1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

21 12 2019 môn xã hội học trong lãnh đạo, quản lý

16 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 52,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động nghiên cứu, điều tra, nắm bắt dư luận xã hội đã chính thức được thực hiện kể từ năm 1982, khi Ban Bí thư có quyết định thành lập Viện Dư luận xã hội nay là Viện Nghiên cứu dư l

Trang 1

từ trong lịch sử xã hội loài người Ở các quốc gia phát triển, từ lâu các chính khách, các tổ chức chính trị, xã hội đã coi các kết quả nghiên cứu dư luận xã hội là một trong những căn cứ quan trọng trong việc ban hành và bổ sung, điều chỉnh các chủ trương, chính sách Ở Việt Nam, ngay từ đầu thập niên

1980, Đảng ta đã thấy được sự cần thiết của công tác nghiên cứu dư luận xã hội Hoạt động nghiên cứu, điều tra, nắm bắt dư luận xã hội đã chính thức được thực hiện kể từ năm 1982, khi Ban Bí thư có quyết định thành lập Viện

Dư luận xã hội (nay là Viện Nghiên cứu dư luận xã hội) trực thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương, trong đó có quy định về nhiệm vụ và quyền hạn như:

“Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội có nhiệm vụ tổ chức việc nghiên cứu dư luận nhân dân đối với những vấn đề cơ bản của đất nước và những vấn đề quan trọng có tính thời sự; tổng hợp, phân tích dư luận xã hội để báo cáo với các cơ quan Đảng và Nhà nước; tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thông tin viên, cộng tác viên của Viện về lý luận, nghiệp vụ Viện được trực tiếp quan hệ với các cấp ủy đảng, các ngành, các đoàn thể quần chúng để tổ chức nghiên cứu dư luận xã hội”

Trong những năm qua, tầm quan trọng của công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội đã được khẳng định trong nhiều văn kiện của Đảng Đặc biệt tại Kết luận số 100-KL/TW ngày 18/8/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác

điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội, trong đó nêu rõ: “Điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội là công việc quan trọng và rất cần thiết nhằm nắm bắt, tập hợp kịp thời, sát thực tâm tư, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của nhân dân về những vấn đề, sự kiện có tính thời sự trong nước và thế giới, đặc biệt là đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; giúp các

Trang 2

cơ quan lãnh đạo, quản lý có thêm thông tin tham khảo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là một khâu quan trọng, cần thiết trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước”

Trang 3

NỘI DUNG

1 Khái quát về Dư luận xã hội

1.1 Khái niệm và thành phần của dư luận xã hội

Trong tiếng Việt, dư luận xã hội còn được gọi theo những cách khác nhau bằng những thuật ngữ tương đương là công luận, dư luận công chúng, ý kiến công luận, ý kiến quần chúng, Thuật ngữ này xuất hiện rộng rãi trên một số ngành khoa học như chính trị học, triết học, xã hội học, tâm lý học xã hội…

Theo các nhà xã hội học: “Dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá biểu hiện thái độ của các nhóm xã hội tự ý thức đối với các vấn đề diễn ra trong xã hội mà có liên quan đến lợi ích của các nhóm Dư luận xã hội được hình thành thông qua các cuộc trao đổi ý kiến công khai”.

Dư luận xã hội chỉ được hình thành thông qua quá trình tương tác và trao đổi ý kiến giữa nhiều người với nhau, hình thành nên các luồng ý kiến chung của một số đông nhất định

Chủ thể của dư luận xã hội là các nhóm trong xã hội, mà lợi ích của họ

có mối quan hệ nhất định với các vấn đề diễn ra trong xã hội và được đưa ra thảo luận Trong một số trường hợp, chủ thể dư luận xã hội có thể là toàn bộ nhân dân, toàn bộ cộng đồng người hoặc đại đa số trong đó Trong nhiều trường hợp khác, chủ thể là các nhóm xã hội đa dạng, khác nhau cùng bày tỏ mối quan tâm của mình đến vấn đề diễn ra Đối tượng của dư luận xã hội là các sự kiện, hiện tượng, quá trình đang diễn ra trong xã hội gây ra sự quan tâm của người dân và được thông tin rộng rãi, công khai Các nguồn thông tin này không chỉ xuất phát từ các cơ quan chính thức, mà có thể được tìm kiếm bằng các con đường khác như trên báo chí, Intemet, các nguồn tham chiếu khác nhau Từ góc độ lãnh đạo, quản lý nhà nước và xã hội, cần chú ý đến

Trang 4

các luồng dư luận đối với các vấn đề liên quan tới lợi ích công cộng

mà đòi hỏi Nhà nước phải có giải pháp giải quyết xử lý

Mặc dù các hình thức biểu hiện của dư luận xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, nhưng vẫn có thể phát hiện ra được ba thành phần cơ bản của dư luận xã hội, gồm:

- Thứ nhất là nhận thức Nhận thức bao gồm tri thức, hiểu biết, thông tin, giao tiếp Với thành phần này, dư luận xã hội luôn có khả năng cho ta biết chuyện gì xảy ra, sự kiện gì diễn ra

- Thứ hai là thái độ Thái độ bao gồm các trạng thái cảm xúc, tình cảm, các nhu cầu, động cơ, tâm tư, nguyện vọng Với thành phần này, dư luận xã hội luôn bao hàm tình cảm, ví dụ như yêu hay ghét, quan tâm chú ý hay thờ ơ không chú ý, ủng hộ hay phản đối

- Thứ ba là xu hướng hành động Xu hướng hành động thể hiện qua cách thức cư xử, sự sẵn sàng hành động theo một kiểu nhất định nào đó Với thành phần này, dư luận xã hội luôn phản ánh xu hướng hành động như sẵn sàng bỏ phiếu ủng hộ hay phản đối, sẵn sàng lên tiếng khen ngợi hay phê phán

Việc phân biệt và nắm chắc ba thành phần này của dư luận xã hội là rất cần thiết và quan trọng đối với công tác lãnh đạo, quản lý Nếu không nắm chắc cả ba thành phần của dư luận xã hội, rất có thể lãnh đạo, quản lý chỉ đạt được ý kiến, lời nói suông, lời hứa hẹn mà trên thực tế công việc lại khác hẳn Lãnh đạo, quản lý không chỉ cần lời nói ủng hộ, thái độ ủng

hộ mà rất cần những công việc được thực hiện, những việc làm thiết thực để biến lời nói và thái độ thành hiện thực

Dư luận xã hội mang tính hiện thực tinh thần nhưng có tác động to lớn đối với thực tiễn Bởi vì dư luận xã hội phản ánh tâm tư nguyện vọng, lợi ích, nhu cầu của công chúng Dư luận xã hội không phải là cái tạo ra để làm phong phú đời sống tinh thần mà là để điều chỉnh tác động đế thực tiễn Trong

Trang 5

bản thân dư luận bao giờ cũng chứa đựng yếu tố nhận thức tư tưởng và xu hướng hành động Dư luận xã hội là cầu nối giữa nhận thức và hành động thực tiễn Dư luận xã hội mang tính kinh nghiệm được hình thành dựa trên cơ

sở của kinh nghiệm đời sống và trên những quan hệ trực tiếp chứ không phải

tư duy phân tích logic Nên dư luận xã hội vừa có tính thuyết phục cao nhưng cũng có khi dư luận không chính xác (lệch hướng) Dư luận xã hội như là một

cơ chế tâm lý xã hội Nghĩa là có sức mạnh xã hội đối với hành động của con người Đứng trước dư luận xã hội con người bắt buộc tuân theo

1.2 Tính chất của dư luận xã hội:

Dư luận xã hội dưới hình thức nào và thuộc loại nào đều có một số tính chất cơ bản sau:

Một là tính công chúng Dư luận xã hội luôn là ý kiến của công chúng,

có nghĩa là của nhiều người, đông người, vô số người, thậm chí là của đại chúng Dư luận xã hội có thể xuất phát từ ý kiến của một cá nhân nhưng đó là

ý kiến được nhiều người nghe, chia sẻ, bày tỏ về những vấn đề chung

Hai là tính công khai Nói tới hình thức biểu hiện của dư luận xã hội thì

Dư luận xã hội luôn là ý kiến được phát biểu, bày tỏ dưới nhiều hình thức khác nhau cho nhiều người, đông người, công chúng cùng biết

Ba là tính trao đổi Nói tới cơ chế nảy sinh, vận hành của dư luận xã

hội thông qua sự tương tác, trao đổi thông tin, tình cảm mà dư luận xã hội đuợc hình thành, biểu hiện và thực hiện các chức năng của nó Trao đổi là cho dư luận xã hội lan truyền từ người này sang người khác,

từ nhóm này sang nhóm khác, từ nơi này sang nơi khác Trao đổi làm cho dư luận xã hội có thể bị biến đổi, bị thêm bớt, bị phân hóa và có thể bị tan biến, lợi dụng

Bốn là tính lợi ích Tính chất này nói tới bản chất, nội dung và ý nghĩa

của dư luận xã hội Dư luận xã hội chỉ hình thành khi vấn đề đó động chạm đến lợi ích được chia sẻ của các nhóm lớn trong xã hội Dư luận xã hội phản

Trang 6

ánh lợi ích của cá nhân, nhóm xã hội Dư luận xã hội đồng thời là một hình thức, cách thức, phương tiện, công cụ để bảo vệ lợi ích của nhóm người trong

xã hội Lợi ích trong dư luận xã hội được hiểu bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần Lợi ích vật chất được nhận thức rõ nét khi các sự kiện, hiện tượng diễn ra trong đời sống xã hội có mối liên quan chặt chẽ đến các hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc sống của nhóm lớn trong xã hội Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề đang diễn ra động chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, các phong tục, tập quán, khuôn mẫu hành vi của cộng đồng, quốc gia

Năm là tính lan truyền Quá trình hình thành dư luận bao giờ cũng bắt

đầu từ ý kiến của một vài cá nhân, lan truyền trong phạm vi nhóm nhỏ, rồi tiếp tục lan truyền trong nhóm lớn Vì vậy có thể hiểu, dư luận xã hội được coi như một biểu hiện của hành vi tập thể, sự đánh giá, phán xét của nhóm lớn trong xã hội Cơ sở của bất kỳ hành vi tập thể nào cũng là hiệu ứng phản xạ quay vòng gây nên chuỗi kích thích, hiệu ứng của nhóm lớn

Sáu là tính thống nhất và mâu thuẫn Dư luận xã hội là tập hợp các

luồng ý kiến, các loại trạng thái và các xu hướng hành động khác nhau, mâu thuẫn nhau hoặc đối lập nhau của các nhóm xã hội Ví dụ, có thể tìm thấy trong bất kỳ một dư luận xã hội nào các luồng ý kiến đồng tình và phản đối, quan tâm và thờ ơ, yêu và ghét và giữa hai luồng ý kiến mâu thuẫn này là luồng ý kiến trung gian, “ba phải”, trung dung

Ngoài ra, Dư luận xã hội còn có một số tính chất khác như tính biến đổi, ví dụ dư luận xã hội có thể nhanh chóng biến đổi từ chỗ đa số phản đối sang đa số ủng hộ Đồng thời, dư luận xã hội có tính ỳ rất lớn thể hiện ở chỗ chậm thay đổi, ví dụ dư luận xã hội về vị thế của giới, vai trò của giới,

2 Chức năng của dư luận xã hội

Dư luận xã hội xuất hiện để thỏa mãn một số nhu cầu quan trọng của xã hội Trong số đó có các nhu cầu thông tin, giao tiếp, đặc biệt là nhu cầu kiểm

Trang 7

soát xã hội, điều chỉnh hành vi, định hướng hoạt động và bày tỏ thái độ, tình cảm của con người Các nhà nghiên cứu phát hiện ra nhiều chức năng của dư luận xã hội như: chức năng nhận thức, giáo dục tư tưởng, kiểm soát, quản lý,

dự báo, Một số chức năng cơ bản như sau:

Một là chức năng nhận thức Dư luận xã hội có chức năng phản ánh

thực tại xã hội với các hiện tượng, sự kiện, vấn đề, quá trình xã hội Xã hội có nhu cầu nhận biết và dư luận xã hội có chức năng đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết về sự vật, hiện tượng xảy ra Nhờ chức năng này mà chỉ cần lắng nghe dư luận xã hội là có thể biết được chuyện gì, vấn đề gì đang được xã hội quan tâm, chú ý, bàn luận Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra mức độ phổ biến cao của dư luận xã hội là sự ủng hộ nhất trí của các thành viên đối với dư luận, việc các nhóm xã hội tự nguyện chấp hành đều là những bằng chứng khi nói về chức năng nhận thức mà dư luận xã hội mang lại đối với các nhóm xã hội Tuy nhiên, cần lưu ý, sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội có thể đúng và cũng có thể sai Trên thực tế, dù dư luận có đúng đến mấy thì dư luận xã hội cũng có những hạn chế nhất định, vì vậy trong quá trình lãnh đạo, quản lý không nên tuyệt đối hóa nhận thức của dư luận

Chân lý của dư luận không phụ thuộc vào mức độ, tính chất phổ biến của nó Không phải trong trường hợp nào, dư luận của đại đa số cũng đúng hơn, có lý hơn khi so sánh với dư luận của nhóm thiểu số

Hai là chức năng định hướng và điều chỉnh hành vi Chức năng này

gắn liền với chức năng kiểm soát hành vi của con người trong xã hội Dư luận

xã hội khi đã hình thành là kết quả biểu thị thái độ của nhóm lớn trong xã hội,

là thể hiện quan điểm, ý chí tập thể (dấu ấn cá nhân không còn) nên nó có vai trò hết sức quan trọng trong định hướng và điều chỉnh hành vi của các nhóm trong xã hội Trong lịch sử phát triển xã hội của loài người, ngay cả khi xã hội chưa được phân chia thành các giai cấp thì dư luận xã hội đã thể hiện được vai trò điều chỉnh các hành vi cá nhân và nhóm Dư luận xã hội được các nhà

Trang 8

quản lý dùng như một công cụ để quản lý cộng đồng từ buổi bình minh của lịch sử loài người

Ba là chức năng giải tỏa tâm lý - xã hội Dư luận xã hội luôn phản ánh

tâm tư, nguyện vọng và tình cảm của các cá nhân trong cộng đồng Dư luận

xã hội là diễn đàn, là cơ hội để các cá nhân được bày tỏ, chia sẻ quan điểm, ý kiến của mình trước các vấn đề chung của quốc gia Đồng thời cũng là cầu nối để bày tỏ tình cảm, giải tỏa tâm lý - xã hội giảm bớt được các căng thẳng, xung đột trước các vấn đề xã hội

Bốn là chức năng tư vấn và giám sát Bản chất của dư luận xã hội bao

hàm những lời khuyên cho các cơ quan chức năng về cách thức, phương pháp giải quyết các vấn đề mà dư luận đề cập Thông qua dư luận xã hội, Đảng và Nhà nước lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của công dân Dư luận xã hội được nhìn nhận là cơ hội để công chúng thể hiện những ý kiến của mình về những vấn đề chung của cộng đồng xã hội Trên thực tế, chúng ta thấy tâm trạng xã hội căng thẳng, bức xúc của các nhóm đều không có lợi cho công tác điều hành, quản lý đất nước Bởi vậy, Đảng, Chính phủ luôn tạo điều kiện để người dân góp ý vào các bản dự thảo Luật, Hiến pháp, Văn kiện của Đảng

Dư luận xã hội được coi như một kênh tư vấn quan trọng từ người dân đến với Chính phủ để góp phần hoàn thiện, thực thi chính sách và pháp luật Tuy nhiên, việc chọn giải pháp nào hoàn toàn phụ thuộc vào các cơ quan chức năng của Chính phủ chứ không phải của dư luận xã hội Thông qua dư luận xã hội, họ phán xét đánh giá về các chủ trương, chính sách lớn của đất nước và hoạt động cụ thể của bộ máy chính quyền Đặc biệt, thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, các nhóm hội chất vấn hoạt động của các cơ quan công quyền Dư luận xã hội học thực hiện chức năng kiểm soát, kiểm tra không chính thức bộ máy Nhà nước và cán bộ lãnh đạo cao cấp, giám sát hoạt động của họ có phù hợp với lợi ích tập thể hay không và phát hiện ra những vấn đề để kịp thời tư vấn các cơ quan chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ

Trang 9

3 Vai trò của dư luận xã hội trong lãnh đạo, quản lý

3.1 Dư luận xã hội là đối tượng của lãnh đạo, quản lý

Lãnh đạo, quản lý là quá trình tương tác, trong đó nhóm lãnh đạo cùng nhau xác định đúng tầm nhìn, động viên, khích lệ người khác cùng chung sức thực hiện các tầm nhìn, các mục tiêu có ý nghĩa của tổ chức Hoạt động lãnh đạo, quản lý là hoạt động đặc thù đòi hỏi nhiều tích hợp, nhiều năng lực ưu trội để dẫn dắt tổ chức đạt được các mục tiêu xác định Trong mối quan hệ với

dư luận xã hội, người quản lý luôn ảnh hưởng tác động trực tiếp đến nhận thức, thái độ và ý kiến của người khác Thực tiễn cho thấy, trong quá trình lãnh đạo, quản lý các chủ thể lãnh đạo, người đứng đầu các tổ chức thường xuyên phải đối diện với các luồng dư luận xã hội đa dạng bên trong tổ chức cũng như bên ngoài xã hội Nhu cầu nắm bắt các luồng ý kiến một cách kịp thời để khuyến khích dư luận xã hội tích cực vừa kiểm soát, kiềm chế, ngăn chặn những luồng dư luận xã hội tiêu cực, những tin đồn thất thiệt nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của tổ chức có ý nghĩa hết sức quan trọng Do đó, lãnh đạo, quản lý cần có năng lực nắm bắt dư luận để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao và có cách ứng xử với các loại ý kiến, định hướng

và điều chỉnh dư luận nhằm đạt được mục đích đề ra

Vai trò, chức năng của dư luận đối với công tác lãnh đạo, quản lý là hết sức to lớn Nhận thức được tầm quan trọng của việc kịp thời năm bắt dư luận

xã hội, Đảng ta ngay từ khi mới thành lập đã coi việc nắm bắt lòng dân là một trong những công việc quan trọng hàng đầu nhằm đề ra các chủ trương, đường lối cách mạng phù hợp lòng dân Luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, coi trọng ý kiến phản ánh của người dân một cách thỏa đáng Đúng như Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”1

3.2 Dư luận xã hội là phương tiện, công cụ của lãnh đạo, quản lý

Trang 10

Dư luận xã hội là công cụ để ra quyết định trong công tác lãnh đạo, quản lý Dựa vào các ý kiến khác nhau nêu ra trong dư luận xã hội để nhà lãnh đạo, quản lý cân nhắc, lựa chọn ra quyết định đúng đắn được nhiều người ủng hộ, tán đồng Dư luận xã hội là công cụ để thực hiện quyết định: dựa vào sự hiểu biết, sự nhất trí, đồng lòng và sẵn sàng hợp tác cùng chia sẻ

để thực hiện quyết định quản lý

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cần nắm bắt thường xuyên, liên tục và kịp thời dư luận của xã hội, vì đó là công cụ làm việc Thông qua dư luận xã hội giúp người cán bộ, lãnh đạo, quản lý kịp thời phát hiện những lỗ hổng trong quá trình ban hành và thực thi chính sách, pháp luật để từ đó có các giải pháp, kiến nghị với các cơ quan chức năng sửa đổi, hoàn thiện chính sách phù hợp

với thực tiễn đời sống xã hội

4 Phát huy vai trò công tác dư luận xã hội phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở Đảng bộ Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (sau đây viết tắt là Ủy ban) là cơ quan thuộc Chính phủ, được thành lập theo Nghị quyết số

09/NQ-CP ngày 03/02/2018 của Chính phủ Ủy ban được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp

do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại công

ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật

Ngay sau khi Ủy ban được thành lập, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối cơ quan Trung ương đã ban hành Quyết định số 1262-QĐ/ĐUK ngày 09/4/2018

về thành lập Chi bộ Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Đảng bộ Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở nâng cấp Chi bộ Ủy ban tại Quyết định số 1618-QĐ/ĐUK ngày 27/12/2018 của Đảng ủy Khối cơ quan Trung ương

Ngày đăng: 16/01/2021, 14:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w