1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

25 01 2020 môn quyền con người

20 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 57,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng tháng 01 năm 2016 đã xác định phương hướng: Đảng và Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền

Trang 1

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đất nước và con người Việt Nam luôn tự hào có một bề dày lịch sử của một dân tộc sẵn sàng

hy sinh xương máu, kiên cường, bền bỉ đấu tranh để giành lại những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con người Đó là quyền được sống trong độc lập,

tự do và quyền tự quyết định vận mệnh của mình Vì lẽ đó, giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho người dân

đã trở thành mục tiêu nhất quán và nền tảng hoạch định mọi quyết sách của Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau hơn tám thập kỷ dưới sự lãnh đạo của Đảng, có thể nói, những thành tựu dân tộc ta đạt được trong việc bảo đảm và phát triển quyền con người là rất cơ bản, rất to lớn Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với bước tiến chung của nhân loại, nhận thức của Đảng về quyền con người được kế thừa

và nâng lên một bước Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng tháng

01 năm 2016 đã xác định phương hướng: Đảng và Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối, phương hướng đổi mới nêu trên của Đảng không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua

Trang 2

NỘI DUNG

1 Khái niệm quyền con người, quyền công dân

1.1 Khái niệm quyền con người

Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, còn có thuật ngữ

“nhân quyền” Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh

“human rights”, mà nếu dịch trực tiếp sang tiếng Việt là quyền con người; còn nếu dịch qua Hán - Việt là nhân quyền

Xét về mặt ngôn ngữ học, theo Đại Từ điển tiếng Việt, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa Nhân quyền, ở góc độ khái quát nhất, theo Liên hợp quốc, có thể hiểu là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người

Tại Việt Nam, dưới các góc độ khác nhau, cách hiểu và các tiếp cận khác nhau, khái niệm quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau Các định nghĩa được nêu ra mặc dù còn có những điểm khác nhau về nội dung và phương pháp tiếp cận, song đã phản ánh một số đặc điểm chung của khái niệm quyền con người, cụ thể như sau:

Một là, quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay tước đoạt vô cớ

Hai là, trung tâm của khái niệm quyền con người là khái niệm về phẩm giá vốn có của mọi thành viên trong gia đình nhân loại

Ba là, quyền con người là các quyền được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc địa vị xã hội,

Bốn là, quyền con người là các quyền được bảo đảm minh bạch về pháp lý nhằm giúp cá nhân, các nhóm xã hội đạt được nhu cầu, lợi ích một

Trang 3

cách độc lập trên các lĩnh vực.

Năm là, quyền con người xác lập nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm của nhà nước và xã hội

Từ những đặc điểm nêu trên, xét chung: Quyền con người là các đặc

quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng

hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế.

1.2 Khái niệm quyền công dân

Cơ sở cho sự hình thành khái niệm quyền công dân bắt nguồn từ các xu hướng chính trị - xã hội chủ yếu sau đây1: a) Cách mạng tư sản giải phóng con người từ địa vị thần dân thành thành viên của xã hội công dân, thành công dân nhà nước; b) Nội dung quyền con người phổ biến, đặc biệt là quyền tham gia vào đời sống chính trị của mỗi cá nhân là thuộc phạm trù khái niệm quyền công dân, hay nói cách khác, quyền tham gia vào đời sống chính trị trở thành nội dung chủ yếu của quyền công dân; c) Mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ giữa các công dân với nhau và giữa công dân với nhà nước được thực hiện thông qua pháp quyền Đây là các xu hướng tất yếu của quá trình hình thành một chế độ xã hội mới tiến bộ, theo đó, địa vị pháp lý của công dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp và luật quốc gia; chế định quốc tịch ra đời; nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật được công nhận

Theo Từ điển Merriam Webster’s Collegiate Dictionary, “công dân (citizen)

là một thành viên của một nhà nước mà người đó có nghĩa vụ trung thành và được hưởng sự bảo vệ” Tương tự như thuật ngữ nhân quyền, đến nay, có rất nhiều định nghĩa về quyền công dân (citizen’s right), tùy theo quan điểm, cách hiểu, cách tiếp cận, đặc thù mỗi quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, theo

một nghĩa khái quát nhất, có thể hiểu: Quyền công dân là tổng hợp các quyền

và tự do cơ bản của mỗi cá nhân, tạo nên địa vị pháp lý của cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước thông qua chế định quốc tịch, được thừa nhận và bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật của quốc gia.

2 Cơ sở hình thành quan điểm của Đảng về bảo đảm quyền con

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.l, tr.548-558.

Trang 4

người, quyền công dân

Đường lối, quan điểm của Đảng về quyền con người xây dựng từ một nền tảng lý luận vững chắc, trên cơ sở tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau Con người

và quyền con người luôn được chủ nghĩa Mác khẳng định và đề cao C Mác cho rằng “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự

do của tất cả mọi người”2 và vấn đề quyền con người phải được xem xét trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Tiếp tục phát triển tư tưởng của C.Mác, V.I.Lênin đã

có đóng góp nổi bật vào hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác về quyền con người, với tư tưởng về dân chủ và quyền dân tộc tự quyết

Kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lênin với chủ nghĩa yêu nước chân chính và thực tiễn cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người không giới hạn ở quyền cá nhân mà bao hàm cả quyền dân tộc Ngay từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhân dân Việt Nam nêu tám yêu sách gửi Hội nghị Vécxây (tháng 6 năm 1919), yêu cầu chính quyền Pháp trả lại những quyền tự do, dân chủ cơ bản cho người dân Việt Nam, trong đó có cải cách nền pháp lý Đông Dương, thay đổi chế độ sắc lệnh bằng luật pháp, người dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền tự do báo chí, tư tưởng, tự do lập hội, tự do cư trú ở nước ngoài, tự do học tập Đến bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đã có bước phát triển mang tính cách mạng Mở đầu với việc khẳng định những quyền cơ bản mà tạo hóa ban cho mỗi con người và khép lại bằng lời tuyên bố trịnh trọng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”3 Bản Tuyên ngôn độc lập không chỉ là tuyên bố về

sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam, trong đó thừa nhận các quyền cơ bản của con người;

2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.628.

Trang 5

đồng thời, lần đầu tiên, quyền cá nhân được mở rộng thành quyền dân tộc; và quyền con người, sự bình đẳng của mỗi cá nhân được xem xét trong mối quan

hệ biện chứng với quyền dân tộc, đó là quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết

Trên cơ sở truyền thống văn hóa và nền tảng lý luận Mác - Lênin, đồng thời xuất phát từ mục tiêu cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng về quyền con người đã được hình thành, bổ sung, nâng cao và từng bước hoàn thiện qua các giai đoạn

Từ những văn kiện đầu tiên, Đảng xác định rõ mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng là bảo đảm quyền con người cho người dân Việt Nam

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta thông qua tại Hội nghị hợp nhất

thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 đã vạch ra đường lối

cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó nhấn mạnh: đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng người lao động, giải phóng xã hội, để người cày có ruộng, người dân được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền Cho đến khi đất nước hoàn toàn độc lập, tổng kết lại 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, một trong bốn bài học kinh nghiệm được đúc kết tại Đại hội VI (năm 1986) là toàn Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” Đây cũng là tư tưởng chủ

đạo của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội (tháng 6 năm 1991), trong đó khẳng định mục tiêu “xây dựng nhà nước xã

hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”4 đồng thời

“xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm

quyền lực thuộc về nhân dân”5

Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng một lần nữa khẳng định quan điểm của Đảng ta về quyền con người được thể hiện một cách tập trung và toàn diện hơn, trong đó quyền con người được nhìn nhận là giá trị chung của nhân loại, là kết quả cuộc đấu tranh lâu

4 Đảng Cộng sản VN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.9, 19.

5 Đảng Cộng sản VN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.9, 19.

Trang 6

dài của loài người Do đó, giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội Mặt khác, quyền không tách rời nghĩa vụ; dân chủ phải

đi đôi với kỷ cương Với cách hiểu cơ bản về quyền con người như vậy, Đảng

ta khẳng định, quyền con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội

Đại hội X của Đảng tiếp tục vạch ra đường lối phát huy dân chủ, khẳng định “dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, đồng thời nhấn mạnh việc “xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân”6 Đại hội XII của Đảng khẳng định “Đảng và Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013”

3 Nội dung các quan điểm của Đảng về đảm bảo quyền con người, quyền công dân

Một là, quyền con người vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù; được thể hiện ở tính nhân loại gắn với tính giai cấp và tính dân tộc

Quá trình hình thành, phát triển quyền con người có tính phổ biến toàn nhân loại, chứ không phải là “phát hiện” đặc thù của riêng phương Tây

“Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”7 Con người thể hiện và khẳng định quyền của mình thông qua các mối quan hệ xã hội cụ thể Vì thế, quyền con người, một mặt, là giá trị phổ biến của nhân loại, bao hàm những quyền

và nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng Mặt khác, quyền con người còn mang tính đặc thù của mỗi giai cấp, dân tộc và quốc gia theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hoá và truyền thống dân

6

Đảng Cộng sản VN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.125, 126.

7 Chỉ thị 12- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 12-7-1992.

Trang 7

tộc Tuyên bố Viên và Chương trình hành động về quyền con người năm

1993 đã khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập,

không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau

về lịch sử, văn hoá và tôn giáo, (thì) các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hoá, có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con người và các tự do cơ bản”8

Do đó, nhất thiết không thể đối lập tính phổ biến với tính đặc thù của quyền con người và ngược lại Trong bối cảnh thế giới hiện đại, quan điểm kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù còn là cơ sở phương pháp luận khoa học

để nhận thức và giải quyết đúng các vấn đề cụ thể về quyền con người trong quan hệ quốc gia và quốc tế Đây là phương châm cơ bản để bảo đảm “hội nhập” mà “không hòa tan” trong lĩnh vực nhân quyền

Hai là, nhân dân là chủ thể của quyền; bảo đảm quyền con người là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”9 Điều 2, Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước pháp quyền XHCN, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”10; nhân dân là chủ nhân của đất nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Như vậy, nhân dân là chủ thể của quyền và việc bảo đảm quyền con người là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Ba là, bảo đảm quyền con người theo phương châm thực hiện các giá trị nhân quyền phổ quát trên cơ sở chủ quyền quốc gia

8 Trung tâm Nghiên cứu quyền con người: Văn kiện quốc tế về quyền con người, tr.104.

9 Đảng CSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.76, 85.

10 Đảng CSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.76, 85.

Trang 8

Quyền của các quốc gia, dân tộc trong việc lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đường phát triển và chủ quyền quốc gia là những quyền phổ biến được thừa nhận trong pháp luật quốc tế Việc thực hiện các giá trị phổ quát của quyền con người cơ bản diễn ra trong quá trình chuyển hóa hay “nội luật hóa” pháp luật quốc tế trong pháp luật quốc gia Ở nước ta, các giá trị phổ quát của quyền con người đã được thể chế hóa trong Hiến pháp

Việc bảo đảm quyền con người theo phương châm trên giúp mỗi cá nhân được bảo đảm các quyền dân chủ, tự do cơ bản Bảo đảm quyền và nghĩa vụ cá nhân không được tách rời bảo đảm quyền và nghĩa vụ của cộng đồng Bảo đảm quyền con người phải trên cơ sở chủ quyền quốc gia, trên cơ

sở các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nhân quyền quốc tế, như quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, để loại trừ mọi mưu toan lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” trên con đường phát triển đất nước

Mặt khác, các tiêu chí nhân quyền của Liên Hợp quốc trong nhiều trường hợp bị chi phối hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi tiêu chí nhân quyền của các nước phương Tây Vì thế, nhằm thực hiện các giá trị phổ quát của quyền con người trên cơ sở chủ quyền quốc gia, Việt Nam chủ động và tích cực đối thoại, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực nhân quyền, vừa giúp bạn bè quốc

tế hiểu hơn về thành tựu, quan điểm và giá trị nhân quyền của nước ta, vừa là

cơ hội học hỏi kinh nghiệm của các nước trong việc chuyển hóa pháp luật quốc tế về nhân quyền vào pháp luật trong nước Từ đó góp phần bảo đảm tốt hơn các quyền con người ở Việt Nam, cũng như đóng góp vào sự nghiệp bảo

vệ, thúc đẩy nhân quyền trong khu vực và trên thế giới

Bốn là, quyền con người không đồng nhất với quyền công dân, gồm cả quyền tập thể và quyền cá nhân; quyền gắn liền với nghĩa vụ, giới hạn quyền

do luật định, trên cơ sở xác định rõ chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền

Trang 9

Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thừa nhận quyền con người là thuật ngữ độc lập so với thuật ngữ quyền công dân Dựa trên luận điểm “sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền”11 của Nguyễn Ái Quốc, Nghị quyết Đại hội Quốc dân Tân Trào (16-8-1945) đã xác định phải: “Ban bố những quyền của dân, cho dân: Nhân quyền, tài quyền (quyền sở hữu), dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ ”

Các Cương lĩnh của Đảng trong thời kỳ đổi mới, Hiến pháp năm 1992,

2013, các Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội luôn nhất quán phân định rõ quyền con người, quyền công dân

Hiến pháp năm 2013 quy định về hạn chế quyền nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân một cách minh bạch, tránh sự cắt xén hay hạn chế các quyền này một cách tùy tiện Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1 Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; 2 Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”12

Để bảo đảm quyền con người trong thực tế, việc thể chế hóa chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền có ý nghĩa rất quan trọng Đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam xác định

và thể chế hóa nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đồng thời xác định và thể chế hóa quyền của người dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, nhằm ràng buộc nghĩa vụ của Nhà nước đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Khoản 2, Điều 119, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”13 Đây là quy định có tính nguyên tắc nhằm thiết lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp, trong đó

có các quyền con người đã được hiến định một cách hiệu quả

Năm là, quyền con người gắn với các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa

11 Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.491.

12Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.9, 11, 80.

13Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.9, 11, 80

Trang 10

Theo C.Mác (1818 - 1883) quyền “không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định” Do

đó, không thể thúc đẩy nhân quyền bằng mọi giá, mà phải phù hợp với trình

độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và con người Chỉ như vậy mới không

làm tổn hại đến bản thân các quyền con người Đây là tư tưởng chủ đạo quan trọng trong giải quyết các vấn đề về quyền con người, nhằm tránh tình trạng chủ quan, duy ý chí trong xây dựng pháp luật, cũng như tình trạng lạc hậu của pháp luật so với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa

Sáu là, bảo đảm sự bình đẳng giữa các quyền, có ưu tiên quyền của các nhóm yếu thế, thiểu số và quyền phát triển

Tất cả các quyền đều gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau và không thể phân chia; mọi chủ thể của quyền (cá nhân, nhóm xã hội, giới tính, dân tộc, chủng tộc) đều có quyền ngang nhau trong việc thụ hưởng, phát triển quyền Vì thế,

về nguyên tắc, phải bảo đảm quyền ngang nhau của mọi quyền; và bảo đảm quyền ngang nhau của tất cả các chủ thể quyền Những yếu tố bình đẳng trong việc bảo đảm quyền con người từng bước được kết hợp, thẩm thấu vào việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của các chủ thể quyền khác nhau trong xã hội Trên cơ sở đó, ở mức độ nhất định, thực hiện

sự ưu tiên bảo đảm quyền phát triển và quyền an sinh xã hội, nhất là của các nhóm yếu thế và thiểu số Việc ưu tiên như vậy nhằm thúc đẩy việc bảo đảm quyền ngang nhau về mặt pháp luật đối với các chủ thể quyền trên tất cả các lĩnh vực quyền

Bảy là, quyền con người được bảo đảm bằng chế độ dân chủ và Nhà nước pháp quyền XHCN

Dân chủ là quyền lực xã hội của con người, được thể chế hóa cơ bản theo nguyên tắc bảo đảm quyền công dân và quyền con người nói chung Quyền con người phải thông qua thể chế dân chủ mới được hiện thực hóa, được mở rộng, bảo đảm gắn với quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước

Ngày đăng: 18/01/2021, 21:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w