1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của thông tin khoa học và công nghệ đối với hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội

104 550 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ HƯƠNG VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ QUYỀN

SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ QUYỀN

SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.72

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN HẢI

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4.1 Đối tượng nghiên cứu 9

4.2 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Mẫu khảo sát 10

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Cấu trúc của luận văn 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 13

1.1 Khái niệm thông tin và thông tin quản lý 13

1.1.1 Định nghĩa thông tin và thông tin quản lý 13

1.1.2 Đặc trưng của thông tin quản lý 14

1.1.3 Vai trò của thông tin trong quản lý 14

1.1.4 Phân loại thông tin quản lý 16

1.2 Quá trình thông tin trong quản lý 18

1.2.1 Quá trình thông tin cho việc xây dựng quyết định quản lý 18

1.2.2 Quá trình thông tin triển khai thực hiện quyết định quản lý 19

1.2.3 Quá trình thông tin kiểm tra, đánh giá quyết định quản lý 20

1.2.4 Những trở ngại của quá trình thông tin trong quản lý 21

1.2.5 Những yêu cầu sử dụng thông tin trong quản lý 22

1.3 Quyền sở hữu công nghiệp 22

1.3.1 Khái quát về quyền SHCN 22

1.3.2 Một số đối tượng SHCN 23

1.3.3 Bảo hộ quyền SHCN 31

1.4 Thông tin khoa học và công nghệ 33

1.4.1 Quan niệm chung về thông tin KH&CN 33

1.4.2 Các định nghĩa về thông tin KH&CN 35

1.4.3 Thông tin KH&CN về SHCN 36

1.4.4 Vai trò của thông tin KH&CN về SHCN 40

Kết luận chương 1 41

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ THÔNG TIN KH&CN 42

ĐỐI VỚI VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SHCN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 42

2.1 Khái quát thực trạng thông tin KH&CN về SHTT 42

2.1.1 Khái quát thực trạng thông tin KH&CN 42

Trang 4

2.1.2 Khái quát thực trạng thông tin KH&CN về SHCN do Sở KH&CN Hà Nội

quản lý 49

2.1.3 Khái quát thực trạng thông tin KH&CN về SHCN 53

2.2 Đánh giá vai trò của thông tin KH&CN đến hoạt động bảo hộ SHCN 57

2.2.1 Vai trò của thông tin KH&CN đối với các cơ quan quản lý nhà nước về SHCN 57

2.2.2 Vai trò của thông tin KH&CN đối với các doanh nghiệp có nhu cầu được bảo hộ quyền SHCN 60

2.3 Đánh giá vai trò của phương tiện thông tin đại chúng – nguồn thông tin KH&CN về SHCN 66

2.4 Đánh giá việc khai thác thông tin KH&CN về SHCN 68

2.4.1 Đánh giá hậu quả của việc doanh nghiệp không biết khai thác thông tin KH&CN về SHCN 68

2.4.2 Đánh giá việc khai thác thông tin KH&CN về SHCN qua kết quả thanh tra 70

2.4.3 Nguyên nhân thực trạng vai trò của thông tin KH&CN đối với hoạt động bảo hộ quyền SHCN 75

Kết luận chương 2 82

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC CÓ HIỆU QUẢ 83

THÔNG TIN KH&CN VÀO VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SHCN 83

3.1 Xây dựng nguồn thông tin KH&CN về SHCN 83

3.1.1 Xây dựng nguồn thông tin KH&CN về SHCN do trung ương quản lý 83

3.1.2 Xây dựng nguồn thông tin KH&CN về SHCN do địa phương quản lý 86 3.1.3 Nâng cao chất lượng nguồn thông tin KH&CN về SHCN 91

3.1.4 Nâng cao chất lượng nghiệp vụ thông tin KH&CN về SHCN 91

3.2 Tăng cường vai trò của thông tin KH&CN trong bảo hộ SHCN 93

3.2.1 Xác định vị trí quan trọng của thông tin KH&CN đối với SHCN 93

3.2.2 Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước đối với thông tin KH&CN về SHCN 94

3.2.3 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định thông tin KH&CN về SHCN 97

Kết luận chương 3 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

Kết luận 98

Khuyến nghị 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KH&CN: Khoa học và Công nghệ SHCN: Sở hữu công nghiệp SHTT: Sở hữu trí tuệ

TSTT: Tài sản trí tuệ UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong các quan hệ song phương và đa phương về kinh tế, vấn đề sở hữu trí tuệ đã trở nên vô cùng quan trọng và đã trở thành những thách thức không nhỏ đối với nhiều quốc gia trong những năm gần đây Tình hình này cũng xảy ra đối với Việt Nam Điểm qua hầu hết các Hiệp định song phương

về kinh tế và thương mại mà Việt Nam đã ký kết như: Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định về Sở hữu trí tuệ Việt Nam - Thụy Sĩ , vấn

đề sở hữu trí tuệ đều được coi là quan trọng hàng đầu trong các Hiệp định đó Đặc biệt hơn, vấn đề sở hữu trí tuệ đã trở thành một trong những yêu cầu có tính bắt buộc mà Việt Nam cần phải tuân thủ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Vấn đề bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ: các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các sáng chế, nhãn hiệu đã được thực hiện từ hàng trăm năm trước, nhưng chưa bao giờ trở thành các ràng buộc mang tính chất bắt buộc đối với mỗi quốc gia trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế như hiện nay Sự ra đời của Hiệp định về các Khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) buộc các nước tham gia ký kết phải chuẩn hoá

hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của mình theo các nguyên tắc cơ bản và các chuẩn mực tối thiểu của Hiệp định này không phân biệt nước giàu hay nghèo

Trước tình thế này, để hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam buộc phải xây dựng một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng một cách thoả đáng và thực sự có hiệu quả, không những đáp ứng các nguyên tắc cơ bản và các chuẩn mực tối thiểu của Hiệp định TRIPS,

Trang 7

công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam

Không chỉ đáp ứng các yêu cầu về hội nhập, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam còn cần phải bảo đảm lợi ích quốc gia, cân bằng được lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân trong năm thành phần kinh tế và giữa chúng với nhau, và đặc biệt là phải là công cụ vững mạnh để góp phần điều tiết nền kinh tế

Thấy rõ được thực trạng và nguy cơ đó, trong những năm gần đây, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung

và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng, về cơ bản đáp ứng được các yêu cầu hội nhập (nhất là trong lĩnh vực xác lập quyền), và đạt được những kết quả đáng khích lệ trong nước, đó là đáp ứng các mục tiêu khuyến khích sáng tạo, bảo vệ quyền lợi của các nhà sáng tạo, các nhà đầu tư trong lĩnh vực tạo ra và thiết lập các giá trị về vật chất và tinh thần cho xã hội, đặc biệt là các chính sách bảo hộ sở hữu công nghiệp ở Việt Nam đã tạo niềm tin cho các nhà đầu

tư vào Việt Nam về ý chí của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ các thành quả sáng tạo của họ Tuy nhiên, so với tình hình chung về sở hữu công nghiệp trên thế giới, hệ thống sở hữu công nghiệp của Việt Nam còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục và hoàn thiện Sở hữu công nghiệp vẫn đang còn là vấn đề mới mẻ đối với nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhiều doanh nghiệp và các tầng lớp xã hội, điều đó cũng là một trong những nguyên nhân cản trở hoạt động sở hữu công nghiệp nói chung và hoạt động bảo đảm thực thi quyền sở hữu công nghiệp nói riêng Số lượng vi phạm, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đang gia tăng đến mức báo động, khó kiểm soát đã chứng tỏ

là hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam thực sự chưa vận hành có hiệu quả Tuy nhiên, trong thời gian qua chưa có nhiều nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện hệ thống này về hiện trạng, khả năng đáp ứng các

Trang 8

đòi hỏi có tính chất thách thức của nó và đặc biệt là đưa ra các căn cứ lý luận, thực tiễn cũng như các giải pháp, cụ thể là các biện pháp vĩ mô về đổi mới hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nhằm vận hành hệ thống này có hiệu quả

Một vấn đề cần phải nghiên cứu nữa là hiệu quả hoạt động của hệ thống bảo hộ quyền SHCN của Việt Nam chưa cao, mà một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là vai trò của thông tin KH&CN không được đánh giá cao đối với việc bảo hộ quyền SHCN Tình trạng này đã diễn

ra đối với khắp các địa phương trong cả nước và tất nhiên ngay cả đối với Hà Nội – nơi được coi là dẽ dàng tiếp cận với thông tin KH&CN

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề vừa nêu, tôi chọn Vai trò

của thông tin khoa học và công nghệ đối với hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội làm đề tài Luận văn khoa học chuyên ngành

Quản lý khoa học và công nghệ

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trên bình diện quốc tế, việc ban hành các Công ước và Hiệp ước liên quan đến SHTT có thể kể đến: Công ước Paris về bảo hộ SHCN 1883, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật 1886 Tiếp đến là Hiệp ước Bằng Sáng chế - PCT, Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hoá, Công ước quốc tế về Bảo hộ giống cây trồng mới, Hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ đối với bố trí mạch tích hợp, Hiệp ước Budapest về sự công nhận quốc

tế đối với việc nộp lưu chủng vi sinh Gần đây nhất là Hiệp định về các Khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ (Hiệp định TRIPS), được ký 1994 và có hiệu lực từ 01.01.1995, chứa các điều khoản về chuẩn mực liên quan đến sự sẵn sàng, phạm vi, việc sử dụng quyền sở hữu trí

Trang 9

tuệ, mua bán và duy trì và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, các thủ tục liên quan,

và các thoả thuận chuyển tiếp và thể chế

Một số các nghiên cứu của các học giả nước ngoài có liên quan đến thông tin KH&CN trong lĩnh vực SHCN, ví dụ tác giả Shinichiro Suzuki

thuộc Viện Sáng chế và Sáng kiến đã có nghiên cứu qua tác phẩm Mục đích

sử dụng biểu đồ sáng chế - Vai trò của thông tin sáng chế trong việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo Tác giả Shahid Alikhan với tác phẩm Lợi ích kinh tế - xã hội của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển, NXB Bản đồ

phát hành năm 2007 Tổ chức European Patent office đã phát hành tác phẩm

Patent information products and services 2008 bàn về thông tin sáng chế

Tại Việt Nam, thông tin KH&CN trong lĩnh vực SHCN cũng được một

số học giả quan tâm, có thể điểm một số công trình, đó là Nguyễn Tuấn Hưng, Giám đốc Trung tâm thông tin thuộc Cục Sở hữu trí tuệ với bài nghiên

cứu Khai thác và ứng dụng thông tin sáng chế Các tác giả Phan Quốc

Nguyên, Nguyễn Tuấn Hưng, Nguyễn Đức Thuận, Văn Đình Đệ, Nguyễn

Trọng Đức, Hồ Thành Nam với tác phẩm Giáo trình đại cương sở hữu trí tuệ

và khai thác thông tin sáng chế, do NXB Bách khoa Hà nội phát hành 2008

Các Hội thảo khoa học có liên quan đến thông tin KH&CN trong lĩnh

vực SHCN, có thể kể đến Hội thảo về “Thông tin sáng chế và hiệp ước hợp

tác bằng sáng chế (PCT)” do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, Cục sở

hữu trí tuệ Việt Nam, Đại học Bách khoa Hà nội phối hợp tổ chức năm 2003

Ngày 2 tháng 2 năm 2007, tại Hà Nội, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ đã tổ chức Hội thảo lần thứ nhất

Dự án "Ứng dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam" Lần đầu tiên, thư

viện điện tử về sở hữu công nghiệp (IP Lib) đã được giới thiệu Thư viện này bao gồm tất cả các đơn sở hữu công nghiệp được nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ

từ năm 1982 đến nay đã được công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp

Trang 10

(vào khoảng 130.000 đơn các loại và hơn 90.000 văn bằng bảo hộ) và theo dự kiến được cập nhật thường xuyên Thư viện điện tử IP Lib này là nguồn thông tin pháp lý đầy đủ nhất và là nguồn thông tin khoa học công nghệ có giá trị về tình trạng bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt Nam Công chúng có thể sử dụng IP Library để kiểm tra sơ bộ khả năng bảo hộ của đối tượng dự định nộp đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp, theo dõi tình trạng đơn đã được nộp

Trong các ngày 11 và 13 tháng 3 năm 2009 Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp

với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản đã tổ chức Hội thảo Phát triển và ứng

dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam trong khuôn khổ Dự án hợp tác kỹ

thuật Việt Nam – Nhật Bản Dự án hợp tác kỹ thuật Việt Nam – Nhật Bản do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, đã được triển khai tại Cục Sở hữu trí tuệ từ 01/01/2005, và sẽ kết thúc vào 31/03/2009 Trong hơn bốn năm qua, Dự án đã phát triển và đưa vào ứng dụng Hệ thống thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, bao gồm hệ thống máy tính cùng các phần mềm ứng dụng như Hệ thống tra cứu thông tin dùng cho thẩm định đơn sở hữu công nghiệp, Hệ thống thư viện điện tử để cung cấp thông tin sở hữu công nghiệp đã công bố cho công chúng, Hệ thống nộp và nhận đơn sở hữu công nghiệp điện tử

Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò của thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN trên địa bàn Hà Nội

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn phải đạt được các mục tiêu nghiên cứu sau đây:

- Đánh giá đúng vai trò của thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;

- Đề ra các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả thông tin KH&CN

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có những nhiệm

vụ sau đây:

- Đặt ra một hệ thống lý thuyết, cơ sở lý luận có liên quan đến các khái niệm: thông tin, thông tin KH&CN, sở hữu công nghiệp, bảo hộ quyền SHCN;

- Khảo sát thực tiễn trên địa bàn Hà Nội về việc ứng dụng thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN;

- Phân tích việc ứng dụng thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN trên địa bàn Hà Nội, tìm ra những nguyên nhân dẫn tới mặt hạn chế của việc ứng dụng thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN

- Trên cơ sở khảo sát và phân tích thực tiễn, đề ra các giải pháp nhằm

sử dụng có hiệu quả thông tin KH&CN vào việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là: thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn sử dụng các số liệu có liên

quan đến vấn đề nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2008 Ngoài

ra, Luận văn còn sử dụng kết quả thanh tra có liên quan đến SHCN của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội đến 8.2009

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: trên địa bàn Hà Nội

- Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ 10.2008 đến 10.2009

Trang 12

- Công ty Sở hữu trí tuệ: Invenco, Concetti, Invenship

- 30 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có trụ sở đặt trên địa bàn Hà Nội

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Thông tin KH&CN có vai trò như thế nào đối với việc bảo hộ quyền

sở hữu công nghiệp?

- Tại sao hiệu quả của thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN trên địa bàn Hà Nội chưa cao?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Luận văn nhằm kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu sau đây:

1 Thông tin KH&CN về SHCN có vai trò:

- Giúp các cơ quan quản lý nhà nước bảo hộ chính xác và nhanh chóng các đối tượng của quyền SHCN;

- Giúp các doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, xác định chính xác và nhanh chóng các đối tượng của quyền SHCN có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

Trang 13

- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng góp phần nâng cao hiểu biết của xã hội về SHTT

2 Hiệu quả ứng dụng thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN trên địa bàn Hà Nội chưa cao vì:

- Nguồn thông tin KH&CN về SHCN còn thiếu;

- Chưa biết cách khai thác thông tin KH&CN về SHCN

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, thống kê, tổng hợp tài

liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp, kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Phương pháp điều tra thực tế: tác giả đã điều tra thực tế để nắm được thực

trạng khai thác thông tin KH&CN trong việc bảo hộ quyền SHCN;

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: để thu thập thông tin định lượng,

tác giả đã khảo sát 30 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có trụ

sở trên địa bàn Hà Nội bằng cách phát 300 bảng hỏi cho các nhà quản lý doanh nghiệp như chủ tịch Hội đồng quản trị, giám đốc, phó giám đốc, trưởng/phó phòng chức năng kết quả thu lại được 287 phiếu, cho phép thu được kết quả

khách quan

Phương pháp chuyên gia: để thu thập thông tin định tính, tác giả Luận

văn đã tiến hành phỏng vấn: các nhà quản lý nhà nước, các nhà quản lý doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực SHCN

Phương pháp nghiên cứu trường hợp: nghiên cứu một số trường hợp

điển hình của sự không thành công đối với việc bảo hộ quyền SHCN mà nguyên

nhân trực tiếp là thiếu thông tin KH&CN

Trang 14

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về thông tin KH&CN và bảo hộ quyền SHCN Chương 2 Thực trạng về thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN trên địa bàn Hà Nội

Chương 3 Giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả thông tin KH&CN vào việc bảo hộ quyền SHCN

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

1.1 Khái niệm thông tin và thông tin quản lý

1.1.1 Định nghĩa thông tin và thông tin quản lý

Đã có nhiều tác giả cố gắng thể hiện diễn đạt về khái niệm thông tin Theo nghĩa rộng, thuật ngữ “Thông tin” thường có nghĩa là mọi ý tưởng, sự kiện hay tác phẩm được sáng tạo ra “Thông tin” cũng có thể được sử dụng để nói đến một yếu tố dữ liệu nào đó

Do vậy, thông tin là một cái gì đó có thể làm thay đổi tình trạng kiến thức của một người (những gì mà người đó biết) và đại diện vật chất cho những gì trừu tượng có thể tạo ra được sự thay đổi này

Có những quan niệm đã đồng nhất thông tin và vật mang thông tin Do khuôn khổ có hạn, Luận văn không bàn chi tiết vào vấn đề này

Theo Trần Ngọc Liêu1, thông tin là một vấn đề phức tạp bao chứa đựng nội dung đa dạng và phong phú vì thế nó được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Theo nghĩa chung nhất thì thông tin được hiểu là những tri thức được

sử dụng để định hướng, tác động tích cực và để điều khiển nhằm duy trì tính đặc thù về chất, hoàn thiện và phát triển hệ thống

Thông tin quản lý là hệ thống tri thức được thu thập và xử lý để phục

vụ cho việc ban hành, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá quyết định quản

Trang 16

Từ định nghĩa này, có thể thấy thông tin quản lý bao gồm:

- Hệ thống tri thức được thu thập và xử lý (thông tin đầu vào)

- Thông tin trong tổ chức thực hiện quyết định quản lý (quá trình truyền thông)

- Thông tin cho việc kiểm tra, đánh giá quyết định quản lý (thông tin phản hồi)

1.1.2 Đặc trưng của thông tin quản lý

- Thông tin không phải là vật chất, nhưng nó tồn tại nhờ “vỏ vật chất”, tức là vật mang thông tin (tài liệu, sách báo, tivi…) Chính vì vậy, thường xảy

ra hiện tượng: cùng một vật mang thông tin như nhau nhưng người nhận tin

có thể thu lượm được những giá trị khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ và vấn

đề mà họ quan tâm

- Thông tin trong quản lý có số lượng lớn vì tính chất đa dạng và phong phú của hoạt động quản lý, bởi vậy, mỗi chủ thể quản lý, mỗi tổ chức đều có thể trở thành một trung tâm thu phát thông tin

- Thông tin trong quản lý phản ánh trật tự và cấp bậc của quản lý Trong một tổ chức tồn tại các cấp quản lý khác nhau Do dó, việc tiếp nhận và

xử lý thông tin cũng như sử dụng nó đối với các cấp quản lý khác nhau là có

sự khác biệt Nói cách khác, không thể có sự bình đẳng tuyệt đối trong tiếp nhận, xử lý và sử dụng thông tin của các cấp quản lý và của các thành viên trong tổ chức

1.1.3 Vai trò của thông tin trong quản lý

Thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý Trong mỗi tổ chức, để cho các hoạt động quản lý có hiệu quả thì điều không thể thiếu được

Trang 17

là phải xây dựng hệ thống thông tin tối ưu Vai trò của thông tin trong quản lý thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

- Vai trò của thông tin trong việc lập kế hoạch và ra quyết định

Lập kế hoạch và ra quyết định là công việc phức tạp và khó khăn nhưng nó lại có ý nghĩa tiên quyết đối với các nhà quản lý Để có được những

kế hoạch và những quyết định đúng đắn, các nhà quản lý cần rất nhiều thông tin Nhờ có thông tin mà các nhà quản lý có thể giải quyết đúng đắn và hiệu quả các vấn đề sau:

+ Nhận thức vấn đề cần phải lập kế hoạch và ra quyết định

+ Xác định cơ hội cũng như thách thức đối với tổ chức

+ Xác lập các cơ sở tiền đề khoa học cần thiết để xây dựng các mục tiêu

+ Lựa chọn các phương án để thực hiện các quyết định quản lý

- Vai trò của thông tin trong công tác tổ chức

Trong quá trình thực hiện chức năng tổ chức, thông tin có vai trò quan trọng ở các phương diện sau:

+ Nhận thức các vấn đề liên quan tới việc thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức, phân công phân nhiệm và giao quyền

+ Cung cấp các dữ liệu cần thiết về nhân lực, vật lực và tài lực

+ Xây dựng các phương án để bố trí, sắp xếp, sử dụng nhân lực và phân

bổ các nguồn lực khác

+ Giải quyết các vấn đề liên quan tới công tác tổ chức

- Vai trò của thông tin trong công tác lãnh đạo

Khi thực hiện chức năng lãnh đạo, thông tin giúp các nhà quản lý giải quyết đúng đắn và hiệu quả các nội dung sau:

Trang 18

+ Nhận thức các vấn đề liên quan tới động cơ thúc đẩy nhân viên

+ Cung cấp các dữ liệu để làm cơ sở cho việc xây dựng nội quy, quy chế và chính sách của tổ chức

+ Lựa chọn các phương pháp và phong cách quản lý hiệu quả

- Vai trò của thông tin trong công tác kiểm tra

Trong lĩnh vực kiểm tra, thông tin có vai trò quan trọng trên các phương diện:

+ Nhận thức vấn đề cần phải kiểm tra

+ Cung cấp dữ liệu cho việc xây dựng các tiêu chuẩn

+ Xây dựng các phương án để đo lường và các giải pháp sửa chữa sai lầm của chủ thể

Như vậy, có thể thấy rằng thông tin là mạch máu liên kết toàn bộ các chức năng của quy trình quản lý, là nhân tố không thể thiếu để xây dựng, triển khai thực hiện và kiểm tra đánh giá các quyết định quản lý Thông tin là cầu nối giữa tổ chức với môi trường

1.1.4 Phân loại thông tin quản lý

Thông tin quản lý là một dạng thông tin đặc biệt, tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau Tuỳ vào các căn cứ khác nhau mà có thể phân chia thông tin thành loại:

- Căn cứ vào mức độ xử lý thông tin

+ Thông tin ban đầu

Thông tin ban đầu là những thông tin chưa được xử lý để phục vụ cho hoạt động quản lý, nhưng nó có thể là một thông tin đã được xử lý ở phương diện khác với mục đích khác

Trang 19

Thông tin trung gian là loại thông tin đã được xử lý nhưng mới ở mức

sơ cấp Vì vậy, các nhà quản lý phải cẩn trọng trong việc xử lý các thông tin này để phục vụ cho hoạt động quản lý

+ Thông tin cuối cùng

Thông tin cuối cùng là thông tin đã được xử lý một cách triệt để và có thể được sử dụng cho hoạt động quản lý

- Căn cứ vào mức độ phản ánh của thông tin

+ Thông tin đầy đủ (Thông tin tổng thể)

Thông tin đầy đủ là thông tin về chỉnh thể đối tượng và đã được xử lý + Thông tin không đầy đủ (Thông tin bộ phận)

Thông tin không đầy đủ là thông tin về một mặt, một khía cạnh của đối tượng

- Căn cứ vào tính pháp lý của thông tin

+ Thông tin chính thức

Thông tin chính thức là thông tin được công bố bởi những cấp quản lý xác định trong tổ chức

+ Thông tin phi chính thức

Thông tin phi chính thức là những thông tin không phải do những người có trách nhiệm trong tổ chức công bố

- Căn cứ vào chức năng của quy trình quản lý:

+ Thông tin phục vụ quá trình lập kế hoạch và ra quyết định

+ Thông tin phục vụ công tác tổ chức

+ Thông tin phục vụ công tác lãnh đạo

+ Thông tin phục vụ công tác kiểm tra

- Căn cứ hướng chuyển động của thông tin:

Trang 20

+ Thông tin theo chiều dọc

Thông tin theo chiều dọc là thông tin từ cấp trên chuyển xuống cấp dưới và cấp dưới chuyển lên cấp trên trong một tổ chức và của quan hệ giữa

tổ chức cấp trên và tổ chức cấp dưới

+ Thông tin theo chiều ngang

Thông tin theo chiều ngang là thông tin giữa các cấp quản lý đồng cấp

và giữa những người bị quản lý với nhau

- Căn cứ vào nội dung của các lĩnh vực liên quan tới hoạt động quản lý

+ Thông tin kinh tế, thông tin tài chính.v v

+ Thông tin pháp luật

+ Thông tin văn hoá - xã hội.v.v

- Theo hình thức truyền đạt thông tin

+ Thông tin bằng văn bản

+ Thông tin bằng lời nói

+ Thông tin không lời

Ngoài ra, có thể phân loại: thông tin về nhân sự, thông tin về tài chính ; thông tin mới, thông tin lạc hậu (đã lão hoá),…

1.2 Quá trình thông tin trong quản lý

1.2.1 Quá trình thông tin cho việc xây dựng quyết định quản lý

Quá trình này gồm: Thu thập thông tin; Xử lý thông tin và Sử dụng thông tin

Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin liên quan tới những vấn đề về thực trạng, khả năng của tổ chức và những thông tin bên ngoài nhằm xây dựng

Trang 21

1.2.2 Quá trình thông tin triển khai thực hiện quyết định quản lý

- Ban hành các quyết định quản lý

- Truyền đạt việc thực hiện quyết định quản lý

- Giải thích, hướng dẫn thực hiện quyết định

Đây chính là quá trình truyền tin trong quản lý Quá trình này bao gồm:

1 Nguồn tin (Quyết định quản lý), 2 Thông điệp, 3 Mã hoá, 4 Truyền đạt qua các kênh, 5 Giải mã, 6 Nơi nhận, 7 Thông tin phản hồi

Sử dụng

Ra quyết định

Trang 22

1.2.3 Quá trình thông tin kiểm tra, đánh giá quyết định quản lý

- Thông tin cho việc xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra

- Thông tin về kết quả thực hiện quyết định quản lý

- Thông tin về kết quả đánh giá

- Những thông tin về các giải pháp điều chỉnh

Trang 23

1.2.4 Những trở ngại của quá trình thông tin trong quản lý

Những trở ngại đối với quá trình thông tin trong quản lý:

- Những trở ngại trong việc thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cho việc xây dựng quyết định quản lý

+ Tình trạng quá tải hoặc thiếu thông tin hữu ích

+ Hạn chế về năng lực và kĩ năng xử lý thông tin

- Những trở ngại trong việc truyền đạt thông tin

+ Đối với chủ thể truyền đạt

Đo lường Kết quả

Thông tin xây dựng Tiêu chuẩn

Kết quả thực hiện

Giải pháp NHÀ QUẢN LÝ

Trang 24

+ Văn hoá tổ chức

1.2.5 Những yêu cầu sử dụng thông tin trong quản lý

- Thông tin trong quản lý phải khách quan, chính xác, đầy đủ

- Thông tin trong quản lý phải kịp thời, không sử dụng thông tin đã lạc hậu

- Thiết lập hệ thống xử lý thông tin hữu hiệu

- Truyền đạt thông tin phải rõ ràng, dễ hiểu

- Sử dụng thông tin phản hồi 2

1.3 Quyền sở hữu công nghiệp

1.3.1 Khái quát về quyền SHCN

Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Một số định nghĩa về các đối tượng của quyền SHCN:

- Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình

nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên

- Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể

hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này

Trang 25

- Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán

thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử

- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của các

phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn

- Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ

chức, cá nhân khác nhau

- Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động

kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

- Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu

vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể

- Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính,

trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh

Sau đây Luận văn sẽ điểm một số khái niệm về đối tượng của quyền SHCN có liên quan đến thông tin KH&CN

1.3.2 Một số đối tượng SHCN

1.3.2.1 Sáng chế

Luật SHTT định nghĩa: Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản

phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên

Yêu cầu đầu tiên cho việc bảo hộ sáng chế là đối tượng bảo hộ phải là một giải pháp kỹ thuật

Một giải pháp kỹ thuật được cấp patent phải đạt đủ 3 điều kiện:

Trang 26

- Tính mới;

- Trình độ sáng tạo;

- Khả năng áp dụng công nghiệp

Đối với sáng chế, cần phải lưu ý các thuật ngữ: giải pháp kỹ thuật, chất, phương pháp

Giải pháp kỹ thuật

Giải pháp kỹ thuật là cách giải quyết một nhiệm vụ bằng các phương tiện vật chất, tức là khi đề xuất một giải pháp kỹ thuật người ta phải nêu ra được cách thức cụ thể và các phương tiện vật chất cụ thể kèm theo để giải quyết nhiệm vụ được đặt ra chứ không phải chỉ nêu một nhiệm vụ, một mục tiêu, một ý đồ không thôi

Những đối tượng sau đây không được coi là giải pháp kỹ thuật và do đó không thuộc đối tượng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích: các nguyên lý và phát minh khoa học, tức là các giải pháp của các nhiệm vụ khoa học thuần tuý

mà mục tiêu là thoả mãn nhu cầu về mặt nhận thức của con người về thế giới vật chất , nhằm phát hiện ra những quy luật, những tính chất hay những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết Các quy tắc, các mô hình toán học, đồ thị tra cứu và các dạng tương tự Các hệ thống ngôn ngữ (hệ thống ngữ pháp, các hệ thống ngôn ngữ nhân tạo như chữ cho người mù, mã số, chữ viết, cách phát âm…), hệ thống thông tin, phân loại, hệ thống sắp xếp tư liệu…

Cơ cấu

Là chi tiết hoặc tập hợp các chi tiết liên kết với nhau tạo thành một thể thống nhất về kết cấu và chức năng Cơ cấu chủ yếu là các sản phẩm của quá trình sản xuất, dụng cụ lao động, các công trình xây dựng hay vật liệu để tạo

ra chúng và có thể được biểu thị dưới một trong các dạng sau đây:

Trang 27

- Một hay một cụm chi tiết máy: các loại trục, khớp nối trục, ốc, vít, thanh, ống

- Các thiết bị gồm tổng thể các máy móc, máy phát điện, ắc quy (như nồi cơm điện, nồi hơi )

- Các sơ đồ điện

Chất

Chất là tập hợp các phần tử, các nguyên tố tương hỗ đáp ứng một nhu cầu cụ thể Chất có thể là các dung dịch, các hợp kim, các dung dịch huyễn phủ, các hợp chất hoá học

Phương pháp

Phương pháp là trình tự tiến hành các công đoạn hoặc một loạt các công đoạn xảy ra đồng thời hoặc một cách trình tự theo thời gian, trong các điều kiện kỹ thuật xác định có sử dụng các phương tiện vật chất Do đó, phương pháp bất kỳ được đặc trưng bởi sự hiện diện đối tượng cần được tác động vào và bởi các phương tiện và bởi tính chất của tác động, cũng như bởi kết quả của tác động.3

Các ý tưởng lý thuyết phi kỹ thuật là đối tượng bị loại trừ khỏi ra khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế Điều này được minh họa dưới đây:

- Phát minh: hầu hết các hệ thống bảo hộ sáng chế đều chỉ ra sự khác biệt giữa sáng chế và phát minh Phát minh được xem là những khám phá về

sự vật hoặc hiện tượng đã tồn tại trong tự nhiên, ngược lại, sáng chế là việc áp dụng kiến thức đó để giải quyết một vấn đề thực tiễn Tuy nhiên, sự khác biệt này trở nên khá mơ hồ khi áp dụng do có rất nhiều ví dụ về khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế của các phát minh, nếu chúng được kết hợp với các ứng dụng kỹ thuật Ví dụ, các phát hiện liên quan đến cấu trúc và vị trí

3 Phạm Phi Anh, Bài giảng sáng chế và giải pháp hữu ích, Trường Đại học KHXH&NV, 2008

Trang 28

của ADN đã được cho là có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế nếu chúng được áp dụng trong công nghệ gen

- Lý thuyết khoa học: cùng với các phát minh, lý thuyết khoa học, ví dụ như tuyết tương đối của Einstein, không có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế Mặt khác, một thiết bị hoạt động trên cơ sở một lý thuyết khoa học lại được xem là một sáng chế

1.3.2.2 Kiểu dáng công nghiệp

Luật SHTT định nghĩa: Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài

của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này

- “Hình khối” trong định nghĩa trên được coi là hình dạng bên ngoài

dưới dạng hai chiều hoặc ba chiều của sản phẩm mà có thể nhận dạng được bằng mắt thường Ví dụ hình dạng hai chiều là: mẫu hoa văn, nhãn sản phẩm; hình dạng ba chiều là: chai lọ, ô tô, xe máy

- “Đường nét” trong định nghĩa về KDCN bao gồm đường viền, đường

kẻ, nếp gấp, hoa văn trang trí thể hiện dưới dạng hai chiều hoặc ba chiều trên mặt ngoài của sản phẩm, nghĩa là các yếu tố thể hiện trên mặt hình khối của sản phẩm để trang trí cho sản phẩm đó

- “Màu sắc” được hiểu là màu của chính sản phẩm đó có được nhờ vật

liệu dùng để chế tạo sản phẩm đó đem lại, hoặc là màu sắc của phẩm màu hoặc sơn màu phủ lên sản phẩm đó

KDCN của một sản phẩm là vẻ bên ngoài của đồ vật hữu dụng, vẻ bề ngoài này được thể hiện qua đường nét, hình khối, màu sắc hay sự kết hợp của các yếu tố đó Nó là các dấu hiệu mà con người có thể nhìn thấy được, nhận biết được, và phân biệt được sự giống nhau hay khác nhau giữa kiểu dáng của sản phẩm này với kiểu dáng của sản phẩm khác

Trang 29

KDCN bắt buộc phải ứng dụng cho sản phẩm cụ thể, có nghĩa là tập hợp các đặc điểm tạo dáng không gắn liền với sản phẩm sẽ không được bảo

hộ với danh nghĩa KDCN

KDCN phải có tính mới đối với thế giới, có nghĩa là KDCN này phải khác biệt đáng kể với KDCN đã được đăng ký, nộp đơn đăng ký, khác với các kiểu dáng đã được công bố rộng rãi trước đó tại Việt Nam cũng như bất kỳ nước nào khác trên thế giới

KDCN phải có khả năng sản xuất hàng loạt, được dùng làm mẫu để chế tạo ra sản phẩm bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp Nghĩa

là sản phẩm hữu dụng mang KDCN đó phải có khả năng tái tạo được bằng phương pháp công nghiệp (ví dụ như: bàn, ghế, giường, tủ, ) hoặc phương pháp thủ công nghiệp (như: mẫu thêu, mẫu hoa văn, ) để có được hàng loạt các sản phẩm giống nhau về kiểu dáng Bởi vậy mà thuật ngữ “kiểu dáng” được gắn thêm từ “công nghiệp”, nếu không thoả mãn yêu cầu này thì những kiểu dáng đó có thể coi như tác phẩm nghệ thuật và được bảo hộ theo luật quyền tác giả

* Hai tính năng cơ bản của KDCN:

- Thứ nhất: KDCN có tính thẩm mỹ làm hài lòng người sử dụng sản phẩm mang kiểu dáng đó Thực tế thì chúng ta khó mà đánh giá được lợi ích kinh tế mà tính năng này mang lại, nhưng chúng ta có thể khẳng định được rằng: hình dáng bên ngoài mang tính thẩm mỹ của sản phẩm sẽ làm cho chất lượng cuộc sống của con người được nâng cao thêm

- Thứ hai: KDCN giúp nâng cao tiện ích của sản phẩm

Qua những đặc điểm và tính năng nói trên thì KDCN rất cần phải có được cơ chế pháp luật bảo hộ cho nó

1.3.2.3 Nhãn hiệu

Trang 30

Thuật ngữ nhãn hiệu đang được sử dụng khá phổ biến và trở nên quen thuộc trong nền kinh tế thị trường, không chỉ với doanh nghiệp mà với cả người tiêu dùng Trên thế giới cũng tồn tại khá nhiều quan điểm từ nhiều cách cận khác nhau, xung quanh khái niệm nhãn hiệu Luật SHTT định nghĩa:

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức,

cá nhân khác nhau

Có thể hiểu nhãn hiệu có thể là các yếu tố truyền thống như từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó và cũng không loại trừ các dấu hiệu mới như mùi vị, âm thanh, tổ hợp màu sắc miễn sao dấu hiệu đó đặt được khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau

Trong nhóm các đối tượng thuộc quyền SHCN nhãn hiệu được coi là đối tượng phổ biến và gắn bó mật thiết nhất với đời sống con người Các nhà sản xuất sử dụng nhãn hiệu trên sản phẩm của mình để thông qua đó truyền đạt thông tin về một sản phẩm hay dịch vụ nào đó tới khách hàng Tuy nhiên, giá trị thực sự của nhãn hiệu là khi những biểu tượng mang tin đó được lan rộng trong cả cộng đồng, khi đó nhãn hiệu sẽ được tăng thêm giá trị, tạo thêm nhiều lợi ích vật chất cho chủ sở hữu

Xung quanh đối tượng này có nhiều khái niệm được đưa ra:

- Hiệp định TRIPS quy định rằng “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp

các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các màu sắc cung như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ tương ứng, các Thành viên có thể quy định

Trang 31

sử dụng Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được”

được cấu thành với dấu hiệu bất kỳ hoặc sự bất kỳ các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người với hàng hoá dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hoá hoặc hình dạng của bao bì hàng hoá Nhãn hiệu hàng hoá bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận”

Điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu:

Dấu hiệu phải đảm bảo các điều kiện là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc, có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác

Qua đó cho thấy tất cả những dấu hiệu mà con người có khả năng tri giác, cảm nhận được nếu được gắn lên một sản phẩm bất kỳ đều có khả năng bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu Nhưng dấu hiệu đó không thuộc trường hợp loại trừ tức là không được bảo hộ với danh nghĩa là nhãn hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

- Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng cờ huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan tổ chức đó cho phép;

Trang 32

- Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, danh hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

- Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

- Dấu hiệu làm sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người iêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ

1.3.2.4 Tên thương mại

Luật SHTT định nghĩa: Tên thương mại là tên gọi tổ chức, cá nhân

dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Qua đây cho thấy sự phức tạp của quy định về tên thương mại, theo đó tên thương mại có thể là tên dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp (thành lập hoạt động theo Luật Doanh nghiệp); tên Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã (thành lập theo Luật Hợp tác xã); tên tổ chức tín dụng (thành

lập theo Luật các Tổ chức tín dụng); tên tổ chức bảo hiểm (thành lập theo Luật Kinh doanh bảo hiểm), Hộ kinh doanh (theo quy định tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh) và các tổ chức kinh tế khác theo quy

định của pháp luật

Luật SHTT tuy điều chỉnh về tên thương mại với tư cách là đối tượng SHCN, nhưng Cục SHTT lại không trực tiếp thẩm định tên thương mại, cấp chứng nhận tên thương mại, hoạt động này lại thuộc về Sở Kế hoạch và Đầu

Trang 33

việc quản lý tên thương mại nếu thông tin KH&CN về lĩnh vực này không được thông suốt giữa các cơ quan quản lý nhà nước về SHCN khác nhau

Sự phức tạp này còn được thể hiện ở mối quan hệ hữu cơ giữa nhãn hiệu và tên thương mại Tên doanh nghiệp có những yêu tố chung không thể hoặc khó phân biệt thuộc về loại hình doanh nghiệp và có những yếu phân biệt thuộc về tên riêng của doanh nghiệp Ví dụ, Công ty TNHH xây dựng và chế biến thực phẩm KINH ĐÔ thì “Công ty TNHH” là loại hình doanh nghiệp; “xây dựng

và chế biến thực phẩm” là cụm từ dùng để chỉ ngành nghề kinh doanh, thành phần phân biệt chủ yếu là chữ “KINH ĐÔ” Trong đó “KINH ĐÔ” không thể trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu KINH ĐÔ đang còn hiệu lực bảo hộ cho cùng nhóm sản phẩm, dịch vụ thuộc một chủ thể khác

Trên đây, Luận văn chỉ xin trích một phần khái niệm về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu và tên thương mại – bốn trong số nhiều đối tượng của quyền SHCN Lý do chỉ trích bốn đối tượng này vì chúng có nhiều liên quan đến thông tin KH&CN – một đối tượng nghiên cứu của Luận văn

1.3.3 Bảo hộ quyền SHCN

Các văn bản quy phạm pháp luật không định nghĩa thuật ngữ bảo hộ

quyền SHTT, bảo hộ quyền SHCN Luật SHTT của Việt Nam còn dùng cả 2

thuật ngữ bảo hộ quyền SHTT (Protection of Intellectual Property Rights) và bảo vệ quyền SHTT (Protection of Intellectual Property Rights), cả 2 thuật

ngữ này khi chuyển sang tiếng Anh đều giống hệt nhau mà không có sự phân biệt Thực chất thuật ngữ bảo vệ quyền SHTT là thực thi quyền SHTT

(Enforcement of Intellectual Property Rights)

Tại điều 10, Luật SHTT chỉ quy định nội dung quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, bao gồm:

Trang 34

1 Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ

3 Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

về sở hữu trí tuệ

4 Cấp và thực hiện các thủ tục khác liên quan đến Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, Bằng bảo hộ giống cây trồng

5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ

6 Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê về sở hữu trí tuệ

7 Tổ chức, quản lý hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ

8 Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về sở hữu trí tuệ

9 Hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ

Như vậy, có thể quan niệm nội hàm của thuật ngữ bảo hộ quyền SHTT bao gồm cả việc bảo vệ (thực thi) quyền SHTT Trong Luận văn này, tác giả không dùng thuật ngữ bảo vệ quyền SHTT, mà thay vào đó là sử dụng thuật ngữ thực thi quyền SHTT

Theo Lê Văn Kiều, thì việc bảo hộ quyền SHTT bao gồm:

- Ban hành các quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ;

- Xác lập quyền sở hữu trí tuệ;

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ văn bằng đang được bảo hộ;

- Thực thi quyền SHTT là thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ các quyền của chủ SHTT và ngăn chặn, xử lý người

Trang 35

với các đối tượng SHTT là biện pháp tác động bằng pháp luật thông qua việc

áp dụng biện pháp dân sự, hình sự, hành chính và kiểm soát biên giới, đối với sản phẩm, hàng hoá nhằm chống lại các hành vi xâm phạm.4

Do giới hạn nghiên cứu, Luận văn không sử dụng đầy đủ thuật ngữ bảo

hộ quyền SHTT, mà chỉ sử dụng một phần, tức là chỉ sử dụng thuật ngữ bảo

hộ quyền SHCN, thực thi quyền SHCN

1.4 Thông tin khoa học và công nghệ

1.4.1 Quan niệm chung về thông tin KH&CN

Ngày nay, thông tin khoa học và công nghệ được coi là chìa khoá của mọi hoạt động sáng tạo, là yếu tố thiết yếu của năng lực đổi mới, cạnh tranh

và phát triển của mỗi cá nhân, tập thể và của toàn xã hội Chính vì vậy, hoạt động thông tin KH&CN ngày càng được coi trọng và đã trở thành một thành

tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nói chung, và KH&CN nói riêng, của bất cứ quốc gia nào

Nhận thức rõ vai trò của thông tin khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung, và đối với sự nghiệp phát triển khoa học

và công nghệ nói riêng, Nhà nước ta đã ban hành một số chủ trương và chính sách nhằm thúc đẩy và phát triển công tác này Những chủ trương và chính sách được ban hành gần đây nhất là:

- Chỉ thị 95-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1991về việc thúc đẩy công tác thông tin khoa học và công nghệ trong công cuộc đổi mới đất nước;

- Nghị quyết 49/CP của Chính phủ năm 1993 về phát triển công nghệ thông tin ở nước ta trong những năm 90;

4

Lê Văn Kiều, Bài giảng thực thi quyền SHTT, Đại học KHXH&NV, Hà Nội 2006

Trang 36

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về khoa học, công nghệ và môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trên cơ sở các Nghị quyết, Chỉ thị nêu trên, Bộ KH&CN đã cùng với các ngành hữu quan chuẩn bị và ban hành các văn bản hướng dẫn, cụ thể hoá những nội dung, nhiệm vụ và biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thông tin KH&CN, củng cố và phát triển hệ thống thông tin KH&CN quốc gia Đến nay, về cơ bản Hệ thống đã bao quát tất cả các ngành kinh tế quốc dân và các lĩnh vực khoa học, công nghệ từ trung ương đến các tỉnh, thành phố trong cả nước

Một số năm gần đây, sự phối hợp hoạt động thông tin-tư liệu khoa học

và công nghệ đã gắn kết các thư viện, cơ quan lưu trữ trong một lĩnh vực hoạt động, cho phép mở rộng phạm vi phục vụ của hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, trong đó đáng kể là mạng lưới gồm 61 thư viện khoa học tổng hợp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trên 480 thư viện cấp huyện và mạng lưới bao gầm 90 kho lưu trữ ở trung ương và địa phương

Ngoài ra, hiện nay trong điều kiện đổi mới cơ chế kinh tế và mở cửa, tham gia hoạt động thông tin KH&CN còn có các cơ quan và tổ chức tư vấn, các Hiệp hội thuộc các lĩnh vực khác nhau Như vậy, ở nước ta, cho đến nay, một hệ thống các cơ quan thông tin tư liệu KH&CN với các quy mô tổ chức khác nhau đã tạo nên một hạ tầng cơ sở, đảm bảo cho công tác thông tin tư liệu KH&CN thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt động xã hội, góp phần tích cực phục vụ công tác quản lý, lãnh đạo, nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh Hoạt động này đang cố gắng từng bước gắn chặt với quá trình phát triển kinh tế-xã hội nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thông tin của xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Trang 37

1.4.2 Các định nghĩa về thông tin KH&CN

- Thông tin khoa học và công nghệ là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin

tức, tri thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội

- Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ là hoạt động nghiệp vụ về

tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin khoa học và công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ

- Tài liệu là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản,

âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến

và sử dụng

- Vật mang tin là phương tiện vật chất dùng để lưu giữ thông tin gồm

giấy, phim, băng từ, đĩa từ, đĩa quang và các vật mang tin khác

- Nguồn tin khoa học và công nghệ bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở

dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập

- Tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ là đơn vị sự nghiệp

thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật.5

5

Nghị định số 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ

Trang 38

1.4.3 Thông tin KH&CN về SHCN

Từ những quan niệm khái quát trên về thông tin, thông tin quản lý, thông tin KH&CN, Luận văn đưa ra định nghĩa thông tin KH&CN có liên

quan đến lĩnh vực bảo hộ quyền SHCN bao gồm các dữ liệu, số liệu, dữ kiện,

tin tức, tri thức khoa học và công nghệ về sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp cho hoạt động bảo hộ quyền SHCN để phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội

Hiện nay, hệ thống thông tin KH&CN có liên quan đến SHCN ở Việt Nam bao gồm:

- Thông tin về sáng chế;

- Thông tin về kiểu dáng công nghiệp;

- Thông tin về nhãn hiệu

Hệ thống thông tin SHCN bao gồm tập hợp các thông tin liên quan đến tất cả các đối tượng SHCN được bảo hộ, các thông tin chọn lọc theo mục đích hoặc theo chủ đề về các đối tượng SHCN trong nước và nước ngoài được phân loại, sắp xếp một cách phù hợp, thuận lợi cho việc tra cứu phân phối và

sử dụng Thông tin sáng chế được thiết lập và phát triển thành một hệ thống nhỏ trong hệ thống thông tin SHCN Hệ thống thông tin sáng chế được hiểu là toàn bộ các thông tin về công nghệ và thông tin về tình trạng pháp lý liên quan đến đăng ký sáng chế được ghi nhận trong quá trình thực hiện các thủ

tục xác lập quyền SHCN đối với sáng chế Hay nói một cách chính xác, thông

tin sáng chế là các thông tin kỹ thuật và pháp lý bao gồm các tư liệu sáng chế được cơ quan sáng chế xuất bản định kỳ (là các tư liệu chứa thông tin về đơn

đăng ký sáng chế và các thông tin có liên quan đến bảo hộ sáng chế do cơ

Trang 39

quan SHTT quốc gia hoặc quốc tế tạo ra trong quá trình tiến hành các thủ tục xác lập và bảo hộ quyền SHCN)

Thông tin sáng chế tồn tại dưới dạng các tư liệu sáng chế, bao gồm các bản mô tả, trong đó chứa các khái niệm khoa học và kỹ thuật cũng như các thông tin chi tiết về các quy trình và cơ cấu thực tế của sáng chế Tư liệu sáng chế mang cả ý nghĩa pháp lý và kỹ thuật mà không thể dễ dàng phân biệt Tư liệu sáng chế chứa các thông tin như: yêu cầu bảo hộ đưa ra bản chất của vấn

đề được coi là mới; bản mô tả đưa ra tổng quan về sáng chế và xác định sự khác biệt giữa công nghệ đã có từ trước và những gì mà sáng chế đóng góp dưới danh nghĩa là một đối tượng mới, một bước phát triển đối với sự phát triển công nghệ Tư liệu sáng chế thường bộc lộ thông tin công nghệ bằng việc mô tả các sáng chế theo các yêu cầu áp dụng của luật sáng chế và bằng việc chỉ ra tính mới và trình độ sáng tạo được yêu cầu bảo hộ thông qua việc dẫn chiếu đến tình trạng kỹ thuật hiện tại Vì vậy, tư liệu sáng chế là nguồn thông tin không chỉ về những gì đã biết mà còn về những gì mới

Bản mô tả sáng chế là tài liệu kỹ thuật quý giá nhằm cung cấp thông tin

về sáng chế Những thông tin này nếu được nắm bắt, cập nhật kịp thời sẽ mang lại những lợi thế ưu việt cho người có nhu cầu sử dụng Bởi các yếu tố nêu trong bản mô tả sáng chế là cơ sở để khẳng định độc quyền sáng chế, đồng thời đưa sáng chế vào áp dụng thực tế nhằm thương mại hóa sáng chế Bản mô tả sáng chế trong đơn đăng ký sáng chế có cấu trúc thống nhất, rõ ràng, thể hiện chi tiết giải pháp kỹ thuật và những giá trị thiết thực nhất của sáng chế đối với thực tế

Còn bản tóm tắt là phần trình bày ngắn gọn về bản chất của sáng chế đã được bộc lộ trong bản mô tả, yêu cầu bảo hộ và hình vẽ nhằm cung cấp các thông tin tóm tắt về sáng chế (bản tóm tắt có thể được minh họa thêm bằng hình vẽ đặt trưng) Bản tóm tắt cũng chỉ ra lĩnh vực mà sáng chế được sử

Trang 40

dụng hoặc có liên quan; có tên sáng chế; nêu bật được bản chất sáng chế bằng cách chỉ ra các dấu hiệu khác biệt cơ bản; được giới hạn trong một phạm vi sử dụng từ ngữ nhất định (không quá 150 từ) Bản tóm tắt, theo đúng nghĩa của

nó, là sự tóm tắt tổng hợp để người đọc sáng chế có thể nắm bắt những thông tin ngắn gọn nhất về sáng chế, quyết định xem có nên đọc toàn văn các tài liệu của đơn hay không

Những thông tin vắn tắt nêu trên là những thông tin cần thiết, thể hiện những thông tin cơ bản về sáng chế, đặc biệt là về giải pháp kỹ thuật của sáng chế (bản chất của đối tượng yêu cầu bảo hộ) Và cần phải hiểu rằng, đối với mọi tư liệu sáng chế, thì thông tin quan trọng nhất thể hiện bản chất sáng chế

và tính chất pháp lý của sáng chế là phạm vi yêu cầu bảo hộ

Các dạng thông tin sáng chế:

- Thông tin sơ cấp: công báo, bản mô tả sáng chế (thông tin kỹ thuật)

- Thông tin thứ cấp: thông tin tóm tắt sáng chế;

- Thông tin cấp ba: thông tin theo thư mục tra cứu;

- Các cơ sở dữ liệu thông tin sáng chế: trên Internet, đĩa quang…

- Thông tin khác: về xử lý khiếu nại, tranh chấp liên quan tới sáng chế…

Thông tin thư mục như thông tin về nước công bố sáng chế, loại hình tư liệu, ngày nộp đơn, ngày cấp bằng độc quyền sáng chế, ngày công bố, ngày

ưu tiên, số đơn, số bằng, số công bố đơn, số ưu tiên, tên người nộp đơn, tên chủ bằng, ký hiệu phân loại sáng chế quốc tế, tên sáng chế, tóm tắt sáng chế, hình vẽ hoặc công thức có liên quan Thông tin kỹ thuật như đã trình bày về bản mô tả, là mô tả vắn tắt về giải pháp kỹ thuật đã biết, những nhược điểm của các giải pháp công nghệ đã có trước đó và nhiệm vụ cần giải quyết của sáng chế Thông tin sáng chế mô tả bản chất của giải pháp kỹ thuật mới được

Ngày đăng: 20/03/2015, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Phi Anh (2008), Bài giảng sáng chế và giải pháp hữu ích, Trường Đại học KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sáng chế và giải pháp hữu ích
Tác giả: Phạm Phi Anh
Năm: 2008
3. Các quy định của pháp luật về sở hữu công nghiệp (2001), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định của pháp luật về sở hữu công nghiệp
Tác giả: Các quy định của pháp luật về sở hữu công nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam: Nghị định số 127/2004/NĐ - CP của Chính phủ ngày 31/5/2004 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
6. Tài liệu “Hội thảo về Thực thi Quyền sở hữu trí tuệ” do Viện Sở hữu trí tuệ Liên bang Thuỵ Sỹ, Cục Sở hữu công nghiệp, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức tháng 5/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hội thảo về Thực thi Quyền sở hữu trí tuệ”
7. Phạm Đình Chướng (2002), Hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam trên đường hội nhập. Tạp chí Hoạt động Khoa học số 518 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam trên đường hội nhập
Tác giả: Phạm Đình Chướng
Năm: 2002
8. Phạm Đình Chướng (2003), Bảo đảm thực thi quyền sở hữu công nghiệp. Tạp chí Hoạt động Khoa học số 524 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Đình Chướng (2003), "Bảo đảm thực thi quyền sở hữu công nghiệp
Tác giả: Phạm Đình Chướng
Năm: 2003
9. Vũ Cao Đàm (2005), Đánh giá Nghiên cứu khoa học, Nhà Xuất bản Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá Nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà Xuất bản Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2005
10. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà Xuất bản Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà Xuất bản Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2005
11. Trần Ngọc Hiên (2001), Một số đặc điểm mới của phát triển khoa học trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí thông khoa học, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm mới của phát triển khoa học trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trần Ngọc Hiên
Năm: 2001
12. Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich (2004): Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
13. Nguyễn Thanh Hồng (2003), Thực thi quyền sở hữu công nghiệp. Cục Sở hữu công nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi quyền sở hữu công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thanh Hồng
Năm: 2003
14. Lê Văn Kiều (2006), Bài giảng thực thi quyền SHTT, Trường Đại học KHXH&NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng thực thi quyền SHTT
Tác giả: Lê Văn Kiều
Năm: 2006
15. Trần Ngọc Liêu (2009), Bài giảng Khoa học quản lý đại cương, Trường Đại học KHXH&NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Khoa học quản lý đại cương
Tác giả: Trần Ngọc Liêu
Năm: 2009
16. Phan Quốc Nguyên, Nguyễn Tuấn Hưng, Nguyễn Đức Thuận, Văn Đình Đệ, Nguyễn Trọng Đức, Hồ Thành Nam (2008), Giáo trình đại cương sở hữu trí tuệ và khai thác thông tin sáng chế, NXB Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Quốc Nguyên, Nguyễn Tuấn Hưng, Nguyễn Đức Thuận, Văn Đình Đệ, Nguyễn Trọng Đức, Hồ Thành Nam (2008), "Giáo trình đại cương sở hữu trí tuệ và khai thác thông tin sáng chế
Tác giả: Phan Quốc Nguyên, Nguyễn Tuấn Hưng, Nguyễn Đức Thuận, Văn Đình Đệ, Nguyễn Trọng Đức, Hồ Thành Nam
Nhà XB: NXB Bách khoa Hà Nội
Năm: 2008
17. Nguyễn Hồng Nhung (2008), Sử dụng thông tin sáng chế phục vụ hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp đại học Ngành Khoa học quản lý, chuyên ngành SHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng thông tin sáng chế phục vụ hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Nhung
Năm: 2008
18. Phạm Ngọc Thanh (2007), Tập bài giảng Khoa học quản lý, Chương trình cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Khoa học quản lý
Tác giả: Phạm Ngọc Thanh
Năm: 2007
19. Phạm Huy Tiến (2001) Tổ chức khoa học và công nghệ, Tập bài giảng, Trường Nghiệp vụ quản lý khoa học và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức khoa học và công nghệ
20. Đoàn Văn Tình (2007), Báo cáo thực tập tốt nghiệp “Pháp luật và Nghiệp vụ SHTT” Khóa VI, Trường Đại học KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực tập tốt nghiệp “Pháp luật và Nghiệp vụ SHTT”
Tác giả: Đoàn Văn Tình
Năm: 2007
21. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam: Luật Khoa học và Công nghệ 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
25. Website http.www.tchdkh.org.vn 26. Website http://www.dost.hanoi.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Nhận thức của doanh nghiệp về SHCN - Vai trò của thông tin khoa học và công nghệ đối với hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Bảng 1. Nhận thức của doanh nghiệp về SHCN (Trang 63)
Bảng 2. Nguồn thông tin cung cấp để hiểu biết về SHCN - Vai trò của thông tin khoa học và công nghệ đối với hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2. Nguồn thông tin cung cấp để hiểu biết về SHCN (Trang 64)
Bảng 3. Nguyên nhân chưa đăng ký bảo hộ quyền SHCN - Vai trò của thông tin khoa học và công nghệ đối với hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Bảng 3. Nguyên nhân chưa đăng ký bảo hộ quyền SHCN (Trang 65)
Bảng 4. Cách thức đăng ký bảo hộ quyền SHCN - Vai trò của thông tin khoa học và công nghệ đối với hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Bảng 4. Cách thức đăng ký bảo hộ quyền SHCN (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w