Mục tiêu cơ bản của bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳn
Trang 1MỞ ĐẦU
Bình đẳng giới là một trong những giá trị mang tính toàn cầu Mục tiêu
cơ bản của bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Trong nhiều năm qua, bình đẳng giới đã và đang từng bước được thực hiện có hiệu quả ở nước ta ngay từ khi nó được tiếp nhận Tuy nhiên, tiến trình đi tới mục tiêu đầy nhân văn ấy vẫn còn nhiều khó khăn, cản trở, thách thức Một trong những rào cản lớn nhất đó là định kiến giới Bình đẳng giới sẽ không thực chất, không thành công nếu như định kiến giới vẫn tồn tại Vì vậy, xóa bỏ định kiến giới là việc làm cần thiết cho dù điều đó còn khó khăn, phức tạp
Trang 2NỘI DUNG
1 Khái niệm định kiến giới
Điều 5 Luật bình đẳng giới năm 2006 nêu rõ: “Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ”, Nói cách khác, đây là những suy nghĩ phổ biến
của cộng đồng xã hội về khả năng của nam và nữ, về vị trí công tác mà nam, nữ nên đảm nhận trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, về nghề nghiệp mà phụ nữ
và nam giới nên làm, về tính cách mà phụ nữ và nam giới nên có,…
Các định kiến giới thường là không đúng, thiên lệch, tiêu cực, không phản ánh đúng khả năng thực tế của từng người và thường giới hạn những gì
mà xã hội cho phép hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện Các định kiến giới
có thể khác nhau ở các vùng khác nhau, các nước khác nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán,…
Định kiến giới thường chủ yếu tác động tới sự phát triển của nữ giới vì các đa phần các định kiến này là các định kiến tiêu cực đối với nữ giới Những định kiến này cũng gây ra không ít thiệt thòi cho phụ nữ về tinh thần, vật chất
và còn là nguyên nhân tác động tới tình trạng bạo lực gia đình Định kiến giới trong một số trường hợp nhất định cũng tác động tiêu cực đến nam giới, tuy không nhiều bằng nữ giới
Ở Việt Nam định kiến về giới do nhận thức, thói quen suy nghĩ và các phong tục tập quán, sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới đã ăn sâu bám chắc trong đầu óc con người thành tư tưởng “trọng nam khinh nữ” Những phong tục tập quán lạc hậu, cổ hủ, đạo đức phong kiến “tam tòng, tứ đức” được khuyến khích duy trì để trói buộc người phụ nữ, chà đạp lên tình cảm và nhân phẩm của họ,… dần dần thành thói ứng xử thô bạo của người đàn ông đối với đàn bà Tư tưởng này dần dần trở thành quy tắc, thành thông lệ, không cần có luật pháp bảo vệ, nó vẫn có tác động cưỡng chế, điều chỉnh hành vi ứng xử của người đàn ông đối với đàn bà
Trang 32 Một số biểu hiện của định kiến giới ở Việt Nam
Có thể nêu lên một số định kiến giới thường gặp ở nước ta:
- Tâm lý thích con trai, đẻ con trai để nối dõi, Vì quan niệm đó mà các cặp vợ chồng thực hiện phá thai theo ý muốn, dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh Trong giai đoạn 2006 - 2013, tỷ lệ giới khi sinh ở Việt Nam
đã tăng mạnh, đạt mức gần 114 bé trai/100 bé gái trong năm 2013, trong khi đó
tỷ lệ bình thường là 105 bé trai hoặc 106 bé trai/100 bé gái Với tỷ lệ đó, Việt Nam, cùng với Ấn Độ và Trung Quốc, là những nước có tỷ lệ chênh lệch giới khi sinh cao nhất thế giới Mất cân bằng giới tính khi sinh dẫn tới hậu quả nghiêm trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của đất nước và ảnh hưởng tới cuộc sống của phụ nữ, nam giới, gia đình và cộng đồng Số lượng nam giới không có khả năng kết hôn tăng, nhiều đàn ông Việt Nam sẽ có nguy cơ không tìm được vợ Đồng thời làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng giới Nhiều phụ
nữ có thể phải kết hôn sớm, tỷ lệ ly hôn và tái hôn của phụ nữ sẽ tăng cao
- Coi trọng nam giới hơn nữ giới, dành nhiều sự quan tâm, chăm sóc về mọi mặt cho các trẻ em trai, nhiều hơn cho trẻ em gái Do đó, khi trưởng thành, các em trai thường có điều kiện tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tốt hơn các em gái, mặc dù năng lực của các em gái không thua kém các em trai Những suy nghĩ, cách hành xử, sự dạy dỗ có liên quan đến phân biệt, định kiến giới của ông, bà, cha, mẹ, anh, chị chính là những yếu tố ảnh hưởng lớn tới việc hình thành quan niệm về giới của mỗi thành viên trong gia đình Do đó, nếu trong gia đình có những định kiến giới thì những định kiến này sẽ được lặp lại ở các thế hệ tiếp theo
- Quan niệm tiêu cực về khả năng lãnh đạo của phụ nữ, dù trong khu vực công, doanh nghiệp hay chính trị Vị trí lãnh đạo, nhất là lãnh đạo chính trị, được coi là chức năng của nam giới Hiện nay, có 26,72% đại biểu Quốc hội là
nữ, khá cao so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên xét về tiềm năng và tỷ lệ dân số nữ, cũng như so sánh với một số khóa bầu cử Quốc
Trang 4hội trong thời kỳ chiến tranh, rõ ràng sự tiến bộ cả về số lượng và tỷ lệ đại biểu
nữ vẫn còn chưa tương xứng
Quy định tuổi về hưu khác nhau, nam 60 và nữ 55, cũng góp phần làm cho tỷ lệ nữ lãnh đạo bị thấp Khi về hưu sớm, thời gian phấn đấu và tích luỹ kinh nghiệm của phụ nữ bị ngắn lại làm cho họ khó vươn lên vị trí cao hơn Trên thực tế, phụ nữ lên được chức lãnh đạo trong bộ máy nhà nước và trong doanh nghiệp là rất hạn chế
- Sự phân công lao động theo giới trong gia đình và xã hội còn chưa bình đẳng Quan niệm coi việc nhà là đương nhiên chỉ dành cho phụ nữ vẫn còn phổ biến trong xã hội Sau một ngày lao động vất vả, nam giới thường đi giải trí hoặc đôi khi trao đổi công việc tại nhà hàng, quán xá Ngược lại, sau giờ lao động, người phụ nữ thường được giao đi đón con và về nhà làm các công việc gia đình như nấu cơm, dọn dẹp Đối với họ, tan giờ làm việc ở công sở chỉ là sự thay đổi hình thức lao động từ việc sản xuất sang việc gia đình Do đó, sức khỏe của phụ nữ thường bị vắt kiệt hơn đàn ông, thời gian bị bào mòn; ngày qua ngày, trí tuệ của phụ nữ dần dần trì trệ và bận rộn vì các công việc nội trợ khiến họ không đủ năng lực như nam giới để vươn lên các vị trí cao trong công việc Điều này đã kéo lùi vị thế của phụ nữ trong suy nghĩ của lãnh đạo và đồng nghiệp Sự phân công lao động như vậy cũng đồng nghĩa với việc phụ nữ phải làm các công việc không được trả công (sinh đẻ, nuôi con, việc nhà,…) và điều này đã đưa vai trò của họ lên cao nhưng kéo lùi vị thế của họ xuống thấp Trong hoàn cảnh như vậy, phụ nữ phải có nghị lực rất lớn, phải phấn đấu gian khổ, thậm chí gấp nhiều lần nam giới mới có thể đạt được vị trí như nam giới trong công việc và thực tế số lượng người phụ nữ như vậy là rất hạn chế Thậm chí,
xã hội còn rất khắt khe khi thừa nhận những cố gắng của họ
- Định kiến giới đôi khi có thể tìm thấy ngay trong các quy định pháp luật, các bộ luật, gây tranh cãi Điển hình như:
+ Bộ luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu không giống nhau giữa đối với nam và nữ như đã nêu ở trên
Trang 5+ Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18 tháng 10 năm 2013 của
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về danh mục các công việc không được
sử dụng lao động nữ quy định 77 loại công việc mà phụ nữ không được làm với
ý định “bảo vệ phụ nữ trước các công việc được cho là nguy hiểm” theo quan niệm của chúng ta Nhưng điều đó cũng thể hiện thành kiến về những nghề được coi là phù hợp với phụ nữ Ngoài ra, phụ nữ trẻ thường không được khuyến khích công tác trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật hoặc toán học - những nghề được coi là cao siêu và khó và vì vậy “phù hợp” hơn với nam giới Những định kiến đó rõ ràng là làm giảm cơ hội của phụ nữ và ngăn cản phụ nữ khai thác hết tiềm năng của mình và tham gia vào thị trường lao động một cách bình đẳng với nam giới Tuy nhiên, theo thống kê, phụ nữ vẫn chiếm trên 40% cán bộ nghiên cứu khoa học tại Việt Nam Nhưng chỉ có 19% các đề tài nghiên cứu cấp quốc gia do phụ nữ đứng đầu hoặc có tỷ lệ phụ nữ tham gia cao Điều đó nói lên rằng còn rất nhiều tài năng của Việt Nam chưa được khai thác
Định kiến giới trong các ngành, nghề lao động này trong một số trường hợp cũng tác động tiêu cực đến nam giới khi coi nghề làm giáo viên mầm non
là nghề của phụ nữ; nghề làm hộ lý trong các bệnh viện là nghề của phụ nữ,… gây cản trở và thu hẹp khả năng lựa chọn nghề nghiệp của nam giới
+ Quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định cho phép mang thai
hộ, có thể bị xem là một sự ủng hộ cho tư tưởng sinh con bằng bất cứ giá nào
để gia đình có người kế tự
+ Bộ luật Hình sự hiện hành quy định không áp dụng án tử hình hoặc không thi hành án đối với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nhưng lại không tính đến trường hợp đàn ông nuôi con dưới 36 tháng tuổi Điều này dường như gián tiếp mặc định nghĩa vụ chăm sóc con cái thuộc về phụ nữ
Ngoài những định kiến giới đã kể ở trên, đời sống xã hội của con người Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều các định kiến giới khác (quan niệm nước mắt chỉ dành cho đàn bà con gái; con gái học càng cao càng khó lấy chồng; con
Trang 6gái lỡ thì; con cái sinh ra phải theo họ của bố; con trai phải thành đạt làm trụ cột vững chắc cho gia đình;…) gây áp lực không nhỏ cho cả hai giới đối với việc thực hiện vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của mình trong cuộc sống, đồng thời là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới
Hiện nay, mặc dù định kiến giới có phần bớt nặng nề hơn song vẫn chưa thoát khỏi những quan niệm đã tồn tại từ thời phong kiến Thời gian qua, Đảng
và nhà nước ta đã nỗ lực thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội nói chung và bình đẳng giới nói riêng thể hiện qua những văn bản mang tính pháp lý cao như: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1992, Luật Bình đẳng giới 2006 và các điều khoản trong các văn bản luật khác Quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng và các chính sách của nhà nước thực sự đã và đang thay đổi diện mạo đời sống xã hội nói chung và đời sống người phụ nữ nói riêng Vị thế của người phụ nữ cả về kinh tế lẫn chính trị ngày càng được khẳng định, từng bước rút ngắn khoảng cách con đường đi tới mục tiêu bình đẳng giới Tuy nhiên, định kiến là hiện tượng tâm lý tiêu cực có tính chất định hình, không dễ thay đổi ngày một ngày hai
3 Một số giải pháp nhằm giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ định kiến giới
Để điều chỉnh, giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ định kiến giới, chúng ta cần phải thực hiện một số các giải pháp sau đây:
Thứ nhất, phải coi trọng giáo dục bình đẳng giới trong gia đình Gia đình
là trường học đầu tiên của trẻ em, là môi trường sống quan trọng nhất của con người Những cách xử sự, nếp nghĩ của ông bà, cha mẹ sẽ ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài tới trẻ nhỏ, từ đó hình thành nhận thức căn bản về giới cho chúng
và có ảnh hưởng lâu dài suốt cả cuộc đời đứa trẻ Vì thế, muốn xoá bỏ định kiến giới trước hết phải coi trọng giáo dục bình đẳng giới trong gia đình Giáo dục bình đẳng giới trong gia đình phải đảm bảo được vị thế bình đẳng giữa vợ
và chồng, không phân biệt đối xử giữa con trai và con gái Làm được điều này
là đã tạo ra những nét vẽ đẹp trong nhân cách của đứa trẻ về giới và bình đẳng giới, tạo tiền đề tốt cho việc xóa bỏ định kiến giới
Trang 7Thứ hai, đề cao vai trò giáo dục bình đẳng giới trong nhà trường Cùng với gia đình, nhà trường là môi trường giáo dục tối quan trọng đối với mỗi con người Các thầy, cô giáo cần ý thức vai trò nêu gương cho học sinh ở tất cả các cấp từ phổ thông tới đại học Những quan điểm và thông tin truyền đạt tới học sinh, cũng như cách xử sự của thầy cô giáo chính là khuôn mẫu, chuẩn mực cho các em nhận thức đúng đắn về bình đẳng giới Có như vậy, việc xóa bỏ định kiến về giới mới trở nên hiệu quả
Thứ ba, giáo dục bình đẳng giới phải đặc biệt chú trọng tới yếu tố con người Chúng ta biết rằng “định kiến giới” là “rào cản” để bảo đảm trên thực tế vấn đề bình đẳng nam nữ Vì vậy, cần phải xoá bỏ “định kiến về giới” nhưng chúng ta phải xác định rằng “định kiến giới” luôn gắn chặt với con người hay nói khác đi chúng ta nói đến định kiến giới là chúng ta muốn nói đến con người mang nặng định kiến về giới Định kiến giới hình thành ở mọi lứa tuổi và ở cả nam và nữ Vậy muốn xoá bỏ định kiến giới phải quan tâm đến đối tượng mang định kiến giới để có những phương pháp giáo dục phù hợp cũng như tạo những điểm nhấn để việc giáo dục về vấn đề bình đẳng giới có hiệu quả cao Cho nên, muốn xoá bỏ định kiến giới một cách hiệu quả cần đặc biệt quan tâm đến đối tượng là nam giới ở mọi lúc, mọi lứa tuổi và những nhà quản lý Những nhận thức về giới của họ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm bình đẳng giới trên thực tế
Thứ tư, mỗi người phụ nữ cần phải tự khẳng định vai trò của mình trong gia đình và xã hội Như đã nói ở trên, chúng ta cần tác động đến hạt nhân cốt lõi để phá tan định kiến về giới là nam giới, nhưng một phần không nhỏ còn ở chính nhận thức của người phụ nữ về vị thế của bản thân trong xã hội hiện đại Bản thân mỗi người phụ nữ cần phá bỏ những mặc cảm, cần tự tin vào năng lực bản thân và có ý thức nỗ lực không ngừng để khẳng định vai trò của họ trên nhiều lĩnh vực đời sống Thực tế cho thấy, ngày nay không phải “trao quyền” bình đẳng là phụ nữ có thể bình đẳng mà phải “tạo quyền” cho phụ nữ Quá trình tạo quyền là sự kết hợp chặt chẽ cả hai yếu tố, sự nỗ lực chủ quan của
Trang 8phụ nữ và sự tác động, tạo điều kiện khách quan từ phía xã hội Hơn thế nữa,
họ cần được cung cấp thông tin để nhận biết hoàn cảnh xã hội hiện đại, cũng như những cơ hội mới đang mở cửa chào đón những nỗ lực của nữ giới trong công cuộc phát triển chung của đất nước
Thứ năm, tăng cường việc huy động nhiều nguồn lực cho việc giáo dục bình đẳng giới Để giáo dục bình đẳng giới đạt được hiệu quả cao không chỉ cần đến kinh phí cho hoạt động này mà con cần đến các phương tiện, các
“kênh” thông tin để qua đó truyền tải những thông điệp về việc giáo dục bình đẳng giới Vì lẽ đó, ngoài những chương trình, chuyên mục dành riêng cho giáo dục bình đẳng giới, các phương tiện truyền thông còn phải thận trọng khi truyền tải các thông tin mang định kiến giới, các chương trình, chuyên mục, nội dung phải được thẩm định về nội dung bình đẳng giới trước khi đưa đến với công chúng
Thứ sáu, tiếp tục tuyên truyền sâu rộng Luật bình đẳng giới, để Luật bình đẳng giới đi vào cuộc sống và phát huy được hiệu quả cùng với đó là phải kiên trì, bền bỉ xoá bỏ định kiến về giới để mọi người hiểu được bình đẳng nam nữ không còn là chuyện trong nhà mà là vấn đề xã hội nghiêm túc Vi phạm các quy định về bảo đảm bình đẳng nam nữ là vi phạm pháp luật
Thứ bảy, tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của các cấp
uỷ Đảng và sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong xã hội trong việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Đây chính là tiền đề quan trọng để đưa các quy định của Luật bình đẳng giới vào thực tiễn cuộc sống và để bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới có hiệu quả cao
Trang 9KẾT LUẬN
Đảm bảo bình đẳng giới là một trong những mục tiêu cơ bản của việc bảo đảm công bằng xã hội Cùng với đó đấu tranh cho giải phóng phụ nữ - một nửa của xã hội loài người luôn đặt chúng ta trong việc xem xét và giải quyết một loạt các mối quan hệ Khi mà phụ nữ còn chịu những thiệt thòi ngay từ trong gia đình của mình thì “đối xử đặc biệt” với phụ nữ là hết sức cần thiết, để
họ đạt tới sự bình đẳng với nam giới
Giải quyết những vấn đề liên quan đến bình đẳng giới ở Việt Nam là yêu cầu cấp bách mà Đảng và nhà nước ta đã đề ra; Trong đó, thay đổi chuẩn mực văn hoá và định kiến về giới là trách nhiệm chung và mọi người dân đều phải tham gia thực hiện Đây không chỉ là trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách Đúng là các nhà hoạch định chính sách phải nhận thức được các định kiến
đó, và bản thân họ cũng phải sẵn sàng thay đổi quan niệm Nhưng, ngoài ra, chúng ta cần tạo các liên minh trong toàn xã hội để huy động đầy đủ sự ủng hộ cần thiết cho thành công Sẽ mất thời gian, nhưng kinh nghiệm các nước khác cho thấy đây là mục tiêu có thể hoàn thành được nếu có những con người tiên phong kiên trì và quyết tâm làm gương cho những người khác
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp lý luận
chính trị: Giới trong lãnh đạo, quản lý, Nxb.Lý luận chính trị, H.2008.
2 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật bình đẳng giới, năm 2006.
3 Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ,
Chính phủ Australia và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam: Đâe tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ, Hà
Nội, 2016
4 Học viện Phụ nữ Việt Nam: http://hvpnvn.edu.vn/bai-viet/hoat-dong- phu-nu-va-binh-dang-gioi/binh-dang-gioi con-nhieu-nhan-thuc-sai-lam-dinh-kien-gioi-trong-he-thong-tu-phap-5264.htm
5 Tạp chí Tổ chức nhà nước: http://tcnn.vn/news/detail/41538/Tac-dong-cua-khuon-mau-gioi-toi-su-phat-trien-cua-phu-nu-trong-khu-vuc-cong.html