1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) định hướng phát triển kinh tế trang trại tỉnh long an

58 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về tình hình phát triển nông nghiệp của Long An, Luận văn chỉ tập trung làm rõ hai vấn đề: 1- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp của Long An, 2- Những thành tựu trong sản

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại ngày càng chứng tỏ là một đầu tàu kinh tế ở nông thôn, là nhân tố thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp Vì vậy, Đảng và Nhà Nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho loại hình kinh tế này phát triển Tuy nhiên, hiện nay việc vận dụng chủ trương về phát triển kinh tế trang trại vào từng địa phương đang gặp nhiều trở ngại Sự quan tâm lớn nhất của các địa phương là phải xác định được hướng phát triển loại hình tổ chức sản xuất này cho phù hợp với những điều kiện cụ thể

Là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có những thuận lợi lớn về điều kiện phát triển kinh tế trang trại, nhưng Long An cũng đang đứng trước khó khăn chung này Nhận thức đây là vấn đề còn nhiều bức xúc, nên tác giả chọn đề tài:

“ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH LONG AN’’

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

1 Đánh giá khái quát kinh tế trang trại ở Long An và rút ra những nhận định về những thành tựu và những vấn đề đặt ra cho kinh tế trang trại của tỉnh

2 Kiến nghị về định hướng phát triển kinh tế trang trại ở Long An

3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tháo gỡ những khó khăn hiện nay trong phát triển kinh tế kinh tế trang trại ở Long An

III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

1 Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

2 Nghiên cứu tình hình phát triển nông nghiệp của Long An

3 Nghiên cứu hiện trạng kinh tế trang trại tỉnh Long An về loại hình, qui mô, hiệu quả, xu thế phát triển

4 Nghiên cứu định hướng phát triển trang trại Long An trên các vùng sinh thái

5 Nghiên cứu các giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở Long An

IV GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

1 Về quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam, Luận văn chỉ tập trung giải quyết hai vấn đề: (1)- Những cơ sở pháp lý cho sự hình thành

Trang 3

và phát triển của trang trại ở Việt Nam; (2)- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

2 Về tình hình phát triển nông nghiệp của Long An, Luận văn chỉ tập trung làm rõ hai vấn đề: (1)- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp của Long An, (2)- Những thành tựu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Long An

3 Về tình hình trang trại ở Long An, Luận văn tập trung vào nhận diện các loại hình về qui mô, hiệu quả, tiềm năng phát triển và những khó khăn của chúng

4 Về định hướng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn Long An, Luận văn chỉ định hướng cho hai tiểu vùng sinh thái lớn là vùng Đồng Tháp Mười và vùng Hạ Long An Luận văn không định hướng cho từng huyện, thị

5 Phần giải pháp, Luận văn tập trung vào những vấn đề quan trọng nhất của tỉnh

6 Phạm vi điều tra: Luận văn chọn cách điều tra điển hình các loại hình trang trại tiêu biểu của Long An và địa bàn được chọn là các huyện có nhiều trang trại

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

1 Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện trong điều tra tình hình sản xuất, đời sống và nguyện vọng của các trang trại ở Long An

2 Phương pháp phân tích thống kê được dùng để chuẩn hóa và phân tích số liệu điều tra nhằm mô tả thực trạng và những xu hướng phát triển kinh tế trang trại

3 Phương pháp so sánh dùng để so sánh các mô hình kinh tế trang trại nhằm rút

ra những nét đặc trưng và sự khác biệt của các loại hình trang trại ở Long An

4 Phương pháp chuyên gia dùng để xác định các nhân tố cơ bản về kinh tế, kỹ thuật, xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế trang trại ở Long An

VI KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Lời mở đầu

Chương 1 : Tổng quát tình hình kinh tế trang trại Việt Nam

Chương 2 : Phân tích hiện trạng kinh tế trang trại tỉnh Long An

Chương 3 : Định hướng và các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tỉnh Long An

Phần kết luận

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUÁT TÌNH HÌNH

KINH TẾ TRANG TRẠI VIỆT NAM

Trên thế giới, kinh tế trang trại đã ra đời từ hàng trăm năm qua và được các thể chế chính trị thừa nhận như một tất yếu kinh tế Sang thế kỷ XIX, trong các nớc phát triển, nhờ đẩy mạnh cơ giới hóa, các trang trại đã giảm đáng kể số lượng lao động, số lượng trang trại giảm đi nhưng diện tích trang trại tăng lên Ở các nước đang phát triển mà điển hình là các nước Đông Nam Á, kinh tế trang trại hình thành muộn hơn và hiện nay đang trong quá trình vừa tăng qui mô, vừa tăng số lượng Các trang trại trên thế giới đều dựa trên nền tảng kinh tế hộ, và thường có thuê thêm lao động Hiện nay, các trang trại có xu thế liên kết trong một số hoạt động như khuyến nông, cung ứng đầu vào, hỗ trợ vốn, …

Nhìn chung, kinh tế trang trại đang đóng vai trò đầu tàu của sản xuất nông nghiệp trên thế giới và tỏ rõ sự thích ứng cao bằng quá trình tự điều chỉnh qui mô cho phù hợp Có thể nói, kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế phổ biến trong nông nghiệp thế giới, không phân biệt về khu vực, trình độ nền kinh tế hay thể chế chính trị Trong bối cảnh đó, chúng ta sẽ xem xét quá trình hình thành và phát triển

kinh tế trang trại ở Việt Nam trong những năm gần đây

1.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở VIỆT NAM

Kinh tế trang trại thực chất là kinh tế nông hộ sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn, trên cơ sở tích tụ các yếu tố sản xuất cơ bản như lao động, vốn, ruộng đất, máy móc thiết bị,… Lịch sử phát triển của kinh tế trang trại trên thế giới cho thấy, việc hình thành kinh tế trang trại cần có hai điều kiện cơ bản:

(1)- Sự tự chủ sản xuất kinh doanh của nông hộ

(2)- Nông hộ có khả năng và được phép tích tụ các yếu tố sản xuất

Trang 5

Kinh tế trang trại là một tất yếu của lịch sử phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, sự ra đời của nó gặp nhiều trở ngại

1.1.1 Giai đoạn trước 1988

• Thời kỳ trước năm 1981

Quốc doanh nông nghiệp và các hình thức hợp tác thống trị trong nông nghiệp Việt Nam Nhưng từ 1975 đến 1981, các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp nói trên ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, nông dân chán nản và dồn tâm huyết đầu tư cho ruộng 5% Trên thực tế, sản xuất trên ruộng 5% của nông dân hiệu quả hơn hẳn sản xuất của HTX Tuy nhiên, qui mô diện tích đất 5% của nông

hộ là nhỏ bé và nông hộ không được quyền tích tụ thêm ruộng đất Như vậy, thời kỳ này sản xuất nông nghiệp tự chủ của người nông dân chưa hình thành kinh tế trang trại

• Từ 1981 đến 1988

Năm 1981, Ban Bí Thư Trung Ương đã ban hành Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, cho phép các nông hộ làm chủ sản xuất nông nghiệp trên một diện tích lớn hơn trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, kinh tế trang trại vẫn chưa thể hình thành vì các nông hộ vẫn chưa được tích tụ đất Năm

1986, Nghị quyết Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam định hướng nền kinh

tế mở, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Đây là cơ sở quan trọng khởi đầu cho việc trao lại quyền làm chủ quá trình sản xuất cho nông hộ

1.1.2 Giai đoạn sau 1988

Năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị đã xác định kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế cơ bản trong nông nghiệp và được giao quyền sử dụng đất trong một thời gian dài, được tự chủ sản xuất và tiêu thụ nông sản Như vậy, so với Chỉ thị

100, Nghị quyết 10 đã mang lại thêm một yếu tố tích cực là cho phép nông hộ làm

chủ quá trình sản xuất nông nghiệp trong thời gian dài Có thể nói, đây đây, điều

kiện thứ nhất để hình thành kinh tế trang trại đã hoàn tất

Trang 6

Cũng trong năm 1988 Hội Đồng Bộ Trưởng đã cho phép nông hộ được thuê lao động thời vụ Luật Đất Đai năm 1988 và Luật Đất Đai sửa đổi năm 1993 đã xác lập nền tảng pháp lý về việc coi nông hộ là đơn vị sản xuất cơ bản trong nông nghiệp và giao cho nông hộ quyền sử dụng đất lâu dài kèm theo 5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp Như vậy, đến thời điểm này, nông hộ không những đã có quyền tự chủ sản xuất mà còn có quyền tích tụ các

yếu tố sản xuất (lao động, ruộng đất và các phương tiện kỹ thuật) Điều đó có

nghĩa là, kinh tế trang trại đã có đầy đủ tính pháp lý để hình thành

Những năm 90, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích kinh tế trang trại phát triển Tuy nhiên, ngay cả khi được nhà nước thừa nhận và khuyến khích thì không phải là kinh tế trang trại đã hoàn toàn có được một hành lang luật pháp thông thoáng để phát triển Những năm qua, có ba vấn đề pháp lý gây bức xúc cho kinh tế trang trại như sau:

• Vấn đề hạn điền

Để ngăn chặn việc tích tụ ruộng đất dẫn đến tình trạng một bộ phận nông dân trở thành “nông dân không đất” hoặc “nông dân thiếu đất”, Nhà nước đã qui định về “Hạn điền”, chỉ cho phép nông hộ tích tụ ruộng đất dưới một mức nào đó (vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền Trung không quá 2 ha, Vùng Đồng bằng sông Cửu Long không quá 3 ha,…) Như vậy, chính sách này đã bó hẹp qui mô ruộng đất của trang trại ở quanh mức hạn điền Chính sách hạn điền áp dụng những năm qua có những bất cập Trước hết, hiệu lực thi hành kém vì các nông hộ đã vô hiệu hóa chính sách này bằng việc tách hộ, “sang nhượng chui”,… Thứ hai, chính sách này không phù hợp với xu hướng trên thế giới là tăng qui mô ruộng đất của trang trại

• Vấn đề Kinh tế trang trại thuộc thành phần kinh tế nào

Một số người cho rằng, kinh tế trang trại là kinh tế hộ phát triển cao (có nghĩa là chỉ nông dân thì mới có thể là chủ trang trại) Số đông ý kiến cho rằng,

Trang 7

không chỉ nông dân mà các tầng lớp khác như trí thức, cán bộ hưu trí, tư nhân thành thị,… đều có quyền làm trang trại (có nghĩa là thành phần sở hữu chủ rất đa dạng)

• Vấn đề Đảng viên có được làm chủ trang trại không

Một số ý kiến cho rằng, Đảng viên không được làm kinh tế trang trại vì đã là trang trại thì có thuê mướn lao động và có bóc lột Một số ý kiến thì cho rằng, mọi người đều có quyền làm kinh tế trang trại vì đây là loại hình tổ chức sản xuất lớn, ích nước, lợi dân Hơn nữa, việc cấm Đảng viên làm chủ trang trại là không thể thực hiện được vì nếu ai đó muốn phát triển trang trại thì họ có thể núp dưới danh nghĩa người khác

Để giải quyết những vấn đề bức xúc và tạo điều kiện cho kinh tế trang trại phát triển, ngày 02/02/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về kinh tế trang trại với những nội dung chủ yếu như sau:

Thứ nhất, Về khái niệm, Nghị quyết khẳng định: “Kinh tế trang trại là hình

thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình” Với khái niệm này, vấn đề thành phần chủ trang trại có thể hiểu rằng:

Mọi người đều có thể tham gia phát triển kinh tế trang trại

Thứ hai, về chính sách đất đai: Ngoài phần đất được giao trong hạn mức

của địa phương trang trại có thể được UBND xã xét cho thuê đất Các hộ phi nông nghiệp, các cá nhân ở địa phương khác cũng có thể được thuê đất lập trang trại Với trang trại vượt hạn điền trước ngày 01/01/1999 thì được tiếp tục sử dụng và phần diện tích vượt hạn điền được chuyển sang dạng đất thuê

Thứ ba, Các trang trại hình thành trên đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa

và những diện tích chưa có đầu tư cải tạo thì được miễn hoặc giảm tiền thuê đất

Thứ tư, Trang trại được vay vốn của các ngân hàng thương mại quốc doanh

Chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo tiền vay

Thứ năm, chủ trang trại được thuê lao động không giới hạn về số lượng và

Trang 8

trả công trên cơ sở thỏa thuận với người lao động theo qui định chung của pháp luật

Thứ sáu, tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của trang trại không bị quốc hữu

hóa Nếu Nhà Nước thu hồi đất được giao, được thuê của trang trại thì chủ trang trại được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi [7/2]

Bảng số 01: Tiêu chí về qui mô trang trại theo Thông tư liên tịch giữa Bộ Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn và Tổng Cục Thống Kê, ngày 23/06/2000

Loại hình trang trại

(theo lĩnh vực sản xuất chủ

yếu)

Đơn vị Miền Bắc và

Duyên hải miền Trung

Các tỉnh còn lại

Cây lâu năm

Riêng hồ tiêu

Trâu, bò sinh sản, nuôi lấy sữa Con ≥ 10

Trâu, bò nuôi lấy thịt Con ≥ 50

Lợn thịt (không kể lợn sữa) Con ≥ 100

Gia cầm (trên 7 ngày tuổi) Con ≥ 2.000

Nuôi tôm theo kiểu công nghiệp Ha ≥ 1

Nuôi các loại thủy sản khác Ha ≥ 2

Các loại hình đặc biệt: hoa, cây

cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống

thủy sản, thủy đặc sản

Chỉ có tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa: > 50 Tr.đ Như vậy, Nghị quyết trên đây đã tháo gỡ hàng loạt những bức xúc trong thực tiễn Tiếp theo, Thông tư liên tịch giữa Bộ Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn và Tổng Cục Thống Kê, ngày 23/06/2000 đã hướng dẫn về tiêu chí xác định kinh tế trang trại [2] Theo tinh thần của Thông tư này, qui mô của trang trại phải thỏa mãn hai tiêu chí:

• Về giá trị sản lượng hàng hóa phải đạt không dưới 40 triệu đồng đối với

Trang 9

các địa phương còn lại

• Về qui mô diện tích và vật nuôi phải đạt mức tối thiểu như bảng số 1

Như vậy, có thể nói, từ năm 1981 (với Chỉ thị 100) đến năm 2000, chính sách của Đảng và Nhà Nước đã từng bước tạo hoàn thiện cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển kinh tế kinh tế trang trại ở Việt nam

1.2 TÌNH HÌNH TRANG TRẠI Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Từ khi Chính Phủ ban hành tiêu chí trang trại theo qui định trong thông tư liên tịch giữa Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Nghiệp và Tổng Cục Thống kê, ngày 23/06/2000, đến nay là một khoảng thời gian tương đối ngắn, các địa phương chưa triển khai thống kê chính xác được về các loại hình trang trại

Trước đó đã có những nguồn số liệu điều tra về kinh tế trang trại, trong đó, đáng chú ý là 3 nguồn số liệu sau đây:

• Nguồn báo cáo của các tỉnh

• Nguồn số liệu điều tra của Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân trên phạm

vi 15 tỉnh thành (gọi tắt là “Nguồn điều tra của ĐH Kinh tế Quốc dân)

• Nguồn điều tra của Tổng Cục Thống Kê ở 4 tỉnh: Yên Bái, Thanh

Hóa, Bình Dương, Bình Phước (gọi tắt là Nguồn điều tra của Tổng Cục Thống Kê)

Tuy nhiên, nguồn báo cáo của các tỉnh và nguồn điều tra của ĐH Kinh Tế Quốc Dân dựa theo các tiêu chí địa phương nên không có sự thống nhất và sai

khác lớn so với tiêu chí trang trại hiện hành [xin xem Phụ lục số 01] Riêng nguồn

điều tra của Tổng Cục Thống Kê được thực hiện trên hệ tiêu chí tương đối khớp

với hệ tiêu chí hiện hành [xin xem Phụ lục số 02] Do đó, trong điều kiện chưa có

tổng điều tra kinh tế trang trại (theo tiêu chí của nhà nước), để có một cái nhìn khái quát, Luận văn tạm phân tích trên nền số liệu điều tra của Cục Thống Kê năm 1998 Ngoài ra, Luận văn sẽ trích dẫn những nguồn số liệu khác để tham

Trang 10

khảo hoặc làm sáng tỏ thêm

1.2.1 Số lượng và loại hình trang trại ở Việt nam

Theo ước tính của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (dựa theo báo

cáo của các tỉnh) hiện nay - năm 2000 - Việt Nam có khoảng 113.000 trang trại

[6/3] Tuy nhiên, Tổng Cục Thống Kê, số lượng trang trại theo báo cáo của tỉnh

cao hơn số lượng thực tế theo tiêu chí hiện hành khoảng 3 lần [xin xem phụ lục số

01], do đó có thể ước tính hiện nay Việt Nam có khoảng 40.000 đến 60.000 trang

trại Đại đa số các trang trại Việt Nam là kinh doanh tổng hợp Tỷ lệ các loại hình

trang trại ước chừng như sau:

Bảng số 02: Số lượng trang trại theo điều tra của Tổng

Cục Thống Kê và ĐH Kinh Tế Quốc Dân [11/293], [14/287] (đv: %)

Trang trại Điều tra của T.C Thống

Điều tra của ĐH KTQD

Qua những kết quả điều tra trên có thể nhận xét rằng, trang trại trồng cây

hàng năm và trang trại trồng cây lâu năm (cây công nghiệp dài ngày và cây ăn

trái) là loại hình phổ biến nhất hiện nay

1.2.2 Qui mô trang trại

• Qui mô diện tích và số lượng vật nuôi

Theo điều tra của Tổng Cục Thống Kê năm 1998, bình quân một trang trại

có diện tích 3,8 ha Như vậy so với diện tích bình quân một trang trại của Tây Âu

thì qui mô trang trại của Việt Nam nhỏ hơn nhiều, nhưng so với trang trại ở Nhật,

Đài Loan, Philippin thì diện tích trang trại của Việt nam lớn hơn

Trang 11

Bảng số 03: So sánh qui mô diện tích trang trại của các nước (đv: ha)

Việt Nam Anh Pháp Hà Lan Nhật Đài Loan Thái Lan

Theo số liệu điều tra của đại học Kinh Tế Quốc Dân, qui mô diện tích bình quân của trang trại là 6,63 ha Trong đó tỉnh có qui mô diện tích bình quân trang trại lớn nhất là Nghệ An (12,69 ha), nhỏ nhất là Đồng Nai (2,753 ha)

Trang trại thường kinh doanh nhiều lĩnh vực như cây hàng năm, cây ăn trái, cây lâm nghiệp, thủy sản, nuôi gia súc, gia cầm,… Theo điều tra của Tổng Cục Thống Kê, qui mô diện tích và số lượng gia súc, gia cầm bình quân của trang trại như sau:

Bảng số 04: Qui mô diện tích và số lượng gia

súc, gia cầm bình quân của một trang trại - 1998 [8,9]

Cây lâu năm

Đất lâm nghiệp

Đất thủy sản

Trâu bò Lợn Gia

cầm

Cây hàng năm 5,90 4,30 0,40 1,10 0,10 1,70 3,00 62,00Cây lâu năm 9,40 0,10 9,10 0,10 0,10 0,60 1,30 18,00Chăn nuôi 4,20 0,80 0,30 2,80 0,30 39,00 72,00 544,00Lâm nghiệp 18,20 0,30 0,80 17,00 0,10 0,50 3,00 22,00Thủy sản 8,20 0,50 0,20 0,30 7,20 0,00 6,10 65,00N-L-thủy sản 13,30 5,50 0,80 6,00 1,00 3,20 7,20 156,00

• Về vốn sản xuất

Theo điều tra của Tổng Cục Thống Kê, năm 1998: vốn đầu tư bình quân

Trang 12

một trang trại là 97,7 triệu đồng/năm, trong đó vốn vay 12,6 % Vốn đầu tư bình quân của một trang trại chăn nuôi là 572 triệu đồng; của một trang trại thủy sản là

38 triệu đồng; của trang trại trồng trọt và lâm nghiệp khoảng 55 triệu đồng

[14/289]

• Về lao động của trang trại

Theo số liệu điều tra của Tổng Cục Thống Kê, bình quân một trang trại có

12 lao động, trong đó có 8 lao động thuê mướn thời vụ và 2 lao động thuê mướn thường xuyên Hầu hết các trang trại chỉ thuê lao động giản đơn Chủ trang trại là những người vượt trội so với chủ nông hộ bình thường về ý chí làm giàu, trình độ kỹ thuật, khả năng quản lý và hiểu biết về thị trường

• Về trang bị máy móc

Cũng theo điều tra của Tổng Cục Thống Kê, bình quân 100 trang trại có 3 máy kéo lớn, 3 máy kéo nhỏ, 8 máy phát điện, 3 ô tô vận tải, 9 tàu thuyền, 27 máy bơm nước, 7 máy xay xát, 8 máy tuốt lúa, 4 máy nghiền thức ăn gia súc Mức độ trang bị hiện nay còn thấp so với yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa lớn nhưng cao hơn nhiều so với mức trung bình của nông hộ trên cùng địa bàn.1

1.2.3 Kết quả và hiệu quả hoạt động trang trại

Có thể đánh giá một cách khái quát kết quả và hiệu quả kinh tế trang trại ở Việt Nam từ số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 1998 2

1 Nguyễn Sinh Cúc :”Khảo sát kinh tế trang trại” – Tạp chí nghiên cứu Kinh tế số 248 – tháng 1/1999

Trang 13

Bảng số 05: Các chỉ số bình quân về qui mô và hiệu quả của trang trại 4 tỉnh Yên Bái, Thanh Hóa, Bình Dương, Bình Phước - 1997

Cây CN và cây ăn trái

Chăn nuôi

Lâm nghiệp

Thủy sản

lâm- thủy sản

Nông-Số lao động Ng 2,30 2,30 2,70 2,70 2,30 2,40

Đất nông nghiệp Ha 4,80 28,00 1,80 1,20 0,50 7,30

Đất cây hàng năm Ha 4,20 0,90 0,30 0,70 0,40 1,40

Đất cây lâu năm Ha 0,60 9,10 0,20 0,50 0,10 6,00

Đất lâm nghiệp Ha 1,10 0,30 3,40 16,90 0,60 6,00

Đất nuôi thủy sản Ha 0,10 0,00 0,10 0,10 7,20 1,00

Số trâu bò Con 1,70 0,60 39,40 3,70 1,20 3,20

Vốn sản xuất Tr.đ 52,60 73,30 57,20 49,10 82,90 37,90

Tổng giá trị slượng Tr.đ 50,30 52,70 196,80 29,20 71,10 47,80

Thu nhập trang trại Tr.đ 23,30 23,40 46,50 17,60 29,50 21,40

Thu nhập lao động Tr.đ 9,50 9,20 19,60 6,40 12,80 8,50

Giá trị hàng hóa Tr.đ 42,00 43,70 18,50 19,70 58,20 39,00

Lao động của trang trại chăn nuôi có thu nhập cao nhất Trang trại lâm

nghiệp có thu nhập bình quân một lao động là thấp nhất Năm 1997, nếu bình quân

một lao động nông nghiệp Việt Nam tạo ra 3.358.000 đồng (giá cố định 1989)3, thì

một lao động của trang trại đạt từ 6.400.000 - 19.600.000 đồng Điều đó cho thấy

tính hiệu quả hơn hẳn của kinh tế trang trại so với sản xuất của nông hộ nói chung

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

TRANG TRẠI

3 Tổng cục Thống kê “Số liệu thống kê Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản Việt Nam 1990-1998 và dự báo năm 2000” ,

Trang 14

1.3.1 Môi trường pháp lý chưa hoàn toàn thuận lợi

Sự thuê mướn không thông qua hợp đồng lao động mà dưới hình thức “hợp đồng miệng” đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự ổn định cuộc sống của người làm

thuê Bộ luật lao động chưa phát huy sức mạnh trong quản lý nông nghiệp nên đôi

gây khi những căng thẳng giữa chủ trang trại và người làm thuê Luật thuế thu nhập trong nông nghiệp đang gây bức xúc cho nhiều trang trại

1.3.2 Cơ chế chính sách còn nhiều bất cập

Hiện nay còn nhiều trang trại chưa được giao đất, thuê đất ổn định lâu dài nên chưa an tâm đầu tư Chính sách hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật công nghệ cho nông dân còn chưa hợp lý Chính sách thông tin chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp khiến nhiều trang trại gặp rủi ro Chính sách trợ giá nông sản áp dụng chưa đồng bộ

1.3.3 Thị trường thế giới và trong nước gây nhiều khó khăn

Những năm gần đây thị trường nông sản thế giới có nhiều biến động phức tạp Giá mộât số mặt hàng nông sản như gạo, cao su, cà phê, thủy sản,… giảm mạnh Nông sản Việt Nam bị cạnh tranh quyết liệt bởi nông sản của Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc,… Đối với thị trường trong nước đang có xu hướng chuyển biến nhanh từ lượng sang chất nên nhiều trang trại chưa chuyển hướng sản xuất kịp Thương lái không chỉ là lực lượng hỗ trợ tiêu thụ cho trang trại, mà còn chèn ép nông dân Quan hệ giữa trang trại với các đơn vị dịch vụ, xí nghiệp công nghiệp còn mờ nhạt

1.3.4 Môi trường văn hóa xã hội còn những yếu tố cản trở

Phát triển kinh tế trang trại còn đang làm cho nhiều người e ngại sẽ nảy mầm sự bóc lột trong nông thôn, từ đó không ít người kỳ thị chủ trang trại An ninh

ở nhiều vùng nông thôn chưa đảm bảo

1.3.5 Còn nhiều khó khăn chủ quan của các trang trại

Khó khăn cơ bản là trình độ của chủ trang trại chưa cao, sự tiếp cận tiến bộ

Trang 15

khoa học kỹ thuật chưa đều và chưa đạt đến độ thỏa đáng Sự phản ứng của đa số chủ trang trại chưa đủ nhanh trước biến động thị trường Bên cạnh đó, thiếu vốn đầu tư là phổ biến của các trang trại; trang bị kỹ thuật còn khiêm tốn

1.3.6 Nhiều tỉnh chưa có định hướng cụ thể về phát triển trang trại

Đến năm 1998, chỉ có 21 tỉnh, thành báo cáo là có hình thức trang trại, nhưng trên thực tế không hẳn như vậy Điều đó nói lên sự thiếu quan tâm, hoặc sự

do dự về kinh tế trang trại còn ngự trị trong lãnh đạo của 40 tỉnh thành còn lại Mặt khác, chỉ một số ít tỉnh triển khai điều tra, nghiên cứu và định hướng phát triển, ngay cả khi Nghị quyết của Chính Phủ về phát triển kinh tế trang trại đã ban hành

Trang 16

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH LONG AN 2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP LONG AN

2.1.1 Khái quát về điều kiện phát triển nông nghiệp [15]

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Long An là một tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long, tiếp giáp với vùng tứ giác động lực Đông Nam Bộ nên có điều kiện thuận lợi để giao lưu kinh tế - văn hóa, khoa học để phát triển nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ và đa dạng hóa ngành nghề nông thôn

2.1.1.2 Đất nông nghiệp

Long An có diện tích tự nhiên khoảng 437.333 ha Năm 1999 đất nông nghiệp chiếm 71%, đất lâm nghiệp 8%, diện tích thủy sản 0,01%, Diện tích đất nông nghiệp bình quân một lao động là 0,56 ha, cao hơn mức bình quân của đồng bằng sông Cửu Long (0,41 ha) Đất đai ở Long An có thể chia thành 3 nhóm chính:

(1)- Đất phèn chiếm 56,1 %

(2)- Đất xám 21 %

(3)- Đất phù sa ngọt 17,66%

Khoảng 79,2% đất canh tác ở Long An là đất xấu (địa hình trũng, gò cao, nhiễm phèn mặn, úng lụt)

2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Long An nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, độ ẩm cao, ánh nắng dồi dào, lượng mưa hàng năm lớn, biên độ dao động nhiệt giữa thấp Đó là những điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhiệt đới

2.1.1.4 Nguồn nước, thủy văn

Trang 17

Nguồn nước mặt của Long An chủ yếu do hệ thống Sông Vàm Cỏ cung cấp Mùa khô, nguồn nước này bị nhiễm phèn, mặn nên khả năng sử dụng cho sản xuất và đời sống rất thấp Trữ lượng nước ngầm của Long An không được dồi dào, chất lượng kém, phân bổ sâu trên 200 m nên ít giá trị sử dụng Long An nằm trong vùng lũ đồng bằng sông Cửu Long Những năm 1996, 1998 và đặc biệt là năm 2000 lũ ở Long An rất lớn Địa bàn Long An còn chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều của Biển Đông, gây ra tình trạng nhiểm mặn ở một số huyện phía Nam Quốc Lộ 1

2.1.1.5 Hệ sinh thái

Hệ sinh thái ở Long An tương đối đa dạng với hệ sinh thái nước ngọt, hệ sinh thái nước mặn, hệ sinh thái rừng Các giống động vật hoang sơ như rùa, rắn,

ba ba, trăn,… còn tương đối nhiều ở vùng Đồng Tháp Mười Hệ thực vật phổ biến là tràm gió, tràm bông vàng, lác, bàng,… là đặc trưng còn sót lại của vùng hoang sơ Đồng Tháp Mười khi xưa Hệ động thực vật phong phú cho phép Long An phát triển nền sản xuất nông nghiệp đa dạng

2.1.1.6 Dân số - lao động

Năm 1999, Long An có khoảng 1,4 triệu nhân khẩu, trong đó có 219.000 nông hộ với 1,07 triệu nhân khẩu Mật độ dân số của tỉnh khoảng 320 người/km2, thấp hơn nhiều so với mức bình quân của đồng bằng sông Cửu Long Mật độ dân số vùng Hạ lớn gấp hơn 4 lần vùng Đồng Tháp Mười Long An có 576.000 lao động nông nghiệp, chiếm 67% tổng số lao động toàn Tỉnh

2.1.1.7 Hệ thống giao thông

Năm 1999, Long An có khoảng 4.000 km đường bộ, trong đó có khoảng 200

km đường nhựa,1.500 km đường trải sỏi đỏ Giao thông ở các huyện vùng Đồng Tháp Mười đang còn là vấn đề bức xúc Toàn tỉnh có 35/183 xã chưa có đường ôtô [N.1 - 2] Long An có khoảng 9.000 km đường giao thông thủy, tỏa rộng theo hai nhánh Vàm Cỏ, qua cửa Soài Rạp ra biển Đông

2.1.1.8 Hệ thống thủy lợi

Trang 18

Tính đến năm 1998, tỉnh Long An đã xây dựng được 58 công trình thủy lợi lớn, trong đó phải kể đến hệ thống thủy lợi ở Vùng Đồng Tháp Mười được thiết kế tương đối khoa học và các công trình thủy lợi ngăn mặn ở Cần Đước, Cần Giuộc, Tân Trụ, Châu Thành Tổng diện tích được tưới nước chủ động của tỉnh khoảng 100.000 ha (chiếm 1/3 diện tích canh tác)

2.1.1.9 Tình hình điện khí hóa

Năm 1999, diện đã về tới 175/183 phường - xã, với 69,6% nông hộ được dùng điện Đồng Tháp Mười là khu vực hệ thống cung cấp điện kém phát triển nhất Chỉ có khoảng 50% cư dân được dùng điện Theo kế hoạch của tỉnh thì năm

2000 điện sẽ về 100% số xã và 80% nông hộ sẽ có điện

2.1.1.10 Tình hình cơ giới hóa nông nghiệp

Tính đến năm 1998, trên địa bàn Long An có 4.423 máy kéo, 58.209 máy bơm, 2.850 máy tuốt lúa, 12 máy nghiền thức ăn gia súc, 933 tàu - ghe - thuyền đánh cá Diện tích canh tác do một máy móc thiết bị đảm nhận trên địa bàn Long

An ở mức thấp so với tình hình chung của đồng bằng sông Cửu Long [15/111]

2.1.2 Những thành tựu chủ yếu về sản xuất nông nghiệp [15]

2.1.2.1 Ngành trồng trọt

Sản xuất lương thực là ngành sản xuất chủ yếu, trong đó lúa chiếm 99% tổng sản lượng qui thóc Việc tăng sản lượng lúa chủ yếu dựa vào việc tăng vụ và mở rộng diện tích, đặc biệt là ở vùng Đồng Tháp Mười Năm 1999, Đồng Tháp Mười đạt 1,083 triệu tấn, chiếm 72% tổng sản lượng lương thực của tỉnh Long An đã hình thành vùng chuyên canh lúa đặc sản 25.000 ha Hiện nay, khoảng 70% sản lượng lúa của tỉnh đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Năm 1999 tỉnh đã xuất 300.000 tấn gạo Đạt kim ngạch 65 triệu USD, chiếm 48% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh

SẢN LƯỢNG LÚA TỈNH LONG AN (đv: ngàn tấn)

Trang 19

SẢN LƯỢNG MÍA TỈNH LONG AN (đv: ngàn tấn)

Trang 21

Bảng số 06: Sản lượng một số ngành trồng trọt của Long An, 1995 – 1999

2.1.2.2 Ngành chăn nuôi

Ngành chăn nuôi của Long An đạt tốc độ tăng trưởng 7,94% trong thời kỳ

91 - 95 Chăn nuôi heo là ngành chăn nuôi chủ yếu Đàn heo đã nạc hóa được

khoảng 80% Trong thời kỳ 91 - 95, đàn gà tăng 38% Năm 1999, đàn gia cầm phát

triển chậm do sản phẩm tiêu thụ khó khăn Đàn bò sữa đang phát triển mạnh ở

Đức Hòa và Đức Huệ Năm 1999, riêng Đức Hòa đã có đàn bò sữa 720 con

Bảng số 07: Tình hình phát triển chăn nuôi của Long An (1995-1999) - [15/133]

1 Trâu Ngàn con 28,90 28,10 26,50 25,50 24,60

2 Bò Ngàn con 18,20 18,20 17,90 18,90 19,80

3 Heo Ngàn con 155,70 180,20 165,60 178,40 183,70

4 Gia cầm Ngàn con 3.447,20 3.808,70 3.587,30 3.821,00 3.937,00

5 Trứng Ngàn quả 75.748 118.133 96.070 88.800 81.546

2.1.2.3 Ngành lâm nghiệp

Diện tích rừng của Long An năm 1999 khoảng 34.900 ha, chủ yếu là rừng

tràm Ngoài ra ước tính toàn tỉnh có khoảng 200 triệu cây phân tán bao gồm tràm,

điều, đước, mắm, vẹt, … Năm 1998, lâm nghiệp đạt 50 tỷ đồng (giá cố định 1989)

2.1.2.4 Ngành thủy sản

Từ 1991 - 1995, tốc độ tăng trưởng của ngành khoảng 29% Năm 1999,

ngành thủy sản đã đạt giá trị sản lượng 204,194 tỷ đồng, tăng 48,8% so với năm

Trang 22

1995 Ngành thủy sản phát triển nhất là nuôi tôm càng xanh và tôm sú, tập trung ở vùng Hạ Long An Từ 1995 đến 1999, diện tích nuôi tôm tăng từ 455 ha lên 1.320

ha và đạt sản lượng 350 tấn (1999)

Nhận xét

Những năm qua Long An đã đạt nhiều thành tựu trong sản xuất nông nghiệp Đây là một trong những tỉnh đầu tiên của cả nước tham gia vào “Câu lạc bộ một triệu tấn lương thực” Ngành nông nghiệp của Long An có sự phát triển tương đa dạng với đủ cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp Tuy nhiên, ngành nông nghiệp của Long An cũng đang đứng trước nhiều thử thách lớn như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm; năng suất một số cây trồng đã chựng lại; hình thức quảng canh còn phổ biến;… Trước tình hình đó, để tìm hướng phát triển cho nông nghiệp của Long An, một trong những công việc quan trọng là phải xem xét hoạt động của các chủ thể sản xuất - các tế bào của sản xuất nông nghiệp

2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI LONG AN 2.2.1 Quá trình hình thành kinh tế trang trại

2.2.1.1 Giai đoạn trước1975

Trước giải phóng, trên địa bàn tỉnh Long An hiện nay đã tồn tại một số đồn điền trồng lúa qui mô hàng trăm ha và rất nhiều hộ phú nông, trung nông với qui mô ruộng đất trên 3 ha Với những loại hình này tồn tại ba hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu: (1)- Tổ chức sản xuất theo kiểu tư bản chủ nghĩa, (2)- Phát canh thu tô, (3)- Sản xuất gia đình có thuê mướn thêm nhân công Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, sản xuất thường bị gián đoạn, nông sản tiêu thụ khó khăn, nên các

loại hình sản xuất này không phát triển ổn định

2.2.1.2 Giai đoạn 1976 - 1988

• Thời kỳ 1976 - 1981

Qua việc vận động “nhường cơm, xẻ áo”, tỉnh đã cấp được trên 40.000 ha

đất cho 37.129 nông hộ Một thời gian ngắn sau giải phóng, kinh tế hộ ở Long An

Trang 23

đã có những điều kiện ban đầu để phát triển Tuy nhiên, con đường phát triển kinh tế hộ của Long An bị chặn lại bởi phong trào hợp tác hóa theo mô hình Miền Bắc

(đến năm 1985 thì cơ bản hoàn thành) Như vậy, những nền tảng của kinh tế hộ đã suy giảm Chính sách hợp tác hóa đã cắt đứt con đường phát triển tuần tự của kinh tế nông hộ từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn theo dạng hình trang trại

• Từ 1981 đến 1988

Năm 1981, Long An thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí Thư Trung Ương về khoán sản phẩm Nông dân đã tích cực đầu tư, tạo ra một bước phát triển trong sản xuất nông nghiệp của Tỉnh Nhờ đó, đa số nông hộ đã cải thiện được đời sống và một số nông hộ đã có tích lũy

Từ 1981 - 1986, vai trò của các HTX ở Long An ngày càng mờ nhạt cùng với quá trình các nông hộ ngày một vươn lên làm chủ sản xuất Xu thế đó đã dẫn đến việc hầu như toàn bộ các HTX nông nghiệp ở Long An bị tan rã vào năm

1986

Cùng với cả nước, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác lập nền tảng cho việc đa thành phần kinh tế trong nông nghiệp ở Long An, mở rộng quyền tự quyết của nông hộ trong một thị trường thông thoáng hơn

Một nhân tố đặc biệt có ảnh hưởng đến sự phát triển các loại hình sản xuất

qui mô lớn ở Long An là chủ trương coi việc “Đẩy mạnh quá trình khai thác Đồng Tháp Mười” là một nhiệm vụ trung tâm của tỉnh Những năm 80, tỉnh đã tự đầu tư

kinh phí hàng trăm tỷ đồng để làm thủy lợi và xây dựng những vùng kinh tế mới ở Đồng Tháp Mười Giữa việc gia tăng quyền tự chủ sản xuất của nông hộ ở Long

An và chương trình khai thác Đồng Tháp Mười có sự tương tác hết sức thú vị: chủ trương khai thác Đồng Tháp Mười đã tạo điều kiện cho nhiều nông hộ gia tăng diện tích canh tác, và ngược lại, sự gia tăng quyền làm chủ cho nông hộ đã trở thành động lực mạnh mẽ nhất để nông dân Long An tích cực khai hoang Sự tương tác này góp phần làm xuất hiện hàng loạt nông hộ có qui mô diện tích lớn

Trang 24

Như vậy, việc vận dụng những chính sách của Đảng và Nhà Nước ở tỉnh Long An đã gia tăng mạnh mẽ quyền tự chủ sản xuất của nông hộ; tạo điều kiện thuận lợi cho nông hộ tăng qui mô dất và tích lũy cho tái sản xuất mở rộng Trên nền tảng đó, cuối những năm 80, ở Long An đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp mang dáng dấp của kinh tế trang trại

2.2.1.3 Giai đoạn sau 1988

Giai đoạn này, có những nhân tố ảnh hưởng đến sự ra đời của kinh tế trang trại ở Long An như sau:

• Triển khai Nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị (04/1988) và Luật Đất Đai mới, Tỉnh đã giao cho nông hộ quyền sử dụng đất lâu dài và tạo điều kiện để các nông hộ thực hiện 5 quyền kèm theo

• Triển khai nghị quyết Trung Ương V (khóa VII), tỉnh đã thực hiện rất hiệu quả nhiều đợt di dân lên Đồng Tháp Mười để khai hoang bằng các giải pháp gắn việc tách hộ với khai hoang, di dân tạm thời Thực hiện Chương trình 773 của Chính Phủ, tỉnh đã cho tư nhân mượn đất hoang Đồng Tháp Mười để sản xuất

• Tỉnh đã sớm có chủ trương cho cá nhân ở những địa phương khác đầu tư thuê đất, sang nhượng đất để lập trang trại (trước khi có Nghị quyết của Chính phủ tháng 02/02/2000) Nhờ vậy, những năm 1996 - 1999 ở Long An đã xuất hiện nhiều trang trại qui mô lớn do các cá nhân từ TP Hồ Chí Minh xuống đầu tư

…Từ đó, quá trình tích tụ ruộng đất trên địa bàn Long An diễn ra nhanh chóng và thuận lợi Năm 1994, đã có trên 1.000 hộ có diện tích từ 3 - 5 ha Năm

1998, tổng diện tích canh tác của nhóm hộ này đã là 11.954 ha (2/295) Theo Ban

Kinh Tế Tỉnh Ủy Long An (tại Hội thảo về Kinh tế trang trại ở Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh ngày 24/12/1999) thì đến thời điểm cuối năm 1999, ở

Long An đã có 5.845 hộ tích tụ trên 5 ha Những năm 90, kinh tế trang trại ở Long

An đã phát triển mạnh mẽ khắp các huyện, trong đó có những trang trại lớn như trang trại trồng mía 800 ha của bà Bé Hai ở Thủ Thừa, trang trại trồng lúa 160 ha

Trang 25

của ông Phạm Văn Đôn ở Vĩnh Hưng, trang trại trồng mía 200 ha của ông Võ Quang Huy ở Đức Hòa

Như vậy, có thể nói, kinh tế trang trại đã hình thành ở Long An từ năm 1988 và phát triển rất mạnh mẽ trong những năm 1990 Quá trình này, ngoài tiền đề quan trọng là môi trường chính sách chung của Nhà Nước, còn có những nhân tố đặc thù như sau:

• Sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh về phát triển các loại hình sản xuất lớn ở địa phương (mà không phải tỉnh nào cũng có)

• Các huyện Vùng Đồng Tháp Mười của Long An đất rộng, dân thưa nhưng hệ thống thủy lợi được đầu tư tương đối tốt là một nhân tố đặc biệt thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển

• Long An nằm cạnh vùng kinh tế động lực Đông Nam Bộ - nơi cư dân có tiềm lực vốn lớn nhất nước nên đã thu hút được đầu tư từ ngoài tỉnh cho loại hình kinh tế trang trại, đặc biệt là từ TP Hồ Chí Minh

2.2.2 Số lượng và các loại hình kinh tế trang trại

2.2.2.1 Số lượng trang trại

Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Long An, tính đến thời điểm tháng 07/2000, trên địa bàn tỉnh có 15.530 nông hộ có diện tích canh tác từ 3

ha trở lên (đạt yêu cầu về qui mô diện tích theo tiêu chí hiện hành qui định tại Thông tư liên tịch ngày 23/06/2000) Tuy nhiên, trong số này chỉ có 7.441 nông hộ có giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ từ 50 triệu đồng/năm trở lên (thỏa mãn cả

2 tiêu chí) Bên cạnh đó, Long An còn hình thành nhiều trang trại lâm nghiệp, chăn nuôi, kinh doanh tổng hợp, thủy sản,… Theo điều tra sơ bộ của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Long An, trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 7.563 trang trại

2.2.2.2 Loại hình trang trại

Ở Long An có 6.347 trang trại trồng cây hàng năm, chiếm 83,92%, 851

Trang 26

trang trại kinh doanh tổng hợp chiếm 11,25%, 268 trang trại nông - thủy sản chiếm

3,78% Vùng Đồng Tháp Mười là vùng có số trang trại trồng cây hàng năm nhiều

nhất (khoảng 70%), đáng kể nhất là các huyện Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa

Bảng số 08: Tổng quát về số lượng trang trại ở Long An Địa bàn Tổng số

trang trại

Cây hàng năm

Lâm nghiệp

K.D tổng hợp

Thủy sản

Thủy sản

Nông-Chăn nuôi

Cây ăn trái

Trang 27

Địa bàn Toàn

địa bàn

Cây hàng năm

Lâm nghiệp

K.D tổng hợp

Thủy sản

Nông- Thủy sản

Chăn nuôi

Cây ăn trái

Long An 100 % 83,92 2,60 11,25 0,48 3,78 1,61 0,11Vĩnh Hưng 100 % 89,61 1,52 8,69 0,00 0,18 0,09 0,00Tân Thạnh 100 % 80,73 2,81 15,94 0,00 0,31 0,31 0,00Tân Hưng 100 % 85,25 3,02 11,39 0,00 0,34 0,21 0,00Mộc Hóa 100 % 85,52 2,95 11,01 0,00 0,43 0,35 0,00Thạnh Hóa 100 % 72,08 8,11 18,62 0,00 0,95 0,72 0,00Thủ Thừa 100 % 86,15 2,46 8,00 0,62 6,77 1,54 0,62Đức Huệ 100 % 84,41 2,15 9,41 0,81 5,11 2,15 0,54Đức Hòa 100 % 79,17 0,00 10,42 1,56 12,5 6,25 1,56Bến Lức 100 % 77,78 3,86 9,18 1,93 15,94 5,80 0,48TXõ Tân An 100 % 37,50 0,00 0,00 0,00 65,63 56,25 0,00Châu Thành 100 % 46,15 0,00 21,15 7,69 48,08 21,15 0,00Tân Trụ 100 % 56,00 0,00 10,00 6,00 74,00 24,00 0,00Cần Đước 100 % 43,94 0,00 15,15 16,67 72,73 21,21 0,00Cần Giuộc 100 % 51,67 0,00 10,00 10,00 60,00 25,00 0,00

Về loại hình sản xuất kinh doanh của các trang trại ở Long An có một số điểm đáng chú ý như sau:

• Trang trại kinh doanh lâm nghiệp, chủ yếu là trồng tràm cừ ở Đồng Tháp Mười Một số trang trại còn trồng bạch đàn, tràm gió, sản xuất lúa, nuôi cá

• Trang trại kinh doanh tổng hợp kết hợp của nhiều ngành như trồng lúa, trồng rau, trồng hoa, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ,… Trong đó có loại hình kinh doanh nông-lâm nghiệp là phổ biến

• Trang trại thủy sản, chủ yếu là nuôi tôm sú và tôm càng xanh ở vùng Hạ Ngoài ra, còn có một số trang trại nuôi cá

• Trang trại nông nghiệp-thủy sản chủ yếu ở Vùng Hạ, thường kết hợp trồng lúa với nuôi tôm, cá trên ruộng, hoặc nuôi cá trong vườn

• Trang trại chăn nuôi chủ yếu tập trung ở Vùng Hạ với các ngành nuôi heo, gà, vịt Huyện Đức Hòa và Đức Huệ còn có vài trang trại nuôi bò sữa

• Trang trại trồng cây ăn trái chủ yếu của tư nhân từ TP Hồ Chí Minh đầu tư

Trang 28

trồng chanh, xoài, ổi

2.2.3 Qui mô trang trại

2.2.3.1 Qui mô diện tích và số lượng vật nuôi

Bảng số 10: Qui mô bìng quân của các trang trại ở Long An

Loại hình trang trại

Qui mô

Đơn

vị

Cây hàng năm

Lâm nghiệp

K.D tổng hợp

Thủy sản

Nông- thủy sản

Chăn nuôi

Cây ăn trái

Đất cây hàng năm Ha 7.61 1.20 3.40 1.30 2.11 1.22 6.80Đất trồng cây ăn trái Ha 0.11 0.08 0.55 0.26 0.33 0.37 16,00Đất lâm nghiệp Ha 0.34 12.30 0.37 0.41 0.21 0.13 0.70Đất nuôi thủy sản Ha 0.16 0.67 0.31 2.20 0.88 0.44 0.65Trâu, bò thịt Con 0.34 0.44 0.61 0.21 0.17 1.70 2.10Số lượng bò sữa Con 0.03 0.01 0.35 0.22 0.08 5.40 0,00Số heo thịt Con 5.60 4.30 6.20 6.50 4.33 78,00 12,00Số heo nái Con 0.56 0.20 1.11 0.76 0.66 5.50 0,00Số lượng gia cầm Con 33 24 48 27 36 1440 54

Thông thường, ngoài những ngành sản xuất chính, hầu hết các trang trại ở Long An đều có sản xuất, kinh doanh một số lĩnh vực khác Theo số liệu điều tra ban đầu của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Long An, thì qui mô bình

quân của trang trại ở Long An như bảng số 10

2.2.3.3 Qui mô lao động

Bình quân một trang trại ở Long An sử dụng 4,4 lao động, trong đó lao động thuê thường xuyên là 1,3 Ngoài ra, mỗi năm một trang trại ở Long An phải thuê thời vụ khoảng 395 ngày công Trang trại phải thuê nhiều lao động là trang trại trồng cây hàng năm Trang trại kinh doanh lâm nghiệp thuê ít lao động nhất Lao động thuê chủ yếu là lao động phổ thông Lao động phổ thông thuê thời vụ có thù lao bình quân khoảng 23.000 đồng Lao động thường xuyên ở các trang trại được trả bình quân 450.000 đồng/tháng

Ơû Long An, 45% chủ trang trại có trình độ văn hóa cấp 3 Có một số chủ trang trại có trình độ đại học như ông Phạm Văn Quận - Cần Đước, ông Phạm Văn

Trang 29

Đôn - Vĩnh Hưng (hai người con giúp việc có trình độ đại học),… Khỏang 30% chủ trang trại có trình độ văn hóa lớp 4 - 5; 83% chủ trang trại có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp trên 10 năm; 66,7 % chủ trang trại tuổi từ 40 - 50

2.2.3.3 Trang bị máy móc thiết bị

Kết quả điều tra 48 trang trại (do Ban Kinh Tế Tỉnh Ủy Long An triển khai năm 1999) cho thấy 93,7% số trang trại có máy bơm nước Một số trang trại có 8 -

10 máy bơm như trang trại của ông Phạm Văn Đôn (Vĩnh Hưng), trang trại của ông Đỗ Văn Tố (Thủ Thừa), trang trại của ông Võ Quang Huy (Đức Hòa) 23 % trang trại có ghe, xuồng; 16,6% trang trại có máy kéo, trong đó trang trại của ông Phạm Văn Đôn có 5 chiếc, trang trại của ông Võ Quang Huy có 4 chiếc

2.2.3.4 Qui mô vốn đầu tư

Theo điều tra 80 trang trại (ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội thực hiện năm 1999), vốn đầu tư ban đầu bình quân một trang trại ở Long An là 34,29 triệu đồng, trong đó vốn tự có chiếm 76,43% Thời điểm 30/4/1999, vốn đầu tư bình quân của một trang trại ở Long An đã đạt 159,91 triệu đồng Nguồn vốn đầu tư ban đầu của các trang trại chăn nuôi cao gấp nhiều lần của các trang trại trồng trọt (N.2,296) Những trang trại đầu tư vốn lớn ở Long An phải kể đến trang trại của ông Võ Quang Huy (Đức Hoà) 2 tỷ đồng, Phạm Văn Quận (Cần Đước) 1,5 tỷ đồng, Nguyễn Hữu Phước (Tân An) 0,55 tỷ đồng

2.2.4 Hiệu quả hoạt động của kinh tế trang trại

2.2.4.1 Trang trại trồng cây hàng năm

2.2.4.1.1 Trang trại trồng lúa

Khảo sát sáu trang trại tại Vĩnh Hưng, Thủ Thừa, Cần Đước cho thấy, với qui mô bình quân 70,6 ha, một trang trại trồng lúa ở Long An có thể đạt doanh thu hàng năm 1,159 tỷ đồng Ngoài doanh thu từ lúa, các trang trại này có nguồn thu từ các hoạt động khác khoảng 138 triệu đồng Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư

khoảng 35% Đặc biệt, mô hình trang trại của ông Phạm Văn Đôn (ở Thị trấn Vĩnh

Ngày đăng: 01/01/2021, 16:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w