Sự phân công lao động hợp lý các công việc trong gia đìnhkhông những là chìa khóa để đảm bảo cho sự ổn định bền chặt, êm ấm của gia đình, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của cả
Trang 1I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Trong lịch sử phát triển xã hội, loài người đã biết đến chế độ mẫu hệ,
lúc đó quyền lực trong dòng tộc thuộc về người phũ nữ Xã hội phát triển,thay đổi, chế độ mẫu hệ dần bị thu hẹp lại và được thay thế bằng chế độ
phụ hệ, từ đó quyền lực thuộc về nam giới Và trong sự phát triển, chínhnhờ sự mạnh mẽ về thể chất, sự cứng rắn về tinh thần của người đàn ông đãgóp phần củng cố cho địa vị thống trị của họ Thế những, xã hội dần cónhiều sự thay đổi, sức mạnh về thể chất không còn chiếm ưu thế tuyệt đốinữa mà đồng thời xã hội cần những công dân có trí tuệ, có sức mạnh tư
duy, đó là những đặc điểm mà phụ nữ không hề thua kém nam giới.Trong
những năm gần đây trên thế giới, vai trò và vị trí của người phụ nữ đượcnâng lên kể Phụ nữ đã có quyền bình đẳng so với nam giới Họ được tự dohọc hành, được tham gia vào các hoạt động của xã hội theo khả năng củamình, có được quyền bỏ phiếu, ứng cử
Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 2002, hàngnăm nền kinh tế toàn cầu đã bỏ qua khoảng 11 tỉ USD Mỹ từ thu nhập của
phụ nữ do họ làm những công việc gia đình mà không được tính công.Thực tế, vô hình chung, công việc gia đình được coi như là nhiệm vụ riêngcủa người phụ nữ, đó là những “lao động không công”, không được trả
lương và không được xã hội ghi nhận Sự bất bình đẳng này tồn tại ở mức
độ này hay mức độ khác và không ngoại trừ một quốc gia nào
Tại Việt Nam, thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế - xã hội chuyển
từ tự cung, tự cấp, kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường sản xuất hànghóa nhiều thành phần có sự quản lí của nhà nước, theo hướng xã hội chủnghĩa Điều đó có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến hoạt động kinh tế và đờisống xã hội nói chung Nhờ có sự chuyển biến định hướng đúng đắn có tính
Trang 2chiến lược của Đảng và Nhà nước, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng
cao hơn Cơ chế thị trường đi sâu vào mọi khía cạnh của đời sống, các mối
quan hệ của con người đang có sự thay đổi lớn Mối quan hệ giữa các thành
viên trong gia đình cũng chịu những sự tác động từ sự thay đổi đó
Gia đình vốn được coi là hạt nhân cơ bản của xã hội Nghị quyết hội
nghị Trung ương V đã đặt vấn đề gia đình ở một tầm quan trọng trong sựnghiệp xây dựng văn hóa và phát triển về mọi mặt của đất nước Đó là
“Phải giữ gìn và phát huy những những đạo đức tốt đẹp vốn có của gia đình
Việt Nam nhằm tạo ra một lối sống lành mạnh, coi trọng xây dựng gia đình
văn hóa và xây dựng mối quan hệ khăng khít gia đình, nhà trường và xã
hội” Trong đó, mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước ta là tăng
cường sự tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội
của phụ nữ nhằm nâng cao vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đìnhnói riêng và ngoài xã hội nói chung Theo chỉ thị 37/CT-TW ngày 16-05-
1994 khẳng định: “Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý Nhà nước,quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình
đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nângcao địa vị cho phụ nữ.” Tuy nhiên, bản thân xã hội của nước ta với các yếu
tố truyền thống, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo vẫn là một nhân tố đáng kể
tác động trực tiếp đến quan niệm và hành vi ứng xử của người dân trong
cuộc sống Các chuẩn mực xã hội và những lễ giáo phong kiến khiến cho
người phụ nữ luôn bị ràng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc,
luôn sống bó hẹp trong “tam tòng tứ đức” và có thân phận thấp hèn, không
được bình đẳng với nam giới Nhiều nơi phụ nữ bị đối xử bất công, luôn bị
lép vế, lao động cực nhọc, thức khuya dậy sớm, không có tiếng nói trong
gia đình, không được tham gia vào các công việc trong xã hội Quan niệm
trọng nam khinh nữ và tư tưởng coi thường phụ nữ vẫn còn đang tồn tại
dưới nhiều hình thức khác nhau Chế độ gia trưởng và sự bất bình đẳng
Trang 3thường là những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc trong cuộc sống giađình của người phụ nữ.
Bình đẳng giới là một đòi hỏi cấp thiết và thiết thực nhằm đem lại sựgiải phóng cho phụ nữ, tạo cho họ có nhiều cơ hội cùng nam giơi tham giahoạt động xã hội, có được vị trí và chỗ đứng cá nhân ở ngoài xã hội và bêntrong gia đình Sự phân công lao động hợp lý các công việc trong gia đìnhkhông những là chìa khóa để đảm bảo cho sự ổn định bền chặt, êm ấm của
gia đình, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của cả nam giới và nữ
giới về mọi mặt xã hội Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, bất
kỳ sự phân biệt đối xử nào về giới cũng đều cản trở sự phát triển bền vững,tạo nên xung đột xã hội Vì vậy, vấn đề bình đẳng giới mang ý nghĩa hếtsức sâu sắc về kinh tế, văn hóa, chính trị
Thông qua việc nghiên cứu đề tài về “ Thực trạng sự phân công lao
động giữa vợ và chồng trong gia đình” qua khảo sát tại thôn Đồng Vang
-xã Kim Long - huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc, để thấy được quanniệm của người dân nới đây về sự phân công lao động giữa vợ và chồngtrong gia đình Từ đó thấy rõ vai trò lao động của người phụ nữ trong gia
đình, bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới diễn ra như thế nào nhằm
góp phần để có cái nhìn đúng hơn về người phụ nữ Thêm nữa, nó còn đề
ra những biện pháp và khuyến nghị để nâng cao hơn vai trò của người phụ
nữ, phát huy hết tiềm năng của người phụ nữ góp phần xây dựng một xãhội ngày càng công bằng văn minh
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Tác phẩm: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà
nước” (Engels, 1884) đã mô tả sự phân công lao động theo giới gắn liền
với các kiểu hôn nhân và gia đình, các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
khác nhau “Giới tính thứ hai” (Simone De Beauvoir, 1949) đã giải thích
Trang 4các nguyên nhân dẫn đến “địa vị hạng hai” của phụ nữ và lên tiếng đấutranh nhằm xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng nam – nữ trên thế giới “Sựhuyền bí của nữ tính” (Betty Friedan, 1963) đã chỉ ra sự khốn khổ và thấtvọng của người phụ nữ nội trợ khi họ bị phụ thuộc vào nam giới “Vai tròcủa phụ nữ trong phát triển kinh tế” (Boserup, 1970) đã xác định một cách
có hệ thông và ở phạm vi thế giới sự phân công lao động giữa vợ vàchồng trong nền kinh tế nông nghiệp “Phân công lao động theo giới
trong gia đình nông dân” (Lê Ngọc Văn, 1997) đã chỉ ra mô hình phâncông lao động theo giới ở khu vực nông thôn trong thời kỳ kinh tế thịtrường Vũ Tuấn Huy và Deborah S Carr với nghiên cứu: “Phân công laođộng nội trợ trong gia đình” (2000) đã khẳng định sự bất bình đẳng trongphân công lao động nội trợ - nơi phụ nữ đảm nhận chủ yếu Các tác giả
cũng chỉ ra sự tác động của các yếu tố nghề nghiệp, việc làm, số con, định
hướng tâm thế nghề nghiệp có liên quan đến văn hóa và xã hội hóa Cuốnsách: “Xu hướng gia đình ngày nay” (Vũ Mạnh Lợi, 2004) đã đưa ra mô
hình phân công lao động giữa vợ và chồng theo chu trình hôn nhân và tậptrung vào việc so sánh mô hình đó Mô hình đó chỉ ra rằng việc nội trợ
trong gia đình là việc của hầu hết phụ nữ trong giai đoạn đầu của cuộc
hôn nhân, việc tham gia vào công việc nội trợ của nam giới có xu hướng
tăng lên trong giai đoạn tiếp theo của cuộc sống gia đình
Tóm lại, từ khi có sự xuất hiện của sự phân công lao động theo giới đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên mỗi côngtrình nghiên cứu, mỗi đề tài khoa học lại nghiên cứu ở mỗi khía cạnh khácnhau của vấn đề Để góp phần vào công cuộc nghiên cứu này, đề tài “Sự
phân công lao động giữa vợ và chồng ở huyện Tam Dương – tỉnh VĩnhPhúc” được nghiên cứu trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình
nghiên cứu của các tác giả đi trước hy vọng sẽ góp phần nào cho lĩnh vựcnghiên cứu về phân công lao động theo giới ở Việt Nam
Trang 5Thế giới ngày nay tốt đẹp hơn so với khi bắt đầu bước vào thế kỷ 20.Tuy mù chữ, nạn bệnh tật và bạo lực vẫn còn gây đau khổ cho rất nhiều
người trên thế giới nhưng cũng đã có nhiều tiến bộ- sự phổ cập của giáo
dục và tình trạng biết đọc biết viết, những tiến bộ trong khoa học và yhọcdã loại trừ hoặc kiểm soát được nhiều dịch bệnh, sự trao đổi thông tin
tự do hơn trên khắp thế giới đã khiến những kẻ đi áp bức phải trả giá đắt
hơn nếu muốn áp bức người khác
Một tiến bộ khác nữa là phụ nữ có tiếng nói hơn trong cuộc sống cánhân cũng như ngoài cộng đồng Trong thế kỷ 20, phụ nữ đã có quyền bỏphiếu và nắm giữ các vị trí dân cử ở hầu hết các nước - cho dù nhiều khichỉ là trên nguyên tắc Với tư cách là người lao động, họ được pháp luậtdành cho sự bảo vệ đặc biệt khi những điều luật đó được xem là cần thiết
Họ ngày càng có nhiều khả năng tiếp cận đến dịch vụ y tế và giáo dục Họ
đang tập hợp nhau lại một cách hữu hiệu cả ở trong nước và quốc tế- đểxác định quyền của phụ nữ như những quyền con người và việc đưa vấn
đề giới vào quá trình hoạch định chính sách phát triển
Đổi mới kinh tế ở Việt Nam những năm qua đã tác động mạnh mẽ tới
cơ cấu và sự phân công lao động nam- nữ trong gia đình Quy mô gia đìnhđang có xu hướng hạt nhân hoá nhưng các yêu cầu xã hội đối với chứcnăng gia đình lại tăng lên Gia đình vừa phải đảm bảo đời sống vật chất
(chức năng kinh tế) và tinh thần (chức năng duy trì tình cảm) cho cácthành viên của mình, vừa phải tích cực tham gia các hoạt động kinh tế xãhội của cộng đồng Vai trò của gia đình trong việc tạo công ăn việc làm,
tăng thu nhập và lành mạnh hoá các quan hệ xã hội luôn được nhấn mạnhtrong các văn bản, đánh giá và các nghiên cứu chính thức của các cá nhân
và tổ chức
Nghiên cứu sự phân công lao động theo giới trong gia đình vùng nôngthôn thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước sẽ giúp chúng ta
Trang 6nắm bắt được sự biến đổi của gia đình, của kinh tế hộ, sự biến đổi khuônmẫu gia đình truyền thống đến hiện đại.
Các khu vực nông thôn nằm giữa khu thành thị và nông thôn nênnhững biến đổi về kinh tế và văn hoá ở đây phức tạp và nhiều chiều hơncác khu vực khác Sự biến đổi đó tác động đến sự phân công lao
độngtrong các gia đình làm thay đổi mối quan hệ xã hội trong đó có mối
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là mối quan hệ giới.Vai trò của người phụ nữ bước đầu được chú trọng nhiều hơn trong các đềtài nghiên cứu về gia đình và phụ nữ Có thể kể ra một số bài viết và đề tàisau:
- “Đưa vấn đề giới vào phát triển thông qua sự bình đẳng giới vế
quyền, nguồn lực và tiếng nói” (Báo cáo nghiên cứu chính sách của ngânhàng Thế giới, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 2001) Báo cáo nhằmmục đích nâng cao sự hiểu biết về mối quan hệ giữa vấn đề giới, chínhsách công và sự phát triển góp phần thúc đẩy sự bình đẳng giới Báo cáo
đề xuất một chiến lược 3 phần để nâng cao sự bình đẳng giới Báo cáo đề
cập đến việc phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới thông quaviệc tiếp cận các nguồn lực về kinh tế và chính sách xã hội
- “Phụ nữ và nam giới và cải cách kinh tế ở nông thôn” được nghiên
cứu bởi trung tâm nghiên cứu phụ nữ và gia đình vào năm 1995 Đề tài đã
đề cập đến sự phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân trong
quá trình chuyển đổi nền kinh tế cũng như các vấn đề xã hội đặt ra xungquanh mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với tính công bằng và sự bình
đẳng giới từ sự phân công lao động đó
- Giáo sư Lê Thi, “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt
Nam” trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ lại khẳng định mục tiêucủa việc nghiên cứu giới nhằm tạo nên sự phát triển tốt đẹp và sự phâncông hợp lý giữa hai giới nam và nữ không chỉ trong lao đọng sản xuất ởcác ngành nghề mà còn trong các hoạt động tổ chức, xây dựng cuộc sống
Trang 7gia đình và nuôi dạy con cái Ở cả hai lĩnh vực hoạt động- gia đình và xã
hội - đều cần có sự tham gia và phát triển tài năng trí tuệ của cả hai giới,phù hợp với đặc điểm về giới của họ, góp phần tạo nên sự hài hoà trongtừng gia đình
- Đề tài nghiên cứu “Sự phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn và
vai trò của người phụ nữ” được thực hiện bởi trung tâm nghiên cưú phụ
nữ vào năm 1989 Nội dung chủ yếu cho thấy tầm quan trọng và khả năngphát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn Trong đó phụ nữ nông thôn
đóng vai trò quan trọng trong việc đóng góp thu nhập, đóng góp thời gianlao động sản xuất cho gia đình và xã hội Song chưa nhấn mạnh đến sựphân công lao động theo giới trong các gia đình nông thôn
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của người phụ
nữ và nam giới trong đời sống gia đình như :
- “Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ 21” trung tâm
nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển, NXB thế giới,
Hà Nội 2000
- “Gia đình và địa vị người phụ nữ trong xã hội” trung tâm nghiên
cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển, NXB khoa học xã hội1995
- “Người phụ nữ và gia đình Việt Nam hiện nay” trung tâm nghiên
cứu khoa học về gia đình và phụ nữ, NXB khoa học xã hội 1991
- “Nghiên cứu và đào tạo giới ở Việt Nam” NXB khoa học xã hội
1999
- “Vai trò của nam chủ hộ ngư dân ven biển” tạp chí xã hội học 1998
- “Vai trò của người cha” tạp chí xã hội học 2002
Nhìn chung, bức tranh phân công lao động giữa hai giới đã được dựnglên khá rõ nét ở nhiều góc độ và hình thức nghiên cứu phong phú, nhưng
dường như các đề tài mới chỉ tập trung vào việc phân tích sự thay đổi vị
Trang 8trí, vai trò của người phụ nữ thông qua các hoạt động sống của gia đìnhnói chung.
Đời sống không ngừng biến đổi, vì thế sự phân công lao động gia đình
nói chung và sự phân công lao động các công việc nội trợ trong các gia
đình nói riêng cũng cần sự biến đổi, để tạo nên một môi trường xã hội
phát triển ổn định và bền vững Trong báo cáo này, người viết cố gắngnhìn nhận vấn đề từ cả hai góc độ quan điểm của những phụ nữ và namgiới trong việc xem xét sự phân công lao động trong gia đình để thấy
được các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào các công việc gia đình
của cả hai giới, hy vọng đưa ra những khuyến nghị hướng tới sự phát triểntoàn diện của cả hai giới trong mối tương quan với gia đình và xu thế biến
đổi mới hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu.
Sự phân công lao động theo giới trong gia đình vùng nông thôn thời
kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Điều tra từ ngày 1 tháng 12 đến ngày 3 tháng 12 năm 2014
Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình
Trang 95 Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng phân công lao động theo giới trong gia đình vùng nông
thôn hiện nay như thế nào?
ra như thế nào?
các thành viên trong gia đình và con cái diễn ra như thế nào?
- Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong các công việc lao
động sản xuất diễn ra như thế nào?
các việc lớn trong gia đình, tham gia các hoạt động cồng động vàdòng họ?
6 Giả thuyết nghiên cứu:
- Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình cơ bản dựatrên mô hình phân công lao động truyền thống: Người vợ đảm nhậnnhững công việc thiết yêu của gia đình là nội trợ, một phần công việcnông nghiệp
- Người vợ đảm nhận vai trò chính trong việc chăm sóc con cái và gia
đình
- Người chồng đảm nhận chính các công việc sản xuất,
- Người chồng đại diện cho gia đình tham gia các hoạt động trongdòng họ hay đoàn thể
- Yếu tố kinh tế, văn hóa, học vấn, nghề nghiệp, tuổi tác động mạnh
mẽ đến sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình
Trang 10họ và đoàn thể.
Biến đổi phân công lao động trong
gia đình
Trang 118 Phương pháp nghiên cứu.
8.1 Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã vận dụng một cách cụ thể
phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy
vật lịch sử của Triết học Mác-Lênin Quy luật biện chứng trong các mốiquan hệ xã hội yêu cầu nghiên cứu phải xem xét mối quan hệ giữa vợ vàchồng trong các vai trò mà họ đảm nhiệm trong gia đình
Nghiên cứu quy luật phát triển của sự vật hiện tượng phải đặt trongmối quan hệ tương tác lẫn nhau và trong hoàn cảnh, môi trường cụ thểtrong xã hội của chính nó để lý giải vì sao bất bình đẳng giới vẫn còn tồntại trong việc phân công lao động trong các gia đình ở nông thôn, nôngthôn mới hiện này
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng một số phương pháp luận, một số lýthuyết của chuyên ngành Xã hội học cũng như một số chuyên ngành khác
để có cái nhìn đa chiều về vấn đề nghiên cứu
Như vậy, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng cùng với việc vận
dụng triệt để nhưng lý thuyết, lý luận làm cơ sở để nghiên cứu Đề tài đã
có được thực hiện một cách khách quan, khoa học, khắc phục được những
thiếu sót từ đó tăng thêm tính chặt chẽ, logic của đề tài
8.2 Cơ sở lý luận.
8.2.1 Lý thuy ết vị thế - vai trò
Lý thuyết xã hội học về vị thế vai trò cho phép nghiên cứu hành vi của con
người trong hệ thống của những cấp độ “cá nhân - nhóm xã hội - xã hội” Nó
cho phép mở ra cơ chế cụ thể những liên hệ qua lại và tương tác của nó vớinhững yếu tố cơ cấu xã hội khác và với xã hội nói chung Lý thuyết nàykhông chỉ mở ra sự phụ thuộc của các cá nhân và hành vi của họ với xã hội
Trang 12và cơ cấu xã hội với môi trường xung quanh mà còn chú ý đến thế giới nội
tâm của cá nhân khi xác định hành động và hành vi Nhưng lý thuyết vị thế vai trò chủ yếu phân tích hành vi của các cá nhân chứ ít hướng vào phân tíchhành vi của nhóm xã hội với tư cách là một chỉnh thể
-Cần thấy rằng sự phân công lao động theo giới trong gia đình vùng nôngthôn hiện nay trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thời kỳcông nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, do đó, nó không đơn thuần bị quy
định bởi vị thế - vai trò cá nhân của mỗi cá nhân mà còn bị qui định bởi các
yếu tố ở cấp độ vĩ mô như những biến đổi về chính sách phát triển kinh tế, cơchế thị trường và những thay đổi trong hệ giá trị văn hoá, trong thiết chế xãhội, cơ cấu xã hội
8.2.2 Lý thuyết về cơ cấu - chức năng
Sử dụng cách tiếp cận cơ cấu- chức năng trong việc làm rõ vị trí, vai tròcủa các thành viên trong gia đình để thấy được mối quan hệ tương tác giữacác thành tố của cơ cấu đó, đặc biệt là cơ cấu vai trò giới Thông qua sự tươngtác này chúng ta sẽ đánh giá được việc thực hiện các chức năng của gia đình
trong điều kiện hiện nay
Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị
xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh cụ thể Nói cách khác, giới
đề cập đến những khác biệt giữa nam và nữ do xã hội qui định Do đó giới
không phải là do tự nhiên sinh ra, mà là sản phẩm của xã hội Các nhà khoahọc cho rằng giới là cấu trúc xã hội hay nói cách khác giới là do xã hội tạonên
“Cách tiếp cận giới và phát triển cho rằng nếu chỉ chú trọng đến phụ nữ
một cách tách biệt sẽ bỏ qua một thực tế là nam giới có vị thế áp đảo đối với
Trang 13phụ nữ Vì vậy các lý thuyết giới và phát triển thường nhấn mạnh nội dungbản sắc xã hội của mối tương quan giới, về tính hợp pháp của các vai trò giới
đã được gán cho cả phụ nữ và nam giới”
- Lý thuy ết vai trò giới
Vai trò giới được định nghĩa là những hành vi, những quan điểm được
trông đợi trong một xã hội đối với mỗi giới Những vai trò này bao gồm các
quyền và trách nhiệm được chuyển hoá đối với từng giới trong một xã hội cụthể
Lý thuyết vai trò giới xuất phát từ những nguồn gốc sinh học mà nó xác
định sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà Những nguồn gốc sinh học này tạo
nên nguyên liệu thô, từ đó tổ chức nên những hành vi cụ thể, được gọi lànhững vai trò giới Các vai trò này hình thành thông qua quá trình xã hội hoá.Những vai trò này hướng dẫn các hành vi của hai giới được xem là phù hợpvới những mong đợi của xã hội Đó chính là thể hiện sự phân công lao độngtheo giới
Lý thuyết này cho rằng nam giới được gán cho chức năng chuyên môn(công cụ, nghề nghiệp) để tạo ra của cải vật chất, còn phụ nữ có chức năngbiểu đạt (văn hoá, tình cảm) để tạo ra của cải tinh thần
Emile Durkheim nhà xã hội học người pháp là một trong những đại diệntiêu biểu của lý thuyết này Theo ông, chức năng giới được qui định một cách
tự nhiên sinh học, “bẩm sinh” “vốn có” Do vậy, sự phân công lao động trong
xã hội phải tôn trọng và tuân theo sự hợp lý của tự nhiên,nếu khác đi là có
“vấn đề”, là “không bình thường” Ngay cả sự khác biệt đến mức bất bìnhđẳng giữa nam và nữ về lao động, việc làm và thu nhập cũng được một số tác
giả thuộc trường phái chức năng cho là cần thiết và “hợp lý” để đảm bảo trật
tự của hệ thống gia đình và xã hội
Sự phân công lao động theo giới là hình thức tổ chức lao động trong xã hội
có từ rất lâu đời nhưng điều đó không có nghĩa là nó không bị biến đổi Như
Trang 14Mác và Ănghen đã nhận xét “Sự phân công lao động cũng phát triển, lúc đầuchỉ là phân công lao động trong hành vi tình dục và về sau sự phân công lao
động tự hình thành hoặc hình thành một cách tự nhiên do những thiên tính
bẩm sinh, do những nhu cầu, do những sự ngẫu nhiên ”
Quan điểm giới và sự phát triển hiện nay không chỉ nhấn mạnh đến tương
tác vai trò của mỗi giới mà còn nhấn mạnh đến vai trò chủ thể của người phụ
nữ trong việc hoạch định thực hiện và đánh giá các mục tiêu phát triển kinhtế,văn hoá, xã hội và sự tiến bộ của mỗi giới trong sự ổn định và phát triển xãhội Do đó, nó đòi hỏi sự xác định mục tiêu và biện pháp thích hợp đáp ứngnhu cầu của mỗi giới, trong đó tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy năng lực củamình, phát triển toàn diện, bình đẳng với nam giới cùng sự phát triển xã hộibền vững
Các lý thuyết, quan điểm xã hội học nêu trên đã bổ xung cho nhau và giúpcho chúng ta có một cách tiếp cận nghiên cứu tổng - tích - hợp về sự phân
công lao động theo giới trong gia đình vùng nông thôn thời kỳ công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước
8.3 Phương pháp thu thập thông tin.
Để thu thập thông tin xã hội học làm cơ sở cho việc phân tích các vấn đềđặt ra, nghiên cứu này đã sử dụng một số phương pháp sau:
Để phục vụ cho quá trình thu thập thông tin trong quá trình nghiên
cứu, đề tài đã sử dụng phương pháp chọn mẫu với nguyên tắc chọn mẫu là
dung lưỡng mẫu được xác định trên cơ sở chọn ngẫu nhiên
Từ phương pháp này đề tài dự kiến chọn mẫu theo cách chọn ngẫunhiên 816 hộ gia đình (chọn mẫu toàn bộ) trong huyện Tam Dương, tỉnhVĩnh Phúc để tiến hành thu thập thông tin cho quá trình nghiên cứu
Trang 158.3.2 Phương pháp phân tích tài liệu.
Đề tài sử dụng những tài liệu đó là các công trình khoa học, những đề
tài nghiên cứu của các tác giả đi trước để phục vụ cho công trình nghiêncứu của mình Các tài liệu đa phần là những công trình nghiên cứu xã hội
về gia đình và giới
Đồng thời đề tài còn sử dụng các thông tin trong các giáo trình, cácsách báo, tư liệu, tạp chí chuyên ngành, các thống kê xã hội, các thông tin
trên internet trên tình thần tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo, phát triển
Báo cáo đã sử dụng các tư liệu, các thông tin kinh tế xã hội và các
thông tin chuyên ngành từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu như: các báo cáo chi tiết của cán bộ xã Kim Long - huyệnTam Dương - Vĩnh Phúc về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của xã; tạp
chí khoa học về phụ nữ; tạp chí xã hội học; các chuyên đề nghiên cứu củatrung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ nhằm củng cốnhững luận cứ về mặt lí thuyết và thực tiễn
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, đề tài đã sử dụng bảng hỏi để tiến
hành phỏng vấn cấu trúc trên 816 mẫu được chọn Vì phương pháp này là
phương pháp thu thập thông tin định lượng cho ra các kết quả nghiên cứu
cụ thể nên phương pháp này thường xuyên được sử dụng trong các nghiêncứu khoa học
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những khái quát về thực trạngvấn đề nghiên cứu, đưa ra những con số thống kế cụ thể nhằm tạo nên tínhkhoa học cho đề tài nghiên cứu
Trang 168.3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu.
Để thu thập các thông tin định tính, đề tài nghiên cứu đã thực hiện 5
cuộc phỏng vấn sâu đối với người dân tại huyện Tam Dương, tỉnh VĩnhPhúc nhằm khai thác thông tin theo chiều sâu cho đề tài nghiên cứu
Ngoài các phương pháp luận như dựa trên nền tẳng của chủ nghĩa
Mác-Lênin, các lý thuyết Xã hội học, các lý luận phân công lao động,bình đẳng xã hội , trên thực tế đề tài còn sử dụng các phương phápnghiên cứu Xã hội học cụ thể để làm rõ hơn các vấn đề nghiên cứu
Qua thực tế sinh hoạt và làm việc tại địa phương kết hợp với phỏngvấn sâu và phỏng vấn bằng bảng hỏi, tôi có sử dụng các biện pháp quan
sát như nghe, nhìn trong khi đi phỏng vấn để qua đó thu thập thông tin về
các hiện tượng liên quan tới mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đồng thời
quan sát thái độ của người trả lời nhằm đánh giá độ chính xác của thôngtin thu được
Kết quả nghiên cứu được thu thập thông tin từ thực địa bằng phươngpháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn cấu trúc do tác giả và đoàn nghiên cứuthu thập thông tin
Cảnh báo dữ liệu: Dữ liệu có thể bị sai lệch do điều tra viên lần đầutiên
9 Hệ khái niệm.
9.1 Khái niệm lao động.
Lao động là một thiết chế xã họi trong đó hoạt động con người đượcđịnh hướng, được tổ chức, sắp xếp nhằm tạo ra những sản phẩm đáp ứng
Trang 17nhu cầu cá nhân, của nhóm và của xã hội (Lê Ngọc Hùng – tập bài giảng
9.2 Khái niệm phân công lao động.
Khái niệm phân công lao động được hiểu từ hai góc độ khoa học liên
quan đến khái niệm chức năng theo quan niệm kinh tế học bắt nguồn từ A.Smith “phân công lao động là sự chuyên môn hóa nhiệm vụ lao động
nhằm thực hiện chức năng ổn định và phát triển xã hội, củng cố mối quan
hệ gắn bó giữa các cá nhân và trật tự xã hội Phân công lao động không
đơn thuần là sự chuyên môn hóa lao động mà thực chất là quá trình gắn
liền với sự phân hóa xã hội, phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội”Trong tác phẩm “Sự phân công lao động xã hội” (1893) E Durkheim
đã chỉ ra rằng phân công lao động không chỉ có ý nghĩa thuần túy kinh tế,
để làm giàu và nâng cao năng suất, hiệu quả lao động mà phân công laođộng còn thực hiện chức năng to lớn hơn, quan trọng hơn đối với cuộc
sống con người Đó là việc tạo ra sự đoàn kết xã hội, sự hội nhập xã hộikiểu mới trong xã hội hiện đại Với trình độ phân công lao động ngày mộtcao, vai trò nhiệm vụ càng bị phân hóa và chuyên môn hóa sâu sắc thì các
cá nhân ngày càng phải tương tác với nhau Sự phụ thuộc lẫn nhau cùngvới cùng với các trách nhiệm, nghĩa vụ được chia sẻ do sự phân công lao
động đã tạo ra gắn kết các cá nhân và các nhóm xã hội lại với nhau Trong
xã hội hiện đại, sự đoàn kết xã hội chủ yếu nảy sinh từ sự đa dạng, phongphú của cách suy nghĩ và kiểu hành vi xã hội mà những khuân mẫu hành
Trang 18động đó được các cá nhân tán đồng chia sẻ Sự phân công lao động trong
xã hội có thể xảy ra trên cơ sở khác nhay về đặc điểm tự nhiên của chủ thể
lao động, cũng như dựa vào các đặc điểm, yêu cầu phát triển của nền kinh
giới một cách tự nhiên và đã dẫn đến sự sở hữu có tính đặc trưng theogiới, mỗi giới làm chủ trong lĩnh vực hoạt động của riêng mình” Trongcác xã hội, sự phân công lao động theo giới biểu hiện qua sự phân chiakhu vực lao động nghề nghiệp Ngoài ra, sự phân công lao động theo giớicòn thể hiện trong cách tổ chức cuộc sống gia đình
“Phân công lao động trong gia đình” là sự đảm nhiệm các công việctrong gia đình của vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình nhằm
thực hiện những chức năng của gia đình trong chăm sóc, giáo dục đảmbảo cho sự tồn tại và phát triển ổn định của gia đình Sự phân công lao
động trong gia đình chủ yếu dựa trên 3 nhóm công việc: các công việc tạo
thu nhập, các công việc tái tạo sức lao động và các hoạt động nhằm duy trìmối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình với họ hàng, cộng đồng Phân công lao động theo vợ chồng là yếu tố hình thành vai trò giới
trong gia đình và xã hội Phụ nữ có vai trò biểu đạt tình cảm, nam giới có
vai trò là công cụ tạo ra thu nhập Theo thuyết chức năng, lao động củaphụ nữ có chức năng tình cảm và lao động của nam giới có chức năng tư
duy và hành động giải quyết vấn đề
Trang 199.3 Khái niệm “gia đình”.
Gia đình là một tập thể xã hội có từ hai nguời trở lên trên cơ sở huyết
thống, hôn nhân hay nghĩa dưỡng cùng sống với nhau Gia đình là một cơchế trung tâm của tất cả con người, là thiết chế xã hội đặc biệt tập hợpnhau về thân phận, vai trò, chuẩn mực và lương tri để đạt tới các mục tiêu
xã hội quan trọng Các mục tiêu này bao gồm cả sự kiểm soát xã hội về
sinh đẻ, xã hội hoá của xã hội mới và vị trí của trẻ em trong xã hội rộng
lớn Gia đình mang dấu ấn của xã hội và đến lượt mình gia đình cũng
đóng góp chủ yếu cho việc gìn giữ xã hội Các mối quan hệ trong gia đìnhđược sử dụng là sự nối kết, hợp đồng, sự gắn bó và bổn phận giữa conngười với nhau và nó tạo ra một hình mẫu riêng biệt
(Tập bài giảng xã hội học gia đình - TS Lê Thị Quí)
Gia đình đóng vai trò cơ bản trong việc định hình mối quan hệ giới
ngay từ những buổi đầu cuộc sống con người và chuyển tải chúng từ thế
hệ này sang thế hẹ khác Con người đưa ra hầu hết các quyết định cơ bảncủa cuộc sống trong phạm vi hộ gia đình - như việc có con và nuôi dạy
chúng, đi làm hay nghỉ ngơi và đầu tư cho tương lai Những nhiêm vụ và
nguồn lực sản xuất đó được phân bổ như thế nào giữa con trai và con gái,
chúng được trao quyền tự chủ đến đâu và kỳ vọng của cha mẹ ở nhữngđứa trẻ này có khác nhau hay không? Tất cả những điều này sẽ tạo ra và
khoét sâu hay sẽ giảm bớt sự phân biệt giới
Khi đề cập đến khái niệm “giới” ta phải đi từ khái niệm “giới tính” để
thấy sự khác biệtgiữa hai khái niệm này từ đó hiểu rõ hơn về khái niệm
“giới”
9.3.1 Gi ới tính
Là một khái niệm sinh học để chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ- hai cáthể người Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất
Trang 20con người và di truyền nòi giống Con người sinh ra đã được xác định
những điểm khác nhau về giới tính
9.3.2 Gi ới
Là một khái niệm để chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội
Nói đến giới là nói đến hành vi xã hội của nam giới và nữ giới, nói đến
vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định chonam và nữ
Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội vànhững kỳ vọng liên quan đến nam và nữ Phụ nữ và nam giới khác nhau
về mặt sinh học nhưng mọi văn hoá đều lí giải và quy định chi tiết nhữngkhác biệt sinh học vốn có đó thành một hệ thống những kỳ vọng xã hội vềnhững hành vi và hành động được coi là thích hợp, những quyền hạn,nguồn lực hay quyền lực mà họ có Tuy những kỳ vọng trong các xã hộikhác nhau thì không giống nhau nhưng vẫn có những điểm tương đồngnổi bật Thí dụ, hầu như tất cả các xã hội đều coi phụ nữ và các bé gái cóvai trò chính yếu trong việc chăm sóc trẻ em và con cái; còn nghĩa vụquân sự hay tham gia quốc phòng là việc của nam giới
Giống như màu da, chủng tộc và đẳng cấp, giới là một phạm trù xã hội
có vai trò quyết định chủ yếu đến cơ hội cuộc sống của con người, xác
định vai trò của họ trong xã hội và trong nền kinh tế Trong khi một vài xã
hội không có sự phân biệt về màu da hay chủng tộc thì tất cả các xã hội lại
đều không có sự tương xứng về giới- khác biệt và thiên lệch ở các mức độkhác nhau.Thông thường những sự không tương xứng đó cần phải có thờigian để thay đổi nhưng còn lâu mới đạt tới trạng thấi ổn định
“Giới” và “giới tính” khác nhau ở các đặc trưng của nó “giới tính” cóđặc trưng sinh học còn “giới” có những đặc trưng xã hội Hai cá thể
“nam” và “nữ” sinh ra đã được quy định về giới tính nhưng phải trải qua
cả một quá trình học hỏi những giá trị, chuẩn mực mà xã hội quy định,
Trang 21mới có thể mang trong mình những đặc tính giới, mới có thể trở thành
“nam giới” và “nữ giới”
9.3.3 Vai trò gi ới
Là một khái niệm được sử dụng như là cách thức tổ chức hành vi của
con người trong một ý nghĩa tổng thể Nó ứng xử như một cơ chế để hiểuđược những cách thức mà ở đó những trông đợi của xã hội, những hànhđộng được phản ánh, những khuân mẫu chung về những hành vi đượctrông đợi Dựa trên sự hiểu biết các quan hệ giới sẽ dẫn đến sự xác định
các vai trò của nữ giới và nam giới Những vai trò này hướng dẫn cáchành vi của hai giới được xem như là phù hợp với những mong đợi của xãhội
Khi nói đến giới là nói đến các điều kiện và các yếu tố xã hội qui định
vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong hoàn cảnh cụ thể Chính vì bị
qui định bởi các yếu tố xã hội cho nên vị trí vai trò và hành vi của giới
không phải là bất biến mà luôn thay đổi khi các điều kiện qui định thay
đổi
Quan hệ giới không chỉ là những tương quan đơn thuần, những mốiliên hệ giản đơn thiết lập từ nhừng thành tố phân tán, biệt lập vào trongmột cơ cấu mà là sự liên kết hữu cơ một cách tất yếu giữa các thành tố
tham gia vào cơ cấu vai trò giới Quan hệ giới là sự phối hợp của các vai
trò giới, liên quan đến việc xã hội chập nhận những đặc điểm hành vi đặc
thù được tạo thành, phù hợp với bản sắc giới của mỗi con người, do vậy
vai trò giới có thể khác nhau do sự khác nhau về văn hoấ và thời kỳ lịchsử
Trong một thời gian dài, “bình đẳng giới” được coi là sự ngang bằngnhau về mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội với phương châm: phụ nữ có
Trang 22thể làm tất cả những gì mà đàn ông có thể làm, phụ nữ có quyền tương
đương với nam giới Giải quyết bình đẳng theo cách này gặp phải một hạn
chế là giữa nam giới và nữ giới có những khác biệt về mặt sinh học
Gần đây, cấc nhà nghiên cứu giới đã đưa ra những quan niệm mới về sựbình đẳng giới, những quan niệm này tỏ ra rất tích cực trong việc khắc phụcnhững hạn chế cũ Bình đẳng giới biểu hiện một sự công bằngmà trong đóphụ nữ và nam giới được tạo điều kiện tốt nhất tương đương nhau về hưởngthụ chính đáng những thành quả lao động của bản thân, thực hiện nhữngquyền và nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ kể cả trong gia đình và ngoài
xã hội “bởi vì cơ sở của sự bình đẳng là hường về sự nâng cao khả năng của
con người mà nó cần phải được phân phối đều cho cả hai giới” (Một vài suy
nghĩ về ý nghĩa và tầm quan trọng của CEDAW trong thực tiễn - TS Lê ThịQuí) Bình đẳng giới là mọi vấn đề của cả hai giới, phải được xem xét trongquan hệ với nhau và dựa trên tinh thần tôn trọng sự khác biệt tự nhiên của cảhai giới
Trang 23II NỘI DUNG CHÍNH
Tam Dương là huyện nằm ở khu vực trung tâm tỉnh Vĩnh Phúc, tổng diện
tích tự nhiên năm 2009 là 10.718,55 ha; phía Bắc giáp huyện Tam Đảo, huyệnLập Thạch, huyện Sông Lô; phía Nam giáp Thành phố Vĩnh Yên và huyệnYên Lạc; phía Đông giáp huyện Bình xuyên; phía Tây giáp huyện Lập Thạch
và Vĩnh Tường Huyện hiện có 13 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn: Thị trấnHợp Hòa, các xã: Đồng Tĩnh, Hoàng Hoa, Hướng Đạo, An Hòa, Đạo Tú, KimLong, Duy Phiên, Hoàng Đan, Thanh Vân, Hợp Thịnh, Vân Hội và xã HoàngLâu
Là đơn vị hành chính của tỉnh có địa thế chuyển tiếp giữa đồng bằng
trung du và miền núi; nằm trên trục phát triển quan trọng, kết nối Sơn Dương
- Tam Đảo - Việt Trì - Vĩnh Yên - Phúc Yên và thủ đô Hà Nội Tam Dươnggiáp ranh với Thành phố Vĩnh Yên - là trung tâm chính trị kinh tế xã hội củatỉnh đồng thời cũng tiếp giáp với huyện Tam Đảo; gần kề với nhiều trung tâmphát triển; khu công nghiệp, khu nghỉ mát; có nhiều di tích lịch sử và danhlam thắng cảnh
Trên địa bàn huyện Tam Dương, có hệ thống các đường quốc lộ, đường
tỉnh lộ (quốc lộ 2, 2B, 2C và tỉnh lộ 310, 305, 316, 306) và tuyến đường sắt
Hà Nội - Lào Cai chạy qua Triển vọng có tuyến đường cao tốc Hà Nội-Lao
Cai được xây dựng mới Các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ đều đang được cải tạo,
nâng cấp Đặc biệt trục giao thông đối ngoại cao tốc Hà Nội-Lao Cai có 2 nút
giao thông đấu nối với quốc lộ 2B và 2C tại địa bàn huyện là nút Kim Long
và Đạo Tú tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho giao lưu kinh tế từ địa bàn TamDương đi các địa phương trong nước và quốc tế bằng đường bộ Các tuyếnđường vành đai 1, vành đai 2 của đô thị Vĩnh Phúc được qui hoạch và xây
Trang 24dựng đều đi qua nhiều xã của huyện Tam Dương Hệ thống giao thông đốingoại, đối nội được xây dựng và hoàn thành trong thời kỳ qui hoạch tạo cho
Tam Dương có lợi thế đặc biệt là huyện ở vùng trung du nhưng có mật độ
giao thông phát triển cao hơn nhiều địa phương khác
Ngoài ra trên địa bàn huyện hiện có hai dự án đầu tư xây dựng haitrường đại học là Đại học Công lập Dầu khí và Đại học dân lập Trưng Vương
tại xã Kim Long
- Những đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế nêu trên đã tạo ra những lợithế đặc biệt cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nằm ở vùng địa hìnhtrung du chuyển tiếp tự nhiên miền núi tới đồng bằng, sản xuất nông nghiệpcủa Tam Dương có thể phát triển mạnh cây ăn quả, chăn nuôi gia cầm, giasúc, thuỷ sản Với thuận lợi về đầu mối giao thông đối ngoại và quĩ đất gò đồitrung du huyện có thể xây dựng các KCN, cụm công nghiệp tập trung thuhút các nhà đầu tư phát triển công nghiệp cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệuxây dựng, chế biến thực phẩm, phát triển TTCN làng nghề để thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện theo hướng CNH - HĐH
So với năm 2005, năm 2010 cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện chuyểndịch theo hướng tích cực: Ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 29,3% lên
41,96% năm 2010, Nông ,Lâm nghiệp-thủy sản giảm từ 47,9% xuống còn36,89%, ngành thương mại -dịch vụ tăng từ 22,8% lên 41,96% Tổng thungân sách trên địa bàn năm 2010 ước đạt 250,58 tỷ đồng, gấp 4,59 lần so vớinăm tỉ lệ hộ nghèo (chuẩn mới) 2010 giảm còn 11% Thu nhập bình quân đầungười năm 2010 ước đạt 19 triệu đồng/người/năm Tổng sản lượng lương
thực có hạt ước năm 2010 đạt 39.000 tấn Giá trị sản xuất bình quân 1 ha canh
tác 2010 ước đạt 57 triệu đồng (giá hiện hành) Như vậy kinh tế - xã hội
huyện Tam Dương có sự phát triển vượt bậc so với đầu thời kỳ (năm 2005).Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều đạt và vượt mục tiêu nghị quyết đại hội Đảng
bộ huyện lần thứ 27 và chỉ tiêu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xãhội huyện đến 2010 đặt ra Tuy nhiên Tam Dương vẫn thuộc huyện nghèo,
Trang 25kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn, thu nhập bình quân đầu người/
năm mới đạt bằng 2/3 mức bình quân đầu người của cả tỉnh Vĩnh Phúc
Dân số trung bình năm 2010 của huyện Tam Dương là 96.142 người Tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên hàng năm đạt mức khá cao Phân bố dân cư không đồngđều trong các xã, thị trấn, chủ yếu là cư dân sống ở khu vực nông thôn (chiếm
90,2%) Số người trong độ tuổi lao động khá cao khoảng 60.450 người, chiếm53,16% trong tổng số dân cư toàn huyện Mật độ dân số của huyện khoảng
889 người/km2
Tam Dương là huyện có quy mô dân số trung bình, tốc độ tăng gia dân số
không cao, với chỉ số gia tăng là 1,232% Lao động nông lâm nghiệp thủy sản
có khoảng 34.007 người chiếm 77% tổng lao động các ngành trong huyện
Về Kinh tế :
+ Giai đoạn (2001-2005) thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội của huyện Tam Dương theo nghị quyết đại hội đảng bộ huyện lần thứ
26 nhiệm kỳ (2001-2005) và qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trên
địa bàn huyện (2001-2010), kinh tế huyện Tam Dương có sự phát triển khá
ổn định Tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 13,3%/năm, trong đó nhóm ngành
nông lâm-thủy sản tăng 6,6%/năm, công nghiệp-xây dựng tăng 21,5%/năm,
thương mại-dịch vụ tăng 14,5%/năm Qui mô kinh tế huyện năm 2005 tăng
gấp 1,72 lần so với năm 2000 Thu nhập bình quân đầu người năm 2000 đạt2,04 triệu đồng, năm 2005 đạt 5,8 triệu đồng (giá thực tế)
+ Giai đoạn (2006-2010), thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của Nghị
quyết đại hội đảng bộ huyện lần thứ 27, mặc dù gặp nhiều khó khăn tháchthức như diễn biến phức tạp các dịch bệnh và thời tiết, biến động của giá cảvật tư, kinh tế - xã hội trên địa bàn Huyện tiếp tục phát triển và đạt tốc độ
tăng trưởng khá Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn
2006-2010 ước đạt 23,39%/năm, cao hơn giai đoạn 2001-2005 đạt
11,5%/năm Như vậy so với mục tiêu đại hội 27 đề ra tăng trưởng (15%/năm)
thực hiện vượt 8,39%; quy hoạch đề ra tăng trưởng bình quân 20%/năm thực
Trang 26hiện vượt 3,39% Trong đó, khu vực các ngành nông - lâm - thuỷ sản thựchiện đạt tốc độ tăng trưởng 16,9%/năm, mục tiêu đại hội 27 Đảng bộ huyện
đề ra tăng trưởng bình quân 6%/năm, vượt 10,9% so với mục tiêu Đại hội 27
đề ra Chuyển dịch cơ cấu Nông - Lâm nghiệp - Thuỷ sản không đạt mức chỉtiêu đại hội đề ra Khu vực các ngành dịch vụ tăng trưởng đạt 28,15%/năm; so
với mục tiêu đại hội Đảng bộ 27 đề ra tăng vượt 7,15 So với mục tiêu quyhoạch đề ra đối với nhóm ngành dịch vụ tăng trưởng bình quân 21%/năm,thực hiện vượt 7,4% Khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng
tăng trưởng bình quân đạt 29,7%/năm, thấp hơn so với chỉ tiêu đại hội Đảng
có khoảng 50% giá trị gia tăng do ngành nông nghiệp đóng góp
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế : Với xuất phát điểm về trình độ pháttriển kinh tế còn thấp, kinh tế của huyện Tam Dương chủ yếu vẫn dựa vàonông nghiệp, nông thôn, nông dân là lực lượng lao động chủ yếu Cơ cấu kinh
tế trên địa bàn giai đoạn (2001-2005) chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện cònchậm Năm 2002 cơ cấu kinh tế huyện Tam Dương tính theo giá trị sản xuấtcủa 3 nhóm ngành cơ bản: nông lâm thủy sản chiếm tỉ trọng 58,2% , côngnghiệp xây dựng 21,1%, thương mại dịch vụ 20,7% Năm 2005 nhóm ngànhnông lam thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất 47,9%, công nghiệp xây dựng
29,3%, thương mại dịch vụ 22,8% Giai đoạn (2006-2010) cơ cấu kinh tế TamDương chuyển dịch tích cực hơn theo hướng tăng nhanh tỉ trọng khu vực
công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm mạnh tỉ trọng Nông -lâm nghiệp,thuỷ sản
Trang 27Nếu tính theo cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đã tăng từ
30,2% (năm 2005) lên 41,96% (ước 2010); nông, lâm, thuỷ sản giảm từ
47,33% (năm 2005) xuống còn 36,89 (ước năm 2010); Thương mại - dịch vụ
tăng từ 22,47% giảm còn 21,15% (ước 2010) So với mục tiêu Đại hội Đảng
bộ huyện lần thứ 27 đề ra đến 2010 Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện (Côngnghiệp - xây dựng 41,1%, thương mại - dịch vụ 28,4%, Nông, Lâm, Thuỷsản: 30,5%) thì giai đoạn (2006-2010) chuyển dịch cơ cấu không đạt đượcmục tiêu đại hội đề ra Theo quy hoạch tổng thể 2006-2010 đề xuất phương
án chọn chuyển dịch cơ cấu tích cực ở cuối thời kỳ 2010 là : Công nghiệp Xây dựng 41,07%, Nông, Lâm, Thuỷ sản: 14,3%; thương mại - Dịch vụ27,2% Như vậy, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện cònthấp so với mục tiêu quy hoạch lựa chọn
-Nguyên nhân chủ yếu tác động đến chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất chậm
đạt mục tiêu đề ra là do cơ chế và chính sách thu hút đầu tư công nghiệp, xây
dựng trên địa bàn huyện chưa hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài địa bàn
đến đầu tư tại Tam Dương Lợi thế về vị trí địa lý, thuận lợi về hạ tầng giao
thông huyện Tam Dương vẫn kém hơn so với các huyện Bình xuyên, Thị xãPhúc Yên và Thành phố Vĩnh Yên
2.1 Thực trạng phân công lao động theo giới trong gia đình tại địa
bàn xã Kim Long - huyện Tam Dương - Vĩnh Phúc
Trong các gia đình, sự phân công lao động chủ yếu diễn ra trong quan hệ
giữa người vợ và người chồng Phụ nữ trong hầu hết các xã hội đều phải cáng
đáng gánh nặng của các công việc gia đình - nấu nướng, lấy nước, thu gom
chất đốt, chăm sóc con cái, chăm sóc người bệnh và người già Nói chung phụ
nữ làm việc nhiều hơn nam giới - đặc biệt là khi họ cũng đi làm công ăn
lương Sự phân công này làm cho phụ nữ ít được bình đẳng hơn so với nam
giới Trong khi đó, nam giới được coi là trụ cột và là nguời bảo vệ chính của
Trang 28gia đình, do đó lòng tự trọng cũng như địa vị của họ trong xã hội quyện chặt
với khả năng của họ để hoàn thành các trách nhiệm này Và nếu như vai tròcủa các giới trong xã hội càng được phân tầng và sắp đặt trước bao nhiêu thì
sự phân công lao động theo giới trong gia đình càng trở nên cứng nhắc bấynhiêu
n ội trợ
Công việc nội trợ là một khái niệm cho đến nay chưa có một định nghĩanào thật rõ ràng Theo sự tính toán của các chuyên gia thì người nội trợ phảithực hiện 216 dạng hoạt động khác nhau từ đính khuy áo, chăm sóc nguời ốm
đến dạy con học Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài quan tâm nghiên cứu công
việc nội trợ ở các khía cạnh sau: nấu nướng, đi chợ, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa.Công việc nội trợ gia đình hay còn được coi là hoạt động tái sản xuất liên
quan đến việc duy trì gia đình Mặc dù được coi là hoạt động htiết yếu để duy
trì sự tồn tại của con người song lại không thường hoặc khó qui đổi thành giátrị kinh tế, vì vậy những công việc nội trợ gia đình (còn gọi là lao động gia
đình) cho đến nay vẫn được xem là loại hình lao động không được trả công Ởnước ta và nhiếu quốc gia trên thế giới vẫn xếp các công việc nội trợ vào lĩnh
vực “phi kinh tế” và coi là công việc dành riêng cho phụ nữ trong điều kiệnhiện này liệu quan niệm về sự phân công này đã thay đổi?
Trong gia đình, các hoạt động tái sản xuất sứ lao động cho các thành viên
hay còn gọi là công việc nội trợ gia đình được xem như là một hình thức hoạt
động diễn ra hàng ngày, là công việc cần thiết để duy trì cuộc sống cho mỗi
thành viên và sự tồn tại của gia đình Gia đình sẽ không còn là gia đìnhnguyên nghĩa nếu như hoạt động này không diễn ra mà thay vào đó là sự chenlấn của các loại hình dịch vụ
Ngày nay, việc chăm lo cho các thành viên trong gia đình được coi là mộtcông việc quan trọng theo đúng nghĩa của nó, trong đó vai trò của nguời phụ
Trang 29nữ được đặc biệt đề cao Nhưng điều đó không có nghĩa phụ nữ là người phảichịu trách nhiệm chính trong mọi công việc của gia đình.
Phụ nữ Việt Nam ngày nay đang có mặt trên khắp các lĩnh vực của nềnkinh tế quốc dân Phát triển kinh tế mang lại động lực và cơ hội để phá vỡ vaitrò đã ăn sâu của các giới - cho phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị
trường giống như nam giới và khiến nam giới phải chia sẻ các trách nhiệmchăm sóc gia đình Phát triển kinh tế có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà của
phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động thị
trường Cùng với quá trình học tập và làm việc, trình độ của lao động nữ cũngngày càng được tăng lên rõ rệt Nhưng người phụ nữ không chỉ mong muốnđược bình đẳng trong các hoạt động nghề nghiệp mà cả trong công việc giađình Do vậy cần có sự phân công lao động một cách hợp lý hơn theo giới
trong các công việc của gia đình trên cơ sở cùng hợp tác cùng gánh vác tráchnhiệm, như vậy công việc gia đình sẽ mang ý nghĩa sâu xa của tình cảm cốkết giữa các thành viên Sự chia sẻ không còn đơn thuần chỉ là trách nhiệm
mà còn đánh giá một đời sống hôn nhân tích cực Nói cách khác, sự bình đẳngtrong công việc gia đình theo giới sẽ tạo ra cơ hội thuận lợi không chỉ riêng
nữ giới mà cả nam giới trong việc hoàn thành tốt hơn vai trò của mình trong
gia đình và xã hội
Nhằm tìm hiểu mức độ tham gia của các thành viên trong các hoạt độngthiết yếu của gia đình, chúng tôi đã sử dụng câu hỏi “Trong gia đình ông (bà)
ai là người đảm nhiệm chính các công nội trợ”
Kết quả thu được như sau:
Trang 30Bảng 1: Mức độ tham gia các công việc nội trợ trong gia đình theo giới.
Long - huyện Tam Dương- Vĩnh Phúc, tỉ lệ các ông chồng tham gia các
công việc nội trợ là rất thấp
Các số liệu cho thấy , vấn đề bất bình đẳng giới trong sự phân công
lao động trong gia đình giữa nam giới và nữ giới, giữa người vợ và người
chồng vẫn đang tồn tại ở các gia đình Việt Nam Bởi từ trước đến nay,mọi người đều nhìn nhận việc tề gia nội trợ là công việc của phụ nữ, đó lànghiã vụ, là trách nhiệm của người phụ nữ trong gia đình Chính nhìnnhận này đã làm cho nỗi vất vả của người phụ nữ tăng lên, trong khi
người phụ nữ vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp và các công việc ngoài
xã hội như nam giới Phân tích tình hình giới ở Việt Nam cho thấy tìnhhình tương tự Bất kể chủ hộ là nam hay nữ, phụ nữ đều làm việc nội trợgấp 3, gấp 4 lần nam giới Phân công lao động nội trợ có lẽ là một trongnhững lĩnh vực bất bình đẳng nhất giữa vợ và chồng
Trang 31“Anh thỉnh thoảng cũng giúp chị làm việc nhà, đưa con đi học Nhưng
còn nấu ăn thì anh chịu Anh đị chợ toàn bị bảo là mua đắt, nên chị nhà cũng không cho đi… Nói chung, lúc nào vợ ốm thì anh mới vào bếp thôi.”
( PVS: Nam – 29 tuổi – Kinh doanh )
“Không chị làm hết thì ai làm hết hả em Từ cái việc nhỏ nhất đến
những việc nặng nhọc cũng một tay chị làm Ông làm ở trên huyện, sang
đi tối mịt mới về, về nhà chỉ có ăn và ngủ, đến cái quần cởi ra đó chị còn
phải lấy lột ra rồi treo móc Nhà có đàn bà thì sao để đàn ông làm mấy việc đó được hả em Chị lấy phải ông chồng lười nên vất vả gấp đôi May còn có cô con gái giúp đỡ Con gái chị giúp đỡ được mẹ làm việc nhà rồi
đấy, con gái mà không biết nữ công gia chánh thì sao lấy được chồng”
(PVS: Nữ - 35 tuổi – Làm nông)
Như vậy, có thể hiểu sự phân công lao động giữa vợ và chồng tronggia đình đối với việc nội trợ bị ảnh hưởng khá nhiều bởi đặc tính giới.Theo đó, quan niệm chung về đặc điểm tính cách của nữ giới nhấn mạnhđến sự khéo léo, chăm lo, sạch sẽ, phụ thuộc: vai trò của người phụ nữđược gắn liền với vai trò người vợ, người mẹ, người nội trợ, là người phụ
thuộc vào chồng trong gia đình, dù bản thân người phụ nữ vẫn đi làm đểkiếm thêm thu nhập Về đặc tính của nam giới được quan niệm có những
đặc điểm như mạnh mẽ, quyết đoán: vai trò của người chồng trong giađình là người trụ cột về kinh tế, là chỗ dựa cho vợ con về tình cảm và trên
hết là người chủ gia đình… Qua nội dung phỏng vấn sâu, có thể thấy rằngkhông chỉ riêng nam giới mà chính những người phụ nữ cũng mang quan
điểm việc nội trợ là dành cho phụ nữ
Tỉ lệ cả hai người vợ và chồng cùng đảm nhận vai trò này (dù người
vợ chiếm tỉ lệ nhiều hơn) là 14,1 % Người chồng chưa tham gia, chia sẻnhiều với vợ trong công việc này Qủa thực, suy nghĩ công việc nội trợ là
Trang 32thiên chức riêng của người phụ nữ vẫn còn quá nặng nề Để thoát khỏi
ngưỡng đó thật khó khăn, ngay cả trong các gia đình mà vợ chồng làm
công nhân viên chức, có trình độ ở thành phố thì việc thực hiện quyềnbình đẳng trong phân công lao động còn khó huống chi với những gia
đình mà cả vợ và chồng đều có trình độ thấp, chủ yếu làm nông, ở trongmôi trường nông thôn nơi những định kiến về phụ nữ, và suy nghĩ “trọng
nam khinh nữ” vẫn còn nhen nhóm thì việc thực hiện quyền bình đẳng lại
càng khó khăn gấp bội Vì vậy việc thực hiện bình đẳng trong gia đình
phải được thực hiện dần dần từng bước một
Như vậy, có thể hiểu sự phân công lao động theo giới trong gia đìnhđối với việc đi chợ bị ảnh hưởng khá nhiều bởi đặc tính giới Theo đó,
quan niệm chung về đặc điểm tính cách của nữ giới nhấn mạnh đến sự dịudàng, khéo léo, phụ thuộc; vai trò của người phụ nữ được quan niệm làgắn liền với vai trò người vợ, người mẹ, người nội trợ, là người phụ thuộcvào chồng trong gia đình, dù bản thân người phụ nữ vẫn đi làm để kiếmthu nhập Về đặc tính của nam giới được quan niệm có những đặc điểm
như mạnh mẽ, quyết đoán; vai trò của người chồng trong gia đình là trụ
cột về kinh tế, là tấm gương về đạo đức, là chỗ dựa cho vợ con về tìnhcảmvà trên hết là người chủ gia đình, đại diện cho gia đình trong các quan
hệ xã hội và cộng đồng
Mặc dù ngày nay trên tất cả các phương tiện truyền thông, trong cácchính sách của Đảng và Nhà nước đều nhấn mạnh tầm quan trọng củaviệc tạo ra sự bình đẳng giữa nam và nữ Song trên thực tế đó là một vấn
đề hết sức phức tạp, là quá trình vận hành của cả một hệ thống quan hệ
tinh tế và không đơn giản Nó chịu sự điều tiết của cả phấp luật lẫn đạo
đức, cả nhận thức ý thức lẫn tập quán thói quen
Các thể chế xã hội - các chuẩn mực, tập quán xã hội, quyền hạn, luật
lệ - cũng như các thể chế kinh tế như thị trường, chẳng hạn như các thị
trường đang định hình cho vai trò và mối quan hệ giữa nam và nữ, tác
Trang 33động đến loại nguồn lực nào mà họ được tiếp cận đến, hoạt động nào mà
họ được phép hay không được phép tham gia, và họ có thể tham gia vàonền kinh tế và xã hội dưới hình thức nào Chúng quy định động cơ khuyếnkhích hoặc không khuyến khích các thành kiến Ngay cả khi chúng khôngcông khai phân biệt nam nữ thì những thể chế chính thức hoặc khôngchính thức vẫn thường chịu tác động bởi các chuẩn mực xã hội (hoặc côngkhai hoặc ngấm ngầm) về những vai trò thích hợp theo giới Và công việc
đi chợ được xem như là một vai trò thích hợp đối với nữ giới
Ta có thể thấy “Vai trò truyền thống về giới vẫn chưa thay đổi đượcbao nhiêu” (Desai,1995), theo quan niệm truyền thống thì con gái thườnglàm việc nhà nhiều hơn con trai và nam giới là trụ cột kinh tế , là ngườikiếm cơm chính nuôi các thành viên trong gia đình và trong ý thức củacộng đồng vẫn còn quan niệm có những việc dành riêng cho phụ nữ vànam giới Điều này chứng tỏ người đàn ông cũng như phụ nữ chưa có sựchuyển biến quan niệm truyền thống về nghề nghiệp Vai trò giới khôngchỉ bị chi phối bởi đặc điểm tính chất của công việc mà cái chính còn bịchi phối mạnh mẽ bởi những định kiến nghề nghiệp
Trong các gia đình vẫn thường quan niệm rằng, phụ nữ là người chăm
lo quán xuyến mọi công việc trong gia đình, từ việc giữ tay hòm chìa khoá
cho đến việc lo liệu chợ búa, cơm nước, đồng thời lo việc phân bổ chấtdinh dưỡng trong từng bữa ăn của gia đình nhằm chăm sóc sức khoẻ chocác thành viên gia đình mình Nó xuất phát từ những quan niệm, tập quán
dân tộc cho rằng bếp núc là “thiên chức” riêng của phụ nữ Cho đến tậnbây giờ thì vấn đề đó vẫn tồn tại như một tất yếu xã hội Cho dù là phụ nữ
nông thôn hay đô thị, có học vấn cao hay thấp thì vẫn là người đảm nhiệm
chính vai trò này
Có lẽ chính vì những suy nghĩ như vậy, mà cho đến nay khi nền kinh
tế đã phát triển, đời sống được nâng cao, phụ nữ đã có những cơ hội đểphát triển, để thăng tiến vươn lên những vị trí cao trong xã hội thì cũng
Trang 34vẫn nhất thiết phải gắn liền với “thiên chức riêng của mình” Đôi khi, cónhững trường hợp chỉ vì người phụ nữ bận bịu với các công việc ngoài xãhội hay có thể vì lí do này hay lí do khác mà không hoàn thành vai trò bếp
núc trong gia đình nên đã gây ra những xung đột và mâu thuẫn với cácthành viên khác trong gia đình
Như vậy, công việc bếp núc được quan niệm như chìa khoá của sự
hạnh phúc, của sự êm ấm mà người phụ nữ có trong tay Nó trở thành mộtthứ vũ khí ngầm bảo vệ sự ổn định và hạnh phúc trong gia đình
Qua đó, có thể nhận thấy mức độ tham gia của người chồng trong
công việc nấu nướng nói riêng và công việc nội trợ nói chung không phải
là thường xuyên, nhưng dù sao đó cũng là những dấu hiệu đáng mừng
trong việc nhận thức của chính bản thân mỗi giới Bởi vậy, việc phụ nữ vànam giới bình đẳng trong quá trình phân công lao động không chỉ là họcùng thực hiện những công việc như nhau, mà quan trọng hơn việc namgiới cùng với phụ nữ tham gia vào các công việc gia đình là cả một sựthay đổi lớn cái nếp nghĩ đã tồn tại rất lâu đời trong tâm tưởng mỗi ngườidân
Quả thực, suy nghĩ công việc nội trợ là thiên chức riêng của người phụ
nữ vẫn còn quá nặng nề Để thoát khỏi ngưỡng đó thật khó khăn, ngay cả
trong gia đình mà cả vợ và chồng có cùng trình độ thì việc thực hiện
quyền bình đẳng trong phân công lao động còn khó huống chi với nhứng
gia đình mà cả vợ và chồng đều có trình độ kém, ở đó, người vợ thì cam
chịu, còn người chồng thì gia trưởng, việc thực hiện quyền bình đẳngtrong phân công lao động lại càng trở nên khó khăn gấp bội Bởi vậy,việc thực hiện quyền bình đẳng trong phân công lao động trong gia đìnhphải được thực hiện dần dần từng bước một
Trang 352.1.2 Sự phân công lao động giữa vợ và chồng với công việc chăm sóc các thành viên và giáo dục con cái.
Chăm sóc con cái có thể coi là một vấn đề quan trọng, nếu không
muốn nói là vô cùng quan trọng đối với mỗi gia đình Với những người
cha người mẹ sự quan tâm chăm sóc con cái không chỉ là vấn đề trách
nhiệm, nghĩa vụ mà hơn thế nữa đó là vấn đề tình cảm, là một niềm hạnhphúc lớn lao của các bậc làm cha, làm mẹ Trẻ em sẽ học tốt hơn, trưởng
thành hơn nếu có sự chỉ bảo thường xuyên của cha mẹ Nhưng ở các hoạtđộng đó trong gia đình thì ai là người thường xuyên thực hiện – người chahay người mẹ? Khi được hỏi về vấn đề này chúng tôi đã thu được những ý
hay đi cho đứa nhỏ còn bây giờ đứa nhỏ ông cũng đi thay cô rồi Cứ cái
gì liên quan đến con cái là hai vợ chồng đều cùng tham gia bàn bạc Bây giờ con gái lớn thì học đại học ở Hà Nội rồi, cô chú bớt đi một phần phải
lo, giờ chỉ lo cho đứa út.”
(PVSl: Nữ - 50 tuổi – Buôn bán, làm nông)
“Về chăm sóc con cái thì vợ chú dành nhiều thời gian hơn chú rồi Vì
mẹ bao giờ cũng gần gũi với con hơn mà Nhà chú có một trai, một gái cả
hai đứa đều rất quấn mẹ Chắc tại chú đi xuất khẩu lao động một thời
gian dài sau mới về nhà mở xưởng mộc nên hai đứa nó vẫn chưa quen.
Chú thường xuyên có nhắc nhớ mấy đứa học hành, đưa đón nó đi học khi
Trang 36trời mưa to, lâu lâu thì chú cho tiền mua quần áo, sách truyện, đĩa nhạc… Còn lại từ nấu ăn, nắm bắt sở thích, trò chuyện với con thì vợ tôi hay
làm”
(PVS: Nam – 40 tuổi – Làm mộc)
Nhìn chung qua các phỏng vấn sâu có thể thấy ở các gia đình khảo
sát, người vợ và người chồng đã cùng nhau chia sẻ công việc chăm sóc và
giáo dục con cái Cả nam giới và nữ giới đều coi việc chăm sóc và dạy dỗcon cái là công việc quan trọng thiết yếu trong gia đình, hầu như cả namgiới và nữ giới đều trả lời rất quan tâm và quan tâm tới việc dạy dỗ con
Điều này thể hiện mối quan tâm chung hay sự tương đồng trong công việc
thực hiện vai trò giữa người vợ và người chồng trong những hoạt động
này Như vậy đã có sự thay đổi trong quan niệm về phân công lao động
giữa vợ và chồng trong công việc chăm sóc và giáo dục con cái, đã không
có sự phân biệt rạch ròi trách nhiệm của vợ hay của chồng
Ngoài chăm sóc và giáo dục con cái, thì trong nền tảng gia đình còn
phải được tạo dừng từ các quan hệ cha mẹ - con cái – ông bà Các thành
viên trong gia đình phải có trách nhiệm yêu thương và chăm sóc lẫn nhau.Khi được hỏi trong nhà có người ốm thì ai là người thường xuyên chăm
sóc các thành viên khác? Câu trả lời chúng tôi nhận khá bất ngờ là cả
100% người trả lời là người vợ sẽ làm tốt hơn người chồng; người chồng
và các con sẽ phụ giúp nếu được yêu cầu
“Ở nhà có người ốm thì chị nhà làm hết các công việc em à Chị nhà
là dâu trưởng dù hai vợ chồng mới cưới được 5 năm nhưng chị nhà sọi
trong việc chăm sóc con cái lắm Như hôm rồi cu Bin (con của hai người)
bị viêm phổi một tay chị làm hết Từ cho con con ăn, tắm rửa, giặt giũ, hát
ru, thức đêm trông con, hỏi han bác sĩ Lúc nào con ngủ được tí buổi ngày thì chị nhà mới đi ngủ để anh trông thay… Không phải đâu, chị nhà không cho anh làm Chị sợ anh ngủ quên không nhận thấy sự thay đổi của
Trang 37con, sợ anh cho con ăn thì bị nghẹn, hóc Hôm ấy chị nhờ anh về nhà giặt
đồ cho con, sau mang lên chị bảo bẩn, chưa sạch thế là chị nhà lại ra
mua xà phòng giặt lại đồ trong nhà vệ sinh bệnh viện Còn trụng qua
nước sôi rồi mới đưa cho anh về nhà phơi khô”
(PVS: Nam – 29 tuổi – Kinh doanh)
“Lúc ốm đau thì một tay cô chăm hết cả cháu ơi Ông chồng của cô
cũng biết đường giúp đỡ, nhưng ổng vống Thà nhờ ổng nấu ăn hay đi chợ chứ nhờ ổng chăm sóc ai có khi lại rước thêm bệnh vào người.”
(PVS: Nữ - 42 tuổi – Nhân viên bưu điện)
“Cô nhà chăm sóc hết đấy cháu Mẹ chăm con thì nhất rồi Vợ chăm
chồng thì không ai bằng Ông bà hai bên mà có ốm đau gì thì cũng cô thu xếp đưa về nhà chăm sóc Cô thì tính nói năng bỗ bã, nhưng lo thì chu toàn sạch sẽ, chả ai chê được cái gì Mẹ chú khó tính thế mà cô cũng chiều được”
(PVS: Nam – 40 tuổi – Làm mộc)
Qua đây có thể thấy người vợ đóng vai trò rất lớn trong việc chăm sóc
sức khỏe, chăm sóc người bệnh, người già trong gia đình Một phần điều
đó có lẽ giống như với công việc nội trợ đó là xuất phát từ đặc điểm giới
Trong khi giới nam luôn mạnh mẽ, thiếu sự mềm mại ân cần thì giới nữlại biết cách vỗ về, chăm sóc Không những thế đặc tính của người phụ nữ
đấy là sự chăm lo, luôn biết cách làm vui long người khác bằng sự nhỏ
nhẹ, nhẹ nhàng, chu đáo Có lẽ vậy người phụ nữ cũng nhận biết được
điều đó nên luôn ôm đồm trách nhiệm chăm sóc vào bản thân mình
Như vậy sự phân công lao động giữa vợ và chồng đối với việc chămsóc các thành viên trong gia đình và giáo dục con cái vẫn giống như các
công việc nội trợ Nói cách khác, tỷ lệ nam giới đảm nhận chính vai trònày là rất nhỏ Tuy nhiên, nếu so với công việc nội trợ như đi chợ, nấu
Trang 38nướng… tỷ lệ phụ nữ đảm nhiệm chính và vai trò này một mình đã giảm
đi đáng kể
việc lao động sản xuất.
Như chúng ta đều biết, khi con người có vị trí bình đẳng thì con người
mới phát huy được hết những tiềm năng ẩn kín để cống hiến cho sự pháttriển xã hội, và cho sự giàu mạnh cũng như hạnh phúc của gia đình Nói
đến bình đẳng không thể không nói đến người phụ nữ Thật vậy, người
phụ nữ trong nửa thế kỷ qua đã xả thân vì nước, vì gia đình thì cũng chính
là họ xả thân để vươn tới vị trí bình đẳng của giới họ trong gia đình và xãhội Phụ nữ cũng có thể làm được các công việc tạo ra thu nhập, đảm bảocho kinh tế gia đình trong cả hai lĩnh vực sản xuất và lao động gia đình
Biểu đồ 1: Tỷ lệ nghề nghiệp hiện nay của các hộ gia đình (Đơn vị: %)
(Nguồn: kết quả khảo sát của đề tài)
5.1 8.3
Làm thuê Dịch vụ, buôn bán
Thủy sản Lâm nghiệp Công chức, viên chức
Công nhân Nghề khác
Trang 39Qua biểu đồ trên ta có thể nhận thấy địa bàn điều tra nghiên cứu huyện
Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc vẫn là một huyện có ngành kinh tế chính vẫn
là nông nghiệp Hai ngành nghề chiếm tỷ lệ nhiều nhất là trồng trọt(chiếm 24%) và chăn nuôi gia súc, gia cầm (chiếm 22,8%) Tiếp đến làcác ngành nghề khác như dịch vụ buôn bán (chiếm 19,7%), công nhânviên chức (chiếm 8,7%), làm thuê (chiếm 8,3%) Các ngành nghề còn lạichiếm số lượng ít Mặc dù địa thế có nhiều rừng núi và sông hồ nhưng cácngành nghề về thủy sản và lâm nghiệp chiếm số lượng ít nhất lần lượt là0,4% và 0,5%
Bảng 2.2.1: Diện tích đất trồng trọt trung bình của các hộ gia đình
Diện tích
vườn tạp
DiệntíchrừngtrôngDiện tích đất trồng
Từ bảng số liệu trên có thể thấy, chủ yếu người dân ở huyện Tam
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc chủ yếu sự dụng đất trồng trọt để trồng và thu
hoạch lúa (2 vụ/năm) Diện tích đất trồng lúa trung bình của mỗi hộ là 3sào, tiếp đến là diện tích vườn tạp là 1,1 sào/hộ và trồng hoa màu là 0,97sào/hộ, thấp nhà là trồng rừng với 0,22 sào/hộ Có thể nhận thấy công việcchính của các hộ gia đình phụ thuộc vào các sào lúa, công việc trồng trọtchiếm 24% trong tổng số công việc gia đình mà các hộ gia đình được hỏi
Bảng 2.2.2: Số gia súc trung bình của các hộ gia đình (đơn vị: số con)
(Nguồn: kết quả khảo sát của đề tài)
Trang 40ở đây ở đây đều nuôi gà và lợn để làm kinh tế Các gia súc khác không
chiếm số lượng lớn và hạn chế trong các hộ gia đình
Từ biểu đồ 1, bảng 2.1.2 và bảng 2.1.3 có thể nhận thấy giữa vợ vàchồng có sự phân công lao động nhiều nhất là ở công việc chăn nuôi vàtrồng trọt Nhưng dù là công việc gì đi chăng nữa, dù là nam hay nữ trong
gia đình thì cũng phải tham gia vào công việc lao động sản xuất Qua
bảng số liệu sau đây, có thể cho thấy số lao động nữ chiếm số lượngkhông nhỏ trong mỗi gia đình Họ cũng cống hiến sức lực, tri thức để tạo
ra thu nhập nhằm nâng cao vị thế của mình trong gia đình và xã hội, đểxóa bỏ quan niệm truyền thống rằng phụ nữ chỉ biết làm việc nhà
Bảng 2.2.3: Số lao động nữ trong các hộ gia đình (đơn vị: %)
(Nguồn: kết quả khảo sát của đề tài)
Số lao động nữ trong gia