Quan niệm của Platôn về tiến bộ xã hội thể hiện thông qua các đối thoại của ông về chính trị, pháp luật, đạo đức…Theo Platôn, xã hội loài người luôn vận động theo chiều hư[r]
Trang 3Mục Lục
Vol 8 N01.2019 – Bản tin Khoa học và Công Nghệ
TIN TỨC VÀ SỰ KIỆN
bền vững, ngăn ngừa giảm thiểu thiên
tai, kỹ thuật và đào tạo tại Gifu Nhật
Bản”
18 Khảo sát, đánh giá kiến trúc nhà ở nông thôn vùng ven biển Phú Yên
ThS.KTS Đặng Duy Linh
1 Tổ chức chương trình Con đường sắc
màu lần III năm 2019
hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam
ThS Trần Vũ Thùy Nga
2 Tổ chức cho viên chức, lao động nữ
tham quan tại Đà Nẵng chào mừng
ngày Quốc tế phụ nữ 8/3
35 Quy trình thiết kế bảng câu hỏi khảo sát định lượng trong thống kê và nghiên cứu khoa học
ThS Lê Đức Tâm
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
45 Giáo dục truyền thống hiếu học cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam hiện nay
ThS Lê Văn Khôi
TS Phạm Ngọc Tiến
về tiến bộ xã hội
ThS Nguyễn Tấn Dũng
Trang 41
MUCE tham gia hội thảo “Môi trường
bền vững, ngăn ngừa giảm thiểu thiên tai,
kỹ thuật và đào tạo tại Gifu Nhật Bản”
Để tăng cường mở rộng quan hệ hợp
tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học cũng
như trong học tập kinh nghiệm thực tế từ
những thành công của Nhật Bản, Đoàn
trường Đại học Xây dựng Miền Trung
(MUCE) đã tham gia hội thảo quốc tế của
Viện Khoa học Công nghệ Quốc gia Nhật
Bản (National Institue of Technology, Gifu
College) Tham gia hội thảo đoàn MUCE
đóng góp 2 báo cáo khoa học và 2 poster
Trong đó, PGS.TS Nguyễn Vũ Phương với
“Sự giao thoa kiến trúc Việt - Pháp trong
khu phố cổ Hà Nội”, TS Nguyễn Kim
Cường “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hệ
thống hạ tầng giao thông”, 1 poster về
“Phương pháp xác định tổng hao phí hằng
năm của các dự án quản lý chất thải rắn đô
thị ở Việt Nam” và 1 poster về “Phát triển và
ứng dụng bảng Arduino vi điều khiển Nano
để theo dõi tình trạng của kết cấu”
Tham dự hội nghị còn có 8 trường đại
học khác trên thế giới đến để chia sẻ những
thông tin nghiên cứu hữu ích để cùng học
hỏi lẫn nhau, kết nối và thắt chặt cộng đồng
quốc tế, hướng đến xóa dần khoảng cách
ngôn ngữ và trình độ nghiên cứu
Ban tổ chức cũng đưa đoàn đi tham
quan doanh nghiệp thực tế sản xuất linh
kiện lắp ráp ô tô, thăm lại khu vực xảy ra
động đất lịch sử nước Nhật, nơi đới đứt gãy
đã chia cắt đoạn đường vênh nhau đến 6m, tham quan Viện bảo tàng Hàng không và Vũ trụ Nhật Bản
PGS.TS.KTS Nguyễn Vũ Phương trình bày tại
tổ chức chương trình “Con đường sắc màu” lần III năm 2019 với chủ đề “Trở về tuổi thơ” cho đoàn viên thanh niên, sinh viên đang học tập tại trường
TIN TỨC VÀ SỰ KIỆN
Trang 52
Chương trình “Con đường sắc màu”
được tổ chức thường niên nhằm tạo ra sân
chơi bổ ích để sinh viên thể hiện tính năng
động, nhiệt huyết và sáng tạo của tuổi trẻ
Ngoài ra, đây cũng là cơ hội để giao lưu, học
hỏi, thắt chặt tình đoàn kết gắn bó giữa sinh
viên trong toàn trường
Một số hình ảnh tiêu biểu trong
chương trình
Tổ chức cho viên chức, lao động nữ
tham quan tại Đà Nẵng chào mừng ngày
Quốc tế phụ nữ 8/3
Nhân dịp ngày 08/3/2019, trong không
khí phấn khởi và tự hào của phụ nữ trên
toàn thế giới, MUCE đã tổ chức chuyến
tham quan đầy ý nghĩa cho đội ngũ viên
chức, lao động nữ tại thành phố Đà Nẵng,
nơi có Phân hiệu MUCE
Nhằm tôn vinh những giá trị cao đẹp,
sự cống hiến thầm lặng của phái đẹp, chuyến tham quan như một món quà đặc biệt, ý nghĩa cùng hành trình thú vị đã mang lại cho các chị em phụ nữ MUCE tại Tuy Hòa và Phân hiệu MUCE tại Đà Nẵng
cơ hội kết nối tình cảm và tình đoàn kết; từ
đó nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác quản lý cũng như chuyên môn
Một số hình ảnh tại các địa điểm tham quan nổi tiếng và ý nghĩa mà đoàn dừng chân: Khu du lịch Sa Huỳnh, Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng (Mẹ Thứ), Phố cổ Hội
An, Thành phố Đà Nẵng, Phân hiệu MUCE
Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà, Chùa Linh Ứng,
Bà Nà Hill, danh thắng Ngũ Hành Sơn,…
Một số hình ảnh chuyến tham quan
Trang 63
PHÂN LOẠI CÁC LOẠI CHẬM TRỄ TRONG
THI CÔNG XÂY DỰNG ThS Phạm Duy Hiếu
Khoa Xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt
Trong thi công xây dựng có rất nhiều sự chậm trễ có thể xảy ra gây ảnh hưởng đến thời gian thực hiện công trình Mỗi loại chậm trễ này được gây ra bởi nhiều bên tham gia xây dựng công trình nên việc xác định nguyên nhân và trách nhiệm của ai là vô cùng cần thiết Bài viết trình bày cách phân loại các loại chậm trễ và đưa ra một số tình huống thực tế để làm rõ hơn trách nhiệm của các bên liên quan
Từ khóa: chậm trễ, tiến độ, thi công xây dựng
1 Chậm trễ là gì?
Có nhiều định nghĩa về sự chậm trễ:
làm một việc gì đó diễn ra trễ hơn mong đợi,
là nguyên nhân khiến cho việc gì đó được
thực hiện chậm hơn kế hoạch, hoặc không
đúng thời gian Mỗi định nghĩa này có thể
dùng mô tả một sự chậm trễ của một công
tác trong một tiến độ Trong các dự án xây
dựng cũng như trong các dự án khác, tiến độ
thường được dùng để hoạch định công việc,
sự chậm trễ không phải hiếm khi xảy ra Sự
chậm trễ được xác định khi một dự án hoặc
một số mốc thời gian bị hoàn thành trễ
Trước khi thảo luận về cách phân tích chậm
trễ, ta cần hiểu rõ hơn về một số dạng chung
của sự chậm trễ Có 4 cách cơ bản để phân
loại:
- Có tác động đến thời gian kết thúc
dự án không
- Có thể cho qua được không
- Có được bồi thường hay không
- Có diễn ra đồng thời hay không Trong quá trình xác định tác động của
sự chậm trễ tới dự án, việc phân tích phải xác định liệu sự chậm trễ có cấp bách hay không Việc phân tích phải đánh giá các chậm trễ đồng thời xảy ra, xem thử có chấp nhận được không, có được bồi thường hay không Bài này sẽ trình bày định nghĩa của các loại chậm trễ này Hình 1 trình bày sơ
bộ cấu trúc các loại chậm trễ thường gặp và một số nguyên nhân của chậm trễ đó
2 Chậm trễ găng và không găng
Trong một số phân tích sự chậm trễ đến một dự án, điều quan tâm hàng đầu là
nó có tác động đến toàn bộ tiến độ của dự án (thời điểm kết thúc dự án hay các mốc thời gian lớn) hay không Tuy nhiên, nhiều chậm trễ diễn ra nhưng không làm trễ thời gian kết thúc dự án Những sự chậm trễ mà tác động đến thời gian hoàn thành dự án được gọi là chậm trễ găng, ngược lại là chậm
Trang 74
trễ không găng Khái niệm “găng” được lấy
từ phương pháp đường găng CPM (Critical
Path Method) Khi một công tác găng bị
chậm trễ thì thời gian hoàn thành dự án sẽ
bị ảnh hưởng Các công tác găng năm trên
đường găng, một dự án có thể có nhiều
đường găng, việc xác định đường găng trong
Hình 1: Cấu trúc các loại chậm trễ thường gặp và một số nguyên nhân của chậm trễ đó
không dự đoán trước được, nằm ngoài khả
năng kiểm soát của các nhà thầu thì công
Thông thường, dựa vào những điều khoản
chung trong tiêu chuẩn đã ban hành, các sự
việc sau đây có thể xem xét bỏ qua:
- Đình công
- Hỏa hoạn
- Lũ lụt
- Thiên tai
- Các thay đổi trực tiếp từ chủ đầu tư
- Lỗi hoặc các thiếu sót trong kế hoạch hoặc tiêu chuẩn
- Khác biệt về điều kiện công trường thực tế với kế hoạch
- Bất lợi về thời tiết
Trang 85
- Sự can thiệp của các cơ quan bên ngoài
- Sự thiếu sót trong phê duyệt, thẩm
tra của cơ quan nhà nước
Trước khi tiến hành phân tích các
chậm trễ, người phân tích cần xem xét kỹ
lưỡng các quy định trong hợp đồng Mọi
quyết định về chậm trễ đều phải dựa trên
từng hợp đồng cụ thể Trong hợp đồng cần
quy định rõ những nguyên nhân nào dẫn
đến sự chậm trễ là không vi phạm Ví dụ
như một số hợp đồng không cho phép thời
gian thực hiện dự án kéo dài bởi lý do điều
kiện thời tiết, bất kể vấn đề nghiêm trọng
như thế nào
3.2 Chậm trễ không thể bỏ qua
Những sự chậm trễ không thể bỏ qua
là các sự kiện nằm trong sự kiểm soát của
nhà thầu hoặc có thể dự đoán được Một số
loại thường gặp như:
- Việc chậm trễ trong thi công của các
thầu phụ
- Cung ứng vật tư không kịp thời
- Lỗi của công nhân của nhà thầu
- Đình công vì nhà thầu không chịu
gặp các đại diện của người lao động hay
phân chia lao động không đồng đều
Tương tự như trên, khi phân tích các
chậm trễ ta cũng phải xem xét kỹ các tài liệu
của dự án để xác định cái nào có thể bỏ qua
Ví dụ như một số hợp đồng có thể bỏ qua
việc cung ứng trễ vật tư trong trường hợp
nhà thầu chứng minh được rằng mình đã đề
xuất, nhắc nhở đúng thời gian quy định
nhưng vật tư không được chuyển đến đúng
hẹn do hoàn cảnh nào đó nằm ngoài khả
năng của nhà thầu Tuy nhiên một số hợp đồng khác lại không chấp nhận điều này
4 Chậm trễ được bồi thường và không được bồi thường
Một chậm trễ được bồi thường là khi nhà thầu được phép kéo dài thời gian thực hiện dự án và được bồi thường một khoản tiền liên quan đến việc kéo dài này Chỉ những sự chậm trễ có thể bỏ qua mới được bồi thường
Còn chậm trễ không được bồi thường cũng là những chậm trễ có thể bỏ qua được, nhưng nhà thầu không được trả thêm tiền vì
sự chậm trễ này
Một sự chậm trễ có được bồi thường hay không phụ thuộc vào các điều khoản trong hợp đồng Trong hầu hết các trường hợp, một hợp đồng sẽ ghi chú cụ thể những chậm trễ nào không được bồi thường Khi
đó nhà thầu sẽ không được trả thêm tiền nhưng họ có thể được phép kéo dài thời gian thi công
Các hợp đồng theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước thường định nghĩa việc đình công, lũ lụt, hỏa hoạn, thiên tai và những điều kiện thời tiết bất lợi là những chậm trễ
có thể bỏ qua nhưng không được bồi thường Một số trường hợp được bồi thường
là sự khác biệt về điều kiện công trường, thay đổi từ chủ đầu tư, thay đổi về kết cấu… dẫn đến sự chậm trễ
Một số hợp đồng còn nhiều hạn chế trong việc định nghĩa các sự chậm trễ Không hiếm các trường hợp là do ngôn ngữ diễn giải liên quan đến sự chậm trễ Các
Trang 9cần có sự tư vấn của các đơn vị nắm rõ về
luật cũng như về xây dựng để điều chỉnh
cho phù hợp
5 Chậm trễ diễn ra đồng thời
Khái niệm chậm trễ diễn ra đồng thời
trở nên rất phổ biến, như là một phần của
việc phân tích chậm trễ trong xây dựng
Những cuộc tranh luận về nó không chỉ từ
quan điểm để xác định các chậm trễ trên
đường găng của dự án mà còn từ quan điểm
ai chịu trách nhiệm về những thiệt hại liên
quan đến sự chậm trễ này Chủ đầu tư
thường lấy những chậm trễ đồng thời diễn
ra này đẩy cho nhà thầu, xem đó như là lý
do kéo dài thời gian thực hiện dự án để
không phải bồi thường thêm chi phí Còn
nhà thầu lại đẩy cho chủ đầu tư, yêu cầu
đánh giá và bồi thường thiệt hại Do đó, các
hợp đồng phải cung cấp đầy đủ các định
nghĩa về “các chậm trễ đồng thời xảy ra”, và
trách nhiệm của nhà thầu trong từng trường
hợp cụ thể là như thế nào
Một cách đơn giản có thể hiểu các
chậm trễ diễn ra đồng thời là các chậm trễ
riêng biệt của các công tác trên đường găng
dự án nhưng xảy ra vào cùng một thời điểm
Khi đó, cần phân tích nguyên nhân và dựa
vào từng trường hợp cụ thể để đưa ra kết
luận hợp lý, chính xác Ta xem xét hai
trường hợp: chậm trễ đồng thời trên các
đường găng khác nhau và chậm trễ đồng
thời trên cùng một đường găng thông qua một số tình huống ví dụ cụ thể
5.1 Chậm trễ đồng thời trên các đường găng khác nhau
Tình huống đầu tiên là sự chậm trễ đồng thời diễn ra trên các đường găng khác nhau Ví dụ, nhóm công tác triển khai các bản
vẽ chi tiết và nhóm công tác đào đất công trình là hai đường găng khác nhau Cả hai đều
là các công tác đứng trước của công tác thi công móng và kết thúc cùng lúc với nhau, khi
đó, thời điểm bắt đầu của công tác thi công móng phụ thuộc bởi cả hai công tác này Nếu công tác đào đất bị trễ 30 ngày, ví dụ từ ngày 1/6 đến ngày 1/7 sẽ kéo việc chuẩn bị thiết bị
và triển khai các bản vẽ chi tiết thi công ván khuôn cũng bị trễ 30 ngày Do phải thiết kế lại nên dự án bị chậm trễ đồng thời bởi hai công tác đào đất và triển khai bản vẽ
Trường hợp này thì chậm trễ của công tác đào đất là chậm trễ không thể bỏ qua (công tác do nhà thầu thực hiện), còn chậm trễ của công tác triển khai bản vẽ chi tiết là chậm trễ có thể bỏ qua (do đơn vị thiết kế - chủ đầu tư thực hiện) Hầu hết các hợp đồng đều không xác định cụ thể loại chậm trễ nào được ưu tiên xét trước nếu có nhiều loại Một trong những cách giải quyết trường hợp này là kết luận 15 bị trễ do công tác đào đất và 15 bị trễ do công tác triển khai bản vẽ chi tiết Nhà thầu được phép kéo dài thời gian thực hiện nhưng không được bồi thường
Tình huống thứ hai là có nhiều chậm trễ cùng diễn ra nhưng có một trong số đó
Trang 107
kết thúc trước những cái còn lại Quay trở
lại ví dụ trước, giả sử công tác triển khai
bản vẽ chỉ kết thúc trễ 15 ngày, từ ngày
1/6 đến ngày 16/6, còn công tác đào đất
vẫn trễ 30 ngày Thì lúc này công trình chỉ
có 15 ngày trễ và nguyên nhân là do công
tác đào đất Nhà thầu dĩ nhiên sẽ phải chịu
trách nhiệm cho 15 ngày bị trễ và không
được bồi thường
Tình huống thứ ba là khi tiến độ có
hai hoặc nhiều đường găng và sự chậm trễ
trên một đường bắt đầu trước sự chậm trễ
trên các đường khác Xem xét lại ví dụ
trước: giả sử công tác đào đất không tiến
hành được từ ngày 1/6 đến 1/7 vì đình công
Công tác triển khai bản vẽ bị gián đoạn vì
thay đổi thiết kế từ ngày 10/6 đến 25/6
Trong trường hợp này, sự chậm trễ của nhà
thầu trong công tác đào đất diễn ra trước sự
chậm trễ của chủ đầu tư ở công tác triển
khai bản vẽ Mặt khác, công tác đào đất diễn
ra trễ thì công tác triển khai bản vẽ sẽ có
thêm thời gian để thực hiện, vì vậy nó
không còn là đường găng như ban đầu nữa
Nhà thầu phải chịu trách nhiệm cho 30
ngày chậm trễ và không được bồi thường
Trong tình huống này, sự chậm trễ của một
đường găng dẫn đến việc tạo ra các thời gian
dự trữ cho các đường khác, nhà thầu và chủ
đầu tư có thể sử dụng dự trữ này
Để hiểu rõ hơn điều này, ta cùng xem
xét một ví dụ sau Giả sử có hai đường găng
A và B, mỗi đường thực hiện trong 40 ngày
Theo kế hoạch thì cả hai đường bắt đầu
cùng lúc (Hình 2)
Hình 2
Cả hai đường bắt đầu được 2 ngày thì đường B ngừng thực hiện vì có sai sót trong thiết kế, đường A vẫn tiến hành theo kế hoạch Nhìn vào hai đường vào cuối ngày 5,
ta thấy như hình 3 Đường A theo kế hoạch còn lại 35 ngày, dự kiến kết thúc vào ngày
40, còn đường B còn lại 38 ngày, dự kiến kêt thúc vào ngày 43 Như vậy, đường B là đường dài nhất trong ví dụ này, do đó chỉ có
nó là đường găng duy nhất Hai đường găng ban đầu được chuyển thành duy nhất một đường găng là B
Hình 3 Xét trường hợp xa hơn, vào ngày thứ 20, giả sử tiến trình thực hiện của hai đường như hình 4 Đường A tiếp tục làm tới ngày 20, đường B sau khi nghỉ 10 ngày (từ ngày 3 đến ngày 12) thì bắt đầu làm lại tới ngày 20 Như vậy, theo kế hoạch, đường A dự kiến vẫn hoàn thành vào ngày 40, đường B dự kiến hoàn thành vào ngày 50 Giữa hai lần phân tích vào ngày thứ 5 và ngày thứ 20 ta thấy chỉ
Trang 118
còn một đường găng là B, đường A kể từ ngày
thứ 3 bắt đầu có thời gian dự trữ, và hiện tại
vào ngày 20, đường A có 10 ngày dự trữ
Hình 4
Di chuyển tới ngày 50, đường B tiếp tục
thực hiện và kết thúc như dự kiến vào ngày
50 Còn đường A thì bị gián đoạn 10 ngày từ
ngày 31 đến ngày 40 và kết thúc vào ngày 50
như đường B (Hình 5) Như phân tích trước
đó, đường A có 10 ngày dự trữ nên cho dù bị
trễ 10 ngày thì cũng không ảnh hưởng đến
thời gian thực hiện cuối cùng của công trình
Đường A chỉ là đường găng vào ngày 1, ngày
2; nhận được dự trữ từ ngày 3 đến ngày 41
Cả hai đường A và B tiếp tục cùng là đường
găng từ ngày 41 đến 50
Nếu tiến hành phân tích chậm trễ sơ
sài, chỉ dựa vào thời điểm bắt đầu và kết
thúc của hai đường, có thể sẽ có kết luận
rằng cả hai đường cùng gây ra chậm trễ 10 ngày cho công trình, đáng lẽ kết thúc vào ngày 40 nhưng lại kết thúc vào ngày 50 Tuy nhiên, nếu phân tích sâu hơn ta thấy rõ ràng như vậy là không đúng Đường A hoàn toàn không gây ra chậm trễ nào, 10 ngày chậm trễ đều là do đường B gây ra Vì vậy, khi phân tích các chậm trễ diễn ra trong cùng một khung thời gian, để có quyết định đúng đắn cần tiến hành phân tích từng ngày một
5.2 Chậm trễ đồng thời diễn ra trên cùng một đường găng
Chậm trễ diễn ra trên một đường găng
có thế do nhiều nguyên nhân khác nhau Tùy vào thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc của các chậm trễ, cũng như những quy định trong hợp đồng ký kết giữa hai bên mà
sẽ có cách giải quyết cụ thể
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trauner, T., (2009), Construction Delays, Elsevier Inc
2 Bramble, B., and Leary, C (1988) ‘‘Project delay: Schedule analysis models and techniques.’’
1988 Annu Seminar/Symp Proc (San Francisco), 63–69 Project Management Institute, Newton Square Pa
3 Kutil, P., and Ness, A (1997) ‘‘Concurrent delay: The contractor’s burden to unravel
Projects American Bar Association, Chicago
Trang 12Trong các bài toán kỹ thuật, ví dụ các bài toán của lý thuyết đàn hồi, để tìm các đại lượng
trường như chuyển vị, biến dạng, ứng suất chúng ta cần phải giải các phương trình vi phân chủ
đạo Tuy nhiên, hình thức biểu diễn các phương trình chủ đạo này không phải là duy nhất
Thực tế, nhiều bài toán chúng ta có thể đưa về việc tìm cực tiểu tích phân của các phiếm hàm (hàm của các hàm) Thủ tục toán học để xây dựng các phương trình chủ đạo theo hướng này gọi
là tính toán biến phân Tài liệu này sẽ trình bày các kiến thức cơ bản về phiếm hàm, tính toán
biến phân cấp một của phiếm hàm và một số ứng dụng để xây dựng các phương trình chủ đạo cho các bài toán của lý thuyết đàn hồi
Từ khóa:phiếm hàm, biến phân cấp một, lý thuyết đàn hồi
1 Giới thiệu chung
Bất kỳ một đại lượng khi mà đại lượng
này nhận một giá trị cụ thể tương ứng với
một vài hoặc nhiều hàm thì được gọi là
là những phiếm hàm
Một số phiếm hàm được cho dưới dạng
biểu thức của các tích phân:
b a
- Trường hợp có sự biến đổi tại các cận tích
Trong những biểu thức bên trên “I” đại diện cho một phiếm hàm và “F” là một hàm dưới dấu tích phân của các biến độc lập như x, y,… và các biến phụ thuộc như u, v,
u1, v1, u’1, u’1,…
Tính toán biến phân (Calculus of Variation) liên quan đến việc tìm cực tiểu hoặc cực đại của một phiếm hàm Nhiều
Trang 1310
phương pháp tính toán biến phân đã được
phát triển cách đây hơn 200 năm (Euler
(1701-1783), Lagrange (1736-1813),…) [3]
Ngày nay, công cụ này vẫn tiếp tục được
phát triển và xem là kỹ thuật quan trọng đối
với nhiều nhánh của kỹ thuật và vật lý
2 Biến phân cấp một của phiếm hàm
( ) ( )
a b
Bây giờ chúng ta cần tìm trong số tất
cả các hàm u(x) thỏa mãn những điều kiện
đã cho sao cho tồn tại một hàm để phiếm hàm I trong (2.1) đạt cực trị
Hình 2.1: Minh họa các giá trị của hàm u(x) Gọi ( ) x là một hàm tùy ý, liên tục C2
và thỏa mãn các điều kiện biên:
( ) a ( ) 0 b
Khi đó, bất kỳ một hằng số đủ bé
để sao cho hàm u x ( ) ( ) x vẫn thỏa mãn
điều kiện biên (2.2) và vì vậy được thừa
phiếm hàm I đạt cực trị, khi đó J ( ) đạt giá
trị cực trị của phiếm hàm I tương ứng với
dưới dạng:
Trang 14dx u
( , , ') ( , , ') '
u u
cho mọi hàm ( ) x , hàm mà thỏa mãn các
điều kiện: ( ) 0 x tại x = a và x = b, liên
tục (kể cả các đạo hàm có bậc cần thiết), khi đó: ( ) 0 x
Trang 1512
Bây giờ, dựa trên bổ đề này, biểu thức
(2.7) dẫn tới phương trình được gọi là
‘‘phương trình Euler-Lagrange’’ hoặc đơn
giản gọi là ‘‘phương trình Euler’’
- Với hàm u x ( )cho trước, chúng ta
định nghĩa lượng biến đổi của u x ( )như là
sự thay đổi của ( ) x và được ký hiệu bởi:
- Tương ứng với sự thay đổi của u,
phiếm hàm, ví dụ F x u u ( , , ') thay đổi một
lượng F
( , , ' ') ( , , ')
Bây giờ, chúng ta tiến hành khai triển
Taylor F x u ( , , ' u ') trong lân cân
của F x u u ( , , ') theo bậc của và ':
phân cấp 1 của phiếm hàm F là những thành
phần đầu tiên của chuỗi trong khai triển Taylor, ký hiệu là F:
(Bỏ qua lượng vô cùng bé F F2 2)
(d) Tính giao hoán của các toán tử vi phân
Trang 16Vì toán tử không liên quan đến biến
x trong biểu thức tính tích phân nên toán tử
có thể đưa vào trong của dấu tích phân
3 Một số ứng dụng của biến phân
trong kỹ thuật
3.1 Bài toán dầm đàn hồi chịu uốn
3.1.1 Dầm đơn giản, chịu tác dụng của
mômen tập trung ở hai đầu
Xét một dầm đơn giản, chịu tác dụng
của mômen tập trung M0 tại hai đầu dầm
như hình 3.1 [4]
Hình 3.1: Dầm đàn hồi chịu tác dụng của
mômen tập trung
- Giải bài toán theo sức bền vật liệu:
Theo lý thuyết dầm Euler-Bernoulli, phương trình vi phân chủ đạo của dầm chịu uốn:
Điều kiện biên của bài toán:
- Bài toán cũng có thể được giải theo
lý thuyết biến phân như sau: Năng lượng toàn phần (bỏ qua ảnh hưởng của lực dọc và lực cắt (Lý thuyết dầm Euler-Bernoulli)):
2 0 0
' 2
Trang 17thuyết tính toán biến phân và cũng chính là
phương trình vi phân cân bằng của dầm
(Sức bền vật liệu)
Giải phương trình (3.9), kết hợp điều
kiện biên tại hai đầu dầm (3.8) (không tồn
tại chuyển vị), ta được:
3.1.2 Dầm đơn giản, chịu tác dụng của
tải phân bố đều
Xét một dầm đơn giản, chịu tác dụng
của lực phân bố đều q như hình 3.2 [5]
Hình 3.2: Dầm đàn hồi chịu tác dụng của
tải trọng phân bố đều
- Giải bài toán theo sức bền vật liệu: Theo lý thuyết dầm Euler-Bernoulli, phương trình vi phân chủ đạo của dầm chịu uốn:
Điều kiện biên của bài toán:
- Bài toán cũng có thể được giải theo
lý thuyết biến phân như sau: Năng lượng toàn phần (bỏ qua ảnh hưởng của lực dọc và lực cắt (Lý thuyết dầm Euler-Bernoulli):
2 0
'' 2
từ, nhiệt, điện,…):
0
I
Trang 18L L L L
(3.19) là phương trình Euler theo lý
thuyết tính toán biến phân và cũng chính là
phương trình vi phân cân bằng của dầm (sức
bền vật liệu)
Kết quả giải phương trình (3.19) với
các điều kiện biên (3.18) về chuyển vị và
mômen tại các gối không tồn tại, ta được:
3 2 3
2 24
3.2 Bài toán thanh chịu tác dụng lực
dọc trục
Xét một thanh có mặt cắt ngang không
đổi A, sơ đồ liên kết và chịu lực dọc trục q
và dùng điều kiện biên (3.23), ta được:
2 0
' 2
Trang 1916
Theo nguyên lý bảo toàn năng lượng
(bỏ qua ảnh hưởng của phần năng lượng do
(3.30) là phương trình Euler theo lý
thuyết tính toán biến phân và cũng chính là
phương trình vi phân cân bằng của thanh
(sức bền vật liệu)
Lời giải (3.30) hoàn toàn giống (3.22)
3.3 Bài toán dây chịu tác dụng lực
phân bố ngang đều
Hình 3.4: Dây chịu kéo bởi lực ngang
phân bố đều Cho một sợi dây có chiều dài L, được
cố định ở hai đầu, trên dây chịu tác dụng
của tải trọng ngang đồng phẳng w0 bằng
hằng số như hình 3.4 [5] Gọi T là lực kéo trong sợi dây, ta có:
Năng lượng toàn phần của dây:
2 2 0 0
( )
L L
0
0
L L
Trang 20(3.38) là phương trình Euler theo lý
thuyết tính toán biến phân và cũng chính là
phương trình vi phân cân bằng của dây
Lời giải giải tích phương trình (3.38):
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 J N Reddy (1993), An introduction to the finite element method, McGraw-Hill, Inc
2 E Ventsel and T Krauthammer (2001), Thin Plates and Shells (Theory, Analysis, and Applications), Marcel Dekker, Inc
3 Abdusamad A Salih (2004), Finite element methods in engineering, Lecture notes, Department of Aerospace Engineering Indian Institute of Space Science and Technology, India
4 E Miersemann (2012), Calculus of variations, Lecture notes, Department of Mathematics Leipzig University
5 T Senjuntichai and T Pothisi (2013), Finite element method for civil engineers, Lecture notes - Chulalongkorn University
Trang 2118
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ KIẾN TRÚC NHÀ Ở NÔNG THÔN
VÙNG VEN BIỂN PHÚ YÊN
ThS.KTS Đặng Duy Linh
Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt
Xã hội nông thôn đã có những thay đổi lớn lao Cơ chế hoạt động nội tại, cấu trúc xã hội
của nông thôn Phú Yên đã thay đổi dẫn tới sự thay đổi về diện mạo, kiến trúc, không gian cảnh quan của làng xóm, nhà ở dân gian truyền thống Phú Yên vì thế cũng biến đổi theo
Phạm vi của bài viết nhằm: Điều tra khảo sát về kiến trúc nhà ở nông thôn vùng ven biển Phú Yên; Đề xuất một số tiêu chí xây dựng nông thôn phù hợp với nhà ở nông thôn vùng ven
biển Phú Yên
Từ khóa: kiến trúc nhà ở nông thôn, ven biển Phú Yên, tiêu chí xây dựng nông thôn, không gian nhà ở nông thôn, vật liệu truyền thống, điểm dân cư nông thôn
1 Điều tra khảo sát về kiến trúc nhà ở
nông thôn vùng ven biển Phú Yên
1.1 Kiến trúc nhà ở nông thôn vùng
ven biển Phú Yên
Kiến trúc nhà ở nông thôn khu vực
Phú Yên mang trong mình nhiều giá trị to
lớn về lịch sử xã hội và văn hóa của địa
phương Từ cách tổ chức không gian kiến
trúc, kiểu thức kết cấu của hệ khung cột,
cấu trúc mái nhà đến các chi tiết trang trí
trong và ngoài nhà đều được đúc kết từ cuộc
sống sinh hoạt hằng ngày, gắn liền với đời
sống nông nghiệp lúa nước, phản ánh thái
độ ứng xử của cư dân nông thôn ven biển
Phú Yên với môi trường thiên nhiên và môi
trường xã hội xung quanh
Xã hội nông thôn đã có những thay đổi lớn lao Cái làng ngày xưa, phương thức sản xuất ngày xưa không còn nữa Ngày trước sự phát triển của khu vực nông thôn chủ yếu trông chờ vào nông nghiệp Nhưng hiện nay, nông nghiệp không còn vai trò quan trọng nữa, mà thay thế dần là nghề phụ, dịch vụ Cơ chế hoạt động nội tại, cấu trúc xã hội của nông thôn đã thay đổi dẫn tới sự thay đổi về diện mạo, kiến trúc, không gian cảnh quan của làng xóm, nhà ở dân gian truyền thống vì thế cũng biến đổi theo
- Danh mục và tư liệu các mẫu nhà khảo sát
Trang 2219
MẪU NHÀ KHẢO SÁT 1 (Năm xây dựng: 1988)
- Chủ nhà: Ông Dương Thái Hữu
- Địa chỉ: Thôn Đại Phú, xã Hoà Quang, huyện Tây Hoà, Tỉnh Phú Yên
MẪU NHÀ KHẢO SÁT 2 (Năm xây dựng: 1988)
- Chủ nhà: Cô Nguyễn Thị Thiệu
- Địa chỉ: Thị trấn Phú Thứ, huyện Tây Hoà, Tỉnh Phú Yên
Trang 23Qua quá trình khảo sát nhà ở nông
thôn vùng ven biển Phú Yên ở các vùng
thuần nông xây dựng từ năm 1986 đến nay
Ta thấy các nhà này thời gian đầu của thời
kì đổi mới vẫn giữ được các giá trị kiến trúc
truyền thống dân gian như mặt bằng bố cục
kiểu nhà 3 gian, có hiên trước hoặc không,
kết hợp với sân phơi và các công trình phụ
như chuồng chăn nuôi, nhà vệ sinh, sân
vườn, cây cảnh hài hoà với kiến trúc ngôi
nhà Tuy nhiên ngôi nhà nông thôn thời kỳ
này vẫn có nhược điểm giống kiểu kiến trúc
truyền thống như diện tích các phòng chức
năng nhỏ, chiều cao thông thoáng thấp, diện tích cửa nhỏ ảnh hướng đến việc lấy sáng, thông thoáng Do đời sống người dân còn thấp nên vật liệu sử dụng chưa đạt yêu cầu
về độ bền và thẩm mỹ cho công trình Trong giai đoạn 1986 đến nay do ảnh hướng của quá trình đô thị hoá nên ngôi nhà nông thôn không còn giữ được bản sắc văn hoá mà dần bị lai căng như những ngôi nhà ống đô thị Những ngôi nhà mái ngói dần thây thế bằng nhưng nhà bê tông, hàng rào cây xanh mướt, những con đường quanh co uốn lượn… cũng dần bị mất đi
Trang 2421
2 Nhận diện và đánh giá kiến trúc
nhà ở nông thôn vùng ven biển Phú Yên
2.1 Về kiến trúc nhà ở
Nhà ở nông thôn biến đổi như thực
trạng hiện nay là do có sự xuất hiện thành
phần dân cư phi nông nghiệp và bán nông
nghiệp tại các làng xã nông thôn Điều đó
cũng có nghĩa là ngôi nhà ở mới được xây
dựng để phục vụ cho các hoạt động ở, nghỉ
ngơi, sinh hoạt, làm nghề và kinh doanh
của đối tượng dân cư mới hình thành trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường
Do đó khẳng định rằng: chức năng làm
việc, kinh doanh dịch vụ và sản xuất là chức
năng có vai trò quan trọng và tồn tại trong
không gian kiến trúc nhà ở nông thôn mới
cùng với các chức năng ở và sinh hoạt khác
như một điều kiện trước tiên cho sự hình
thành phát triển loại nhà này Từ đó, có thể
đề xuất một số giải pháp bố cục không gian
lô đất ở phù hợp
2.2 Về cơ cấu chức năng
- Không gian bố cục theo lối một chức
năng riêng biệt
Trong bố cục nhà được phân chia
thành nhiều chức năng riêng biệt tùy theo
nhu cầu sử dụng Chẳng hạn như phòng
khách, phòng ngủ cho bố mẹ, con trai, con
gái theo các lứa tuổi, phòng sinh hoạt
chung, phòng ăn, bếp, nhà kho, phòng kinh
doanh, làm việc riêng,…
- Không gian kết hợp đa năng Đây là loại hình chiếm tỷ lệ cao trong kiến trúc nhà ở nông thôn hiện nay Không gian đa năng là không gian kết hợp giữa những chức năng chính và chức năng phụ, chẳng hạn gian thờ kết hợp làm nơi tiếp khách, sinh hoạt gia đình, gian bếp kết hợp làm chỗ ăn, sản xuất phụ hoặc kho,…
- Không gian ở với các loại không gian
sản xuất Nhà ở nông thôn tại các vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh sản xuất dịch vụ phi nông nghiệp hiện nay có sự chuyển đổi rõ rệt, trước kia chỉ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh nông nghiệp nay lại thêm chức năng kinh doanh sản xuất dịch
vụ phi nông nghiệp Điển hình nhất là gian nhà phụ trước kia chỉ dùng để làm nghề phụ, làm bếp, kho, thì nay được sửa đổi để làm cửa hàng tạp phẩm, uốn tóc, may mặc,…Sân phơi trước kia chỉ dùng để phơi lúa thì nay có thể tận dụng làm quán giải khát, quán ăn uống,…
Qua thực tế trên cho thấy, chuyển đổi trong đời sống dân cư nông thôn từ cơ cấu lao động thuần nông sang lao động phi nông nghiệp, đã tác động làm biến đổi kiến trúc nhà ở nông thôn truyền thống sang dạng nhà ở kiểu bán thị, và sau đó là nhà ở kiểu đô thị
Trang 2522
CÁC KHÔNG GIAN
CHỨC NĂNG:
Là loại nhà ở không làm nông nghiệp mà chủ yếu làm thương mại, dịch vụ Loại nhà này có các chức năng
cơ bản sau:
– Chức năng chính: gồm phòng tiếp khách, phòng ngủ, không gian thờ cúng tổ tiên, không gian bán hàng
và làm dịch vụ
– Chức năng phụ: phòng bếp, phòng ăn, kho, phòng vệ sinh – Chức năng phụ trợ: cổng, vườn trồng rau kết hợp trồng hoa
2 3 Về cảnh quan, trang trí và chi tiết
kiến trúc
- Cây xanh, mặt nước và các yếu tố tự
nhiên trong nhà ở
Kiến trúc nhà ở nông thôn Phú Yên từ
xưa vốn dĩ đã hài hòa với cảnh quan thiên
nhiên Ngôi nhà thấp, một tầng với mái ngói
đỏ, hàng hiên, sân phơi, tương xứng với
cảnh quan đồng lúa, vườn cây xung quanh
nhà Tuy nhiên cần tăng kích thước về chiều cao nhà, tăng diện tích các phòng, diện tích cửa cũng như thêm một số phòng chức năng khác như phòng làm việc, phòng sản xuất kinh doanh… để phù hợp với tình hình mới và điều kiện sống ngày càng cao của người dân nông thôn Để đảm bảo không gian cảnh quan làng quê không bị phá vỡ, ngôi nhà nông thôn mới nên giới
Trang 2623
hạn số tầng cao là 2 tầng, hoặc nhà một tầng
có gác lửng
- Trang trí và chi tiết kiến trúc
Hình thức mái vẫn là mái dốc 2 hoặc
4 phía, lợp ngói, không lợp tôn hay vật
liệu khác Phân vị mặt đứng theo phương
ngang, với bố cục theo lối gian, kết hợp
giữa nhà chính và nhà phụ Bố cục đăng
đối, không nhất thiết phải đối xứng hoàn
toàn Trước nhà phải có sân phơi, hiên nhà
sẽ là không gian chuyển tiếp giữa sân phơi
quá nhiều Sử dụng vật liệu địa phương, vật
liệu truyền thống để trang trí nội thất trong
nhà phù hợp với phong tục tập quán vùng
ven biển Phú Yên
3 Đề xuất một số tiêu chí xây dựng
nông thôn phù hợp với nhà ở nông thôn
vùng ven biển Phú Yên
Nhằm định hướng phát triển kiến trúc
nhà ở nông thôn vùng ven biển Phú Yên
phát triển bền vững, đậm đà bản sắc văn
hoá, ứng dụng các kĩ thuật mới bên cạnh
vẫn giữ các giá trị kiến trúc truyền thống để
áp dụng vào mô hình nhà ở nông thôn, đồng
thời phù hợp với đặc điểm của địa phương
Ta đưa ra 10 tiêu chí cần đạt được, cụ thể
như sau:
- Về các điểm dân cư nông thôn: Tiếp
tục định hướng các điểm dân cư mới làm cơ
sở quản lý quy hoạch, đất đai Việc định
hướng các điểm dân cư mới hoặc chỉnh trang các điểm dân cư hiện trạng phải được gắn kết và liên hệ mật thiết với nhau tạo tiền đề phát triển lâu dài, ổn định, mỹ quan
và gắn kết hệ thống hạ tầng kỹ thuật chặt chẽ giúp an sinh xã hội, văn minh thôn xóm, phát triển kinh tế xã hội đồng bộ
- Về giao thông: Quy hoạch cải tạo, bổ sung tuyến mới gắn kết trực tiếp với hệ thống giao thông hiện trạng (liên xã, liên thôn, ngõ xóm, bờ vùng, bờ thửa) Hướng đầu tư chủ yếu của hệ thống giao thông hiện trạng là mở rộng tầm nhìn, tính toán nâng cấp và kiên cố hóa toàn diện hệ thống giao thông toàn xã Mặt khác bổ sung thêm hệ thống giao thông đảm bảo người dân đi lại thuận tiện, tránh chồng chéo với hệ thống
hạ tầng kỹ thuật chung toàn xã
- Về chuẩn bị kỹ thuật: Quy hoạch xây dựng chuẩn bị kỹ thuật theo nguyên tắc tôn trọng độ dốc địa hình hiện trạng Xác định cao độ khống chế cho từng điểm dân cư; xác định lưu vực, hướng và mạng thoát nước chính…
Dự báo ảnh hưởng biến đổi khí hậu toàn cầu có thể sẽ đe dọa đến các điểm dân
cư trong tương lai Do vậy, các các công trình công cộng chú ý nâng nền cao hơn, các nhà ở dân cư cũng được chú ý đến việc nâng nền khi xây dựng cải tạo hoặc xây dựng mới, lưu
ý đến các vị trí dự phòng xây dựng các công trình tránh lũ, phối hợp với các công trình công cộng tránh trú bão lũ hàng năm
- Về văn hóa – xã hội: Không gian văn hóa trung tâm thôn như nhà văn hóa,
Trang 2724
sân thể dục thể thao, khu vui chơi giải trí,
nhà văn hóa là trung tâm công cộng của
thôn hiện tại đã có nhưng xuống cấp, chưa
có trang thiết bị vật dụng cần thiết bên
trong
Trên nền tảng khu vực trụ sở, nhà văn
hóa thôn hiện trạng phát triển thành khu
trung tâm văn hóa thôn bao gồm: Nhà văn
hóa kết hợp làm trụ sở thôn, điểm truy cập
internet, trồng cây xanh tạo cảnh quan
không gian chung, khu TDTT thôn như sân
bóng chuyền, các câu lạc bộ TDTT khác để
tạo nếp sống văn hóa, lành mạnh, cộng
đồng Đồng thời giao lưu, học hỏi kinh
nghiệm sản xuất Trẻ em có sân chơi bổ ích
là nền tảng phát triển trí tuệ, trí thức cho
+ Hộ thuần nông không kết hợp
canh tác Diện tích trung bình 350m2/hộ;
chiếm 30% trên tổng số hộ
+ Hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ,
hành chính sự nghiệp Diện tích trung bình
250m2/hộ; chiếm 20% trên tổng số hộ
- Về không gian nhà ở nông thôn: phải
giữ lại nét đẹp trong kiến trúc cổ, do những
đặc điểm ưu việt này đã qua được thử thách
hàng ngàn năm, tuy nhiên sẽ không làm tạm
bợ, nghèo nàn Mặt bằng vẫn có thể trung
thành với bố cục 3 hay 5 gian: 01 phòng
khách và thờ; 01 hoặc 2 phòng ngủ hay hơn, phía sau các quan điểm thiết kế tiên tiến có thể biến đổi phù hợp cho các loại gia đình khác nhau, hay các hoàn cảnh đa chức năng hiện tại hay mới
- Về giải pháp kỹ thuật chung: Do hoàn cảnh kinh tế của đại đa số gia đình nông dân, chưa thể áp dụng công nghệ cao một cách rộng rãi nên vẫn phổ biến sẽ là công nghệ thích hợp, có thể áp dụng linh hoạt, dễ thi công, có thể dùng nhân lực địa phương
- Về hiệu quả tiết kiệm năng lượng: Việc áp dụng những công nghệ tiên tiến nhưng đơn giản, phù hợp với túi tiền đa số gia đình nông dân để tạo hiệu quả tiết kiệm năng lượng, chủ yếu là trong hai lĩnh vực chiếu sáng và thông gió là khả thi và rất nên
áp dụng Khai thác những kỹ thuật và công nghệ tiên tiến: Những công trình kiến trúc nhà ở nông thôn mới phải đón được làn gió của tương lai, đó là những công trình tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường Giúp người dân thay đổi nhận thức
về giá trị ngôi nhà truyền thống
- Về vật liệu xây dựng: Khuyến khích
và hỗ trợ kỹ thuật cho việc bảo tồn, tái sử dụng các ngôi nhà truyền thống Khuyến khích khai thác và học tập kinh nghiệm truyền thống khi xây dựng nhà mới Hạn chế xây dựng những ngôi nhà kiểu đô thị do phá vỡ cảnh quan và làm mất đi hình ảnh nông thôn truyền thống Phát triển nguồn nguyên liệu xây dựng tại địa phương, ưu tiên và khuyến khích các vật liệu có năng lượng hàm chứa thấp, khả năng tái chế cao
Trang 2825
-Về môi trường: Khuyến khích thu
gom và khai thác nguồn nước mưa Chất
thải và nước thải cần được quản lý kết hợp
với các giải pháp kỹ thuật (bế khí sinh học
biogas, phân bón vi sinh…) xử lý trước khi
xả ra môi trường Bên cạnh đó, khuyến
khích khai thác và áp dụng các nguồn năng
lượng tái tạo mới như năng lượng mặt trời,
năng lượng gió…Trong điều kiện quỹ đất
hạn hẹp, phát triển các hộ mới ra các khu
vực đất chưa khai thác hoặc đất nông
nghiệp năng suất thấp để giảm tải về áp lực
dân số; Phát triển hệ thống cây xanh theo
nguyên tắc truyền thống đón gió mát chặn
gió lạnh, chống gió bão và tạo thêm nguồn
nguyên liệu trong xây dựng và sản xuất
4 Kết luận
- Kiến trúc nhà ở nông thôn vùng ven
biển Phú Yên phản ánh quá trình phát triển
và tiếp biến văn hóa trong vùng
- Tổ chức không gian nhà ở nông thôn
vùng ven biển Phú Yên phù hợp với nhu
cầu sinh hoạt và văn hóa của người nông
dân trồng lúa nước
- Cơ chế mới, nghề nghiệp mới, nhu
cầu mới là nguyên nhân làm biến đổi không
gian làng xã và tổ chức không gian nhà ở
nông thôn truyền thống
- Các mô hình nhà ở mới hiện nay là tự
phát cả về quy hoạch, tổ chức không gian,
hình thức trang trí lẫn kiểu dáng kiến trúc
- Công tác quản lý quy hoạch kiến trúc
ở nông thôn chưa được chú trọng đúng mức
Một số kiến nghị cho giải pháp quản
lý, phát triển kiến trúc nhà ở mới khu vực nông thôn vùng ven biển Phú Yên trong giai đoạn hiện nay:
- Nhà nước cần đưa ra các chính sách quản lý, định hướng quy hoạch, bảo tồn, phát triển kiến trúc nhà ở nông thôn giai đoạn mới hiện nay
- Cần đề xuất ra các mẫu thiết kế tiêu chuẩn cho các loại hình nhà ở nông thôn sao cho phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội nông thôn trong thời kỳ đô thị hoá
- Khuôn viên khu đất dành cho xây dựng nhà ở nông thôn phải đảm bảo đủ diện tích nhằm xây dựng phát triển hình thái nhà
ở sản xuất nông nghiệp và làm nghề phụ, có kết hợp kinh doanh dịch vụ nhỏ tại nhà Nhà
ở phải giữ lại kiến trúc và công năng của ngôi nhà 3 gian 2 chái hoặc nhà 2 tầng
- Các khu dân cư mới phải được quy hoạch tổng thể và quản lý xây dựng từ hạ tầng đến kiến trúc công trình Lựa chọn các loại vật liệu xây dựng địa phương cho phù hợp với loại hình nhà ở nông thôn mới có tính toán đến giải pháp chống bão, lụt
- Nhà ở nông thôn cần được quy định
về diện tích chiếm đất, chiều cao công trình, diện tích sàn, khoảng lùi so với chỉ giới quy hoạch, các công năng phù hợp với nhu cầu nhà ở nông thôn mới, tỷ lệ % diện tích trồng cây xanh, mặt nước trong khuôn viên khu đất xây dựng nhà ở
- Phân loại các làng cổ, các ngôi nhà ở nông thôn có giá trị để bảo tồn và định hướng cho phát triển lâu dài
Trang 2926
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Sĩ Huệ (2001), Văn hóa vật chất nông thôn Phú Yên, Nxb Xây Dựng, Hà Nội
2 Trần Huyền Ân (2004), Phú Yên miền đất ước vọng, Nxb Trẻ, Sài Gòn
3 Kim Hoa (2007), Phú Yên trong chiều sâu cội nguồn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
4 Trần Ngọc Thêm (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội
5 Trần Quốc Vượng (2202), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội
6 Chu Quang Trứ (1996), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, Nxb Mỹ Thuật
7 Nguyễn Đức Thiềm (2000), Góp phần tìm hiểu bản sắc kiến trúc truyền thống Việt Nam,Nxb Xây dựng, Hà Nội
8 Nguyễn Đình Toàn (2002), Lịch sử kiến trúc Việt Nam qua các triều đại, Nxb Xây dựng,
Hà Nội
9 Ngô Đức Doãn (thay mặt ban biên tập), Nhà ở nông thôn Việt Nam; tổng hợp nhà ở dân gian truyền thống các dân tộc Việt Nam; nhà ở nông thôn đổi mới theo sự phát triển xã hội Vũ Tam Lang, Kiến trúc cổ Việt Nam
10 Phạm Hữu Dật (2004), góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội
11 Đỗ Huy (1996), Văn hóa mới Việt Nam sự thông nhất và đa dạng, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội
Trang 30mới toàn diện, hệ thống thuế ngày càng phải được điều chỉnh căn bản để đáp ứng được yêu cầu
của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Từ khóa: thuế thu nhập doanh nghiệp, giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế
1 Giới thiệu:
Thuế TNDN thuộc loại thuế thu trên
thu nhập của các cơ sở kinh doanh để
động viên một phần thu nhập của họ vào
ngân sách nhà nước Ngoài ra, nhà nước sử
dụng thuế này để điều tiết kinh tế vĩ mô
thông qua việc động viên công bằng giữa
các thành phần kinh tế, khuyến khích ưu
đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh phát triển
Ở các nước, tên gọi của thuế này có
thể khác nhau như thuế thu nhập công ty,
thuế TNDN, thuế lợi tức,…Dù tên gọi khác
nhau, nhưng bản chất của các loại thuế này
tương đối giống nhau Thuế TNDN là công
cụ quan trọng để góp phần khuyến khích,
thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
theo hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển
toàn diện của Nhà nước Nhà nước ưu đãi,
khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư,
kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng miền mà nhà nước ưu tiên khuyến khích phát triển trong từng giai đoạn nhất định
2 Giải pháp hoàn thiện thuế suất thuế TNDN Việt Nam
- Thứ nhất, thực hiện chính sách thuế
suất thuế TNDN hợp lý trong từng giai đoạn
nhằm thu hút đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh
Lộ trình cắt giảm thuế suất thuế TNDN chưa được xây dựng kịp thời, do đó, làm giảm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài
Xu hướng giảm thuế suất thuế TNDN đã diễn ra đồng thời với quá trình toàn cầu hóa trên thế giới, khi thực hiện điều chỉnh thuế suất thuế TNDN hiện nay cần căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, đầu tư, thu nhập của DN và toàn bộ
Trang 3128
nền kinh tế trên cơ sở thúc đẩy sản xuất,
phát triển kinh tế và đảm bảo nguồn lực
tài chính của các quốc gia Hiện nay, đối
với các nước đang phát triển như Việt
Nam, vẫn rất cần vốn đầu tư quốc tế,
đồng thời tăng tích lũy, khuyến khích các
DN đầu tư sản xuất kinh doanh nên sẽ
tiếp tục có những biện pháp nhằm thu
hút vốn đầu tư, do đó, giảm thuế suất
thuế TNDN vẫn được ưu tiên
Hiện nay, mức thuế suất thuế TNDN
phổ thông là 20%, được coi phù hợp với
thực tế thời gian qua và gần đạt mức trung
bình trong khu vực Tuy nhiên, tại thời
điểm hiện tại, mức thuế suất của một số
quốc gia trong khu vực đã ngang bằng với
mức thuế suất sẽ áp dụng của Việt Nam từ
năm 2020 (Singapore 17%) Do đó, nếu
Việt Nam tiếp tục duy trì mức thuế suất
20% giai đoạn từ 2016 - 2020 sẽ làm giảm
khả năng cạnh tranh trong quá trình thu
hút vốn đầu tư, khuyến khích phát triển
sản xuất kinh doanh Chính vì thế, thuế
suất thuế TNDN ở Việt Nam trong thời
gian tới cần phải được xem xét lại cho phù
hợp với tình hình kinh tế khi Việt Nam về
cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại nhằm tăng khả năng
thu hút nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn
Chính vì vậy, tầm nhìn đến năm
2020 cũng cần xem xét đánh giá lại lộ
trình cắt giảm thuế suất sao cho phù hợp
Trong luận văn này tác giả xây dựng một
lộ trình cắt giảm thuế suất thuế TNDN
- Thứ hai, Việt Nam nên áp dụng chính sách hỗ trợ mới là “tín dụng thuế” đối
với các DN vừa và nhỏ Trong bối cảnh kinh tế đang suy giảm, các doanh nghiệp trong nước đang gặp rất nhiều khó khăn Chính phủ nên sử dụng chính sách hỗ trợ mới là “tín dụng thuế” nhằm tháo dỡ khó khăn cho các doanh nghiệp Theo đó, tín dụng thuế là hình thức Nhà nước cho phép các doanh nghiệp (hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh) được giữ lại tiền thuế phải nộp để đầu tư trở lại phát triển sản xuất kinh doanh Nghĩa là, Nhà nước cho doanh nghiệp vay vốn một
Trang 3229
cách trực tiếp, không cần tài sản thế chấp,
không phải trả lãi vay, tạo điều kiện thuận
lợi về vốn, giúp doanh nghiệp đầu tư phát
triển, phục hồi tăng trưởng kinh tế
Việt Nam nên lựa chọn một số ngành
nghề khó khăn chẳng hạn như nông nghiệp,
cơ khí, các doanh nghiệp vừa và nhỏ để hỗ
trợ Theo đó, các doanh nghiệp vẫn kê khai
nộp thuế bình thường nhưng Nhà nước cho
giữ lại 80% thuế TNDN phải nộp 18 tháng,
để mua sắm máy móc, thiết bị, thực hiện các
hoạt động tái đầu tư, và để DN vẫn có vốn
vượt qua được giai đoạn khó khăn, để cứu
doanh nghiệp
- Thứ ba, xây dựng mô hình phân tích
tác động thay đổi của thuế TNDN đến
nguồn thu ngân sách nhà nước
Với mô hình này dựa trên mối quan
hệ của GDP, thu nhập, năng suất… và
nguồn thu thuế, cho phép đánh giá được sự
co giản của thuế TNDN đối với GDP, thu
nhập Bên cạnh đó, mô hình này phân tích
tác động một sự thay đổi chính sách thuế
TNDN lên người chịu thuế hay những
nhóm đối tượng liên quan như Nhà nước –
Doanh nghiệp Việc xác định được mô hình
đánh giá tác động sự thay đổi chính sách
thuế đến từng đối tượng liên quan sẽ giúp
nhà quản lý xây dựng, điều chỉnh chính
sách thuế TNDN chính xác và hiệu quả hơn
Trong quá trình xây dựng và điều chỉnh
thuế TNDN ở Việt Nam, các nhà quản lý có
thể sử dụng công cụ đánh giá dự báo tác
động pháp luật RIA (Regulatory Impact
Assessment) - là một công cụ kết hợp cả
phương pháp định tính và định lượng nhằm đánh giá và dự báo tác động của các chính sách thuế TNDN trước khi được thực triển khai vào thực tế RIA cung cấp cho nhà quản lý những thông tin chi tiết về những chi phí, lợi ích, tác động và rủi ro có thể xảy
ra khi ban hành chính sách thuế TNDN
Hình 8: Các giai đoạn trong một quá trình RIA
(BIS, 2010) Mục đích sử dụng công cụ RIA là nhằm xây dựng và ban hành những chính sách thuế TNDN tốt hơn theo hướng giảm thiểu các tác động tiêu cực tới Nhà nước và doanh nghiệp, để xây dựng được chính sách thuế TNDN hợp lý hơn, hiệu quả hơn Về cơ bản công cụ RIA trải qua 6 giai đoạn:
+ Giai đoạn một: nhận diện vấn đề: giai đoạn này cần phải xác định được mục tiêu của chính sách thuế TNDN sắp ban hành, nhận diện được vấn đề đang gặp phải hiện nay, để xem xét có cần phải ban hành chính sách thuế mới hay không
+ Giai đoạn hai: xây dựng phương án chính sách: xây dựng chính sách thuế để
Trang 3330
giải quyết những vấn đề được nhận diện
(giai đoạn 1) Trong giai đoạn này, nhà quản
lý sẽ phải tổ chức những buổi thảo luận và
ước tính được những lợi ích, chi phí của
từng chính sách thuế cụ thể Điều này giúp
cho nhà quản lý xây dựng được chính sách
thuế TNDN tối ưu nhất, phù hợp nhất và ít
tác động tiêu cực đến Nhà nước và doanh
nghiệp nhất
+ Giai đoạn ba: tiến hành tham vấn
(càng rộng càng tốt) với các doanh nghiệp
khác nhau với những phương án chính sách
thuế đã được xây dựng ở giai đoạn 2 Mỗi
phương án chính sách thuế đưa ra tham vấn
với các doanh nghiệp phải gắn liền với
những tính toán chi phí và lợi ích cụ thể
+ Giai đoạn bốn: hoàn thiện báo cáo
RIA: trên báo cáo RIA tập trung chi tiết
hóa các khoản chi phí và lợi ích của
phương án chính sách thuế TNDN đã lựa
chọn Sau đó, hoàn thành báo cáo này và
nộp cho Tổng Cục thuế và Bộ Tài chính để
làm căn cứ ban hành hay điều chỉnh chính
chính sách, thì lại tiếp tục thực hiện một
quy trình RIA mới
- Thứ tư, tăng cường quản lý trao đổi
thông tin quốc tế
Các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng đang dạng hóa và
mở rộng về phạm vi Chính vì vậy, làm xuất hiện nhiều hành vi trốn thuế, lừa đảo trong kinh doanh…nhằm lợi dụng chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước Vì thế, cơ quan thuế các nước nên tăng cường trao đổi thông tin trên cơ sở các điều ước quốc tế để cũng đấu tranh chống tình trạng trốn thuế Nhà nước Việt Nam tăng cường triển khai
ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, sẽ là biện pháp tốt để ngành thuế các nước trao đổi thông tin, kiểm soát thu nhập của người nộp thuế
- Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm về thuế
kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng, các doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam ngày càng phong phú hơn, một số doanh nghiệp đang lợi dùng một vài sơ hở của chính sách thuế để lách luật nhằm chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước Chính vì vậy, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra là nhiệm vụ cấp bách hiện nay nhằm phát hiện những hành
vi vi phạm về thuế để nhắc nhở, ngăn chặn
và trừng phạt đối với trường hợp cố ý gian lận Để đảm bảo phát hiện được hết các vi phạm về thuế TNDN, công tác thanh tra, kiểm tra cần được cải cách như sau:
+ Phân loại đối tượng để thanh tra, kiểm tra Tập trung kiểm tra các đối tượng
có nhiều rủi ro về thuế, thường xuyên gian lận về thuế Đối với các đối tượng thực hiện