Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TỐNG TRẦN LÊ THÀNH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Phản biện 1:……… …………
……… … ……… ………
Phản biện 2:……… ………
……… ……
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng họp … , Nhà - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Số: 77 Đường Nguyễn Chí Thanh - Quận Đống Đa - Thành phố Hà Nội Thời gian: vào hồi … giờ … tháng … năm 201
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ
thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân
và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Như vậy, dịch vụ khoa học và công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là một hoạt động nền tảng và hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Việc phát triển các dịch vụ khoa học và công nghệ góp phần cung cấp các cơ sở pháp lý, căn cứ khoa học
và môi trường cho quá trình nghiên cứu Đồng thời, dịch vụ khoa học và công nghệ cũng là cơ sở để đánh giá tiềm lực khoa học công nghệ của một quốc gia, góp phần phát triển, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là một loại hình dịch vụ khoa học và công nghệ Trong đó, thông tin, khoa học và công nghệ có vị trí và vai trò quan trọng trong việc cung cấp các cơ sở pháp lý, căn cứ khoa học cho quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Căn cứ vào các yếu tố để trở thành vấn đề chính sách, vấn đề dịch
vụ thông tin KH&CN là vấn đề Chính phủ quan tâm và có khả năng giải quyết Trên cơ sở các dịch vụ thông tin KH&CN đã có, và căn cứ vào hiện trạng mức độ sử dụng thông tin KH&CN của xã hội, sự cần thiết phải cung cấp những thông tin đáp ứng nhu cầu hoạch định chính sách của các nhà quản lý KH&CN, nhà nước sử dụng công cụ chính sách để phát triển dịch
vụ thông tin KH&CN thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình hành động, dự án, kế hoạch nhằm giải quyết các vấn
đề cấp thiết nêu trên
Trang 4Để góp phần giải quyết những vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận
cũng như thực tiễn nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chính sách phát
triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề chính sách đối với dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
là một vấn đề mới Hiện nay, chỉ có một số công trình nghiên cứu đề cập đến nội dung về dịch vụ thông tin KH&CN và quản lý nhà nước về thông tin KH&CN
PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng đã khái quát những vấn đề về Lý luận
về Thông tin học và dịch vụ thông tin KH&CN trong cuốn sách: “Thông tin: Từ lý luận tới thực tiễn” Một số thông tin về thông tin và dịch vụ
thông tin của nội dung “Lý luận về Thông tin học” trong cuốn sách được tác giả tham khảo, sử dụng
Ths Phan Huy Quế và các cộng sự đã khái quát một số nội dung
về dịch vụ thông tin và chính sách phát triển dịch vụ thông tin thông qua
hệ thống hành lang pháp lý về thông tin, thống kê KH&CN tại Đề tài cấp
Bộ: “Nghiên cứu cơ sở lỹ luận và thực tiễn phát triển công tác thông tin – thư viện, thống kê khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2020”
TS Tạ Bá Hưng đã điều tra, nghiên cứu nhu cầu dùng tin tại địa bàn là 3 xã Khánh Nhạc, Ninh Phong và Đồng Phong thuộc tỉnh Ninh Bình, đề tài đã nghiên cứu và xác lập các nguồn tin tiềm tàng phục vụ vùng sâu, vùng xa, xây dựng mô hình và triển khai thử nghiệm tại 3 xã trên Kết quả của đề tài được triển khai thành công trong thực tiễn cho thấy vai trò quan trọng của nguồn tin KH&CN đối với đời sống xã hội
Đối với việc cung cấp dịch vụ thông tin để hoạch định chính sách, Ths Nguyễn Lê Hằng đã nêu khái quát về dịch vụ thông tin; Đánh giá thực trạng năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN cũng như các giải pháp nâng cao năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách đó
Trang 5Hữu Hùng cho rằng, chính sách thông tin nói chung là tập hợp các luật, văn bản quy phạm pháp luật và các hướng dẫn trực tiếp tác động và quản
lý tới vòng đời của thông tin Vòng đời này bao gồm các quá trình lập kế hoạch, tạo lập, sản xuất, thu thập, phân phối, phổ biến và tìm kiếm thông tin
Tại Hội thảo khoa học ngành thông tin lần thứ VI, 2011, TS Tạ
Bá Hưng và các cộng sự đã trình bày nội dung định hướng chiến lược công tác thông tin đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh vị trí, vai trò của dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ, đặc biệt là các dịch vụ thông tin có thu Ths Trần Thị Hải Yến và công sự đã tiến hành nghiên cứu phương pháp luận xây dựng định hướng quốc gia về phát triển nguồn tin KH&CN, đánh giá thực trạng và đề xuất định hướng quốc gia về phát triển nguồn tin KH&CN Đây là cơ sở để xây dựng cơ chế đảm bảo nguồn tin KH&CN cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Việt Nam, góp phần điều tiết, phối hợp, theo dõi, giám sát phát triển nguồn tin KH&CN, góp phần triển khai thành công Nghị định số 11/2004/NĐ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN
Nghiên cứu sinh Nguyễn Trọng Phượng đã tiến hành luận án Tiến sĩ Thông tin - Thư viện đã nghiên cứu thực tiễn phát triển nguồn lực thông tin của Hệ thống thư viện công cộng Việt Nam theo đó đề xuất các giải pháp khả thi nâng cao hiệu quả phát triển nguồn lực thông tin của Hệ thống thư viện công cộng Việt Nam cả về chất và lượng
TS Vũ Dương Thúy Ngà và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu hoàn thiện một số chính sách cơ bản của Nhà nước nhằm phát triển sự
nghiệp thư viện ở Việt Nam Đề tài đề cập tới 3 khía canh chính: chính
sách đầu tư, chính sách xã hội hóa và đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực trong ngành thư viện Trong đó, đề tài cũng đã nghiên cứu khái quát các chính sách đầu tư cho phát triển nguồn tài liệu thư viện và kết luận những chính sách trên chưa cụ thể, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngành còn rất hạn chế Đây là cơ sở để khẳng định tầm quan trọng của việc tiến
Trang 6hành nghiên cứu xây dựng định hướng quốc gia về bổ sung và phát triển
nguồn tin KH&CN
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung vào công tác quản lý nhà nước về thông tin, thư viện KH&CN thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn lực thông tin KH&CN và đưa ra những giải pháp để phát triển các nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ đó
Như vậy, vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào tập
trung vào vấn đề chính sách: “Chính sách phát triển dịch vụ thông tin
khoa học và công nghệ ở Việt Nam” một cách hệ thống về mặt lý luận và
thực tiễn để đưa ra những giải pháp cần thiết nhằm hoàn thiện và phát triển
dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu: Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực
tiễn về chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ, đề tài đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về dịch vụ khoa học công nghệ, dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ và chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận như: các khái niệm, tầm quan trọng, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng
và kinh nghiệm của một số nước về chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
- Làm rõ thực trạng chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học
và công nghệ ở Việt Nam; đánh giá mặt mạnh, yếu điểm và tìm ra nguyên nhân của yếu điểm của chính sách này hiện nay ở Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện chính sách phát triển dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay
Trang 74 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: do chính sách phát triển dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ có phạm vi nghiên cứu rất rộng;
do vậy, tác giả giới hạn nghiên cứu về một số nội dung thực thi chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN như khung lý thuyết ở chương 1
+ Giới hạn về không gian: nghiên cứu nội dung thực thi chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ tại các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN tại các Bộ, ngành và địa phương ở Việt Nam
+ Giới hạn về thời gian: từ năm 2011- 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của Đảng, nhà nước
về chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: được sử dụng để thu thập thông tin và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài
- Phương pháp thu thập dữ liệu từ các nguồn sơ cấp như: Điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi, phương pháp chuyên gia, phỏng vấn
- Phương pháp xử lý thông tin: đã có sự phân nhóm, phân tích các số liệu theo các tiêu thức định lượng và định tính
- Phương pháp quy nạp, tổng hợp, so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Trang 8Góp phần hệ thống hóa lý luận liên quan đến chính sách của nhà nước đối với dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần phân tích, đánh giá, rút ra nguyên nhân của thực trạng thực thi chính sách về dịch vụ thông tin KH&CN đối với người dùng tin ở Việt Nam Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả trong việc thực thi chính sách đối với dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
- Làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý trong việc thực thi chính sách về dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 Lý luận về dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
1.1.1 Khái niệm thông tin khoa học và công nghệ và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
1.1.1.1 Thông tin khoa học và công nghệ
Trong phạm vi của luận văn này, khái niệm thông tin KH&CN được hiểu theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 11/2014/NĐ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ:
“Thông tin khoa học và công nghệ là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”
1.1.1.2 Dịch vụ và dịch vụ công
Trong cuốn “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa
về dịch vụ thương mại, tác giả đã đưa ra khái niệm dịch vụ:“Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được”
Khi so sánh với cách giải thích của Từ điển tiếng Việt thì cách giải thích này đã làm rõ hơn nội hàm của dịch vụ – dịch vụ là kết tinh sức lao động con người trong các sản phẩm vô hình
Từ các quan điểm khác nhau, có thể đưa ra một khái niệm về dịch
vụ như sau: “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong các sản phẩm vô hình nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người”
Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch vụ công cộng cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp Thí dụ,
an ninh, giáo dục, phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội
1.1.1.3 Dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
Trang 10Kể từ giữa thế kỷ XX đến nay, cùng với sự phát triển rất mạnh của các cơ quan thông tin, thư viện, sự hỗ trợ tích cực của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật có liên quan (toán học ứng dụng, công nghệ tin học, viễn thông và các thiết bị của chúng, xã hội học…), hệ thống các dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ngày càng trở nên phong phú và đa dạng Sự phát triển hướng tới một xã hội thông tin cũng là môi trường thuận lợi quan trọng, tạo nền tảng trên cho các dịch vụ thông tin KH&CN phát triển nhanh chóng
Từ cơ sở lý luận ở trên, tác giả cho rằng, “Dịch vụ thông tin KH&CN là một loại hình dịch vụ công, do các tổ chức thực hiện chức năng thông tin khoa học và công nghệ công lập cung cấp, bao gồm dịch vụ cung cấp tài liệu, dịch vụ phổ biến thông tin và dịch vụ tra cứu tin”
Dịch vụ thông tin KH&CN với bản chất là dịch vụ công được cung cấp bởi các tổ chức thực hiện chức năng thông tin khoa học và công nghệ
1.1.4 Đối tượng của dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
Từ đặc điểm nhu cầu tin trong xã hội, người ta chia người dùng tin thành 5 nhóm cơ bản, với đặc điểm nhu cầu thông tin của từng nhóm như sau:
Nhóm 1 Người dùng tin là nhà lãnh đạo, quản lý
Nhóm 2 Người dùng tin là các nhà doanh nghiệp
Nhóm 3 Người dùng tin là cán bộ KH&CN
Trang 11Nhóm 4: Người dùng tin là các học viên tại các cơ sở đào tạo (học
viện, trường đại học, cao đẳng, …)
Nhóm 5 Người dùng tin đại chúng
1.1.5 Vai trò của dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
- Vị trí, vai trò của dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
Trong ngành khoa học và công nghệ, bên cạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thì dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ có vị trí và vai trò như sau:
- Dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, góp phần đưa các sản phẩm thông tin đến người dùng tin
- Đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ:
+ Giúp loại bỏ hiện tượng trùng lặp đề tài
+ Cung cấp thông tin về tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài
+ Tăng cường tính công khai, minh bạch trong việc thực hiện các đề tài + Cung cấp thông tin về các phát hiện mới, sáng tạo mới – cơ sở để tạo ra các sản phẩm mới cho xã hội
+ Đảm bảo tính kế thừa, giảm thiểu lãng phí trong nghiên cứu phát triển + Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về KH&CN
- Đối với các doanh nghiệp KH&CN
- Đối với các nhà quản lý, lãnh đạo
- Đối với các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, giảng viên học sinh, sinh viên
1.2 Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
1.2.1 Khái niệm chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
“Chính sách” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu trên các phương tiện truyền thông và trong đời sống xã hội Tuy nhiên, đây cũng là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng
Trang 12Từ những cách nghiên cứu của các học giả về chính sách, chính sách
công, có thể đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội
Từ những khái niệm về chính sách, chính sách thông tin, dịch vụ thông tin KH&CN, tác giả đưa ra khái niệm:
‘Chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN bao gồm hệ thống mục tiêu và biện pháp tác động vào các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN và hạ tầng thông tin nhằm hoàn thiện chất lượng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu về sử dụng thông tin của xã hội Hệ thống mục tiêu và biện pháp này dược xây dựng trên cơ sở phân tích các yếu tố khách quan
và chủ quan như hệ thống pháp luật, chính sách tổ chức và quản lý và trình độ phát triển khoa học và công nghệ ở mỗi thời kỳ’
1.2.2 Vị trí, vai trò của chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
Chính sách phát triển dịch vụ khoa học và công nghệ có liên quan chặt chẽ đến các chính sách khác như: Chính sách khoa học và công nghệ, chính sách kinh tế, chính sách đầu tư Chính vì vậy, chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng trong hệ thống chính sách công
Trước hết, chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ góp phần cụ thể hóa những chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Thứ hai, Chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách có liên quan khác
Thứ ba, chính sách phát triển dịch vụ khoa học và công nghệ góp phần nâng cao vị thế, vai trò của thông tin KH&CN trong việc cung cấp những sản phẩm, dịch vụ thông tin đến các nhà quản lý, người dùng tin và
Trang 13Thứ tư, chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN thể hiện những chủ trương, quan điểm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động thông tin KH&CN thông qua việc tăng cường kinh phí, phát triển nguồn lực thông tin KH&CN, phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia
về KH&CN, phát triển nguồn nhân lực thông tin KH&CN
1.2.3 Những nội dung điều chỉnh của chính sách phát triển dịch
vụ thông tin khoa học và công nghệ
1.2.3.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu
1.2.3.2 Dịch vụ phổ biến thông tin
1.2.3.3 Dịch vụ tra cứu tin
1.2.4 Mục tiêu chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
- Phát triển các loại hình dịch vụ KH&CN để đáp ứng 100% nhu cầu của xã hội, nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ KH&CN để có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực ASEAN và thế giới
- Nâng cao tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng đóng góp của các loại hình dịch vụ KH&CN trong toàn khu vực dịch vụ và trong tổng thu nhập sản phẩm quốc gia GDP Đến năm 2030
- Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động dịch vụ KH&CN
- Xây dựng và phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ KH&CN trên
cơ sở sử dụng hiệu quả tiềm lực KH&CN hiện có; đến năm 2030 phát triển ít nhất 10 tổ chức dịch vụ KH&CN đạt trình độ khu vực và thế giới
- Đến năm 2020, tổng mức đầu tư trực tiếp của xã hội phấn đấu đạt 60-80% tổng kinh phí đầu tư cho dịch vụ KH&CN
1.2.5 Các chính sách liên quan đến phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ
Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ có liên quan và ảnh hưởng đến nhiều chính sách thuộc lĩnh vực thông tin KH&CN bao gồm:
- Chính sách phát triển nguồn lực thông tin KH&CN