Bài viết trình bày các nội dung chính: Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh 4 năm và sống còn toàn bộ 4 năm của BN UTV giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức Her2 được hóa trị hỗ trợ. Khảo sát sự tương quan giữa sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ với các yếu tố liên quan.
Trang 1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HÓA TRỊ HỖ TRỢ TRONG UNG THƯ VÚ
GIAI ĐOẠN I, II, III CÓ BIỂU HIỆN QUÁ MỨC HER2
TRẦN NGUYÊN HÀ1, PHAN THỊ HỒNG ĐỨC2, PHẠM THỊ ANH THƯ3
1 BSCKII Trưởng Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
2 BSCKII Phó Trưởng Bộ môn Ung Bướu - Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch,
Bác sĩ điều trị Khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu Ung Bướu TP HCM
3 BS Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
TỔNG QUAN
Ung thư vú (UTV) là bệnh ung thư phổ biến ở
nữ giới, nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung
thư ở nữ Tại Việt Nam năm 2013 tỉ lệ mắc UTV ở
mức 24,4/100.000 phụ nữ, đến năm 2018 đã tăng
lên tới 26,4 tương đương 15.229 ca mắc mới, trong
đó có hơn 6.103 ca tử vong[1] Có 15 - 20% BN UTV
có biểu hiện quá mức Her2 Biểu hiện quá mức Her2
là dấu hiệu tiên lượng xấu cho sự tái phát và tử
vong Tình trạng Her2 (gen và protein) có thể dự
đoán về khả năng kháng tamoxifen; độ nhạy cảm với
anthracyclines và taxanes
Sự phát triển các tác nhân nhắm trúng đích
chống Her2, đặc biệt là kháng thể đơn dòng
trastuzumab, đã cải thiện kết quả điều trị cho những
BN UTV có biểu hiện quá mức Her2 Trong điều trị
hỗ trợ, trastuzumab được dùng tuần tự hoặc đồng
thời với hóa trị làm giảm nguy cơ tái phát một nửa
và tỷ lệ tử vong một phần ba[2] Các tác nhân nhắm
trúng đích chống Her2 được tìm ra cải thiện đáng kể
kết quả điều trị đã có sẵn trên thị trường, nhưng quá
tốn kém
Những BN UTV giai đoạn sớm biểu hiện quá
mức Her2 không có khả năng điều trị với liệu pháp
nhắm trúng đích thì hóa trị hỗ trợ có kết quả và độc
tính như thế nào? Từ đó rút ra kinh nghiệm điều trị
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh
giá kết quả của hóa trị hỗ trợ trong UTV giai đoạn
I, II, III có biểu hiện quá mức Her2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh 4 năm và
sống còn toàn bộ 4 năm của BN UTV giai đoạn I, II,
III có biểu hiện quá mức Her2 được hóa trị hỗ trợ
Khảo sát sự tương quan giữa sống còn không
bệnh và sống còn toàn bộ với các yếu tố liên quan
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
UTV là ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới Tỷ lệ mắc UTV ngày càng gia tăng do các yếu tố về môi trường, chế độ ăn, di truyền, nội tiết Tuy nhiên tỷ lệ tử vong do bệnh này được giữ
ổn định nhờ các thành tựu đạt được trong sàng lọc
phát hiện bệnh sớm và điều trị
Ung thư vú biểu hiện quá mức Her2
Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì gồm bốn loại thụ thể: EGFR hay Her1, Her2, Her3 và Her4 Trong
đó được biết đến và được nghiên cứu nhiều nhất là Her2
Hình 7 Gia đình Her2 Nguồn: American Association for Cancer Research
2014
Tất cả 4 RTKs đều là glycoprotein tiểu đơn vị xuyên màng có miền liên kết ngoại bào, miền xuyên màng và miền xúc tác tyrosine kinase nội bào
Trang 2Hình 2 Biểu hiện quá mức HER2
Hướng dẫn ASCO năm 2007 công nhận rằng
Her2 là yếu tố tiên lượng quan trọng trong điều trị
UTV xâm lấn Do đó, Her2 nên được đánh giá ở
tất cả các BN UTV nguyên phát tại thời điểm chẩn
đoán hoặc tái phát để lựa chọn phương pháp điều trị
phù hợp
Sự biểu hiện quá mức Her2 thường liên quan
với grad mô học cao, tỉ lệ tăng trưởng tế bào cao,
thụ thể nội tiết âm tính, đột biến gene p53, khuếch
đại gene topoisomerase IIα…
Điều trị ung thư vú
Phẫu thuật
liệu pháp ban đầu dùng cho phần lớn trường
hợp
từng là liệu pháp được lựa chọn cho UTV tất cả
các giai đoạn, hiện không còn dùng nữa trừ
trường hợp UTV tại chỗ tiến xa (T3, T4b) với
chống chỉ định hóa trị tân hỗ trợ
thuật cắt toàn bộ tuyến vú kèm nạo hạch nách
có bảo tồn cơ ngực lớn, cơ ngực bé, thần kinh
ngực giữa, thần kinh ngực dài và thần kinh
ngực lớn
giai đoạn sớm, cho kết quả thẩm mỹ tốt, cho
tỉ lệ sống còn tương đương với phẫu thuật đoạn
nhũ Để giảm nguy cơ tái phát tại chỗ, sẽ phải
xạ trị bổ túc lên phần vú còn lại để giết những
tế bào ung thư không phát hiện được trên
lâm sàng
Xạ trị
Hầu hết các bệnh nhân sau phẫu thuật bảo tồn
vú đều có chỉ định xạ trị, ngoại trừ bệnh nhân
trị nội tiết, đối tượng bệnh nhân này thường tái phát tại chỗ thấp
Giai đoạn tiến xa tại chỗ, đặc biệt là T4
Có hạch nách di căn trên giải phẫu bệnh
Diện cắt dương tính[39]
Hóa trị
Hóa trị hỗ trợ
Hóa trị hỗ trợ được dùng sau phẫu thuật cho
BN UTV giai đoạn sớm để tiêu diệt những tế bào ung thư không thấy được trên lâm sàng Hóa trị hỗ trợ được dùng khi:
Hạch bạch huyết bị di căn
Bướu lớn có đường kính > 2cm
Độ ác tính cao (grad 3)
BN trẻ dưới 35 tuổi
Xâm nhập mạch bạch huyết và mạch máu Thụ thể nội tiết âm tính
Hóa trị hỗ trợ cải thiện tỉ lệ sống còn không bệnh trong UTV giai đoạn sớm, anthracycline và taxane là hai trong số các nhóm thuốc được lựa chọn phối hợp trong điều trị BN UTV Hóa trị hỗ trợ gây ra nhiều tác dụng độc hại và tốn kém Tuy nhiên không có dấu ấn sinh học nào có thể dự đoán một
BN UTV nhận được lợi ích lâm sàng từ Paclitaxel hoặc liều dày Doxorubicin Biểu hiện quá mức Her2
có liên quan đến tiên lượng xấu Có ý kiến cho rằng biểu hiện quá mức Her2, trong các tế bào UTV không chỉ dự đoán khả năng đáp ứng với trastuzumab mà còn xác định những BN UTV sẽ không đáp ứng với CMFvà những BN UTV có thể được hưởng lợi từ hóa trị liều cao hoặc từ phác đồ điều trị có anthracycline
Vào những năm 1980, các thử nghiệm lâm sàng liệu pháp hóa trị hỗ trợ cho BN UTV so sánh các phác đồ có chứa anthracycline (Epirubicin hoặc Doxorubicin) với sự kết hợp của Cyclophosphamide, Methotrexate và Fluorouracil (CMF) cho kết quả không nhất quán.Hơn một thập kỷ sau, sự an toàn
và hiệu quả của phác đồ điều trị Cyclophosphamide, Epirubicin và Fluorouracil (CEF) là liệu pháp hỗ trợ điều trị UTV đã được chứng minh Trong thử nghiệm ngẫu nhiên của NCIC CTG Mammary.5 (MA.5) thử nghiệm ngẫu nhiên liên quan đến BN UTV tiền mãn kinh có Her2 (+), CEF được chứng minh là vượt trội
so với CMF về sống còn không tái phát và sống còn toàn bộ sau khi theo dõi trung bình 10 năm[3,4] Tuy nhiên, CEF có liên quan đến tăng tỷ lệ rụng tóc, buồn nôn, nôn mửa, viêm miệng, và giảm bạch cầu;
Trang 3giảm chất lượng cuộc sống tạm thời; và tăng nguy
cơ suy tim sung huyết (1,1%) và bệnh bạch cầu cấp
tính (1,4%) Điều trị bằng CEF cũng tốn kém chi phí
nhiều hơn đáng kể so với CMF
Liệu pháp nội tiết
Ức chế chức năng buồng trứng
Phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng là cách chắc
chắn, nhanh chóng nhằm ngăn chặn việc sản xuất
Estrogen
Ức chế chức năng buồng trứng bằng xạ trị thì
an toàn ít tác dụng phụ Nồng độ Estrogen giảm
chậm hơn so với phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng
Dùng thuốc kháng LHRH: Goserelin 3,6mg tiêm
dưới da mỗi 28 ngày trong 2 năm
Liệu pháp nội tiết
Dùng cho BN UTV có thụ thể nội tiết dương
tính, giúp giảm nguy cơ tái phát tại chỗ, kéo dài thời
gian sống còn Các thuốc được sử dụng gồm:
Kháng Estrogen: Tamoxifen, Toremifene,
Fulvestrant
Ức chế Aromatase: Anastrozole, Letrozole,
Exemestane
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca
Đối tượng nghiên cứu
Tiê u chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân nữ, tuổi ≥18
Ung thư vú giai đoạn I - II - III theo AJCC 7
(2010) sau phẫu thuật đoạn nhũ nạo hạch hoặc
phẫu thuật bảo tồn (tại BVUB TP HCM hoặc nơi
khác) được nhập viện điều trị tại BVUB TP HCM từ
01/01/2014 đến tháng 31/12/2016)
Không sử dụng Trastuzumab khi IHC (+++)
hoặc IHC (++) và FISH (+)
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân mắc ung thư thứ 2
Bệnh nhân không tái khám và mất tin tức ngay
khi chấm dứt điều trị (khi liên lạc bằng thư hoặc điện
thoại)
Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu tối thiểu ước lượng cho
tỷ lệ
p: tỷ lệ sống còn không bệnh tiến triển 5 năm Căn cứ y văn tỷ lệ sống còn không bệnh tiến triển 5 năm của nhóm điều trị AC → T là 70%[45] α: mức ý nghĩa 0,05
d: khoảng sai lệch mong muốn 5%
Z2 1-α/2 = 1,96
n ≥ 165
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: 6 tháng (Tháng 11/2018 => tháng 05/2019)
Địa điểm thực hiện: Khoa Nội 4 Bệnh viện Ung Bướu
Chấm dứt theo dõi: 31/6/2019
Các biến số nghiên cứu
Biến số độc lập: Tuổi, bướu (vị trí, kích thước, GPB, Grad mô học), tình trạng hạch nách, giai đoạn bệnh, phương pháp điều trị
Biến số phụ thuộc:
- Thời gian sống còn không bệnh
- Thời gian sống còn toàn bộ
Xử lý số liệu
Dùng phần mềm STATA 14.0 để xử lý số liệu Khảo sát sống còn bằng phương pháp Kaplan – Meier
Y đức trong nghiên cứu
Đề tài này thực hiện: hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án, bệnh nhân có xét nghiệm IHC (+++) hoặc IHC (++) và FISH (+) nhưng do không có khả năng
sử dụng Trastuzumab, phác đồ điều trị đều được hội chẩn tại khoa lâm sàng, không can thiệp vào quá trình điều trị, không làm tổn hại đến bệnh nhân nên không vi phạm y đức
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm nhóm khảo sát
Qua hồi cứu hồ sơ chúng tôi ghi nhận được 198 trường hợp ung thư vú giai đoạn I, II, III có biểu hiện quá mức Her2 được hóa trị hỗ trợ tại bệnh viện Ung Bướu TP HCM thỏa các tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu
Trang 4M ột số đặc điểm chung của nhóm khảo sát
Bảng 1 So sánh phân bố nhóm tuổi với các
nghiên cứu khác
Phân
B - 31 (n = 1.047)%
N 9831 (n = 971)%
< 40 15,15 16,7 17,1
50 - 59 34,85 33,7 33,7
Phân bố tuổi người bệnh trong nghiên cứu này
gần tương đồng với phân bố tuổi của nghiên cứu
B - 31 và N9831[5]
Một số đặc điểm lâm sàng và bệnh học
Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng và bệnh học
Kích thước bướu
Giai đoạn bệnh
Điều trị
Phẫu trị
Bảng 3 Đặc điểm điều trị liên quan đến phẫu thuật
Ph ẫu thuật bảo tồn 1 (0,5) Phẫu thuật đoạn nhũ có tái tạo 10 (5,1)
Hóa trị hỗ trợ
Thời gian từ phẫu thuật đến hóa trị hỗ trợ
<4 tuần >8 tuần 4-8 tuần
Biểu đồ 1 Thời gian từ phẫu thuật đến hóa trị hỗ trợ
Nhận xét: Có 89,4% bệnh nhân nhận hóa trị hỗ trợ sau 4 - 8 tuần sau phẫu thuật, thời gian ngắn nhất bệnh nhân nhận được hóa trị hỗ trợ là 3 tuần, dài nhất là 12 tuần
Bảng 4 Đặc điểm điều trị liên quan đến hóa trị
hỗ trợ
Phác đồ HTHT
Có Anthracyline 80 (40,4)
Có Anthracyline và Taxane 111 (56,1) Không Anthracyline và không Taxane 2 (1)
Điều trị hỗ trợ khác
Bảng 5 Đặc điểm liên quan điều trị hỗ trợ khác
X ạ trị
Li ệu pháp nội tiết
C ắt chức năng buồng trứng 1 (0,5) Kháng Estrogen 74 (37,4) Kháng Aromatase 7 (3,5)
5,0%
5,6%
89,4%
Trang 5Theo dõi
Bảng 6 Thời gian theo dõi
Trung bình th ời gian theo dõi 31,5 tháng
Trung v ị thời gian theo dõi 32 tháng
Kết thúc nghiên cứu có 151 trường hợp còn
sống không bệnh, 57 trường hợp tái phát và/ hoặc di
căn, 47 trường hợp tử vong
Tái phát và/ hoặc di căn
Bảng 7 Tái phát di căn nhóm nghiên cứu
Có 10 bệnh nhân tái phát, trung vị thời gian tái
phát là 8 tháng, trung bình thời gian tái phát là 9,5
tháng
Có 47 bệnh nhân di căn, trung vị thời gian di
căn là 20 tháng, trung bình thời gian di căn là 22,3
tháng
Kết quả hóa trị hỗ trợ ung thư vú giai đoạn I, II, III
có biểu hiện quá mức her2
Sống còn không bệnh 4 năm
Biểu đồ 2 Sống còn không bệnh 4 năm
của nhóm khảo sát
Nhận xét: Xác suất sống còn không bệnh 4 năm
của nhóm nghiên cứu là 71,8%
Sống còn toàn bộ 4 năm
Biểu đồ 3 Sống còn toàn bộ 4 năm
của nhóm khảo sát
Nhận xét: Xác suất sống còn toàn bộ 4 năm của nhóm nghiên cứu là 74,8%
Phân tích hồi quy đa biến
Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố tiên lượng tương quan thời gian sống còn không bệnh 4 năm
Tuổi 2,77 1,4 - 5,4 0,003 Kích thước bướu 2,24 1,5 - 3,4 0,000
H ạch lympho nách 2,85 1,7 - 4,7 0,000 Giai đoan bệnh 0,81 0,6 - 1,2 0,292
Th ụ thể nội tiết 1,9 1,4 - 2,8 0,000 Thời gian từ phẫu thuật đến
hóa tr ị hỗ trợ 1,1 0,9 - 1,4 0,25 Hoàn t ất chu kỳ hóa trị 0,2 0,06 - 0,62 0,005
X ạ trị 1,6 0,7 - 4,7 0,266 Phân tích đa biến tuổi, kích thước bướu, hạch lympho nách, tình trạng thụ thể nội tiết, hóa trị đủ chu kỳ có giá trị tiên lượng độc lập với thời gian sống còn không bệnh
Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố tiên lượng tương quan thời gian sống còn toàn bộ 4 năm
Tuổi 2,2 1,1 - 4,1 0,017 Kích thước bướu 1,9 1,2 - 3,1 0,004
H ạch lympho nách 2,0 1,6 - 2,7 0,000
Th ụ thể nội tiết 1,8 1,3 - 2,5 0,001 Phác đồ hóa trị hỗ trợ 0,8 0,5 - 1,0 0,073 Hoàn tất chu kỳ hóa trị 0,3 0,09 - 0,76 0,014
X ạ trị 1,8 0,7 - 4,4 0,194 Phân tích đa biến tuổi, kích thước bướu, hạch lympho vùng nách, thụ thể nội tiết, hóa trị đủ chu kỳ 71,8%
74,8%
Trang 6là những yếu tố tiên lượng độc lập với thời gian
sống còn toàn bộ
BÀN LUẬN
Đặc điểm nhóm khảo sát
Một số đặc điểm của nhóm khảo sát
Tuổi được coi là yếu tố tiên lượng độc lập trong
UTV, trong nhiều nghiên cứu bệnh nhân UTV dưới
40 tuổi có nguy cơ tái phát, tử vong cao hơn so với
nhóm tuổi trên 40 Các chỉ định hóa chất hỗ trợ, điều
trị nội tiết thường cân nhắc đến yếu tố tuổi, các mốc
lứa tuổi được cân nhắc là dưới 40 hoặc dưới 35
theo các nghiên cứu khác nhau
Bảng 8 So sánh phân bố nhóm tuổi với
các nghiên cứu khác
B - 31 (n =1.047) %
N9831 (n = 971) %
< 40 15,15 16,7 17,1
50 - 59 34,85 33,7 33,7
Phân bố tuổi người bệnh trong nghiên cứu này
gần tương đồng với phân bố tuổi của nghiên cứu
B - 31 và N9831
Điều trị
Phẫu trị
Phẫu thuật thực hiện trên nguyên tắc phẫu trị
chung là lấy đi những mạch máu chính nuôi bướu
cùng hệ thống bạch huyết, đạt bờ diện cắt an toàn
và cắt trọn khối những cơ quan hoặc cấu trúc bị
bướu xâm lấn
Bảng 9 So sánh liệu pháp phẫu thuật với các
nghiên cứu khác
n = 198
B-31(%)
n = 1.047
N9831 (%)
n = 971
Ph ẫu thuật đoạn
nhũ - nạo hạch 94,4 60,6 60,6
Ph ẫu thuật bảo
Tỉ lệ phẫu thuật bảo tồn trong 2 nghiên cứu
lớn cao hơn hẳn so với nghiên cứu này (39,4% so
với 0,5%) Trong nghiên cứu B - 31 có 40,7% bướu
< 2cm, nghiên cứu N9831 có 40,0% bướu < 2cm,
nghiên cứu của chúng tôi 18,7% bướu <2cm Tỉ lệ
kích thước bướu nhỏ cao tạo điều kiện thuận lợi cho
phẫu thuật bảo tồn hơn
Hóa tr ị
Phân tích tổng hợp các thử nghiệm ngẫu nhiên hóa trị hỗ trợ làm giảm 30 - 40% nguy cơ tử vong do ung thư vú so với những bệnh nhân không hóa trị hỗ trợ[6] Sau khi phẫu thuật tận gốc các bệnh nhân ung thư vú vẫn có thể bị tái phát và/ hoặc di căn do những di căn vi thể âm thầm đã xảy ra trước hoặc ngay khi phẫu thuật Tái phát và/ hoặc di căn là nguyên nhân gây tử vong vì vậy hóa trị hỗ trợ sau phẫu thuật nhằm tiêu diệt những vi căn vi thể này
Các điều trị hỗ trợ khác
Xạ trị được thực hiện sau khi kết thúc hóa trị hỗ trợ, mục đích của xạ trị là kiểm soát tại chỗ tại vùng, với các trường chiếu tại thành ngực, hố nách và thượng đòn Xạ trị là một phần của chiến lược điều trị ung thư vú
Liệu pháp nội tiết được chỉ định cho những bệnh nhân ung thư vú thụ thể nội tiết dương tính nhằm giảm nguy cơ tái phát, được thực hiện cùng lúc với xạ trị, trong nghiên cứu có 41,4% bệnh nhân điều trị nội tiết
Kết quả hóa trị hỗ trợ ung thư vú giai đoạn I, II, III
có biểu hiện quá mức HER2
Sống còn không bệnh của nhóm khảo sát
Phân tích tổng hợp 2 thử nghiệm B - 31 và N9831 thời gian sống còn không bệnh 4 năm của nhóm hóa trị không trastuzumab là 67,1%[5]
Trong nghiên cứu này, thời gian sống còn không bệnh 4 năm là 71,8%
Tỉ lệ sống còn không bệnh trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi cao hơn Điều này có thể giải thích cỡ mẫu nghiên cứu này nhỏ hơn và phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu này có giải phẫu bệnh hạch sau mổ là N0 (62,1%), độ mô học bướu phần lớn là độ 2 (84,3%) Trong 2 thử nghiệm lớn B - 31
và N9831 giải phẫu bệnh sau mổ N1 (56,7%), độ mô học của bướu là độ 3 chiếm tỉ lệ 65,6%
Sống còn toàn bộ của nhóm khảo sát
Phân tích tổng hợp 2 thử nghiệm B - 31 và N9831 thời gian sống còn toàn bộ 4 năm của nhóm hóa trị không trastuzumab là 86,6%[5]
Trong nghiên cứu này, thời gian sống còn toàn
bộ 4 năm là 74,8%
Tỉ lệ sống còn toàn bộ trong nghiên cứu này thấp hơn, điều này có thể giải thích trong nghiên cứu
sử dụng nhiều loại phác đồ hóa trị hỗ trợ cho bệnh nhân, trong 2 thử nghiệm B-31 và N9831 dùng phác
đồ AC → T, tỉ lệ sử dụng nội tiết hỗ trợ sau mổ của nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu B-31 và N9831 (41,4% so với 56,7% và 48,7%)
Phân tích hồi quy đa biến
Trang 7Các yếu tố: Tuổi, kích thước bướu, số lượng
hạch lympho vùng nách bị di căn, tình trạng thụ thể
nội tiết, hoàn thành hóa trị đủ chu kỳ là các yếu tố
tiên lượng độc lập với sống còn không bệnh 4 năm
Phân tích gộp 2 thử nghiệm B - 31 và N9831: Tuổi,
kích thước bướu, tình trạng di căn hạch nách và tình
trạng thụ thể nội tiết là các yếu tố tiên lượng độc lập
với sống còn không bệnh 10 năm Nghiên cứu của
chúng tôi có thời gian theo dõi ngắn hơn nhưng kết
quả các yếu tố tiên lượng sống còn không bệnh phù
hợp với phân tích tổng hợp của 2 nghiên cứu B - 31
và N9831
Các yếu tố: tuổi, kích thước bướu, số lượng
hạch lympho vùng nách bị di căn, tình trạng thụ thể
nội tiết, hóa trị đủ chu kỳ là những yếu tố tiên lượng
độc lập với thời gian sống còn toàn bộ 4 năm trong
nghiên cứu này Phân tích tổng hợp 2 thử nghiệm
B-31 và N9831: Tuổi, kích thước bướu, tình trạng
hạch nách di căn, tình trạng thụ thể nội tiết và
phương thức phẫu thuật là yếu tố tiên lượng độc lập
với sống còn toàn bộ 10 năm Theo tác giả
Theodoros Foukakis: kích thước bướu, số lượng
hạch lympho nách di căn, tình trạng thụ thể nội tiết là
yếu tố tiên lượng trong ung thư vú giai đoạn sớm
Thời gian theo dõi trong nghiên cứu này ngắn hơn
nhưng các yếu tố tiên lượng đối với sống còn toàn
bộ là phù hợp với phân tích gộp của 2 thử nghiệm B
- 31 và N9831 và nghiên cứu của tác giả Theodoros
Foukakis[7]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Diệu, N.T.H.N., Nguyễn Bá Đức “Gánh nặng
bệnh ung thư và chiến lược phòng chống ung
thư quốc gia đến năm 2020” Tạp chí ung thư
h ọc, 2005 tr.13 - 19
2 Joensuu H, K.-L.P.-L., Bono P, et al “Adjuvant docetaxel or vinorelbine with or without trastuzumab for breast cancer” N Engl J Med, (2006) 354, pp 809 - 820
3 Levine MN, B.V., Pritchard KI, et al “A randomized trial of intensive cyclophosphamide, epirubicin, and fluorouracil chemotherapy compared with cyclophosphamide, methrotrexate, and fluorouracil in premenopausal women with node positive breast
cancer” J Clin Oncol, (1998) 16, pp.2651 -
2658
4 Levine MN, P.K., Bramwell VH, et al “A randomized trial comparing cyclophosphamide, epirubicin, and fluorouracil with cyclophosphamide, methotrexate, and fluorouracil in premenopausal women with node-positive breast cancer: update of National Cancer Institute of Canada Clinical Trials Group
Trial MA5" J Clin Oncol, 2005 23,
pp.5166-5170
5 Edward H Romond, M.D., Edith A, et al, Trastuzumab plus Adjuvant Chemotherapy for
Operable HER2-Positive Breast Cancer N Engl
J Med 353:1673-1684, 2005
6 Peto R, D.C., Godwin J, et al, Comparisons between different polychemotherapy regimens for early breast cancer: meta-analyses of long-term outcome among 100,000 women in 123
randomised trials Lancet, 2012 379:432-444
7 Theodoros Foukakis, M., PhDJonas Bergh, Prognostic and predictive factors in early,
non-metastatic breast cancer Up to date, 2019