Ông Bodewig nhấn mạnh việc chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế công nghiệp không phải chỉ là việc riêng của Chính phủ mà đòi hỏi sự thay đổi về hành vi của tất cả các[r]
Trang 1BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
SỐ 1 – NĂM 2014
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
Trưởng ban : TS Trần Xuân Thực
Phó ban : TS Nguyễn Văn Cường
Thư ký : ThS Trương Minh Trí
In 200 cuốn khổ 19 cm x 27 cm tại
Công ty TNHH thiết kế và in Lê
Dung Phú Yên
Giấy phép xuất bản số 02/GP-STTTT
ngày 9/1/2013 của Sở Thông tin và
Truyền thông Phú Yên
In xong và nội lưu chiếu tháng
1/2013 Phát hành nội bộ
Trần Xuân Thực Yếu tố quyết định chất lượng giáo
dục đào tạo tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung 1
Nguyễn Văn Cường Một số biện pháp nhằm nâng
cao trình độ và kỹ năng tự học, tự nghiên cứu của tân sinh viên Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
6
Lê Duy Quang Lựa chọn phương pháp dạy học là
yếu tố quyết định khả năng lĩnh hội kiến thức của sinh viên Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
11
Lê Đức Gia Sự cần thiết tăng cường kỹ năng ở các
môn học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo – Đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
17
Lê Thị Mến Đóng góp của kinh tế tư nhân trong
tổng sản phẩm quốc nội tỉnh Phú Yên giai đoạn
Nguyễn Công Đức Giới thiệu vật liệu Mastic chèn
khe co giãn bê tông xi măng của đường cao tốc và sân bay
48
Vũ Huyền Trân Bê tông Atphan màu và các
phương pháp chế tạo 61
Võ Văn Nam Hai phương trình vi phân của tấm
mỏng chữ nhật biến dạng lớn khi chịu tác dụng của lực tham số theo Von Kármán
65
Võ Thanh Toàn Phân tích các giai đoạn cố kết và
công thức tính lún 75
Lương Thị Bích Tổng quan về công nghệ đất trộn xi
măng: Cơ chế hình thành và nhân tố ảnh hưởng đến cường độ đất – xi măng
82
Nguyễn Kim Cường Các nguyên nhân gây bệnh và
biện pháp chữa bệnh cho cầu bê tông cốt thép 88
Trịnh Tiến Dũng Những đổi mới quan trọng của
Nguyễn Thế Hùng Một số giải pháp thoát nước
chống ngập thành phố các tỉnh Duyên hải Nam Trung
Bộ thích ứng biến đổi khí hậu
99
Trang 3MỤC LỤC TRANG Trần Thị Tuyết Trinh Ứng dụng màng lọc sinh học
trong công nghệ xử lý nước 104
Nguyễn Thị Khánh Trang Thành phố Tuy Hòa và
các vấn đề về quy hoạch 109
Nguyễn Thị Thu Hiếu Đặc điểm chung của các nước
đã bị Đô la hóa – Một số lưu ý đối với Việt Nam 113
Đặng Lê Trần Vũ Những điểm mới, bổ sung, sửa
đổi của Thông tư 45/2013/TT-BTC về hướng dẫn chế
độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
119
Hoàng Trà My Culture shock and suggestions to
Trang 4Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 1
YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
TS Trần Xuân Thực Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Chất lượng giáo dục – đào tạo, một chủ đề luôn luôn nóng hổi mà bất
kỳ nhà quản lý giáo dục đào tạo nào cũng phải quan tâm giải quyết Quan niệm
thông thường về “chất lượng giáo dục” đã khiến nhiều lúc nhiều nơi có những
nhận định chưa thật sự công bằng về thực trạng hoạt động của một số bộ phận
nào đó Chúng tôi, thông qua bài viết này, mong muốn chia xẻ những yếu tố về
chất lượng giáo dục – đào tạo tại trường Đại học Xây dựng Miền Trung nhằm
có một cách nhìn đầy đủ hơn về giáo dục – đào tạo như một hoạt động vĩnh
hằng của nhà trường nói riêng, của xã hội nói chung
Từ khóa: Chất lượng, giáo dục, định hướng.
1 Khái quát về chất lượng
Khi bàn đến chất lượng theo nghĩa
rộng, nhiều nhà giáo dục thường đặt nó
trong bộ đôi phạm trù “số lượng-chất
lượng” hay gọn hơn, cặp phạm trù
“lượng - chất” với quy luật về sự biết đổi
của chúng Dưới đây chúng tôi xin trao
đổi một số cách tiếp cận về chất lượng
trong các hoạt động xã hội:
- Chất lượng là sự xuất sắc bẩm
sinh, tự nó; hay đơn giản, chất lượng là
cái tốt nhất Điều này chỉ có thể hiểu
được, cảm nhận được nếu so sánh với
những sự vật có cùng những đặc tính với
sự vật đang được xem xét Đây là cách
tiếp cận tiên nghiệm về chất lượng
- Chất lượng được xem xét trên cơ
sở những thuộc tính đo được Điều đó có
nghĩa là chất lượng có thể được đo
lường khách quan và chính xác Một sự
vật có thuộc tính nào đó “cao hơn” cũng
có nghĩa là nó “tốt hơn” và do đó cũng
“đắt hơn” Cách tiếp cận này gọi là cách
tiếp cận dựa trên sản phẩm khi xem xét
chất lượng
- Chất lượng được xem như sự
phù hợp với nhu cầu Các sản phẩm và
dịch vụ được “sản xuất” một cách chính xác với những “đặc tính kỹ thuật” đã định; mọi sự lệch lạc đều dẫn đến giảm thấp chất lượng (mặc dù vẫn
đề cập đến dịch vụ)
- Chất lượng được xác định bằng tý
số thành tựu/ giá cả: thành tựu của một
giá cả chấp nhận được và sự phù hợp ở một chi phí chấp nhận được Đây là cách
tiếp cận dựa trên giá trị về chất lượng
- Chất lượng là sự phù hợp với mục
đích Chất lượng được xem xét đơn giản
chỉ trong con mắt của người chim ngưỡng sự vật hoặc sử dụng chúng và được coi như mức độ của sự thỏa mãn, hài lòng của khách hàng Đó là sự tiếp
cận dựa trên người sử dụng, khách hàng
đối với chất lượng
Trong thực tế hiện nay các cơ sở giáo dục - đào tạo, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý, giảng viên, luôn luôn quan tâm đến chất lượng giáo dục - đào tạo Mọi người đều
Trang 5Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 2
ngầm hiểu rằng, thực chất chất lượng
của toàn bộ hệ thống giáo dục phụ
thuộc vào kết quả học tập của sinh viên
tốt nghiệp về vấn đề nhận thức, như
mức độ, độ sâu, khối lượng và ý nghĩa,
giá trị khoa học của sự chuyển tải
những tri thức, kỹ năng,…
Xu thế hiện nay của mối quan tâm
về chất lượng giáo dục - đào tạo là sự
tập trung chú ý ngày càng tăng đối với
kết quả tống thể ở các cơ sở giáo dục,
dù đó là trường đại học hay các cơ sở
giáo dục - đào tạo tư thục, dân lập Xu
thế này đã phản ánh tình hình và hiệu
quả sử dụng nguồn nhân lực tại các cơ
quan quản lý nhà nước, cơ sở sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
các cơ sở chuyên môn khác
2 Xác định chất lượng trong giáo dục
và đào tạo
Việc xem xét chất lượng trong giáo dục và đào tạo đồng thời từ hai khía
cạnh: các cấp độ tại đó chất lượng giáo
dục - đào tạo được xem xét từ chính sách giáo dục đào tạo đến quá trình học tập
và sự khác nhau giữa chất lượng thiết kế;
Chính sách giáo dục đào tạo có thể phân biệt ở các cấp độ: chính sách quản
lý ở cấp ngành, thiết kế giáo dục - đào tạo tại các cơ sở giáo dục đào tạo, chương trình giáo trình, thực hiện các bài giảng, giảng viên, sinh viên
Sự khác nhau giữa chất lượng thiết
kế được thể hiện bởi sự xác định, lập kế hoạch, sự thích nghi và triển khai có hiệu quả những nội dung đã được lập kế hoạch
Bảng dưới đây sẽ minh họa khái niệm này, với lưu ý rằng có sự phân biệt giữa giáo dục đào tạo chính quy (truyền thống)
và giáo dục đào tạo không chính quy
Bảng: Một số thành tố chất lượng trong giáo dục - đào tạo
Cấp độ
Giáo dục đào tạo chính quy
Giáo dục đào tạo không chính quy
Giáo dục đào tạo chính quy
Giáo dục đào tạo không chính quy
- Chiến lược đào tạo của đơn vị sử dụng nguồn lực
- Theo dõi, điều tiết chính sách giáo dục
- Hiệu quả của các chi phí đào tạo
- Hiểu biết về sự tác động của các
xu thế mới đến nhu cầu đào tạo để có
sự điều chỉnh phù hợp
- Cẩn trọng, linh hoạt và nhanh chóng về những
hỗ trợ quản lý
- Sự chấp nhận chất lượng với
- Kiểm soát, quản
lý uy tín
- Các hoạt động của nhà trường
- Quản lý các nguồn tài chính
- Sự tăng lên của trình độ phục vụ
Trang 6Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 3
Cấp độ
Giáo dục đào tạo chính quy
Giáo dục đào tạo không chính quy
Giáo dục đào tạo chính quy
Giáo dục đào tạo không chính quy
- Sự lựa chọn hình thức đào tạo đúng đắn
- Tuân thủ chương trình với thiết kế và mục tiêu đã được xác định
- Các khóa học đáp ứng nhu cầu
- Sự hoàn tất khóa học
- Duy trì sự thành thạo
- Cập nhật
- Đào tạo lại
- Có năng lực tư vấn
- Sự thành đạt của sinh viên
- Sự cải thiện kết quả, thành tựu học tập
3 Chất lượng và sự phù hợp của nội
dung giáo dục - đào tạo tại Trường
Đại học Xây dựng Miền Trung
Hầu hết các đề cương chương
trình của các bậc học, ngành học hiện
nay của Nhà trường đều quan tâm đến
tính chất ứng dụng của môn học so với
ngành học Đối với những chương
trình đào tạo chuyên nghiệp bậc đại
học, cao đẳng, nơi mà nhu cầu phản
biện từ xã hội cao hơn, thì kỳ vọng về
hiệu quả phải đạt được trong quá trình
xây dựng đề cương đối với cán bộ,
giảng viên phải sâu sắc và xứng tầm,
chủ yếu phải là:
- Có kinh nghiệm và kiến thức sâu
rộng trong lĩnh vực phụ trách giảng dạy;
- Có khả năng minh chứng, ủng hộ cho những luận điểm với những sự kiện,
số liệu hoặc những ý tưởng có giá trị;
- Có tầm nhìn mới để trình bày, tư tưởng mới, cách tiếp cận mới;
- Đáng tin cậy đối với người học
Kiến thức về bộ môn của mỗi giảng viên là một vấn đề, nhưng sự phù hợp giữa nội dung khung chương trình, nội dung giáo dục - đào tạo là rất quan trọng
Trong đào tạo tập trung chính quy tại nhà trường, có thể xác định được cái
gì là tốt nhất đối với người học sẽ luôn được phát huy và được xem xét về mặt chính sách Trong giáo dục đào tạo không chính quy, thì quan điểm “người
Trang 7Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 4
sử dụng” sẽ nổi trội hơn so với giáo dục
- đào tạo từ ban đầu
Nhà trường luôn quan điểm rằng:
Những khóa học được đánh giá có chất
lượng cao sẽ phải là những khóa học
hướng tới thậm chí đạt đến tính phù hợp,
tính thực tiễn với khả năng thực hành và
ứng dụng cao, tính liên kết cao giữa các
môn học trong bậc học Ngoài ra,
chương trình còn tạo dựng nguồn cảm
hứng (truyền cảm, biểu cảm, gợi cảm),
năng động, bổ sung và cập nhật nhiều
thông tin hữu ích; xây dựng giải pháp
chuyển tải nhiều hơn so với nội dung
trong chương trình
4 Dạy học và đào tạo có hiệu quả tại
Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Nội dung không phải là khía cạnh
duy nhất để thực hiện một chương trình
đào tạo tạo nên chất lượng người học
Những đặc trưng chất lượng khác có tác
động tích cực chẳng hạn như tính tương
tác, tính năng động, kinh nghiệm giảng
dạy, phong cách của mỗi giảng viên, cán
bộ huấn luyện,…
Hiệu quả của quá trình dạy học từ
giảng viên của nhà trường luôn được
quan tâm, đó là “sự cam kết chặt chẽ và
động cơ lành mạnh” trong quá trình
giảng dạy, định hướng sinh viên tự học,
tự nghiên cứu, và chắc chắn đó là một
trong những nhân tố quyết định đến kết
quả của giáo dục, trong đó sự hỗ trợ cho
động cơ bên trong của người giảng viên
và cách tiếp cận của họ phải luôn được
duy trì hoặc nâng cao
Giảng viên nhà trường luôn gắn bó
mật thiết với sự cam kết về “thái độ
nghề nghiệp” bao gồm những hành vi
đạo đức (chẳng hạn không đối xử với
người học bằng những cách thức thiếu
tôn trọng họ, không biểu hiện thiên kiến
về giới tính, văn hóa vùng - miền,…);
lòng mong muốn có sự cải tiến thường xuyên; sự cởi mở đối với các thông tin phản hồi, luôn luôn gần gũi với sinh viên
để tạo ra một hình ảnh tốt nhất về chất lượng đào tạo của nhà trường
Giảng viên nhà trường luôn thể
hiện sự thành thục về khả năng chuyển
tải những tri thức và những kỹ năng bằng cách “dịch” chúng thành các tư tưởng khái niệm có thể hiểu được đối với người học; kích thích sự hứng thú của người học đối với bộ môn để chuẩn
bị cho người học có khả năng học tập suốt đời Những khả năng này được đánh giá tốt hơn và đáng tin tin cậy hơn so với việc đánh giá sự thành thục
về bộ môn Kết hợp hai sự thành thục này sẽ tạo nên quá trình đóng góp đáng
kể vào việc lĩnh hội có chất lượng ở người học
Giảng viên nhà trường luôn thể
hiện phong cách dạy học nhằm mang lại
kết quả học tập tốt nhất cho sinh viên
Họ có thể soạn ra một loạt các phong cách dạy học có ích cho sự học tập của người học vì chúng nâng cao, thúc đẩy khả năng học tập theo những cách khác nhau Nhưng mặt khác, họ cũng có những quy tắc cơ bản cho phong cách dạy học đạt kết quả Một số đặc điểm cần phải loại trừ, chẳng hạn như gây nhàm chán, lặp đi lặp lại, ngạo mạn hoặc
xa cách người học, không vững vàng hoặc không có khả năng thuyết phục,…
và trong thực tiễn, những đặc trưng cho phong cách dạy học được người học tiếp thu hiệu quả và do đó họ đánh giá cao và hoan nghênh như:
- Phong cách giao tiếp xuất sắc;
Trang 8Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 5
- Luôn nhiệt tình và tận tụy trong
công việc;
- Có khả năng truyền đạt chương
trình, giáo trình, bài giảng ở cấp độ đúng
đắn và sát với đối tượng lĩnh hội kiến thức;
- Có sáng kiến và có khả năng đáp
ứng những thông tin phản hồi từ phía người
học một cách nhanh chóng và hiệu quả;
- Biết động viên và chịu khó phát
huy với các ý tưởng;
- Hào hứng và có đầu óc hài hước;
Dạy học là một quá trình tương tác
diễn ra trong những bối cảnh nhất định
đặc biệt khi giảng dạy tại giảng đường,
chất lượng dạy học gắn liền với kết quả
của quá trình giao tiếp hai chiều
Ngoài ra, giảng viên nhà trường
luôn quan tâm đến một số “khía cạnh
thực hành và ứng dụng” ảnh hưởng đến
chất lượng lĩnh hội, chẳng hạn như:
- Giảng viên phải luôn tôn trọng
bản chất và khối lượng công việc của bộ
môn phân công;
- Logic của chương trình, bài giảng
phải rõ ràng sáng sủa đối với người học;
- Giảng viên phải luôn tôn trọng nội quy (chẳng hạn thời khóa biểu, giờ giấc, quy trình làm việc trên lớp);
- Giảng viên phải luôn hiểu rõ người học mong muốn cái gì;
- Giảng viên phải có hành vi xử lý đúng mực với những hoạt động học tập
và nghiên cứu của người học
Tất nhiên, đây là một số nét điển hình, mà thiếu chúng là triệu chứng của
sự không có chất lượng
5 Kết luận
Do tác động của sự thay đổi ngày càng nhanh kinh tế - xã hội, toàn cầu hóa thì nhu cầu đào tạo chất lượng ngày càng cao để phù hợp với thực tiễn đặt ra Trước tình hình đó, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung phải tổng kết thực tiễn theo định kỳ, bắt kịp vào xu thế hội nhập, xác định việc thường xuyên nâng cao chất lượng đào tạo là yêu cầu thiết thực trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực hiệu quả cho khu vực
Trang 9Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 6
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ VÀ KỸ NĂNG
TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU CỦA TÂN SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
TS Nguyễn Văn Cường Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Một trong những yếu tố nâng cao chất lượng giáo dục là vấn đề tự
học - tự nghiên cứu của sinh viên Trong thực tế hiện nay, tính tự giác cũng như
khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên chưa được đánh giá cao tại hầu
hết các cơ sở giáo dục Thông qua bài viết này, chúng tôi mong muốn trao đổi
các giải pháp tổ chức một khóa học bắc cầu cho sinh viên mới trúng tuyển đại
học; xây dựng đề cương bài giảng theo hướng dạy sinh viên tự học và kế hoạch
hóa việc học Bên cạnh đó cần hình thành một phương hướng dạy học với
những chương trình huấn luyện giúp sinh viên chủ động và sự tự giác nắm bắt
các công cụ lĩnh hội tri thức của mình.
Từ khóa: Chất lượng, tự học, định hướng
1 Tổ chức một khóa học bắc cầu cho
tân sinh viên mới trúng tuyển đại học
Xây dựng khóa học “bắc cầu” là
một trong những kinh nghiệm của các
trường đại học của những quốc gia phát
triển Hàng năm, có nhiều sinh viên
nước ngoài thuộc khối các quốc gia kém
phát triển theo học tại các trường bằng
học bổng do chính phủ họ tài trợ Để
giúp các sinh viên nước ngoài này có thể
tiếp cận và thích ứng với môi trường học
đại học của một nước có nền giáo dục
tiên tiến hơn, các trường đại học này tổ
chức một khóa học kéo dài từ ba đến sáu
tháng nhằm hình thành cho các sinh viên
nước ngoài này những kỹ năng, những
thái độ, và phẩm chất thiết yếu cho
những hội nhập vào quá trình học tập có
tính chất tự học - tự nghiên cứu ở bậc
đại học Có lẽ nhiều điều cơ bản về nội
dung, hình thức triển khai của khóa học
cần phải xem xét khi vận dụng để phù
hợp với điều kiện học tập ở nhà trường
Thế nhưng, điều then chốt của khóa học
mà chúng ta có thể xem xét là tạo một cầu nối giúp cho người học thích nghi và đáp ứng hiệu quả với phương pháp dạy học ở trường đại học
Thực trạng quá trình học tập của sinh viên chúng ta trong thời gian qua cho thấy, nhìn chung hoạt động học tập
ở bậc đại học hiện nay vẫn còn nhiều sinh viên chưa thực sự đi vào quỹ đạo của quá trình học tự học - tự nghiên cứu
Xu thế và nhu cầu phát triển về kinh tế -
xã hội và hội nhập của khu vực đòi hỏi sinh viên sau khi ra trường phải đáp ứng yêu cầu của xã hội; đó là tính năng động,
có kiến thức nền tảng và chuyên môn phù hợp, có kỹ năng mềm để dễ dàng thích nghi với môi trường luôn thay đổi
Vì vậy cần có sự đánh giá, tổng kết thực tiễn theo từng giai đoạn và đưa ra các kế hoạch phù hợp trong đào tạo
Từ nhận thức này chúng tôi tin rằng việc thiết kế và phát huy một số chuyên đề học bắc cầu từ đầu khóa học
là một phương thức có ý nghĩa chiến
Trang 10Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 7
lược góp phần giải quyết sự bất cập giữa
thực tiễn về thói quen thụ động và sức ỳ
trong học tập của một số sinh viên,
nhằm đổi mới quá trình đào tạo ở bậc
đại học: phải cho người học làm chủ quá
trình lĩnh hội tri thức rồi sau đó mới có
được tri thức, tức là học cách chiếm lĩnh
tri thức
Căn cứ vào những nét chủ yếu của
thực trạng học tập của sinh viên hiện
nay, theo chúng tôi những khóa học “bắc
cầu” trong thời gian đến có thể bao gồm
những nội dung cơ bản như sau:
1.1 Rèn kỹ năng đọc hiểu và làm việc
với văn bản
- Truy cập thư viện điện tử, thông
tin từ internet theo từng chủ đề;
- Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu: đọc
lướt nắm ý chung; đọc nắm ý chi tiết; đọc
tìm thông tin theo chủ đề; đọc ghi lại
thông tin đọc được dưới các hình thức
khác nhau như tóm tắt; ghi nhận xét; báo
cáo, lược sử vấn đề, giới thiệu sách,…
1.2 Rèn kỹ năng lập luận, trình bày
giải quyết vấn đề
Kỹ năng lập luận, trình bày giải
quyết vấn đề có thể thực hiện theo hình
thức học tập cá nhân dưới dạng viết hay
dạng độc thoại
Bên cạnh đó, khả năng giải quyết
vấn đề có thể được thực hiện dưới hình
thức thảo luận hay tranh luận theo nhóm
Trước khi tổ chức các hoạt động thảo
luận, tranh luận, cần cung cấp cho sinh
viên những hiểu biết về thể thức, kỹ
thuật cũng như thái độ cần thiết trong
hoạt động học nhóm
Quá trình tổ chức rèn kỹ năng lập
luận, trình bày giải quyết vân đề cho
sinh viên theo cách trên là phương thức
đa chức năng: giúp phát triển năng lực
lập luận kết hợp với năng lực tư duy, giải quyết vấn đề, giúp phát triển nhân cách từng cá nhân người học, giúp phát triển kỹ năng giao tiếp thành ý thức và cách làm việc với cộng đồng theo tinh thần hợp tác trên cơ sở trách nhiệm cá nhân
Việc tổ chức thực hiện khóa học theo chuyên đề cần được thực hiện thống nhất ở cấp trường, cho toàn thể các khoa Hàng năm, các khoa nên có kế hoạch chi tiết về các chuyên đề này cho từng ngành đào tạo
1.3 Học ngoại ngữ theo hướng rèn luyện kỹ năng đọc hiểu tài liệu chuyên môn và phát triển khả năng giao tiếp trong công việc liên quan đến hoạt động chuyên môn
Đối với sinh viên thuộc các ngành không chuyên ngoại ngữ, ngoại ngữ trước hết và trên hết nên được xem là công cụ để sinh viên dùng đọc tham khảo tài liệu chuyên môn nhằm mở rộng tầm hiểu biết và nâng cao chất lượng học tập Do vậy việc học ngoại ngữ bằng cách học đọc các tài liệu chuyên ngành từ đơn giản đến phức tạp
để tích lũy và phát triển vốn từ về chuyên môn cũng như hiểu biết chuyên môn là thích hợp Mặt khác, chương trình học giúp sinh viên cải thiện khả năng Tiếng Anh nói chung theo xu hướng giúp sinh viên gia tăng khả năng giao tiếp trong công việc liên quan đến những vấn đề chuyên môn
1.4 Học sử dụng máy vi tính để cho máy tính trở thành công cụ không thể tách rời công việc của người học hiện tại cũng như tương lai
Soạn thảo văn bản để trình bày bài tập/ khóa luận và tìm kiếm và lưu trữ
Trang 11Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 8
thông tin liên quan đến chuyên môn sẵn
sàng cho truy cập để vận dụng
Việc sử dụng vi tính để lưu trữ
thông tin liên quan đến chuyên môn một
cách hệ thống là cách giúp sinh viên mở
rộng bộ nhớ của mình Thông tin/ kiến
thức được lưu trữ trong máy vi tính vừa
giúp giảm tải lưu trữ của trí nhớ người,
vừa dễ dàng truy cập lại khi sử dụng
Hiện nay, trong trường đại học vi tính
được học như một trong những học phần
thuộc kiến thức cơ bản Vấn đề quan
trọng là sau khi học, sinh viên phải được
duy trì sử dụng và phát triển những kỹ
năng vi tính ấy
2 Xây dựng đề cương bài giảng theo
hướng dạy sinh viên tự học và kế
hoạch hóa việc học tại Trường Đại học
Xây dựng Miền Trung
Trường Đại học Xây dựng Miền
Trung trong những năm qua đã rất
quan tâm đến việc đổi mới trong thiết
kế bài giảng và biên soạn giáo trình
giảng dạy là một đòi hỏi tất yếu nhằm
nâng cao vấn đề tự học, năng lực
nghiên cứu của sinh viên Giáo trình/
bài giảng nhất thiết phải là phương tiện
tạo cơ hội cho người học tự nghiên
cứu, tự học để giải quyết những tình
huống có vấn đề Do vậy, không chỉ tri
thức lý thuyết được đề cập, mà tri thức
phương pháp phải là một nội dung
quan trọng trong giáo trình/ bài giảng
Trí thức phương pháp được thể hiện
thành các quy trình hướng dẫn phương
thức hoạt động nhận thức, phương thức
giải quyết vấn đề, phân phối tương ứng
với các đơn vị tri thức lý thuyết Thông
qua việc thực hành tri thức quy trình
ấy, người học từng bước hình thành và
phát triển năng lực tự học và tự nghiên cứu Để tiến trình tự học của người học được dễ dàng, tri thức lý thuyết cần được chọn lọc chuẩn phù hợp với quá
trình đào tạo Các đơn vị kiến thức
được trình bày phải là những kiến thức,
kỹ năng cơ bản nhất, cập nhật và có tính tích hợp
Mỗi học phần trong chương trình đào tạo có đề cương chi tiết được cung cấp tới từng sinh viên trên trang web của trường, trong đó có đầy đủ các nội dung:
(1) Mục tiêu của học phần, trong
đó có phần xác định rõ mục tiêu đề ra cho người học, do người học thực hiện;
(2) Kế hoạch học tập học phần:
Môn học gồm bao nhiêu phần, yêu cầu cần đạt được của mỗi phần, thời gian học, tài liệu phục vụ cho học tập từng phần học, hình thức học, bài giảng lý thuyết, thực hành thí nghiệm, đề cương thảo luận;
(3) Kế hoạch làm bài tập và thi kiểm tra: Số lượng bài tập, tên đề bài của bài tập, thể thức làm bài tập, tài liệu tham khảo, thời hạn nộp bài; cách tính điểm bài tập, thi giữa học phần, điểm thi cuối học phần và điểm trung bình học phần
Đổi mới cách biên soạn giáo trình/
bài giảng và tường minh đề cương giảng dạy cho người học cần được xem là bước đột phá để tạo ra sự chuyển biến sâu sắc về đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập (Trần Văn Lưu, 2000)
Bởi vì qua thiết kế bài giảng, từng giáo viên sẽ thể hiện nhận thức đổi mới phương pháp của mình bằng những phương án cụ thể cho từng bài dạy, cho từng khâu trong triến trình bài học
Trang 12Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 9
Để điều khiển bài dạy theo thiết
kế, giảng viên nhà trường luôn tổ chức,
dẫn dắt, khơi gợi và phát triển nhận thức
cho người học thông qua việc tạo lập các
bài tập/ tiểu luận với những tình huống
có vấn đề, hoặc nắm bắt các vấn đề cho
sinh viên nêu lên trong các buổi học để
thảo luận tìm phương án giải quyết
Nhận thức, tư tưởng dạy học được hiện
thực hóa dưới dạng có hoạt động thực
hành nghiệp vụ thường xuyên Nhờ vậy,
trình độ về phương pháp, bản lĩnh về sư
phạm phù hợp với hướng đổi mới ngày
càng vững vàng trong từng giảng viên
Chất lượng dạy và học nhờ đó biến đổi
cụ thể và sâu sắc Đặc biệt, sinh viên
được tạo điều kiện học tập có kế hoạch
và hình thành thói quen kế hoạch hóa
việc học của mình
3 Hình thành phương hướng và
chương trình huấn luyện để sinh viên
chủ động và sự tự giác nắm bắt các
công cụ lĩnh hội tri thức
Nhiều nghiên cứu về tâm lý học đã
nhận thức về sự ứng dụng trong hoạt
động học tập nhằm kiến tạo tri thức, thì
hầu hết những người học thành công là
những người có khả năng điều chỉnh khi
thực hiện một nhiệm vụ hay giải quyết
một vấn đề Năng lực điều chỉnh tạo cho
người học kỹ năng kiểm soát và sự theo
dõi quá trình thực hiện hoạt động nhận
thức của minh (Brown, 1987) Năng lực
này bao gồm những biện pháp/ chiến
lược như là dự đoán kết quả, hoạch định
trước và ghi nhận thất bại để hiểu
nguyên nhân Các cá nhân có những kỹ
năng theo dõi tốt có thể đánh giá công
dụng của các chiến lược khi sử dụng
chúng, và thay đổi chiến lược trong tiến
trình giải quyết vấn đề hoặc cố gắng hiểu một tình huống
Trong thực tiễn, chiến lược xây dựng kế hoạch và tổ chức là những phương diện quan trọng của hoạt động học tập Những chiến lược như thế được xem là công cụ của quá trình lĩnh hội kỹ năng và nội dung của một lĩnh vực kiến thức Các kỹ năng này đều là những kỹ năng học tập được triển khai sao cho phù hợp với lĩnh vực chuyên biệt được dạy, được học và được thực hành trong lúc sử dụng để giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực đó
Các nhà nghiên cứu lý thuyết học tập cho rằng mặc dù những học sinh giỏi
sử dụng các kỹ năng này một cách tự phát, nhưng hầu hết các cá nhân khác cần được học và rèn luyện chúng Một vấn đề quan trọng lớn đặt ra đó là các kỹ năng này được lĩnh hội như thế nào và chúng có tính chất chung hay chuyên biệt đối với quá trình thực hiện ở những lĩnh vực chuyên môn khác nhau
Trong tiến trình giảng dạy những
kỹ năng nhận thức cho sinh viên, giảng viên đóng vai trò của một trọng tài Sau khi tạo lập mẫu mô hình các chiến lược hoạt động cụ thể, giảng viên dần dần chuyển sang vai trò hỗ trợ, hướng dẫn người học, và đảm nhiệm vai trò trọng tài, chỉ can thiệp để cho sự giúp đỡ khi cần thiết Đồng thời, tiến trình giảng dạy này cần thực hiện ba nguyên tắc sau:
(1) Sinh viên phải nhận diện được các chiến lược để có thể sử dụng chúng nhằm theo dõi tiến trình hoạt động của mình (đọc hiểu, hay lập luận, giải quyết vấn đề) Những chiến lược này có thể biến đổi theo bản chất của lĩnh vực môn học và nhiệm vụ thực hiện;
Trang 13Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 10
(2) Các nhóm sinh viên chia sẻ trách
nhiệm trong tiến trình thực hoạt động;
(3) Các cá nhân chia sẻ một nhiệm
vụ phức tạp Nhờ vậy, nhiệm vụ có thể
được thực hiện dễ dàng hơn mà không
cần đơn giản hóa chính nhiệm vụ ấy
Kết quả là nhóm sinh viên sẽ đạt
được sự hiểu biết khi các thành viên trong
nhóm cùng hợp tác để đạt các kỹ năng
Mỗi người đọc đều đóng góp và học hỏi từ
những đóng góp của người học khả năng
chuyên môn giỏi hơn Vùng phát triển gần
của Vygotsky được tạo ra ở chỗ người học
thể hiện phạm vi khả năng của mình, đồng
thời được hỗ trợ để thực hiện hóa những
trình độ tiềm ẩn của một năng lực cao hơn
(Glaser & Bassok, 1989)
Điều kiện thực hiện, duy trì và
phát triển phương hướng dạy học trên
- Những giảng viên vừa chuyên sâu
một chuyên ngành, vừa am hiểu về tâm
lý học nhận thức hình thành chương
trình huấn luyện cho sinh viên
- Nội dung huấn luyện này được
thực hiện tích hợp trong hoạt động rèn
luyện kỹ năng đọc hiểu và làm việc với
văn bản và kỹ năng lập luận, trình bày
giải quyết vấn đề trong khóa học bắc cầu
- Mỗi giảng viên giảng dạy đại học
cần được trang bị hiểu biết về những
kiến thức về Tâm lý học nhận thức, về
khoa học nhận thức liên quan đến quá
trình kiến tạo tri thức để tiếp tục hướng
dẫn người học thực hành phát triển
những kỹ năng nhận thức đã có khi học
các lĩnh vực môn học chuyên biệt
Nhận thức về tầm quan trọng của phương hướng dạy học giúp sinh viên chủ động và tự giác nắm bắt các công
cụ lĩnh hội tri thức của đội ngũ đào tạo
sẽ là một điều kiện quan trọng trong việc cải thiện thực trạng học tập của sinh viên Thật vậy, phương hướng giảng dạy tập trung người học vào sự chiêm nghiệm chính quá trình hoạt động nhận thức, quá trình lĩnh hội diễn
ra bên trong mình cũng là một cách thức hình thành cho người sinh viên năng lực cơ bản trong tự học, tự nghiên cứu nhận thức vấn đề, rèn luyện các kỹ năng để làm việc hiệu quả
4 Kết luận
Nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay luôn là vấn đề cần được quan tâm trong xu thế hội nhập Bên cạnh việc nâng cao chất lượng dạy học, thì việc nâng cao chất lượng tự học của sinh viên là yếu tố quyết định “sản phẩm” của quá trình đào tạo Trong xu thế đổi mới, cách tiếp cận từ học cái gì sang học như thế nào và hướng tới học
để làm gì? Với giáo dục chuyên nghiệp thì học để làm gì càng chiếm ưu thế
Bài viết được trình bày với mong mỏi xây dựng và đào tạo sinh viên có năng lực, có khả năng thích ứng với công việc một cách hiệu quả nhất Vì vậy, cải thiện thực trạng học tập của sinh viên, giúp họ thích ứng hội nhập nhanh
là vấn đề cần thiết và cần được quan tâm đúng mức
Trang 14Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 11
LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LÀ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH
KHẢ NĂNG LĨNH HỘI KIẾN THỨC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
CVC Lê Duy Quang
Trưởng Phòng Tổ chức Hành chính, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ luôn được Đảng bộ và Ban
Giám hiệu nhà trường quan tâm Để nâng cao chất lượng phương pháp giáo
dục thì Phương pháp dạy học của giảng viên đóng vai trò quyết định khả năng
tiếp thu kiến thức của sinh viên Từ đó, sinh viên mới vận dụng kiến thức đã tiếp
thu để nâng cao kỹ năng thích ứng trong thực tế Trong bài viết này, chúng tôi
so sánh các phương pháp dạy học để thấy rõ vai trò quan trọng về cách thức
truyền đạt kiến thức từ giảng viên
Từ khóa: Phương pháp, tự học, định hướng.
1 Khái quát chung về phương pháp
Phương pháp: Cách thức, con
đường làm việc để đạt được mục đích
Các quy luật chi phối phương pháp: về
mặt khách quan và chủ quan của
phương pháp phương pháp chịu sự chi
phối của mục đích và nội dung phương pháp, là một tổ chức hoạt động có tổ chức hợp lý, biết sáng tạo ra phương pháp mới bằng cách chuyển hóa và phối hợp tối ưu những phương pháp dạy học đã có
Biện pháp: là một bộ phận của
phương pháp, là cách giải quyết một vấn
đề cụ thể
Thủ thuật: là một thành phần của
phương pháp cơ bản, nhân cách giảng
viên, trình độ (sư phạm, chuyên môn),
cách sử dụng phương pháp, phương tiện,
cách giải quyết tình huống tại lớp học
2 Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là những
cách thức, là con đường, là phương
hướng hành động để giải quyết vấn đề
nhận thức của sinh viên nhằm đạt mục
đích dạy học Hoạt động dạy học luôn có
tổ chức của thầy giáo
Để đạt được mục đích dạy học nào
đó giảng viên không chỉ tổ chức dạy chỉ trong trường học và có thể tổ chức cho sinh viên tham quan…Như vậy, phương pháp dạy còn có nghĩa rộng hơn là những phương pháp dạy trong lớp học
mà còn là những hình thức tổ chức địa điểm giờ học của thầy Để đạt được mục đích dạy học một giờ học giảng viên cũng cần phải xem xét là giờ học
ấy theo các bước nào và việc lĩnh hội tri thức của sinh viên theo những con đường logic nào Như vậy, phương pháp dạy học là các bước thực hiện của
Trang 15Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 12
thầy và trò trong giờ dạy và con đường
học); Các bước thực hiện của thầy và trò
trong giờ dạy; Cách trình bày theo con
đường logic của sự lĩnh hội tri thức
Có một số cách thức dạy học như
sau: Người dạy là trung tâm theo quan
điểm cổ truyền; Người dạy và người học đều là trung tâm: thầy chỉ đạo trò, trò chủ động một cách tự giác, tích cực, tự lực nhằm giúp trò đạt được mục đích dạy học; Người học là trung tâm, dạy học theo lối mới, bằng phương pháp tích cực hóa người học
Phương pháp dạy học cổ truyền Phương pháp dạy học tích cực
Mục
tiêu
- Chuyển tải nhận thức từ người
dạy, người học thuộc bài, ghi nhớ,
tái hiện
- Tuân theo mệnh lệnh, do sức ép
của người dạy
- Giúp người học tìm hiểu nhận thức của người khác, đồng thời nảy nở sáng kiến cá nhân
- Thay đổi trong thái độ và hành vi của học viên, xuất phát từ giác ngộ
về thực tế, tự nguyện
Vị thế - Người dạy là trung tâm - Người học là trung tâm
Nội
dung
- Những nguyên tắc, khái niệm,
công thức, mô hình, một gương
sáng
- Bài học quay sẵn phát ra hoặc
thông báo tái hiện, lời thầy và sách
- Bài học chính là ý kiến học viên được tổng hợp và nâng lên thành lý luận
Phương
pháp
- Thầy độc thoại, phát vấn (đối
thoại), diễn trình, trò quan sát, ghi
chép
- Đối thoại (thầy - trò/ trò - trò/ xã hội - trò/ trò - xã hội/ trò - thầy/ thảo luận/ trò chơi/ tham quan)
- Giáo viên hay học sinh nêu vấn đề hoặc nêu nhiều câu hỏi và tạo điều kiện cho học viên giúp nhau tìm ra giải đáp Học viên thực hành theo mẫu và tự nghĩ ra cách làm khác hay hơn
Người
học
- Học thuộc lòng, hướng theo và
làm theo thao tác mẫu của người
thầy, của sách
- Thụ động tiếp thu, thiếu cơ hội để
được nêu ý tưởng, cách làm khác
- Học cách học, cách giải quyết vấn
đề Người học chủ động, được hành động theo cách riêng của mình với tinh thần sáng tạo
Trang 16Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 13
Phương pháp dạy học cổ truyền Phương pháp dạy học tích cực
Người
dạy
- Học và dạy phân biệt rạch ròi, dù
có ban bệ của học viên chỉ để giải
quyết các vấn đề hành chánh
- Thầy thiếu thông tin phản hồi từ
học viên
- Người dạy chủ động truyền đạt
- Học và dạy phân biệt rạch ròi, thầy vừa dạy và học kinh nghiệm của học viên
- Thầy có nhiều thông tin phản hồi của học viên
- Thầy cố tình thụ động để phát huy tính chủ động của học viên, thầy không vội phê phán khen chê học viên
- Học viên vừa học, vừa phụ thầy hướng dẫn, góp ý cho nhau và chủ động tổ chức học tập
Tóm lại Phương pháp dạy học
tích cực (hiện đại): giảng viên tổ chức
các hoạt động nhận thức và thực tiễn,
sinh viên là người tìm kiếm tri thức để
đạt được mục đích dạy học
3 Phân loại các phương pháp dạy học
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang
(Lý luận dạy đại học), thì Hệ thống các
phương pháp dạy học cơ bản gồm các
yêu cầu như sau:
(1) Căn cứ vào mục đích nhiệm vụ
của giờ học: Các phương pháp nghiên
cứu tài liệu mới; Các phương pháp củng
cố tài liệu mới; Các phương pháp vận
dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo; Các
phương pháp hệ thống hóa, khái quát
hóa; Các phương pháp kiểm tra, đánh
giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
(2) Căn cứ vào hoạt động của thầy
và trò: Đàm thoại, thuyết trình, thảo
luận, thí nghiệm, thực hành, nghiên cứu
(3) Căn cứ vào con đường nhận
thức của sinh viên: Theo logic phát triển
nội dung: qui nạp, diễn dịch, so sánh,
đối chiếu Theo kiểu của nội dung dạy học: thông báo, làm mẫu, nêu vấn đề
(4) Căn cứ vào phương tiện dạy học: Các phương pháp dạy học dùng lời nói; Các phương pháp dạy học dùng trực quan; Các phương pháp dạy học tự lực của sinh viên
(5) Căn cứ theo mức độ tính trung tâm của thầy và trò
Theo Klingberg nhà lý luận dạy học người Đức đã đưa ra mô hình phân loại phương pháp dạy học Phương pháp dạy học được chia thành 2 nhóm: xét về phương diện mặt ngoài và phương diện mặt trong
Nhóm phương pháp xét theo phương diện mặt ngoài là phương pháp
có thể dễ nhận thấy xảy ra trong quá trình dạy học bằng cách quan sát hình thức tổ ch ức giao tiếp giữa thầy – trò – nội dung, ví dụ như nhóm phương pháp:
+ Hình thức tổ chức giờ học (địa điểm học: học theo lớp bài, tham quan, học trong quá trình lao động,…)
Trang 17Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 14
phương diện mặt trong là các phương
pháp định hướng người học trực tiếp đến
với mục đích và nội dung dạy học Các
phương pháp này nói rõ các cấu trúc các
bước chiến lược của một giờ dạy học
trên lớp Nó gồm 3 loại sau:
+ Các khâu của quá trình dạy học:
Là các bước hoạt động theo thứ tự thời
gian để từ từ dẫn dắt sinh viên đạt đến
mục đích dạy học Mỗi khâu của quá trình dạy học có một chức năng nhất định cho sự truyền đạt và sự lĩnh hội nội dung Các chức năng của các khâu trong quá trình dạy học có tính hỗ trợ tương tác liên kết với nhau thành hình xoáy trôn ốc trong quá trình dạy học
+ Phương pháp logic: Là các bước được tiến hành theo thứ tự của con đường logic lĩnh hội tri thức của con người như theo con đường quy nạp, diễn dịch, phân tích hay tổng hợp, kế thừa
+ Algorit: được thực hiện bằng những chương trình dạy học
Theo phân loại về hệ thống phương
pháp dạy học phức hợp bao gồm: Dạy
học chương trình hóa; dạy học bằng máy
tính điện tử; dạy học nêu vấn đề; dạy
học bằng tình huống mô phỏng hành vi,
trò chơi; dạy học bằng Module; dạy học
bằng grap hóa; dạy học bằng Algorit
(Theo tài liệu của TS Quang Dương -
Viện Nghiên cứu giáo dục và đào tạo
phía Nam)
Một số phương pháp dạy học theo định hướng mới:
(1) Phương pháp tìm tòi, khảo sát mang ý nghĩa tự nghiên cứu
Gồm các phương pháp dạy học:
đọc sách, tham quan, thảo luận, nêu vấn
đề, tìm tòi khảo sát một vấn đề
(2) Phương pháp tập sự, đóng vai mang ý nghĩa cụ thể: Gồm các phương pháp dạy học: đọc sách, biểu đạt, thực hành
Trang 18Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 15
(3) Phương pháp xác định giá trị
mang ý nghĩa tự kiểm tra: Tự định
hướng kết quả theo song đề nhận thức
(đồng biến, nghịch biến, trung dung)
4 Lựa chọn phương pháp giảng dạy
một bài học và xu hướng giảng dạy
hiện nay
4.1 Lựa chọn phương pháp giảng dạy
một bài học
Muốn thành công trong khâu
truyền đạt nội dung giảng dạy, người
giảng viên phải biết lựa chọn và sử dụng
có hiệu quả các phương pháp và hình
thức dạy học để làm tăng sự ham thích,
tích cực hóa người học, sự tham dự của
sinh viên và sự giảng dạy có hiệu quả
của giáo viên trong lớp Các phương
pháp dạy học rất đa dạng về số lượng và
mục đích sử dụng, muốn lựa chọn
phương pháp dạy học người học phải
biết giá trị của từng phương pháp, nội
dung sử dụng nó, nó hoạt động như thế
nào, khi nào dùng thì cho kết quả cao
Vận dụng phương pháp dạy học truyền
thống có cải tiến và phương pháp dạy
học theo lối mới nhằm tích cực hóa
người học và các hoàn cảnh, tình huống
học tập khác nhau
Mỗi phương pháp dạy học dù tốt
nhất vẫn có những mặt mạnh, mặt yếu
khi thực hiện nên phối hợp hai hoặc
nhiều phương pháp vì không có một
phương pháp nào là vạn năng hoặc một
phương pháp dạy học độc quyền
Ở thế kỷ 19, nhà giáo dục học Nga
vĩ đại Ushinky nhận xét: “Không cần nói
với giáo viên: “Hãy làm như thế này, như
thế kia” Cần nói với họ: các bạn hãy
nghiên cứu những quy luật đó và những
điều kiện cụ thể của tình huống sư phạm
Tình huống thật đa dạng, bản tính của học sinh cũng thật khác nhau Trong điều kiện vô cùng phức tạp của những tình huống sư phạm và của học sinh, làm sao chúng ta có thể chấp nhận được những đơn thuốc vạn năng nào đó”
4.2 Lựa chọn xu hướng giảng dạy hiện nay
4.2.1 Đổi mới, hoàn thiện phương pháp dạy học
(1) Hình thành tích cực, sáng tạo, vận dụng tri thức và nhân cách thích ứng năng động với thực tiễn luôn luôn đổi mới
(2) Phương pháp dạy (lấy sinh viên làm trung tâm) phục vụ cho phương pháp tự học (tự nghiên cứu, tự thể hiện,
biện pháp ứng dụng/ mô tả < phân tích/ đơn điệu < đối chiếu/ khẳng định
< giả định)
Trang 19Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 16
4.2.2 Cơ sở lựa chọn phương pháp
dạy học
(1) Dựa vào các loại mục đích
- Mục đích học tập kiến thức kỹ
năng, kỹ xảo, tư tưởng,…
- Mục đích lý luận dạy học, giới
thiệu, trình bày, áp dụng, củng cố, kiểm
tra đánh giá
(2) Dựa vào nội dung dạy học: bài
lý thuyết, thực hành, luyện tập, dàn bài
cách dạy từng đề mục
(3) Dựa vào trình độ học viên đã
có và khả năng phát triển của người
học Trình độ, kinh nghiệm, sở thích,
năng lực, nhận thức, xử lý thông tin,
yếu tố năng động xã hội, sức khoẻ,
phái, môi trường học tập, đối tượng
(học sinh, sinh viên, học viên lớn tuổi,
khuyết tật,…)
(4) Tổ chức nhóm dạy học giúp
học viên thể hiện khả năng cá nhân và
phát triển khả năng giao tiếp tương tác
với người khác: đề nghị, phản đối, công
nhận, đánh giá (giảng viên –sinh viên/
sinh viên – giảng viên/ sinh viên – sinh
viên/ sinh viên – xã hội/ xã hội – sinh
viên/ sinh viên– phụ huynh)
(5) Chiến thuật giảng dạy của
giảng viên: dựa vào tiêu chuẩn hiệu
năng (tính kinh tế, tiết kiệm) – tiêu
chuẩn hiệu quả (kết quả đạt được) và
tham gia của học viên
(6) Dựa vào thời gian môn học, bài học: Dạy lý thuyết; dạy thực hành
(7) Bố trí không gian lớp học: Diện tích lớp hiện tại và tương lai; Bố trí chỗ ngồi sinh viên, sinh viên dễ quan sát, dễ thảo luận, giảng viên dễ quản lý, tổ chức dạy; Số sinh viên cho môn học
(8) Dựa vào sự lựa chọn phương tiện dạy học: kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo,
tư tưởng hành vi
(9) Lượng định kết quả học tập, cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá, dạy thế nào kiểm tra thế đó, kiểm tra cách nào phải dạy cách đó
(10) Phân tích kết quả kiểm tra của sinh viên để cải tiến mục tiêu dạy học, nội dung, phương pháp, phương tiện và cách tổ chức dạy học
5 Kết luận
Để đáp ứng ngày càng cao sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội đã đặt lên vai người sinh viên tốt nghiệp những yêu cầu rất cao về mặt kiến thức, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ lẫn kiến thức tâm lý xã hội thì vai trò của người thầy có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hoạch định nội dung chương trình giảng dạy cho sinh viên ở các bậc học Thiết kế giảng dạy là một trong các vấn đề quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học
Trang 20Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 17
SỰ CẦN THIẾT TĂNG CƯỜNG KỸ NĂNG Ở CÁC MÔN HỌC
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO - ĐÁP ỨNG NHU CẦU
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA –
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
KS Lê Đức Gia
Phó Trưởng Khoa Đào tạo Nghề, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Gần đây chúng ta nghe nói rất nhiều về thuật ngữ “kỹ năng” như là
kỹ năng sống, kỹ năng mềm, kỹ năng chuyên môn, trung tâm huấn luyện kỹ
năng… Các doanh nghiệp khi tuyển dụng cũng đòi hỏi ứng viên phải hội đủ các
kỹ năng cần thiết Điều này khiến cho các sinh viên mới tốt nghiệp không khỏi
bối rối và lúng túng khi nộp hồ sơ, tham dự phỏng vấn, hiện nay ngay cả doanh
nghiệp, trung tâm đào tạo và giới chuyên môn cũng chưa có một cái nhìn đầy
đủ và thống nhất về kỹ năng Còn nhiều người chưa hiểu rõ kỹ năng là gì?
Bằng cách nào để tạo ra kỹ năng? Và cần phải học kỹ năng ở đâu? Trong
khuôn khổ bài viết này chúng tôi “tác giả” muốn đưa ra vấn đề cùng nhau chia
sẻ về chủ đề “kỹ năng” Với mục đích cùng nhau hiểu đúng về kỹ năng, học
đúng kỹ năng và để có thể sở hữu được kỹ năng nhằm ứng dụng nó trong công
việc và cuộc sống
Từ khóa: Kỹ năng, môn học, chất lượng đào tạo, thị trường lao động.
1 Kỹ năng là gì
Có nhiều cách định nghĩa khác
nhau về kỹ năng Những định nghĩa này
thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên
môn và quan niệm cá nhân của người
viết Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều
thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành
khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực
tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp
đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động
nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ
đích và định hướng rõ ràng
Vậy, kỹ năng là năng lực hay khả
năng của chủ thể thực hiện thuần thục
một hay một chuỗi hành động trên cơ sở
hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm)
nhằm tạo ra kết quả mong đợi
Cần phải phân biệt kỹ năng với
ở hồ bơi
1.2 Sự khác nhau giữa kỹ năng và
thói quen: Hầu hết các thói quen hình thành một cách vô thức và khó kiểm soát Trong khi đó kỹ năng được hình thành một cách có ý thức do quá trình luyện tập mà có
1.3 Thói quen rất khác với kiến
thức Thậm chí có một số người còn nhầm lẫn kiến thức là kỹ năng cứng
Vậy đâu là khác biệt? Kiến thức là biết,
là hiểu nhưng chưa bao giờ làm, thậm chí không bao giờ làm Trong khi đó kỹ năng lại là hành động thuần thục trên nền tảng kiến thức Vì không tác động vào thực tế tại khách quan nên kiến thức
Trang 21Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 18
thường ít tạo ra những thành quả cụ thể
cho cuộc đời Ta có thể thấy rất nhiều
những giáo viên suốt đời dạy về lý
thuyết kinh tế và không tham gia làm
kinh doanh nên cho dù họ có hiểu rõ về
nguyên lý của thị trường đến mấy nhưng
bản thân họ cũng không làm ra nhiều
tiền Nhiều học giả cho rằng chỉ có kiến
thức suông thì chưa mạnh sử dụng kiến
thức mới là sức mạnh Nói một cách
khác kỹ năng chính là sức mạnh
2 Sự cần thiết của kỹ năng đối với
người lao động nói chung
Thế kỷ 21, được gọi là kỷ nguyên
của nền kinh tế “kỹ năng” Điều đó được
thể hiện rõ qua yêu cầu ngày càng thay
đổi của xã hội Năng lực của mỗi cá
nhân được đánh giá trên nhiều khía cạnh
khác nhau nhưng có ba khía cạnh chính
mà hiện nay chúng ta cần quan tâm đó
là: Kỹ năng, kiến thức và thái độ Theo
đánh giá của một số tổ chức thì để trở
thành một người thành đạt trong cuộc
sống cần phải hội tụ ba yếu tố đó
Nhưng bao nhiêu là đủ cho mỗi thứ lại là
một vấn đề Theo đánh giá của nhiều
nhà khoa học thì kỹ năng mềm
(softskill) chiếm đến 80% trên tổng số
100%, trong khi đó, kỹ năng cứng (kiến
thức) chỉ chiếm 15%
Theo đánh giá của bộ lao động Mỹ,
13 kỹ năng cần thiết để thành công đó là:
- Kỹ năng lắng nghe
- Kỹ năng học và tự học
- Kỹ năng lãnh đạo bản thân
- Kỹ năng thuyết trình
- Kỹ năng giải quyết vấn đề
- Kỹ năng quản lý bản thân và tinh
thần tự tôn
- Kỹ năng tư duy sáng tạo
- Kỹ năng làm việc đồng đội
- Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả
với tựa đề Phát triển kỹ năng: “Xây
dựng lực lượng lao động cho một nền kinh tế thị trường hiện đại ở Việt Nam” do Ngân hàng Thế giới (World
Bank) công bố, nhấn mạnh rằng bản chất công việc trong một nền kinh tế thị trường hiện đại sẽ thay đổi và trở nên phức tạp hơn Ngày nay, người sử dụng lao động Việt Nam đang tìm kiếm một tập hợp các kỹ năng nhận thức, hành vi
và kỹ thuật chất lượng cao “Tỷ lệ lao động Việt Nam có kỹ năng đọc, viết và tính toán cao hơn so với các nước khác,
kể cả các nước giàu có hơn Việt Nam, nhưng một lực lượng lao động có kỹ năng cao mới sẽ là chìa khóa thành công trong chuyển đổi kinh tế”, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia, Ngân hàng Thế giới chia sẻ
Với phần lớn lực lượng lao động
có khả năng đọc và viết, thách thức hiện nay của Việt Nam là làm thế nào có thể biến sinh viên tốt nghiệp từ những người giỏi học theo sách trở thành những người có tư duy phản biện và biết cách giải quyết vấn đề, những người được trang bị đầy đủ để lĩnh hội các kỹ năng
kỹ thuật từ các trường đại học, trường dạy nghề và trong suốt quãng đời làm việc của mình Báo cáo đưa ra phân tích cho thấy tiến trình hiện đại hóa nền kinh
Trang 22Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 19
tế sẽ dẫn tới sự dịch chuyển của cầu đối
với lao động, chuyển từ các công việc
chủ yếu là thủ công và đơn giản ngày
nay sang các công việc phi thủ công và
đòi hỏi nhiều kỹ năng hơn, chuyển từ
các công việc chủ yếu là các thao tác,
nhiệm vụ thường quy sang các nhiệm vụ
không thường quy Và những công việc
mới đó luôn đòi hỏi những kỹ năng mới
Dựa trên một cuộc khảo sát dành
cho người sử dụng lao động ở các đô thị,
báo cáo chỉ ra rằng người sử dụng lao
động xác định các kỹ năng kỹ thuật liên
quan trực tiếp đến công việc là kỹ năng
quan trọng nhất Song, họ cũng tìm kiếm
các kỹ năng nhận thức như kỹ năng giải
quyết vấn đề và tư duy phản biện; và các
kỹ năng hành vi như kỹ năng làm việc
nhóm và kỹ năng giao tiếp
Theo ông Christian Bodewig, tác
giả chính của báo cáo, việc định hướng
lại hệ thống giáo dục để tập trung hơn
vào các kỹ năng này sẽ giúp người lao
động Việt Nam sẵn sàng cho tương lai vì
những kỹ năng rất quan trọng đối với
hầu hết các ngành “Lỗ hổng lớn nhất
trong hệ thống giáo dục Việt Nam là
thiếu kết nối giữa doanh nghiệp và các
cơ sở đào tạo”, ông Bodewig nhấn
mạnh Ông nói thêm rằng cần phải có
giải pháp để doanh nghiệp có thể bày tỏ
nhu cầu của mình cho hệ thống giáo dục
cũng như các cơ sở dạy nghề
Theo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam (VCCI), có 30% trường đào tạo
nghề của Việt Nam là trường tư nhưng
90% lao động được đào tạo ở khu vực
này tìm được việc làm Song, những cơ
sở đào tạo như vậy lại không được
hưởng bất kỳ ưu đãi chính sách nào của Nhà nước
Báo cáo đề xuất một kế hoạch gồm
ba bước để thực thi chiến lược tổng thể
về kỹ năng cho Việt Nam bao gồm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học thông qua phát triển giáo dục mầm non; xây dựng nền tảng nhận thức và hành vi trong giáo dục phổ thông; phát triển kỹ năng kỹ thuật phù hợp với công việc thông qua một hệ thống được kết nối tốt hơn giữa người sử dụng lao động với các trường đại học và các trường dạy nghề Ông Bodewig nhấn mạnh việc chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế công nghiệp không phải chỉ là việc riêng của Chính phủ mà đòi hỏi sự thay đổi về hành vi của tất cả các tác nhân tham gia vào hoạt động phát triển kỹ năng như người sử dụng lao động, các trường đại học và cơ sở đào tạo, sinh viên cũng như phụ huynh học sinh
3 Nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Theo đánh giá của World Bank (WB), lực lượng lao động của Việt Nam dồi dào nhưng ít kỹ năng Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác Nếu lấy thang điểm 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94… Bà Victoria Kwakwa cũng cho biết, nguồn nhân lực Việt Nam
Trang 23Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 20
rất đông nhưng lại thiếu kỹ năng giải
quyết vấn đề, thiếu kỹ năng về mặt xã hội
và hành vi, bên cạnh đó theo đánh giá của
WB thì nhân lực của chúng ta còn yếu về
giao tiếp Những mặt thiếu này Việt Nam
cần nhanh chóng bồi dưỡng, đào tạo để
đáp ứng với thời đại công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước
Trên cơ sở đánh giá nguồn nhân
lực của Word Bank và báo cáo của của
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội;
tình hình thất nghiệp năm 2013 có hơn
72.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp
Con số này gấp 1,7 lần so với cuối
năm 2012, số liệu được đưa ra trong
bản tin cập nhật thị trường lao động
Việt Nam số đầu tiên do Bộ Lao động
Thương và xã hội công bố sáng 21
tháng 3 năm 2014
Đến cuối quý IV/2013 cả nước có
900.000 người thất nghiệp, chiếm 1,9%
lực lượng lao động trong độ tuổi, tăng
48.000 người so với cùng kỳ năm 2012
Báo cáo cũng nhấn mạnh tỷ lệ thất
nghiệp rất cao ở những người có trình độ
chuyên môn Trong đó nhóm Cao đẳng
và Cao đẳng Nghề đều tăng 1,3 lần Đặc
biệt tỷ lệ thất nghiệp ở lao động có trình
độ đại học trở lên khá cao với 4,25%
tăng 1,7 lần so với cùng kỳ 2012
Tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục tăng
cao ở thanh niên Trong đó thanh niên
từ 20 đến 24 tuổi tốt nghiệp cao đẳng
và đại học trở lên có tỷ lệ thất nghiệp
rất cao với 20,75% Đặc biệt, thất
nghiệp dài hạn trên 12 tháng chiếm tỷ
lệ cao với 44,2%, tăng 2,4 lần so với
cùng kỳ 2012 Trong đó, tỷ lệ ở nhóm
có trình độ chuyên môn cao là 54%,
còn nhóm không có trình độ chỉ là
40% Về tình hình thiếu việc làm con
số lại có xu hướng giảm so với cùng
kỳ Trong đó, lao động thiếu việc làm tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn
Theo VTC News, tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI)
và Tổng kết năm học 2012-2013 khối Giáo dục đại học, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận đã có những chia sẻ được hàng trăm đại biểu đồng tình khi đã chỉ ra đúng thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay Bộ trưởng phân tích như sau:
- Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Chất lượng giáo dục có tiến bộ so với bản thân nó trước đây, nhưng so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, so với mong muốn của thầy và trò, của phụ huynh, của Đảng, Nhà nước và xã hội chưa đáp ứng Giáo dục và đào tạo nước
ta chưa đóng góp vào việc đưa nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành thế mạnh thực sự của đất nước trong quá trình hội nhập và phát triển
- Chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hành, coi nhẹ vận dụng kiến thức, thiếu gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động
- Giáo dục nặng về lý thuyết, hàn lâm, không gắn với thực tiễn, không gắn với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ Điều này xảy
ra ở cả giáo dục bậc phổ thông và cả ở đại học
Trang 24Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 21
Hình 1 Sinh viên thực hành đổ BT lót móng Hình 2 Sinh viên thực hành lắp dựng VK cột
- Chưa chú trọng đúng mức việc
giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng
làm việc Phương pháp giáo dục, kiểm
tra, thi và đánh giá lạc hậu, nhiều bất
cập Chúng ta chưa chú ý đến việc giúp
học sinh hình thành kỹ năng mềm, dạy
quá nặng về lý thuyết
- Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục còn nhiều bất cập về chất
lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận
chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát
triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí
vi phạm đạo đức nghề nghiệp…
- Qua tổng kết đánh giá thực trạng
về giáo dục Việt Nam hiện nay, tham
khảo kinh nghiệm quốc tế về quá trình
phát triển khoa học giáo dục và tổ chức
cách dạy, cách học của chúng ta hiện
giống của các nước khác các đây 30 - 40
năm trở về trước Các môn học trong
trường đại học mang tính hàm lâm, xa
rời cuộc sống và không được sử dụng
trong thực tế đời sống hàng ngày Cách
dạy và học trong nhà trường (cả phổ
thông và đại học) về cơ bản là: Thầy
truyền thụ và giảng giải kiến thức; Trò
tiếp nhận kiến thức thầy trao cho Cách
dạy học như vậy cộng hưởng với cách
thi, cách đánh giá học sinh sinh viên (ai
nhớ nhiều, học thuộc nhiều, đưa đúng
đáp số thì điểm cao, cả ở bậc phổ thông, cao đẳng, đại học cũng vậy) đã làm cho tình trạng quá tải, nhồi nhét, dạy thêm học thêm tràn lan có đất phát triển…
Để mở rộng hợp lý quy mô đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; thực hiện điều chỉnh cơ cấu hệ thống đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội; gắn công tác đào tạo với nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn Bộ Giáo dục
và Đào tạo Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng (Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT ngày 17 tháng 2 năm 2011)
Ngày 25 tháng 1 năm 2014 Bộ GD&ĐT công bố kết quả rà soát ngành
ĐH, CĐ trong trường đại học Theo đó dừng tuyển sinh 207 ngành đào tạo trình
độ đại học thuộc 71 cơ sở đào tạo và 296 ngành trình độ cao đẳng thuộc 74 cơ sở đào tạo do không đáp ứng các điều kiện quy định
Bên cạnh đó theo Cục Khảo thí và Kiểm định Chất lượng Giáo dục - Dữ
Trang 25Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 22
liệu cập nhật đến ngày 30 tháng 11 năm
2013 đã có 445 trường đã hoàn thành tự
đánh giá Trong đó: trường Đại học, Học
viện 169; trường Cao đẳng 180; trường
Trung cấp chuyên nghiệp 97
Để triển khai Quyết định số
37/2013/QĐ-TTg của Chính phủ về việc
điều chỉnh “Quy hoạch mạng lưới Đại
học và Cao đẳng giai đoạn 2006-2020”,
từ ngày 24 tháng 3 năm 2014, Bộ
GD&ĐT dừng tiếp nhận hồ sơ nâng cấp,
thành lập mới các trường đại học, cao
đẳng Bộ GD&ĐT đề nghị các Bộ, cơ
quan ngang bộ, UBND các tỉnh thành
chủ động phối hợp với các Bộ, Ngành
liên quan và chỉ đạo các đơn vị trực
thuộc rà soát để điều chỉnh, sắp xếp và
tổ chức lại mạng lưới các trường đại
học, cao đẳng trên địa bàn thuộc quyền
quản lý trên cơ sở Nghị quyết số
29-NQ/TW (khóa XI) về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo; Quyết
định số 37 về điều chỉnh quy hoạch
mạng lưới các trường đại học, cao đẳng
giai đoạn 2006-2020 Một trong những
nội dung mục tiêu của nguồn quy hoạch
này là đến năm 2020 đạt khoảng 256
sinh viên/10.000 dân, khoảng 70% -
80% sinh viên đại học được đào tạo theo
các chương trình nghề nghiệp - ứng
dụng và khoảng 30% - 20% sinh viên
được đào tạo theo chương trình nghiên
cứu Cũng đến năm 2020 đạt bình quân
từ 17 đến 26 sinh viên đại học và cao
đẳng/1 giảng viên; số giảng viên có trình
độ tiến sỹ trong tổng số giảng viên đại
học khoảng 21% và số giảng viên có
trình độ tiến sỹ trong tổng số giảng viên
cao đẳng đạt khoảng 4% Năm 2015 có
10 trường đại học mà mỗi trường có ít
nhất một khoa (ngành) hoặc lĩnh vực đào
tạo đạt tiêu chí chất lượng tương đương
so với các trường có uy tín trên thế giới; đến năm 2020 có 20 trường đại học đạt tiêu chí nêu trên và năm 2020 có 1 trường đại học được xếp hạng trong số
200 trường đại học hàng đầu thế giới
- Ngày 16 tháng 3 năm 2014, Đảng
ủy Trường Đại học Xây dựng Miền Trung tổ chức học tập Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cho toàn thể cán bộ, nhân viên, giáo viên
và học sinh - sinh viên là Đảng viên trong nhà trường nhằm nâng cao nhận thức và tầm quan trọng trong hoạt động giảng dạy và học tập của học sinh, sinh viên Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và chỉ thị của Bộ GD&ĐT về đổi mới giáo dục và đào tạo Trong những năm qua lãnh đạo Nhà trường đã ý thức rằng để nâng cao chất lượng đào tạo phải dựa vào ba trụ cột chính đó là: Lực lượng giáo viên; cơ sở vật chất và người học Về cơ sở vật chất tập trung cải tạo, xây dựng mới, mua sắm máy móc thiết bị, tài liệu, sách, giáo trình phục vụ học tập cho học sinh - sinh viên và nghiên cứu của giảng viên; về con người hàng năm cử nhiều giảng viên
đi học cao học và nghiên cứu sinh trong nước cũng như ở nước ngoài; về chất lượng đầu vào (người học) nhà trường tổ chức thi ba chung do Bộ GD&ĐT quy định và xét tuyển theo điểm sàn thi đại học và cao đẳng Nhà trường đã công khai công bố chuẩn đầu ra cho bậc học đại học, cao đẳng và đã hoàn thành tự đánh giá Trong những năm qua Lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện cho Đoàn thanh niên tham gia các hoạt
Trang 26Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 23
động do Trung ương Đoàn tổ chức
Năm 2014 được chọn là năm Thanh
niên tình nguyện, theo đề xuất của
Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng
Sản (TNCS) Hồ Chí Minh và được sự
đồng ý của Ban Bí thư Trung Đảng
Phong trào thanh niên tình nguyện đã
được Đảng ủy Nhà trường tạo điều
kiện hơn 10 năm trở lại đây Mục tiêu
của thanh niên tình nguyện là phát huy
vai trò xung kích, tình nguyện của
thanh niên, tham gia phát triển kinh tế -
xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm
an sinh xã hội, xây dựng nông thôn
mới, văn minh đô thị; tạo sự chuyển
biến về chất lượng của tổ chức Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh, mở rộng đoàn kết,
tạo môi trường để thanh niên rèn luyện
phẩm chất, thấy rõ vinh dự và trách
nhiệm của mình trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc Đây cũng là
hoạt động để thanh niên trải nghiệm,
tạo kỹ năng thực hành xã hội, kỹ năng
sống cho học sinh - sinh viên… Đặc
biệt Nhà trường đào tạo các ngành học
như Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng,
Xây dựng Cầu đường, Kiến trúc, Kinh
tế Xây dựng, Kỹ thuật Hạ tầng Đô thị, ngành Cấp thoát nước và Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ Mỗi bậc đào tạo đều có chương trình khung, đề cương môn học, trong thời gian học lý thuyết
ở trường người học được thực hành các môn học như: Thực hành môn Trắc địa, thí nghiệm kéo; nén vật liệu; các dạng bài tập lớn; vẽ AutoCAD; tính tiên lượng dự toán công trình; hạch toán kế toán máy; thực hành nghề nghiệp; thực tập tốt nghiệp cuối khóa Nhằm gắn chương trình học tập gần với thực tế sản xuất thực hiện phương châm giáo dục của Đảng “học
đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn…” Chính những con người này sau khi ra trường sẽ trở thành cán bộ quản lý, thiết kế, thi công công trình, giám sát công trình và họ sẽ đảm nhận công việc được ngay, tránh phải đào tạo lại như các ngành nghề khác Tránh lãng phí về thời gian, tiền bạc
và lòng tin của xã hội, cũng như phụ huynh người học
Hình 3 SV tình nguyện XD nhà nhân ái Hình 4 Thầy Hiệu Trưởng tặng quà cho chủ nhân
Tóm lại: Năng lực của người học
bằng kiến thức cộng với kỹ năng và thái
độ Câu hỏi đặt ra là ai sẽ dạy kỹ năng
cho người học? Chính là giảng viên, bộ môn và các khoa là người dạy, hướng dẫn kỹ năng cho người học bởi vì mỗi
Trang 27Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 24
môn học, bộ môn, khoa có những kỹ
năng nghề nghiệp đặc thù khác nhau
Mỗi thầy, cô giáo phải thực hiện cuộc
vận động của Công đoàn Giáo dục Việt
Nam phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào
tạo tổ chức phong trào thi đua yêu nước dạy tốt - học tốt và cuộc vận động
“Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, vì sự
phát triển của Nhà trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT
[2] Quyết định 37/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006-2020
[3] Tài liệu học tập của Tổ Chức Lao động Quốc tế (ILO) – Learning Element (ILO) [4] Cổng thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo
[5] Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
[6] Trung tâm đào tạo kỹ năng mềm VietSkill
[7] Chỉ thị 7823/CT-BGDĐT, ngày 27/10/2009 thực hiện cuộc vân động “Mỗi thầy,
cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” những tiêu chí thi đua của các
trường đại học, cao đẳng và đơn vị thực hiện giáo dục đại học
Trang 28Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 25
ĐÓNG GÓP CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG TỔNG SẢN PHẨM
QUỐC NỘI TỈNH PHÚ YÊN GIAI ĐOẠN 2001-2012
ThS Lê Thị Mến
Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Trong những năm qua, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nền kinh
tế tỉnh Phú Yên có xu hướng tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế
tỉnh ngày càng bắt kịp với nhịp độ phát triển của đất nước trong tiến trình hội
nhập quốc tế Để có được điều đó thì sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân
(KTTN) có vai trò hết sức quan trọng Ngày nay, KTTN ở Phú Yên là một lực
lượng kinh tế có ý nghĩa và có tiếng nói quyết định đến sức mạnh kinh tế của
tỉnh, bởi tốc độ tăng trưởng cao và liên tục của nó, trên 57% tổng GDP tỉnh
trong giai đoạn 2001 - 2012
Từ khóa: Kinh tế tư nhân, tổng sản phẩm quốc nội.
1 Quan niệm về KTTN
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta hiện nay, sự tồn tại
nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế, trong đó có KTTN là vấn
đề tất yếu bắt nguồn từ quy luật về sự
phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất
KTTN là khu vực kinh tế gắn liền
với các loại hình sở hữu tư nhân Trên
thực tế đã có nhiều định nghĩa khác nhau
về sở hữu, nhưng xét về nội dung thì sở
hữu thể hiện ở hai mối quan hệ, đó là:
quan hệ giữa chủ thể với đối tượng và
quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất Theo đó, sở hữu là hình
thức chiếm hữu của cải vật chất do lịch
sử quy định, trong đó thể hiện quan hệ
giữa con người với con người trong quá
trình sản xuất xã hội Sự phát triển các
hình thức sở hữu do sự phát triển của lực
lượng sản xuất quy định
Trong xã hội ngày nay, đã và đang
tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: sở
hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu
hỗn hợp Điều 211 Bộ luật Dân sự năm
2005 của nước ta cho rằng: sở hữu tư
nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình Sở hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ
và sở hữu tư bản tư nhân Trong đó, sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ gắn với sở hữu tư nhân nhỏ; còn sở hữu tư bản tư nhân gắn với sở hữu tư nhân lớn Sở hữu
tư nhân lớn thường gắn với quá trình tích tụ vốn và sử dụng lao động làm thuê, tức là có thuê mướn lao động
Hiện nay, quan niệm phổ biến ở nước ta về KTTN gồm hai loại hình kinh tế: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Kinh tế cá thể, tiểu chủ bao gồm những đơn vị kinh tế hoạt động trên
cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất,
có quy mô nhỏ hơn các doanh nghiệp tư nhân, hoạt động chủ yếu dựa vào sức lao động của chính họ; hình thức biểu hiện
là các hộ gia đình, kinh tế trang trại… Kinh tế tư bản tư nhân là loại hình kinh
tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất của một hay nhiều chủ,
có sự dụng lao động làm thuê, hoạt động một cách độc lập, trong đó chủ thể tư bản đồng thời là chủ doanh nghiệp
Trang 29Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 26 Như vậy, từ những vấn đề trên, có
thể hiểu KTTN là khu vực kinh tế, bao
gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư
bản tư nhân, dựa trên sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất và các nguồn lực đầu
vào khác của tư nhân; tồn tại dưới hình
thức doanh nghiệp tư nhân (DNTN),
công ty cổ phần (CTCP), công ty trách
nhiệm hữu hạn (CTTNHH), các hộ kinh
doanh cá thể
Trong bài viết này, tác giả nghiên
cứu sự đóng góp chủ yếu vào GDP tỉnh
Phú Yên của ba bộ phận chính cấu thành
nên khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh, đó là: DNTN, CTTNHH và CTCP (hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005)
2 Đóng góp của KTTN trong GDP tỉnh Phú Yên giai đoạn 2001-2012
Trong những năm qua, các đơn vị kinh doanh thuộc khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng về số lượng
và quy mô vốn Từ năm 2004, trung bình hằng năm có trên 200 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với số lượng vốn tăng nhanh chóng, nhất là các DNTN và CTTNHH Thể hiện như sau:
Bảng 1 Số lượng doanh nghiệp của KTTN tỉnh Phú Yên
Năm
Tổng số vốn đầu tư đăng
ký
(tỷ đồng)
Tổng số doanh nghiệp đăng
(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Yên)
Với tốc độ phát triển nhanh và ổn
định như vậy, KTTN ngày càng có
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài;
gấp 4,8 lần so với khu vực kinh tế
Trang 30Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 27 Bảng 2 Đóng góp của kinh tế tư nhân trong GDP tỉnh Phú Yên giai đoạn 2001-2012
Đơn vị: triệu đồng, %
Năm
Thành phần kinh tế
Kinh tế nhà nước
khu vực KTTN chiếm 52,73% trong
GDP tỉnh và tăng lên 53,47% trong năm
2005 Trong khi các thành phần kinh tế
khác chỉ chiếm hơn 40% trong GDP
Năm 2007, đóng góp của khu vực
kinh tế này tăng lên và chiếm 54,8% tổng
GDP tỉnh Đến năm 2012, KTTN chiếm
gần 70% tổng GDP của tỉnh; gấp hơn 2,3
lần mức đóng góp của các thành phần
kinh tế khác cộng lại Chứng tỏ tầm quan
trọng của việc đóng góp ngày càng to lớn
của khu vực kinh tế này trong tổng GDP
Biểu đồ sau cho thấy, trong khi tỷ
trọng đóng góp vào GDP của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tập thể có xu hướng giảm xuống, thì khu vực KTTN đóng góp theo xu hướng ngày càng tăng dần qua các năm; với tỷ
lệ đóng góp hơn 52% trong cơ cấu GDP của tỉnh giai đoạn 2001-2005; hơn 58% trong giai đoạn 2006-2010 và hơn 57% trong cả giai đoạn 2001-2012 Điều này có thể khẳng định KTTN có vai trò là đầu tàu trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh
Trang 31Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 28 Biểu đồ: Tỷ trọng đóng góp của KTTN trong GDP tỉnh Phú Yên giai đoạn 2001 - 2012
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ Niên giám Thống kê tỉnh Phú Yên các năm)
Có nhiều nguyên nhân để dẫn đến
kết quả này, trong đó phải nói đến sự
năng động, linh hoạt trong việc tiếp cận
nguồn vốn, tìm thị trường tiêu thụ, đổi
mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất,
tăng năng suất lao động của các doanh
nghiệp thuộc KTTN trên địa bàn Tiếp
đến là những chính sách của tỉnh trong
việc hỗ trợ đầu tư cho các doanh nghiệp
về rút ngắn thời gian đăng ký cấp giấy
chứng nhận đầu tư, về miễn tiền thuê đất
hoặc chính sách hỗ trợ mức thuế thu
nhập cho các doanh nghiệp,…Qua đó
thể hiện chính sách khuyến khích tạo
điều kiện phát triển cho khu vực KTTN
trên địa bàn là đúng hướng
Như vậy, từ kết quả phân tích trên cho thấy, trong giai đoạn 2001-2012, so với các thành phần kinh tế khác, KTTN
đã góp phần rất lớn, có tính quyết định vào tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao của tỉnh Có thể nói, KTTN đã và đang trở thành động lực, là đầu tàu trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế tỉnh Phú Yên Do đó, cần đẩy mạnh khuyến khích phát triển của khu vực kinh tế này hơn nữa để tạo động cơ, huy động nguồn lực đa dạng của xã hội, góp phần nâng cao mức sống cho người dân
và đóng góp cho tăng trưởng liên tục, ổn định trên địa bàn, ra sức góp phần đưa Phú Yên đến năm 2020 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại
TÀI LIÊU THAM KHẢO
[1] Đặng Danh Lợi, Mai Tết, Nguyễn Văn Tuất 2006 Sự vận động, phát triển của
kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội
[2] Trần Xuân Châu, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế 2009 Tìm hiểu quan
niệm và cách tiếp cận về kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học, Đại
học Huế, số 51
[3] Lê Thị Mến 2013 Đóng góp của Kinh tế tư nhân vào tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú
Yên giai đoạn 2001-2012, Luận văn thạc sĩ Khoa học Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế
Trang 32Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 29
CÁC SỰ CỐ KHI SỬ DỤNG MÓNG CỌC KHOAN NHỒI
ThS Phạm Ngọc Tân
Phó Trưởng Khoa Xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Cọc khoan nhồi là loại cọc tiết diện tròn được thi công bằng cách
khoan tạo lỗ trong đất sau đó lấp đầy bằng bê tông cốt thép (BTCT) Cọc khoan
nhồi sử dụng nhiều cho công trình nhà cao tầng, công trình cầu hoặc nhà trong
khu vực xây chen,…Tuy nhiên, trong thực tế xây dựng vì nhiều nguyên nhân
khác nhau mà sự cố cọc khoan nhồi xảy ra rất nhiều, điều này một mặt ảnh
hưởng đến tiến độ công trình, làm tăng chi phí đồng thời có thể ảnh hưởng đến
chất lượng chịu tải của móng Do đó khi thi công móng cọc khoan nhồi chúng
ta phải biết được các sự cố có thể xảy ra để từ đó biết cách phòng tránh hoặc
xử lý đúng khi sự cố xảy ra
Từ khóa: Cọc khoan nhồi, sự cố cọc nhồi.
1 Đặc điểm, phạm vi áp dụng móng
cọc nhồi
- Cọc nhồi là loại cọc được chế tạo
tại chỗ bằng cách tạo một hố khoan
trong nền đất sau đó thi công trực tiếp
vật liệu (thường là BTCT) vào các hố đó
để hình thành cọc Cọc nhồi thường gặp
là cọc khoan nhồi
- Móng cọc khoan nhồi có thể áp
dụng rộng rãi trong các ngành cầu
đường, thuỷ lợi, xây dựng dân dụng và
công nghiệp Đặc biệt là các công trình
có tải trọng lớn như cầu, nhà cao tầng
hay công trình đặt trên nền đất yếu hoặc
nhà xây chen ở các đô thị,
- Ở nước ta cọc khoan nhồi được
sử dụng từ những năm 80, từ hình thức
tạo lỗ bằng thủ công cho đến nay đã có
những thiết bị hiện đại để tạo lỗ và đổ bê
tông bằng các quy trình khác nhau
1.1 Những ưu điểm chính của cọc
khoan nhồi
+ Có sức chịu tải lớn, với đường
kính lớn và chiều sâu lớn có thể tới hàng
nghìn tấn
+ Thiết bị thi công nhỏ gọn nên
có thể thi công trong điều kiện xây dựng chật hẹp Trong quá trình thi công không gây trồi đất ở xung quanh, không gây lún nứt, các công trình kế cận và không ảnh hưởng đến các cọc xung quanh và phần nền móng và kết cấu của các công trình kế cận
+ Công nghệ thi công cọc khoan nhồi đã giải quyết các vấn đề kỹ thuật móng sâu trong nền địa chất phức tạp, ở những nơi mà các loại cọc đóng bằng búa xung kích hay búa rung có mặt cắt vuông hoặc tròn có đường kính D < 600mm Vì vậy có thể thi công cọc dễ dàng qua các lớp cát chặt dày mà cọc đóng hoặc ép khó xuyên qua được
+ Có thể mở rộng đường kính và tăng chiều dài cọc đến độ sâu tuỳ ý (đường kính phổ biến hiện nay từ 60 - 250cm; chiều dài cọc đến 100m) Khi điều kiện địa chất và thiết bị thi công cho phép, có thể mở rộng mũi cọc hoặc
mở rộng thân cọc để làm tăng sức chịu tải của cọc
Trang 33Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 30
+ Yêu cầu kỹ thuật thi công cao,
khó kiểm tra chính xác chất lượng bê
tông nhồi vào cọc, do đó đòi hỏi sự lành
nghề của đội ngũ công nhân và việc
giám sát chặt chẽ nhằm tuân thủ các quy
trình thi công Vì vậy, việc kiểm tra chất
lượng cọc khoan nhồi rất phức tạp, gây
ra tốn kém trong thi công
+ Ma sát thành cọc với đất giảm
đi đáng kể so với cọc đóng và cọc ép do
quá trình khoan tạo lỗ
+ Việc xử lý các khuyết tật của cọc
khoan nhồi rất phức tạp (trong một số
trường hợp phải bỏ đi để làm cọc mới)
+ Công nghệ thi công đòi hỏi kỹ
thuật cao để tránh các hiện tượng phân
tầng khi thi công bê tông dưới nước có
áp, cọc đi qua các lớp đất yếu có chiều
dầy lớn
+ Giá thành cao hơn so với các phương án cọc đóng và cọc ép khi xây dựng các công trình thấp tầng (theo thống kê: khi công trình dưới 12 tầng giá thành phương án cọc khoan nhồi có thể cao hơn 2 - 2,5 lần so với phương án khác – nhưng khi xây dựng nhà cao tầng hay các cầu lớn, thì phương án cọc khoan nhồi lại hợp lý hơn)
+ Môi trường thi công sình lầy,
- Lựa chọn thông số cọc: Đường kính, chiều dài, bê tông cọc, thép dọc,…
- Tính toán sức chịu tải của cọc
- Xác định số lượng cọc, bố trí cọc
- Kiểm tra tải trọng đứng tác dụng lên cọc
- Kiểm tra khả năng chịu tải ngang
- Kiểm tra áp lực trên đất nền về điều kiện biến dạng (tính lún)
- Tính toán cấu tạo đài cọc
Hình 1 Hạ lồng thép khi thi công cọc
khoan nhồi
2 Một số vấn đề cần lưu ý khi sử dụng cọc khoan nhồi
Khi sử dụng cọc khoan nhồi, căn
cứ vào tài liệu địa chất người thiết kế có thể xác định được chiều sâu cọc sao cho sức chịu tải của đất nền tương đương với sức chịu tải vật liệu của cọc (Pvl tương đương Pđn), điều này với phương pháp cọc đóng hoặc ép tĩnh không đạt được,
đó là điều kiện đưa đến giải pháp nền móng hợp lý và kinh tế hơn
Cọc khoan nhồi thường được thiết
kế để mang tải lớn nên chất lượng của
Trang 34Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 31
cọc luôn luôn là vấn đề được quan tâm
nhất Khâu quan trọng nhất để quyết
định chất lượng của cọc là khâu thi
công, nó bao gồm cả kỹ thuật, thiết bị,
năng lực của đơn vị thi công, sự nghiêm
túc thực hiện quy trình công nghệ chặt
chẽ, kinh nghiệm xử lý khi gặp các
trường hợp cụ thể
Tuy nhiên, trong thực tế vì nhiều lý
do khác nhau mà sự cố cọc khoan nhồi
xảy ra rất nhiều, điều này một mặt ảnh
hưởng đến tiến độ công trình, làm tăng
chi phí đồng thời có thể ảnh hưởng đến
chất lượng chịu tải của móng Do đó khi
thi công móng cọc khoan nhồi chúng ta
phải biết được các sự cố có thể xảy ra để
từ đó biết cách phòng tránh hoặc xử lý
đúng khi sự cố xảy ra
Dưới đây là một số sự cố thường
gặp khi sử dụng cọc khoan nhồi:
2.1 Sự cố không rút được gầu khoan lên
- Khái quát công nghệ: Thông
thường khi cọc phải xuyên qua cát
chảy, sỏi dày thì dùng công nghệ khoan
ống vách để giữ thành trong suốt quá
trình khoan Ống vách được giữ lại
không rút lên
- Diễn biến sự cố: Do một nguyên
nhân nào đó như mất điện máy phát,
hỏng cẩu, v.v… làm gián đoạn quá trình
khoan cọc, cần phải rút đầu khoan lên
ngay sau khi mất điện thì đầu khoan bị
kẹt ở đáy lỗ không cẩu lên được cũng
không thể nhổ lên được
- Nguyên nhân: Hiện tượng sập
vách phần đất đã khoan dưới đáy ống
vách chưa kịp hạ xảy ra ngay sau khi
mất điện làm nghiêng đầu khoan, đầu
khoan bị vướng vào đáy ống vách và bị toàn bộ phần đất sập xuống bao phủ Do vậy không thể rút đầu khoan lên được
- Biện pháp xử lý:
Cách 1: Rút ống vách lên khoảng
20 cm sau đó mới rút đầu khoan, sau khi rút được đầu khoan lên rồi sẽ lại hạ ngay ống vách xuống
Cách 2: Nếu không thể nhổ được ống vách do ống vách đã hạ sâu, lực ma sát lớn, ta phải dùng biện pháp xói hút Cách tiến hành như sau:
Dùng vòi xói áp lực cao xói hút phần đất đã bị sập và xói sâu xuống dưới đầu khoan mục đích làm cho đầu khoan trôi xuống dưới theo phương thẳng đứng
để khỏi bị nghiêng vào thành vách Sau
đó mới cẩu rút đầu khoan
Lưu ý: Trong suốt quá trình xói hút luôn giữ cho mực nước trong lỗ khoan
ổn định đầy trong ống vách để giữ ổn định thành lỗ khoan dưới đáy ống vách
2.2 Sự cố không tút được ống vách lên trong giải pháp sử dụng ống vách
Nguyên nhân: Do điều kiện đất
(chủ yếu là tầng cát) Lực ma sát giữa ống chống với đất ở xung quanh lớn hơn lực nhổ lên (lực nhổ và lực rung) hoặc khả năng cẩu lên của thiết bị làm lỗ không đủ Trong tầng cát thì sự cố kẹp ống thường xảy ra, do ảnh hưởng của nước ngầm khá lớn, ngoài ra còn do ảnh hưởng của mật độ cát với việc cát cố kết lại dưới tác dụng của lực rung Còn trong tầng sét, do lực dính tương đối lớn hoặc do tồn tại đất sét nở v.v
Ống vách hoặc thiết bị tạo lỗ nghiêng lệch nên thiết bị nhổ ống vách không phát huy hết được năng lực
Trang 35Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 32
Lưỡi nhọn ống vách bị mài mòn
lên làm tăng lực ma sát giữa ống vách
với tầng đất
Thời gian giữa hai lần lắc ống dài
quá cũng làm cho khó rút ống, đặc biệt là
khi ống vách đã xuyên vào tầng chịu lực
Bê tông đổ một lượng quá lớn mới
rút ống vách hoặc đổ bê tông có độ sụt
quá thấp làm tăng ma sát giữa ống vách
và bê tông
Biện pháp phòng ngừa, khắc phục:
Chọn phương pháp thi công và
thiết bị thi công đảm bảo năng lực thiết
bị đủ đáp ứng nhu cầu cho công nghệ
khoan cọc
Sau khi kết thúc việc làm lỗ và
trước lúc đổ bê tông phải thường xuyên
rung lắc ống, đồng thời phải thử nâng hạ
ống lên một chút (khoảng 15 cm) để
xem có rút được ống lên hay không
Trong lúc thử này không được đổ bê
tông vào
Khi sử dụng năng lực của bản thân
máy mà nhổ ống chống không lên được
thì có thể thay bằng kích dầu có năng lực
lớn để kích nhổ ống lên
Trước khi lắc ống lợi dụng van
chuyển thao tác, lúc lắc với một góc độ
nhỏ làm cho lực cản giảm đi, để cho nó
từ từ trở lại trạng thái bình thường rồi lại
nhổ lên, và phải đảm bảo hướng nhổ lên
của máy trùng với hướng nhổ lên của
ống Nếu ống bị nghiêng lệch thì phải
sửa đổi thế máy cho chuẩn
Nếu phát hiện ra lưỡi nhọn ống
vách bị mài mòn phải kịp thời dùng
+ Duy trì áp lực cột dung dịch không đủ
+ Mực nước ngầm có áp lực tương đối cao;
+ Trong tầng cuội sỏi có nước chảy hoặc không có nước, trong hố xuất hiện hiện tượng mất dung dịch
+ Tỷ trọng và nồng độ của dung dịch không đủ
+ Sử dụng dung dịch giữ thành không thoả đáng
+ Do tốc độ làm lỗ nhanh quá nên chưa kịp hình thành màng dung dịch ở trong lỗ
- Các nguyên nhân chủ yếu ở trạng thái động:
+ Ống vách bị biến dạng đột ngột hoặc hình dạng không phù hợp
+ Ống vách bị đóng cong vênh, khi điều chỉnh lại làm cho đất bị bung ra
+ Dùng gầu ngoạm kiểu búa, khi đào hoặc xúc mạnh cuội sỏi dưới đáy ống vách làm cho đất ở xung quanh bị bung ra
+ Khi trực tiếp để bàn quay lên trên ống giữ, do phản lực chấn động hoặc quay làm giảm lực dính giữa ống vách với tầng đất
+ Khi hạ cốt thép va vào thành hố phá vỡ màng dung dịch hoặc thành hố
+ Thời gian chờ đổ bê tông quá lâu (qui định thông thường không quá 24 h) làm cho dụng dịch giữ thành bị tách nước dẫn đến phần dung dịch phía trên không đạt yêu cầu về tỷ trọng nên sập vách
- Ngoài ra còn có một nguyên nhân khá quan trọng khác là áp dụng công nghệ khoan không phù hợp với tầng địa chất
Trang 36Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 33
+ Công tác quản lý dung dịch
chặt chẽ trong phương pháp thi công
phản tuần hoàn
+ Khi xuất hiện nước ngầm có áp,
tốt nhất là nên hạ ống vách qua tầng
nước ngầm Khi làm lỗ nếu gặp phải
tầng cuội sỏi mà làm cho rò rỉ mất nhiều
dung dịch thì phải dừng lại để xem xét
nên tiếp tục xử lý hay thay đổi phương
án Vì vậy công tác điều tra khảo sát địa
chất ban đầu rất quan trọng
+ Duy trì tốc độ khoan lỗ theo qui
định tránh tình trạng tốc độ làm lỗ nhanh
quá khiến màng dung dịch chưa kịp hình
thành trên thành lỗ nên dễ bị sụt lở
+ Cần phải thường xuyên kiểm
tra dung dịch trong quá trình chờ đổ bê
tông để có giải pháp xử lý kịp thời tránh
trường hợp dung dịch bị lắng đọng tách
nước làm sập vách
+ Khi làm lỗ bằng guồng xoắn, để
đề phòng đầu côn quay khi lên xuống làm sạt lở thành lỗ, phải thao tác với một tốc độ lên xuống thích hợp và phải điều chỉnh cho vừa phải thành ngoài của đầu côn quay với cạnh ngoài của dao cắt gọt cho có cự ly phù hợp
+ Khi thả khung cốt thép phải thực hiện cẩn thận tránh cho cốt thép va chạm mạnh vào thành lỗ Sau khi thả khung cốt thép xong phải thực hiện việc dọn đất cát bị sạt lở, thường dùng phương pháp trộn phun nước, sau đó dùng phương pháp không khí đẩy nước, bơm cát v.v để hút thứ bùn trộn đẩy lên, lúc này phải chú ý bơm nước áp lực không được quá mạnh tránh làm cho lỗ khoan bị phá hoại nhiều hơn
+ Khi làm lỗ bằng guồng xoắn, để
đề phòng đầu cuộn quay khi lên xuống làm sạt lở thành lỗ, phải thao tác với một tốc độ lên xuống thích hợp và phải điều chỉnh cho vừa phải thành ngoài của đầu cuộn quay với cạnh ngoài của dao cắt gọt cho đúng cự ly phù hợp
Hình 2 Sự cố phình thân cọc do sạt lở thành hố khoan
Trang 37Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 34
2.4 Sự cố trồi thép khi đổ bê tông
2.4.1 Trường hợp trồi cốt thép do ảnh
hưởng của quá trình rút ống vách
Nguyên nhân 1: Thành ống bị méo
Nguyên nhân 2: Cự ly giữa đường
kính ngoài của khung cốt thép với thành
trong của ống vách nhỏ quá, vì vậy sẽ bị
kẹp cốt liệu to vào giữa khi rút ống vách
cốt thép sẽ bị kéo lên theo
Cách phòng ngừa: Quản lý chặt chẽ
cốt liệu bê tông Cự ly giữa thành trong
ống vách và thành ngoài của cốt đai lớn
đảm bảo gấp 2 lần đường kính lớn nhất
của cốt liệu thô
Nguyên nhân 3: Do bản thân khung
cốt thép bị cong vênh, ống vách bị
nghiêng làm cho cốt thép đè chặt vào
thành ống
Cách phòng ngừa: Phải tăng cường
độ chính xác ở khâu gia công cốt thép,
đề phòng khi vận chuyển bị biến dạng và
kiểm tra độ thẳng đứng của ống vách
trước khi thả lồng cốt thép
Cách xử lý sự cố: Khi bắt đầu đổ
bê tông thấy phát hiện cốt thép bị trồi
lên thì phải lập tức dừng việc đổ bê tông
lại và kiên nhẫn rung ống vách, di động
lên xuống hoặc quay theo một chiều để
cắt đứt sự vướng giữa khung cốt thép và
ống vách Trong khi đang đổ bê tông,
hoặc khi rút ống lên mà đồng thời cốt
thép và bê tông cùng lên theo thì đây là
một sự cố rất nghiêm trọng: do thân cọc
với tầng đất không được liên kết chặt,
hoặc là xuất hiện khoảng hổng Cho nên
trường hợp này không được rút tiếp ống
lên trước khi gia cố tăng cường nền đất
đã bị lún xuống
2.4.2 Trường hợp cốt thép bị trồi lên do lực đẩy động của bê tông (Đây là nguyên nhân chính gây ra
sự cố trồi thép)
Lực đẩy động bê tông xuất hiện ở đáy lỗ khoan khi bê tông rơi từ miệng ống xuống (thế năng chuyển thành động năng) Chiều cao rơi bê tông càng lớn, tốc độ đổ bê tông càng nhanh thì lực đẩy động càng lớn Cốt thép sẽ không bị trồi nếu lực đẩy động nhỏ hơn trọng lượng lồng thép
Vì vậy có thể giảm thiểu sự trồi cốt thép nếu hạn chế tối đa chiều cao rơi bê tông và tốc độ đổ bê tông Chiều cao này
có thể khống chế căn cứ vào trọng lượng lồng thép
Mặt khác có thể coi bê tông rơi xuống đáy lỗ khoan là trên nền đàn hồi
vì vậy việc giảm thiểu tốc độ đổ bê tông sẽ làm giảm thiểu phản lực đẩy ở đáy lỗ khoan
2.5 Sự cố tụt cốt thép trong công nghệ khoan xoay vách
Nguyên nhân:
Khi xoay ống vách thì cốt thép chủ
bị xoay theo do tỳ vào ống vách qua các con kê và các cốt liệu lớn Nhất là khi toàn bộ khung cốt thép tỳ lên ống vách thông qua các con kê do không dùng hệ khung cốt thép treo tạm thời khi đổ bê tông thì ảnh hưởng dao động của cốt thép khi xoay ống vách càng lớn Khi
đó dưới tác động của việc xoay ống vách và trọng lượng của khung cốt thép thì toàn bộ khung cốt thép phần trên sẽ
bị tụt xuống
Biện pháp xử lý và phòng ngừa:
Khung cốt thép dùng mối nối buộc phải buộc thật chắc chắn và cẩn thận các mối nối giữa cốt thép chủ với cốt chủ, giữa cốt chủ với cốt đai và các cốt thép với nhau
Trang 38Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 35
Để hạn chế ảnh hưởng tác động của
ống vách khi xoay vách tốt nhất là nên
dùng các cốt thép tạm nối với cốt chủ
nhô lên khỏi ống vách và treo toàn bộ
lồng cốt thép trong lúc đổ bê tông Cách
này sẽ hạn chế tối đa lực tỳ của lồng
thép lên ống vách Nếu việc treo này
vướng cho công tác đổ bê tông thì có thể
không treo nhưng phải thường xuyên
theo dõi cao độ cốt thép phụ tạm hoặc
khi xoay ống vách phải treo lên
2.6 Hư hỏng về bê tông cọc
Hư hỏng do ống đoạn khoan
tạo lỗ:
Kỹ thuật, thiết bị khoan hoặc loại
cọc ấn định kém thích hợp với đất nền
Sự mất dung dịch khoan bất ngờ (khi
gặp hang Caster) hoặc sự trồi lên đột
ngột của đất bị sụt lở vào lỗ khoan
Sự quản lý kém khi khoan tạo lỗ do
sử dụng loại dung dịch có thành phần
không thích hợp với đất nền
Sự nghiêng lệch bấp bênh hoặc hệ
thống khoan tạo lỗ của máy khi gặp đá
mồ côi hoặc lớp đá nghiêng
Làm sạch lỗ khoan không đầy đủ,
đáy lỗ khoan có một lớp cặn dày ít nhiều
sinh ra một sự tiếp xúc không tốt tại mũi
cọc và làm nhiễm bẩn bê tông
Do công đoạn đổ bê tông cọc
Th iết b ị đ ổ b ê tô n g khôn g
th ích h ợp
Sai sót trong việc nối ống đổ bê
tông, dứt đoạn đổ bê tông, do sự rút ống
dẫn bê tông quá nhanh
Hàm lượng cốt liệu không đều dẫn đến lượng bê tông chiếm chỗ ban đầu không đủ do đổ nhanh (chẳng hạn giữa ống dẫn và đai bọc)
Sử dụng bê tông có thành phần không thích hợp, không đủ tính dẻo và
dễ phân tầng
Sự lưu thông mạch nước ngầm làm trôi cục bộ bê tông tươi
Sự xắp xếp lại nền đất làm suy giảm ma sát thành bên hoặc khả năng chịu lực của mũi cọc
Thời hạn giãn cách kéo dài giữa khâu khoan tạo lỗ và đổ bê tông cọc gây ra sự sụt lở đất ở vách lỗ khoan và lắng đọng chất cặn ở đáy lỗ khoan, đó
là sự cố thông thường xảy ra ở công trường thi công một số lượng lớn cọc khoan nhồi
2.7 Sự cố gặp hang Caster khi khoan
Dấu hiệu thường thấy khi mũi khoan gặp hang Caster là độ lún cần khoan tăng đột ngột, cao độ dung dịch trong lỗ khoan có thể bị tụt xuống khi gặp hang rỗng hoặc dâng lên khi trong hang có nước có áp hoặc bùn nhão
Việc gặp hang Caster có nhiều bùn nhão ở nhiều công trình, khiến phải xử
lý mất rất nhiều thời gian, trong đó việc
sử dụng ống vách phụ qua hang Caster cũng là một giải pháp đang được áp dụng khá hiệu quả Trong trường hợp phát hiện trước có hang Caster thì sử dụng thiết bị khoan xoay ống vách là phương pháp hiệu quả nhất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Văn Quảng 2006 Nền móng nhà cao tầng, NXB Khoa học và Kỹ thuật [2] Tô Văn Lận Bài giảng chuyên đề xử lý nền đất yếu, ĐH Kiến trúc TP Hồ
Chí Minh
[3] Phạm Ngọc Tân Bài giảng lớp giám sát chuyên đề Nền Móng, ĐH Xây dựng
Miền Trung
Trang 39Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 36
THI CÔNG CỌC KHOAN NHỒI ĐƯỜNG KÍNH NHỎ
ThS Ngô Ngọc Cường
Phó Trưởng Khoa Xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Trong các năm gần đây ở các thành phố lớn xu hướng các nhà dân xây
dựng nhiều tầng ở khu nền đất có khả năng chịu tải nhỏ hoặc xây chen trong khu
dân cư có sẵn thường sử dụng giải pháp nền móng là Cọc khoan nhồi tiết diện
nhỏ hay cọc khoan nhồi mini bê tông cốt thép Thường cọc khoan nhồi bê tông
cốt thép mini có đường kính từ 300 - 600mm, chịu tải trọng lớn, thường từ 30 -
160 tấn trên một đầu cọc Trên thực tế cọc khoan nhồi mini bê tông cốt thép sử
dụng tốt nhất đối với những nhà nhiều tầng (3 - 10 tầng) Cọc khoan nhồi mini bê
tông cốt thép ổn định hơn cọc ép bê tông cốt thép Giá thành thì lại chỉ ngang
bằng hoặc rẻ hơn cọc ép bê tông cốt thép, công nghệ thi công không quá phức
tạp Chính giá thành và chất lượng của cọc khoan nhồi mini bê tông cốt thép đã
đem lại sự lựa chọn đúng đắn cho người sử dụng
Từ khóa: Cọc nhồi tiết diện nhỏ, thi công cọc nhồi.
1 Đặc điểm cọc khoan nhồi tiết
diện nhỏ
1.1.Ưu điểm
Căn cứ vào tài liệu khảo sát địa
chất, người thiết kế có thể xác định được
chiều sâu cọc sao cho sức chịu tải của
đất nền tương đương với sức chịu tải do
vật liệu làm cọc Khả năng chịu tải trên
mỗi đầu cọc cao nên số lượng cọc trong
móng giảm Vì vậy giá thành sẽ rẻ hơn
các loại móng cọc bằng bê tông cốt thép
khác Thêm vào đó, phần đài cọc nhỏ
gọn nên tránh hiện tượng đài consol (đài
cọc chịu tải trọng lệch tâm)
Thiết bị thi công nhỏ gọn nên có
thể thi công trong điều kiện xây dựng
chật hẹp Không gây bất kỳ ảnh hưởng
nào đối với phần nền móng và kết cấu
của các công trình kế cận
Độ an toàn trong thiết kế và thi
công cao Bê tông đổ liên tục từ đáy hố
khoan lên trên nên tránh được tình trạng
chắp nối giữa các cọc Nhờ thanh dẫn
hướng, độ nghiêng lệch của cọc đảm bảo
nằm trong giới hạn cho phép
Không có khớp nối như cọc ép, cọc đóng, đảm bảo truyền tải trọng đúng tâm, thi công nhanh
Có thể khoan xuyên tầng đất cứng Khi gặp chướng ngại vật hoặc tầng đất tốt giả định có thể khoan phá để xuống sâu hơn đến tầng đất chịu lực Xác định được địa tầng mà cọc xuyên qua, từ đó xác định chính xác chiều sâu cọc để đảm bảo an toàn Xác định được độ ngậm của cọc trong các tầng đất tốt Cọc khoan nhồi mini có thể khoan tới lớp đất chịu lực tốt xen kẹp bên trên lớp đất xấu mà không thể đóng hoặc ép cọc
bê tông cốt thép thông thường Cọc khoan nhồi không có mối nối nên giải quyết được vấn đề lệch tim cọc so với cọc ép hoặc đóng
Chiều sâu khoan cọc có thể tới 40m, do đó điều kiện chống lật được loại
bỏ Chiều sâu khoan cọc đảm bảo do đó đài móng cũng giảm về kích thước Không phải đào bỏ đi phần nền móng công trình cũ mà vẫn triển khai thi công được móng cọc khoan nhồi Khối lượng
Trang 40Thông báo Khoa học và Công nghệ * Số 1-2014 37
đào đắp đất ít, không ảnh hưởng đến nhà
bên cạnh
Đường kính cọc tăng giảm và tùy
theo sức chịu tải tính toán: 300, 400,
500, 600,
Với công trình cần tải trọng lớn
hơn có thể thiết kế mở rộng đáy cọc
1.2 Nhược điểm
Khó kiểm tra chính xác chất lượng
bê tông nhồi vào cọc sau khi thi công, do
đó đòi hỏi sự lành nghề của đội ngũ
công nhân và việc giám sát chặt chẽ
nhằm tuân thủ các quy trình thi công
Môi trường thi công sình lầy, dơ
bẩn Chiều sâu thi công bị hạn chế trong
giới hạn từ 120-150 lần đường kính cọc
2 Quy trình thi công cọc khoan
nhồi tiết diện nhỏ (300; 400;
500mm)
Để đảm bảo chất lượng cọc khoan
nhồi, trong quá trình thi công phải đảm
bảo thực hiện đầy đủ và đúng kỹ thuật
những bước sau:
2.1 Định vị tim cọc
Căn cứ vào bản vẽ thiết kế để triển
khai, do đặc điểm hiện trường thi công
cọc nhồi rất sình lầy (vì phôi khoan và
dung dịch trộn lẫn) rất dễ làm mất dấu
định vị của các cọc, hoặc thiết bị khoan
di chuyển sẽ làm lệch, phá dấu định vị
Do vậy cách làm tiện ích nhất như
sau: Chọn hai trục trên bản vẽ vuông góc
tạo thành hệ tọa độ khống chế, 4 mốc
của hệ trục này được gửi lên chỗ an toàn
nhất (có thể ở bên ngoài khu vực xây
dựng) Từ hệ tọa độ này sẽ triển khai xác
định các vị trí tim cọc Trước khi tiến
hành khoan tại vị trí mỗi tim cọc phải
kiểm tra lại một lần nữa
Sai số định vị tim cọc sau khi thi
công không được lệch quá 1/3 đường
Kiểm tra độ thẳng đứng của tháp bằng 2 bọt thủy chuẩn được gắn ở hai bên thân tháp khoan (trong quá trình khoan cũng vẫn liên tục phải theo dõi hai bọt thủy này) Sau khi cân chỉnh máy xong dùng mũi khoan phá khoan một đoạn sâu bằng chiều dài ống vách (ống vách có chiều dài thường là 2-6m) để chống sạt lở và mất nước trong khi khoan
Trong quá trình khoan tạo lỗ, dung dịch khoan sẽ đi tuần hoàn từ đáy giếng khoan rồi trồi lên hố lắng và mang theo một phần mùn khoan nhỏ lên cùng Nếu trong quá trình khoan gặp địa tầng thấm lớn, dung dịch khoan sẽ bị thấm nhanh, phải nhanh chóng điều chỉnh tỉ trọng của dung dịch bằng cách hòa thêm vào một lượng bột sét hoặc bentonite tương thích Ngoài nhiệm vụ vận chuyển mùn khoan lên hố lắng, dung dịch còn có nhiệm vụ giữ cân bằng thủy tĩnh nhằm
ổn định thành hố khoan Do đó, trong mọi trường hợp ngừng thi công do thời tiết hay phải ngừng qua đêm, người kỹ thuật phải xác định chắc chắn rằng hố khoan đầy dung dịch và không bị thấm
đi trong thời gian ngừng thi công
Trong khi khoan cần kiểm tra lượng bentonite phù hợp Đối với cọc đường kính từ 500mm trở lên thì phải kiểm tra các chỉ tiêu tính năng của dung