Trong các nước pháttriển theo con đường xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và nhân dân laođộng là chủ thể của quyền lực chính trị, tổ chức và quản lý xã hội, quyết địnhnội dung hoạt độ
Trang 1Chính trị không chỉ là một hệ thống thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội,
có tác động ảnh hưởng tới các yếu tố quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạtầng xã hội mà quan trọng còn là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, cácđảng phái và các chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội Mỗi bộ phận củachính trị lại có những chức năng riêng và đồng thời có mối quan hệ chặt chẽvới nhau Sự liên kết đó tạo thành một cơ chế hoạt động nhịp nhàng, giúp chothống trị đạt được mục tiêu của mình
Trong đó, hệ thống chính trị là công cụ, là phương tiện và là phươngthức tổ chức thực tiễn quyền lực chính trị của giai cấp thống trị Hệ thốngchính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội, bao
gồm các đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội được liên
kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình củađời sống xã hội; củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợiích của giai cấp cầm quyền Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trịcủa giai cấp, nhà nước nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầmquyền Do đó, hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp Trong các nước pháttriển theo con đường xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và nhân dân laođộng là chủ thể của quyền lực chính trị, tổ chức và quản lý xã hội, quyết địnhnội dung hoạt động của hệ thống chính trị Để phát huy vai trò của hệ thốngchính trị trong đời sống xã hội, đòi hỏi hệ thống chính trị đó phải luôn luônđổi mới, hoàn thiện và phát triển,
Thực tế hơn 30 năm qua cho thấy, đổi mới hệ thống chính trị nước ta làmột đòi hỏi khách quan và đây là một chủ trương đúng của Đảng Các nghịquyết của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị đã được triển khai thực hiệnnghiêm túc và thu được những kết quả quan trọng bước đầu Tuy nhiên, việcxây dựng, hoàn thiện và đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta vẫn đang đứngtrước những thử thách, đặc biệt đặt trong bối cảnh hội nhập và phát triển
Trang 2mạnh mẽ hiện nay Trong đó, vấn đề đổi mới hệ thống chính trị để đáp ứngyêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới đang trở nên cấp thiết và quan trọng
Trang 3NỘI DUNG
1 Cấu trúc và đặc điểm của hệ thống chính trị ở Việt Nam
1.1 Cấu trúc hệ thống chính trị ở Việt Nam
- Các thể chế: Hệ thống chính trị ở Việt Nam về mặt thiết chế bao gồm:
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổchức chính trị - xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binhViệt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) Nhà nước gồm có: Quốc hội, Chủ tịchnước, Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân
Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Nhà nước là trung tâm; Đảng Cộngsản Việt Nam là hạt nhân của hệ thống chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội;Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của Đảng
và Nhà nước
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền Đảng lãnh đạo bằngcương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằngcông tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động tổ chức, kiểm tra, giám sát vàbằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng thống nhất lãnh đạo côngtác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú vàohoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạothông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệthống chính trị
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Quốc hội,Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp (Toà án và Viện kiểm sát nhândân) Nhà nước đang được xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân
Quốc hội Việt Nam được thành lập thông qua bầu cử của nhân dân,theo nhiệm kỳ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc hội bầu Chủ tịch nước, Thủtướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
Trang 4sát nhân dân tối cao và một số vị trí khác của bộ máy nhà nước Quốc hội bầu
và thành lập Chính phủ
Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhànước cao nhất của nước Cộng hoà xà hội chủ nghĩa Việt Nam Chính phủ doQuốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội
Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân
Hệ thống tổ chức của tòa án bao gồm: Toà án nhân dân tối cao, các tòa
án nhân dân cấp cao, tòa án nhân dân cấp tỉnh, các tòa án nhân dân cấp huyện;các tòa án quân sự; các tòa án khác do luật định Trong tình hình đặc biệt,Quốc hội có thể quyết định hình thành tòa án đặc biệt
Hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện kiểm sátnhân dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các viện kiểm sát nhândân cấp tỉnh; các viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; viện kiểm sát quân sự
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên
là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhândân Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là tổ chức lãnh đạo Mặttrận Mặt trận hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, phối hợp vàthống nhất hành động giữa các thành viên
- Cơ chế và nguyên tắc vận hành: Hệ thống chính trị ở Việt Nam vừa
hoạt động theo những nguyên tắc phổ biến của hệ thống chính trị nói chungvừa tuân thủ những nguyên tắc đặc thù khác như: nguyên tắc quyền lực nhànước thuộc về nhân dân; nguyên tắc ủy quyền có điều kiện và có thời hạn(thông qua bầu cử tự do, bình đẳng, phổ thông, trực tiếp và kín); nguyên tắcĐảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụtrách
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc hoạt động cơ bản của hệthống chính trị Riêng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động trên nguyên tắc
Trang 5đồng thuận, hiệp thương dân chủ.
Nguyên tắc quyền lực nhà nước là tập trung thống nhất, không phânchia, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhànước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
1.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở Việt Nam
Về cơ bản, hệ thống chính trị ở Việt Nam cũng được tổ chức theonhững mô hình phổ biến của hệ thống chính trị các nước trên thế giới Mặtkhác, hệ thống chính trị ở Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng Cụ thểnhư sau:
Thứ nhất, hệ thống chính trị ở Việt Nam do duy nhất một đảng - Đảng
Cộng sản lãnh đạo
Thứ hai, hệ thống chính trị ở Việt Nam là hệ thống chính trị được xây
dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
có tham khảo kinh nghiệm của thế giới
Thứ ba, nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc vận hành căn bản
của hệ thống chính trị
Thứ tư, cơ chế song trùng, trực thuộc giữa Đảng và Nhà nước, các cơ
quan của Đảng và các cơ quan của Nhà nước
Thứ năm, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
không độc lập với Đảng và Nhà nước Do lịch sử hình thành gắn với các cuộcđấu tranh giải phóng dân tộc, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên doĐảng thành lập và lãnh đạo, có mối quan hệ gắn bó, mật thiết với Đảng và Nhànước
2 Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam
2.1 Tính tất yếu của đổi mới hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị Việt Nam tỏ rõ ưu việt trong hai cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành cuộc cách mạng
Trang 6giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Sau chiến tranh, đất nước trải quanhiều khó khăn chủ quan và khách quan, đặc biệt là sau khi hệ thống xã hộichủ nghĩa tan rã Nhưng chúng ta vẫn đứng vững, vượt qua thử thách, khủnghoảng đưa đất nước phát triển lên một bước mới, đạt được nhiều thành tựu to
lớn Tuy nhiên xuất phát từ sự thay đổi của bối cảnh, môi trường xã hội trong
và ngoài nước, từ thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam, việcđổi mới hệ thống chính trị là một tất yếu khách quan
Cùng với công cuộc đổi mới về kinh tế, xây dựng và phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị ởViệt Nam là yêu cầu khách quan để có một hệ thống chính trị có khả năng đápứng tốt nhất những nhu cầu, đòi hỏi của xã hội trong thời kỳ mới Mặt khác,trước tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các nước để có thể gianhập, tham gia vào một sân chơi chung cũng buộc phải thay đổi, thích ứng đểtạo dựng một môi trường, hành lang pháp lý theo những chuẩn mực chung,phù hợp với những luật chơi, thông lệ của thế giới, đồng thời cũng phải thíchnghi, tham gia và tuân thủ các quy trình, luật lệ của thế giới
Đổi mới hệ thống chính trị còn là yêu cầu khách quan nhằm khắc phụcnhững yếu kém tồn tại trong hệ thống chính trị Thực tiễn hoạt động của hệthống chính trị Việt Nam đã bộc lộ những hạn chế của nó Về mặt tổ chức, hệthống chính trị còn khá cồng kềnh, nhiều đầu mối với nhiều tầng nấc trunggian Chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ của các bộ phận cấu thành hệthống chính trị giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức thành viên chưađược xác định rõ ràng, nhất là sự trùng lắp chức năng giữa Đảng và Nhànước, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa đáp ứngđược nhu cầu, đòi hỏi của xã hội Tệ quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũnggây những hậu quả nghiêm trọng, trật tự kỷ cương bị buông lỏng và vi phạm
2.2 Những thành tựu và hạn chế của hệ thống chính trị ở Việt Nam
* Thành tựu
Trang 7Một số các thành tựu của hệ thống chính trị ở Việt Nam thời gian qua:
- Sự chuyển đổi từ “hệ thống chuyên chính vô sản” sang “hệ thốngchính trị” là bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi tư duy chính trị của Đảng trongthời kỳ đổi mới Trong bối cảnh xã hội thay đổi, vấn đề không phải cứ cóquyền lực, cầm quyền, sử dụng quyền lực là giải quyết được các vấn đề củađời sống xã hội mà quan trọng là bản thân hệ thống đó có khả năng phản hồi,đáp ứng và thích nghi với sự thay đổi của môi trường không? Do vậy, việcchuyển sang hệ thống chính trị là nhấn mạnh tới tính thích nghi của hệ thống
Để có được sự tương tác, phản hồi và đáp ứng này, nó đòi đòi hỏi tính độclập, tự chủ của cá nhân, các tổ chức, bộ phận cấu thành hệ thống chính trị làrất lớn Hệ thống chuyên chính vô sản vì vậy không còn phù hợp với bối cảnh
xã hội mới
- Hệ thống chính trị Việt Nam đã có sự khắc phục nhất định sự trùnglắp chức năng giữa Đảng, Nhà nước thông qua cụ thể hóa chức năng lãnh đạocủa Đảng, quản lý của Nhà nước và thực hiện đổi mới phương thức lãnh đạo củaĐảng
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức lãnh đạo, mối quan hệcủa cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội đượcquy định cụ thể hơn, phân định rõ ràng hơn
- Tổ chức, bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội được kiện toàn theo hướng hợp lý, tinh gọn hơn, dầnthực hiện đúng chức năng, số lượng đầu mối các bộ, ban, ngành giảm
- Quốc hội có sự đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, tăngcường việc xây dựng và ban hành các bộ luật, luật, pháp lệnh, thể chế hóađường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, quan
hệ phối hợp giữa Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Chủ tịch nước,Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặttrận Tổ quốc Việt Nam, hình thành cơ chế tiếp xúc giữa đại biểu Quốc hội với
Trang 8cử tri, dân chủ trong hoạt động của Quốc hội, tăng cường chất vấn công khaitại Quốc hội Nhìn chung, Quốc hội ngày càng tiến tới chuyên nghiệp hóa, thểhiện được chức năng đại diện lợi ích của các tầng lớp nhân dân, cho lợi íchchung của dân tộc.
- Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước đã có sự đổi mới về chứcnăng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, bộ máy gắn với quá trình chuyển đổi cơ chếquản lý kinh tế, làm rõ hơn chức năng quản lý vĩ mô của Chính phủ và các bộ.Nền hành chính đang có sự thay đổi từ cai trị sang phục vụ theo hướng hiệnđại, chuyên nghiệp Cơ quan tư pháp được cải cách theo hướng hiện đại, độclập và chuyên nghiệp
- Dân chủ cơ sở được đẩy mạnh thông qua thực hiện pháp lệnh dân chủ
cơ sở Nhân dân có cơ hội tham gia các hoạt động chính trị quan trọng: đónggóp ý kiến cho văn kiện Đảng, các chính sách lớn của nhà nước và tham giagiám sát, phản biện chính sách, hoạt động của nhà nước
- Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý mặc dù
đã được cụ thể hóa ở các nội dung và quan hệ nhất định, nhưng vẫn chưaphân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, phương thức và phạm vi hoạt độngcủa từng chủ thể trong hệ thống chính trị Nhất là chưa phân định cụ thể phạm
vi quyền lực của Đảng và phạm vi quyền lực của Nhà nước
- Chương trình cải cách hành chính kéo dài, chậm, thiếu kiên quyết,
Trang 9hiệu quả thấp Công tác tổ chức cán bộ vẫn còn nhiều yếu kém bất cập
- Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm, nạn tham nhũng, hối lộchưa được khắc phục triệt để Đây vẫn là vấn đề gây bức xúc nhất trong nhândân và là thách thức lớn đối với Đảng và Nhà nước
- Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cũng chưangang tầm với chức năng, vai trò tiềm năng của chúng Tổ chức và hoạt độngcòn nặng tính hành chính, tính phong trào, hình thức, chưa thực sự bảo vệ lợiích chính đáng của thành viên, hội viên,
- Tổ chức, bộ máy của Mặt trận và các đoàn thể vẫn còn tình trạng nhànước hóa về tổ chức và kinh phí, hành chính hóa về phương thức hoạt động,cán bộ đoàn thể làm việc gần giống như công chức nhà nước, khiến cho côngtác của các đoàn thể thiếu sự gắn bó mật thiết với quần chúng
2.3 Một số nguyên tắc cơ bản trong đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam
Một số các nguyên tắc cơ bản trong đổi mới hệ thống chính trị ở ViệtNam hiện nay như sau:
- Nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị nhằm tạo điều kiện cho ổn địnhchính trị, phát triển kinh tế - xã hội bền vững Đây là nguyên tắc quan trọngnhất để từng bước đổi mới vững chắc, tránh sự nóng vội, chủ quan và có thểsai lầm về mặt chính trị
- Nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị phải đảm bảo vai trò lãnh đạo
và tăng hiệu lực lãnh đạo của Đảng đổi với hệ thống chính trị
- Nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị nhằm thúc đẩy nâng cao hiệuquả hoạt động của nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Đây là yêu cầu đòi hỏi sự phát triển trong thời kỳ mới và đápứng nhu cầu hội nhập, toàn cầu hóa
Đổi mới hệ thống chính trị phải phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa,
Trang 10đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, cả trực tiếp và gián tiếp, thông qua các
cơ quan dân cử, các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội
2.4 Một số định hướng và giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam
Đổi mới hệ thống chính trị đòi hỏi phải đổi mới từ cấu trúc, chức năng,
cơ chế, nguyên tắc hoạt động của hệ thống đến cấu trúc, chức năng của các bộphận cấu thành và quan hệ giữa chúng trong hệ thống chính trị Tuy nhiên, donhiều yếu tố và điều kiện khách quan, trọng tâm của đổi mới hệ thống chínhtrị ở Việt Nam được xác định là đổi mới Đảng, đổi mới quan hệ giữa Đảng vàNhà nước,… được thể hiện ở các nội dung chính sau1:
- Phân định rõ chức năng, phạm vi quyền lực và quan hệ của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị
Đây vẫn là một trong những giải pháp quan trọng để trên cơ sơ đó hệthống chính trị được thiết kế tổ chức rõ ràng và hoạt động theo đúng chứcnăng, bao gồm các nội dung cụ thể như: xác định rõ chức năng của Đảng, Nhànước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội Đổi mới quan hệgiữa Đảng và Nhà nước Cụ thể hóa cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,nhân dân làm chủ Đổi mới cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, xác định
rõ trách nhiệm của các chủ thể chính trị trong các hoạt động chung Đổi mớiphương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổchức thành viên Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước,Mặt trận theo hướng tinh gọn, hiệu quả
- Xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền, lãnh đạo của Đảng
+ Tiếp tục kiện toàn tổ chức Đảng: cần tiếp tục cắt giảm những đầumối, khâu trung gian, tinh gọn bộ máy, đảm bảo tính thông suốt, hiệu quả
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) lần thứ X (2006) và lần thứ XI (2011), Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, 2006, 2011.