

có kích thước nhỏ hơn so với đường kính vít để tránh xảy ra hiện tượng lỏng vít khi bắt vít vào phần mảnh gãy lồi cầu So sánh trong y văn với nghiên cứu của Hammer & cs (1997) thực hiện KHX CLC bằng nẹp-vít nhỏ trên 31 ổ gãy, có 4 trường hợp gãy nẹp và 3 trường hợp lỏng vít(4) được ghi nhận cho thấy đây cũng là những biến chứng có thể gặp trong quá trình điều trị phẫu thuật KHX CLC Với 1 trường hợp gãy nẹp và 3 vít lỏng trên 103 ổ gãy CLC được KHX trong nghiên cứu này cũng là điểm đáng khích lệ khi

so sánh với nghiên cứu của Hammer & cs (1997) Bên cạnh đó, Schneider & cs (2007) đã trình bày báo cáo trong đó tác giả so sánh hiệu quả điều trị phẫu thuật gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới qua đường miệng và đường quanh góc hàm, một biến thể của đường dưới hàm(11) Mỗi nhóm

Trang 9

phẫu thuật qua đường miệng và qua đường

quanh góc hàm đều có 20 bệnh nhân được theo

dõi sau phẫu thuật 6 tháng Nhóm đường miệng

có thể được hỗ trợ nội soi khi cần và được kết

hợp xương bằng nẹp-vít còn nhóm đường

quanh góc hàm được kết hợp xương bằng vít

nén ép hoặc nẹp-vít Mỗi nhóm đều có 1 bệnh

nhân gãy nẹp/vít Có 8 trường hợp lỏng vít ở

nhóm đường miệng và 1 ở nhóm quanh góc hàm

(có thể do nhóm này chủ yếu được KHX bằng vít

nén ép) So sánh nghiên cứu này với nghiên cứu

của chúng tôi cho thấy với cỡ mẫu lớn hơn và số

lượng vít lỏng trong nhóm đường miệng với nội

soi hướng dẫn ít hơn thì nghiên cứu của chúng

tôi đã đạt được thành công nhất định khi đánh

giá kết quả trên phim XQ

Kết quả lành thương xương được đánh giá

trong bảng 10 cho thấy rằng 88% ổ gãy ở mỗi

nhóm đều có hiện tượng lành thương tốt đến

giai đoạn cuối cùng (giai đoạn 4) ở thời điểm sau

phẫu thuật 6 tháng Chúng ta biết rằng hiện

tượng lành thương gián tiếp ở ổ gãy trải qua 4

giai đoạn và ở thời điểm này chỉ có 1 ổ gãy trong

nhóm đường dưới hàm lành thương qua giai

đoạn 2 cũng là một thành công nữa của nghiên

cứu này

KẾT LUẬN

Với thời gian theo dõi đến thời điểm 6 tháng

sau phẫu thuật trên 103 ổ gãy CLC với 52 ổ gãy

được KHX qua đường dưới hàm và 51 ổ gãy

được KHX qua đường miệng với nội soi hướng

dẫn cho thấy rằng 92% ổ gãy nhóm đường dưới

hàm và 90% nhóm đường miệng với nội soi

hướng dẫn có tiếp hợp xương tốt ngay sau phẫu

thuật, 100% nhóm đường dưới hàm và 98 %

nhóm đường miệng với nội soi hướng dẫn có

tiếp hợp xương tốt sau phẫu thuật 6 tháng Mỗi

nhóm có 88% ổ gãy lành thương xương tốt đến

giai đoạn cuối cùng ở thời điểm 6 tháng sau

phẫu thuật Kết quả đánh giá trên phim X quang

cho thấy việc điều trị phẫu thuật KHX CLC đã

qua đường miệng với nội soi hướng dẫn và

đường dưới hàm đều mang lại kết quả lành

thương tốt, đúng giải phẫu học trên phim, tuy nhiên có một tỉ lệ nhỏ lỏng vít ở cả hai nhóm được ghi nhận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bhagol A, Singh V, Kumar I, Verma A (2011) Prospective evaluation of a new classification system for the management

of mandibular sub-condylar fractures J Oral Maxillofac Surg;

69:1159–1165

2 Dechaume M & cs (1980), Précis de Stomatologie, pp 200-201, Masson

3 Domanski MC, Goodman J, Frake P, Chaboki H (2011) Pitfalls

in endoscopic treatment of mandibular subcondylar fractures

J Craniofac Surg 2011 Nov;22(6):2260-2263

4 Hammer B, Schier P, Prein J (1997) Osteosynthesis of condylar

neck fractures: a review of 30 patients Br J Oral Maxillofac Surg

35:288-291

5 Hoàng TA (2002) Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gẫy lồi cầu xương hàm dưới Luận văn Thạc sỹ y học Trường Đại học Y Hà Nội.Ellis E III & cs (2000) Surgical Complications With Open Treatment of Mandibular Condylar Process

Fractures J Oral Maxillofac Surg 58:950-958

6 Kellman RM & Cienfuegos R (2009) Endoscopic approaches

to subcondylar fractures of the mandible Facial Plast Surg 2009

Feb;25(1):23-8

7 Lê VP (2009) Nhận xét đặc điểm lâm sàng, X quang và kết quả điều trị phẫu thuật gẫy lồi cầu xương hàm dưới tại Viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ y học Đại học Y Hà Nội

8 Lindahl L (1977) Condylar fractures of the mandible I Classification and relation to age, occlusion, and concomitant injuries of teeth and teeth-supporting structures, and fractures

of the mandibular body Int J Oral Surg 6 (1): 12-21

9 Mitchell DA (1997) A multicentre audit of unilateral fracture

of the mandibular condyle J Oral Maxillofac Surg 35 (4): 230-

236

10 Phạm DC & cs (2000) Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật 88 trường hợp gẫy lồi cầu xương hàm dưới Y học Việt Nam Chuyên đề Răng Hàm Mặt Số 8,9: 47-49

11 Schneider M, Lauer G, Eckelt U (2007) Surgical treatment of fractures of the mandibular condyle: a comparison of long-term results following different approaches - functional,

axiographical, and radiological findings J Craniomaxillofac

Surg 35(3):151-160

12 Silvennoinen U, Iizuka T, Oikarinen K, Lindqvist C (1992) Different patterns of condylar fractures: an analysis of 382

patients in a 3- year period J Oral Maxillofac Surg 50 (10): 1032-

1037

13 Troulis MJ & Kaban LB (2001) Endoscopic approach to the

ramus/condyle unit: Clinical applications J Oral Maxillofac

Surg May;59(5):503-509

Ngày nhận bài báo: 30/01/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/02/2015 Người phản biện: TS Nguyễn Thị Bích Lý Ngày bài báo được đăng: 10/04/2015

Ngày đăng: 21/01/2020, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm