1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế trang trại tỉnh nghệ an đến năm 2020

95 662 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 734,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, kinh tế trang trại ở Nghệ An phát triển chưa bền vững, chủ yếu còn mang tính tự phát, chưa dựa trên quy hoạch phát triển của từng vùng, từng địa phương; quy mô trang trại nhỏ,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

HOÀNG ANH TIẾN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH NGHỆ AN

ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

HOÀNG ANH TIẾN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH NGHỆ AN

TS NGUYỄN VĂN NGỌC

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong luận văn này được thu thập và sử dụng một cách trung thực

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài nghiên cứu này

Khánh Hòa, tháng 8 năm 2015

Hoàng Anh Tiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Quý thầy cô trường Đại học Nha Trang cùng toàn thể các anh chị lớp CHQT2013-1 đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi cũng xin đặc biệt cảm ơn thầy giáo TS Hồ Huy Tựu, người đã quan tâm và nhiệt tình hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn để giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến bạn bè, đồng nghiệp của tôi là cán bộ công chức, viên chức đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn cao học của mình

Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thiện luận văn, trao đổi và tiếp thu các ý kiến đóng góp của các thầy cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu song cũng không thể tránh khỏi sai sót Rất mong nhận được những thông tin đóng góp, phản hồi từ quý thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc các thầy cô, bè bạn và đồng nghiệp sức khỏe, hạnh phúc và thành công trên mọi lĩnh vực

Xin trân trọng cảm ơn!

Khánh Hòa, tháng 8 năm 2015

Hoàng Anh Tiến

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 6

1.1 Khái niệm về kinh tế trang trại 6

1.1.1 Khái niệm trang trại 6

1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại 8

1.2 Bản chất của kinh tế trang trại 11

1.3 Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế - xã hội 14

1.4 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại và tiêu chí xác định trang trại 16

1.4.1 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại 16

1.4.2 Các tiêu chí nhận dạng trang trại 19

1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế trang trại 21

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại 23

1.5.1 Các yếu tố khách quan 23

1.5.2 Các yếu tố chủ quan 26

1.6 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở trong và ngoài nước 28

1.6.1 Kinh nghiệm ngoài nước 28

1.6.2 Kinh nghiệm trong nước 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH NGHỆ AN 34

2.1 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Nghệ An 34

2.1.1.Vị trí địa lý 34

2.1.2 Địa hình 34

2.1.3 Khí hậu, thủy văn 36

2.1.4 Diện tích tự nhiên 37

Trang 6

2.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 38

2.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội tỉnh Nghệ An 39

2.2.1.Tình hình phát triển kinh tế 39

2.2.2 Dân số và lao động 40

2.2.3 Cơ sở hạ tầng 41

2.2 Chính sách phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Nghệ An 42

2.3 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Nghệ An 44

2.3.1 Số lượng trang trại 44

2.3.2 Cơ cấu trang trại 46

2.3.3 Quy mô diện tích của trang trại 48

2.3.4 Thực trạng về nguồn vốn của các trang trại 50

2.3.5 Thực trạng ứng dụng khoa học - công nghệ của trang trại 52

2.4 Đánh giá chung về phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Nghệ An 58

2.4.1 Các kết quả đạt được 58

2.4.2 Các mặt còn hạn chế 59

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020 61

3.1 Tóm lượt kết quả nghiên cứu 61

3.2 Quan điểm- Phương hướng - Mục tiêu 63

3.2.1 Quan điểm phát triển 63

3.2.2 Định hướng 64

3.3.3 Mục tiêu 65

3.4 Các giải pháp phát triển kinh tế trang trại Nghệ An đến năm 2020 66

3.4.1 Quy hoạch và rà soát quy hoạch phát triển kinh tế trang trại 66

3.4.2 Tiếp tục đổi mới chính sách đất đai, chính sách vốn, tín dụng đối với kinh tế trang trại 68

3.4.3 Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh xúc tiến thương mại 70

3.4.4 Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật và năng lực quản lý cho các chủ trang trại 71

3.4.5 Đẩy mạnh ứng dụng bộ khoa học - công nghệ mới vào các trang trại 72

Trang 7

3.4.6 Tạo lập các mối liên kết giữa trang trại với các cơ sở sản xuất kinh

doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh với vùng Bắc Trung Bộ và cả nước 74

3.4.7 Phát triển kinh tế trang trại gắn với bảo vệ môi trường sinh thai và bảo đảm tiêu chuẩn về sản phẩm của trang trại 76

3.5 Các kiến nghị với cơ quan Nhà nước 78

3.6 Các kiến nghị khác 79

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000-2014 46 Bảng 2.2: Số lượng và cơ cấu trang trại ở Nghệ An phân theo huyện, thị xã giai đoạn 2000 - 2014 47 Bảng 2.3: Vốn đầu tư của các trang trại ở Nghệ An năm 2005 và 2010 51 Bảng 2.4: Thu nhập bình quân của kinh tế trang trại Nghệ An năm 2014 57 Bảng 2.5: So sánh một số chi tiêu hiệu quả của kinh tế trang trại với kinh tế nông hộ năm 2014 58

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Tổ chức mối quan hệ giữa các tổ chức dịch vụ và trang trại 76

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản,

trồng rừng gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản (Nghị quyết

số 03/2000/NQ – CP ngày 02/02/2000)

Khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) sản phẩm nông nghiệp cần phải thay đổi cả về số lượng và chất lượng, phải đạt các tiêu chí quốc gia, khu vực và quốc tế, bên cạnh đó giá thành phải hạ mới có thể đáp ứng được những yêu cầu về cạnh tranh, phát triển được trong khu vực và thế giới Những phương thức sản xuất nhỏ lẻ, mạnh mún, thủ công sẽ được thay thế bằng sản xuất hàng hoá, tập trung, quy mô lớn Phát triển kinh tế trang trại là một trong những mô hình sản xuất mới, đã đáp ứng được những yêu cầu trong tình hình hiện nay mà còn tạo công ăn việc làm, tăng hiệu quả sử dụng đất, góp phần

chuyển dịch cơ cấu cây trồng… (Đặng Thị Thúy, 2011)

Nghệ An là tỉnh có vị trí quan trọng ở vùng Bắc Trung Bộ, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế trang trại Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại

ở Nghệ An đã phát triển rất nhanh chóng Sau 14 năm thực hiện Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại và 7 năm thực hiện Đề án phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2007 –

2015, kinh tế trang trại tỉnh đã có bước phát triển khá cả về số lượng lẫn chất lượng; nhiều mô hình trang trại sản xuất, kinh doanh có hiệu quả đã xuất hiện, thu nhập của nhiều chủ trang trại, người lao động tăng lên đáng kể Kinh tế trang trại có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng và phát triển kinh tế tại các địa phương; tạo được nhiều việc làm trong nông nghiệp, nông thôn Tính theo tiêu chí cũ (Bộ Nông nghiệp & PTNT và Tổng cục Thống kê(2000), Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ban hành ngày 3/6/2000), số lượng trang trại ở Nghệ An tăng từ 1.395 năm 2000 lên 1.859 trang trại năm 2010 Ngày 13/4/2011, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã ban hành Thông tư số

Trang 11

27/2011/TT-BNNPTNT quy định tiêu chí mới về kinh tế trang trại Theo quy định mới này, năm 2011 toàn tỉnh Nghệ An có 159 trang trại, chiếm 14,5% số lượng trang trại toàn vùng Bắc Trung Bộ và 0,79% số lượng trang trại cả nước; năm 2014, số lượng trang trại của Nghệ An đạt tiêu chí mới tăng lên 420 trang trại

Tuy nhiên, kinh tế trang trại ở Nghệ An phát triển chưa bền vững, chủ yếu còn mang tính tự phát, chưa dựa trên quy hoạch phát triển của từng vùng, từng địa phương; quy mô trang trại nhỏ, hiệu quả kinh doanh chưa cao, chưa hình thành những vùng có sản phẩm hàng hóa tập trung quy mô lớn; kinh tế trang trại phát triển chủ yếu ở vùng đồng bằng ven biển, các huyện vùng trung du, miền núi (Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, Con Cuông) có tiềm năng lớn về đất đai nhưng số lượng trang trại rất ít; trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực quản lý của các chủ trang trại còn thấp, hầu hết chưa được đào tạo; các trang trại đang gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh; nhiều trang trại chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn ở vùng đồng bằng gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí (Sở Nông nghiệp &PTNN Nghệ An, 20123) Vì vậy, phát triển bền vững kinh tế trang trại ở Nghệ An đang đặt ra rất cấp thiết, đòi hỏi cần có giải pháp đồng bộ cả về kinh tế, xã hội và môi trường

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài "Phát triển kinh tế trang trại

tỉnh Nghệ An đến năm 2020" với mong muốn được nghiên cứu và phân tích

các thực trạng để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu và rút ra bài học kinh nghiệm, đề

ra các giải pháp phát tiển kinh tế trang trại trong thời gian tới, để có những định hướng phù hợp và đề ra các chính sách hỗ trợ kịp thời, nhằm khuyến khích phát triển nhanh, bền vững kinh tế trang trại của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn này là nhằm tìm kiếm các giải pháp khả thi để phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Nghệ An đến 2020 Để đạt mục đích chính này, luận văn hướng đến đạt được các mục tiêu cụ thể sau:

- Xây dựng khung phân tích để đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại

- Phân tích và đánh giá tình hình phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An

từ năm 2000 – 2014

Trang 12

- Đề xuất các giải pháp và những kinh nghiệm nhằm phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An đến năm 2020

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu đặt ra như đã nêu ở trên, đề tài luận văn trả lời các câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phát triển kinh tế trang trại có nội hàm gì? Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại?

- Bài học kinh nghiệm triển kinh tế trang trại trong và ngoài nước và khả năng vận dụng đối với Nghệ An ?

- Kết quả phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn

2000 - 2014 ?

- Cần hoàn thiện những giải pháp nào để kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Nghệ An phát triển đến giai đoạn từ nay đến năm 2020 ?

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội có liên

quan đến việc phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Nghệ An, trong đó tập trung phân tích hiệu quả kinh tế, phân tích những tồn tại và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An đến năm 2020

- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kinh tế của trang trại tại tỉnh Nghệ An

từ năm 2000 – 2014, trên số liệu thu thập từ thực tế

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Khung phân tích đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại Các yếu tố ảnh

- Số lượng trang trại

- Cơ cấu trang trại

- Quy mô diện tích trang trại;

- Nguồn vốn của trang trại

- Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ

- Hiệu quả phát triển kinh tế trang trại

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại

- Các kết quả đạt được

- Các mặt còn hạn chế

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống để rút ra những vấn đề chung nhất

- Đặc biệt, trong luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra khảo sát thực

tế để khẳng định những phân tích, đánh giá và nhằm để xác định cơ sở thực tiễn, khẳng định hiện thực của những giải pháp đề ra Số mẫu điều tra thu thập được

là 117, trong đó trang trại trồng trọt là 32, trang trại chăn nuôi là 49, trang trại nuôi trồng thủy sản là 25 và trang trại tổng hợp là 11; địa bàn điều tra chủ yếu là các huyện vùng đồng bằng ven biển và bán sơn địa của tỉnh Nghệ An

6 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá những cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại

- Kết quả thu được của Luận văn có thể gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách thuộc khối cơ quan quản lý tỉnh Nghệ An, các chủ trang trại những hạn chế, nguyên nhân và trọng tâm để khắc phục trước mắt và chiến lược lâu dài

để phát triển kinh tế trang trại của tỉnh

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, Kết luận luận văn, Luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1 Cở sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại

Trong Chương này, tác giả trình bày cơ sở lý luận phát triển kinh tế trang trại gồm hệ thống khái niệm chung về trang trại, kinh tế trang trại; bản chất và vai trò của kinh tế trang trại; những đặc trưng cũng như tiêu chí xác định kinh tế trang trại; các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại và một số kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở trong và ngoài nước

Chương 2 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ

An giai đoạn 2000 – 2014

Chương này đề cập những tiềm năng để phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Nghệ An với giai đoạn nghiên cứu từ 2000- 2014 như điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, các chính sách phát triển kinh tế trang trại của tỉnh và

Trang 14

đặc biệt là tác giả đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại của tỉnh trên các mặt khác nhau như quy mô, cơ cấu, hiệu quả, khả năng khai thác, sử dụng các nguồn lực như vốn, lao động, đất đai… trên cơ sở đó rút ra các kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân làm căn cứ cho các giải phát phát triển kinh tế trang trại của Nghệ An giai đoạn đến năm 2020

Chương 3 Các giải pháp để phát triển kinh tế trang trại tỉnh Nghệ An đến năm 2020

Trên cơ sở phân tích thực trạng cùng với những quan điểm định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Nghệ An, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cũng như một số kiến nghị đối với các cơ quan Nhà nước nhằm phát triển kinh tế trang trại của tỉnh đến năm 2020 Theo tác giả đây đều là những giải pháp thiết thực và có tính khả thi cao nếu được các nhà quản lý địa phương quan tâm, ủng hộ

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

TRANG TRẠI

1.1 Khái niệm về kinh tế trang trại

1.1.1 Khái niệm trang trại

Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học kinh tế, trang trại được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau, thể hiện rõ qua các khái niệm

Nghị Quyết số 03/2004/NQ – CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 nêu rõ

“Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá nông nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm, thuỷ sản”

- Trang trại là một đơn vị kinh tế hộ gia đình có tư cách pháp nhân, được Nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích đất đai, rừng, biển hợp lý: để tổ chức lại quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và cộng nghệ mới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hơn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của từng đơn vị diện tích, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của

mọi người tham gia (Nguyễn Điền, Trần Đức, Nguyễn Huy Năng , 1993)

- Trang trại gia đình là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp trong điều kiện của nền kinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp hoá lần thứ

nhất ở một số nước Châu Âu (Trần Đức, 1995)

- Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông lâm, thuỷ sản, có mục đích sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc sở hữu hoặc quyền

sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn

Trang 16

- Trang trại là đơn vị kinh tế sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả nông – lâm – thủy sản) của một người chủ trang trại họ vừa là người làm chủ ruộng đất, làm chủ tư liệu sản xuất, vừa là người tổ chức sản xuất kinh doanh, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình, với mục đích chính

là sản xuất hàng hóa và một phần sản phẩm được sử dụng cho tiêu dùng của gia

đình (Nguyễn Đình Hương, 2000)

- Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhập chính và đáp ứng nhu cầu cho xã

hội (Trần Hai, 2000)

Như vậy, trang trại ban đầu là hình thức tổ chức sản xuất nông, lâm, ngư

cơ sở, do các chủ trại gia đình và chủ trại tư nhân trực tiếp tiến hành tổ chức sản xuất trên một khu đất tập trung, liền khoảnh đủ lớn để chuyên canh, thâm canh, ứng dụng những công nghệ mới nhằm cung cấp hàng hoá thường xuyên cho thị trường và quản lý sản xuất chặt chẽ để tiết kiệm các chi phí sản xuất Song khi

đi vào kinh tế thị trường thì hoạt động của trang trại không chỉ dừng lại ở sản xuất và tổ chức sản xuất mà được mở rộng sang kinh doanh với mục đích thu lợi nhuận tối đa và từ đấy trang trại phải xử lý nhiều vấn đề kinh tế, phải đưa ra các chiến lược kinh doanh thích ứng với thị trường, phải quản lý theo phương thức marketing, theo chế độ kế hoạch và hạch toán gắn với phân tích tài chính với hiệu quả kinh doanh, với doanh lợi

Tóm lại, trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, ở đây nói về trang trại trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, với các khái niệm cụ thể sau:

- Trang trại là tổ chức sản xuất cơ sở của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá trong thời kỳ công nghiệp hoá

- Trang trại là đơn vị sản xuất nông nghiệp độc lập tự chủ, là chủ thể pháp

lý có tư cách pháp nhân trong các quan hệ kinh tế xã hội

- Trang trại có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất nông nghiệp,

có tổ chức lao động sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh nghiệp

Trang 17

- Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút các hoạt động kinh tế của các tổ chức sản xuất tư liệu sản xuất, các hoạt động dịch

vụ và các tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản

- Trang trại là loại hình sán xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp với nhiều quy mô, hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản lý khác nhau

Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông nghiệp

ở tất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể sử dụng lao động thuê ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất (ruộng đất, công

cụ sản xuất, vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất trên

Trang trại tư bản tư nhân là loại hình trang trai nông nghiệp ít phổ biến hơn, thường tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ

sở sử dụng lao động làm thuê kể cả lao động sản xuất và lao động quản lý

Trang trại thường có các qui mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn ) song song tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung bình…Trang trại thường có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong

và ngoài nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau

Trong nông nghiệp, trang trại có thể chuyên môn hoá thành các loại trang trại trồng trọt hay chăn nuôi, xu hướng ngày nay là các loại hình trang trại sản xuất tổng hợp, kết hợp cả trồng trọt, chăn nuôi, thậm chí cả cung ứng dịch vụ

1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế trang trại ở các nước Tây Âu, châu Á và các vùng lãnh thổ khác trên thế giới Nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế trang trại ở một số nước như:

số lượng, quy mô và cơ cấu; mô hình trang trại và phương thức điều hành sản xuất; vốn, tư liệu sản xuất khác và nguồn lao động; hướng kinh doanh và thu nhập của các trang trại; thị trường đầu vào, đầu ra của các trang trại, về vị trí, vai trò

Trang 18

của kinh tế trang trại gia đình trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

- Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại…) là một hình thức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội bao gồm số người lao động nhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường và được nhà nước “bảo

hộ” (Lê Trọng , 2000)

- Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế-xã hội nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ

kinh tế đó (Nguyễn Đình Hương , 2000)

- Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế - hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp (hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) phổ biến được hình thành và phát triển trên nền tảng kinh tế nông hộ Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại có gắn với sự tích tụ tập trung các yếu tố sản xuất kinh doanh đất đại, lao động, tư liệu sản xuất - vốn, khoa học công nghệ, để nâng cao năng lực sản xuất và sản xuất ra nhiều sản phẩm

hàng hoá với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao (Nguyễn Thế Nhã , 1999)

- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra sức sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra; có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên

thị trường xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao ( Trần Kiên, 2000)

- Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế được hình thành dự trên cơ sở hộ gia đình nông dân với tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của hộ gia đình, tiến hành tổ chức sản xuất hàng hoávới mục tiêu lợi nhuận quy mô lớn, có đủ khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất kinh doanh (Lê Trọng,

2000)

Trang 19

Như vậy, kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hoá, phát sinh và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, thay thế cho nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp bao gồm: các hoạt động trước

và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại thuộc các ngành, nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùng kinh tế khác nhau Kinh tế trang trại là sản phẩm thời kỳ công nghiệp hoá Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá kinh tế trang trại với tỷ trọng còn thấp, qui mô nhỏ và năng lực sản xuất hạn chế, nên chỉ đóng vai trò xung kích trong sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá Thời kỳ công nghiệp hoá đạt trình độ kinh tế trang trại với tỷ trọng lớn, quy mô lớn và năng lực sản xuất lớn trở thành lực lợng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hoá cũng nh hàng nông nghiệp nói chung phục vụ công nghiệp hoá Kinh tế trang trại phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, phục vụ nhu cầu sản xuất hàng hoá trong công nghiệp là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế, là một tất yếu khách quan của nền kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới có tính ưu việt hơn hẳn so với các lạo hình sản xuất nông nghiệp khác nhau Kinh tế nông nghiệp phát canh thu tô, kinh tế tư bản

tư nhân, đồn điền, kinh tế cộng đồng, nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông

Bản chất của kinh tế trang trại là mô hình kinh tế của hộ gia đình đã phát triển cao, khả năng sản xuất và ứng dụng thành tựu khoa học với quy mô lớn Kinh tế trang trại chủ yếu phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn gắn với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ hải sản Kinh tế trang trại là loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân, phù hợp gắn liền với quá trình công nghiệp hóa từ thấp đến cao Kinh tế trang trại là sự phát triển tất yếu của nền nông nghiệp và là sản phẩm tất yếu của kinh tế thị trường

và của quá trình công nghiệp hóa Chính công nghiệp hóa đã đặt yêu cầu khách quan cho phát triển sản xuất nông sản hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và tạo ra những điều kiện cho kinh tế trang trại hình thành và phát triển

Trang 20

1.2 Bản chất của kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại ở nhiều nước trên thế giới đã trải qua quá trình phát triển hàng năm với đặc điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội chính trị truyền thống ở từng nước và ngày càng trở thành nhân tố tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển Trải qua hàng thế kỷ nay, trang trại tiếp tục phát triển từ các nước

tư bản công nghiệp lâu đời, đến các nước đang phát triển, các nước công nghiệp mới và bắt đầu đi vào các nước xã hội chủ nghĩa với các cơ cấu và qui mô sản xuất khác nhau Phát triển kinh tế trang trại thực tế đã chứng minh đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản hàng hoá theo nhu cầu của thị trường Có sự tập trung tích tụ cao hơn rõ rệt so với mức bình quân của hộ kinh

tế ở từng vùng về các điều kiện sản xuất như đất đai, vốn, lao động Người chủ trang trại cũng là người trực tiếp sản xuất quản lý Sản xuất đi vào chuyên môn hoá cao hơn, áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, lên giá trị sản phẩm thu nhập và giá trị sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng Các tài sản cũng như sản phẩm thuộc quyền sở hữu gia đình và được pháp luật bảo hộ Con đường đi từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, từ sản xuất tiểu nông sang sản xuất trang trại, không phải là sản phẩm riêng của các nước công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa, mà là bước phát triển tất yếu của xã hội, phù hợp với qui luật tiến hóa chung của loài người Kinh tế trang trại không quyết định bản chất của một chế

độ xã hội Chưa có dấu hiệu tư bản hóa loại hình kinh tế trang trại Khi chủ nghĩa

tư bản phát triển, hình thành nên thị trường sản xuất hàng hoá phát triển, một bộ phận lao động nông nghiệp trở thành lao động làm thuê nhưng trang trại vẫn tồn tại và phát triển Đến thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, trang trại trở thành mô hình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp thế giới, chiếm tỷ trọng lớn

tuyệt đối về đất canh tác và khối lượng nông sản làm ra (Tư liệu về kinh tế trang

trại, Ban vật giá chính phủ, 2000)

Khái niệm “kinh tế trang trại” là một thuật ngữ chỉ một loại hình kinh tế, không chỉ hàm ý đề cập đến mặt kinh tế của trang trại Với tư cách là một loại hình kinh tế, kinh tế trang trại bao gồm tổng thể các yếu tố vật chất và các hoạt động kinh tế - xã hội và các hoạt động này có quan hệ, tác động tới môi trường

Trang 21

tự nhiên Bản chất của kinh tế trang trại được thể hiện qua một số điểm sau (Mai

Văn Xuân, 2008):

- Kinh tế trang trại là loại hình kinh tế cơ bản trong nông nghiệp, được

chuyên môn hóa, tập trung hóa sản xuất theo nhu cầu thị trường Đây là một đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại, khác với kinh tế nông hộ Giá trị tổng sản phẩm và khối lượng sản phẩm hàng hóa của kinh tế trang trại cao hơn nhiều so với kinh tế hộ thông thường Kinh tế trang trại thường có tỷ suất hàng hóa lớn và quy mô trang trại thường lớn hơn nhiều lần so với quy mô của kinh tế nông hộ Các chỉ tiêu cơ bản trong sản xuất nông nghiệp như ruộng đất, vốn, lao động, giá trị sản phẩm hàng hóa của kinh tế trang trại đều cao hơn nhiều lần so với kinh tế

hộ Kinh tế trang trại là cơ sở kinh doanh nông nghiệp được tổ chức sản xuất chuyên môn hóa cao Thông thường, các trang trại chuyên môn hóa theo các ngành sản xuất như trang trại trồng trọt, trang trại chăn nuôi, trang trại lâm nghiệp, trang trại nuôi trồng thủy sản Hơn nữa, trong từng loại trang trại trên, cũng thường tập trung vào sản xuất, kinh doanh một số loại cây, con nhất định, như trang trại chăn nuôi bò sữa, trang trại nuôi lợn, trang trại chăn nuôi gà, trang trại nuôi tôm, trang trại nuôi cá, trang trại trồng lúa, mía hay một số loại cây ăn quả nhất định Trong một số trường hợp, cũng có loại trang trại tổng hợp, nuôi trồng và kinh doanh nhiều loại cây, con, nhưng cũng với quy mô và mức độ tập trung, chuyên môn hóa cao hơn so với kinh tế nông hộ

- Kinh tế trang trại gắn liền với sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường Do sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn nên kinh tế trang trại phải gắn với thị trường cả về sản phẩm đầu vào và đầu ra Trang trại phải mua vật tư, nguyên liệu, giống cây trồng, vật nuôi v.v., từ thị trường và bán sản phẩm ra thị trường Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển đến giai đoạn cao, sản xuất kinh doanh của trang trại không chỉ gắn với thị trường trong nước mà còn phải gắn với thị trường quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm cho giá cả, tiêu chuẩn của nhiều sản phẩm trang trại phải phụ thuộc vào giá cả và tiêu chuẩn quốc tế cả về chất lượng, mẫu mã cũng như tiêu chuẩn sản phẩm Từng trang trại hoàn toàn có quyền tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh theo tín hiệu của thị trường Sự can

Trang 22

thiệp của nhà nước chủ yếu là hỗ trợ và định hướng để trang trại thích ứng với kinh tế thị trường Vì vậy, khác với sản xuất của kinh tế hộ quy mô nhỏ, tự cung

tự cấp, thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng và trong hầu hết các trường hợp,

là nhân tố quyết định đến số lượng, chất lượng, hiệu quả kinh doanh của kinh tế trang trại Ngày nay, vấn đề tiếp cận thị trường, tổ chức thông tin thị trường và sản xuất đáp ứng yêu cầu của quy luật thị trường đã trở thành một trong những

nhân tố quyết định nhất đối với sản xuất, kinh doanh của trang trại

- Kinh tế trang trại là loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh có khả năng

ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ mới tốt hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn

so với kinh tế hộ Như đã nêu ở trên, kinh tế trang trại với hình thức tổ chức sản xuất quy mô lớn hơn, nên có khả năng ứng dụng công nghệ mới, đưa khoa học - công nghệ vào ngay trong quá trình sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, nhằm mang lại hiệu quả cao hơn so với kinh tế hộ Măt khác, yêu cầu tăng hiệu quả, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, cũng đặt ra yêu cầu

trang trại phải ứng dụng khoa học - công nghệ mới

- Khác với kinh tế hộ, ngoài lao động của gia đình, các trang trại phải sử dụng thêm lao động thuê ngoài Mức độ sử dụng lao động của kinh tế trang trại tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm của từng trang trại Tuy nhiên, do điều kiện của sản xuất nông nghiệp nên trang trại thường thuê lao động theo thời vụ Lao động trong các trang trại cũng cần được đào tạo, cần có tay nghề phù hợp để đáp ứng

được yêu cầu ứng dụng khoa học - công nghệ

- Kinh tế trang trại có tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ hơn và có thu nhập

cao hơn so với sản xuất kinh tế hộ Do mục đích của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hóa, nên nhìn chung, các trang trại đều tập trung chuyên môn hóa một số sản phẩm nhất định Việc tập trung sản xuất chuyên môn hóa, yêu cầu phải tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh một cách có khoa học, phù hợp với đặc điểm của sản xuất hàng hóa nông nghiệp, vừa đáp ứng được yêu cầu thị trường Vì vậy việc tiếp cận thị trường, phân tích thông tin thị trường là yêu cầu cấp thiết của kinh tế trang trại Do được tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh tiến bộ và quy mô lớn hơn, hiệu quả hơn nên kinh tế trang trại có thu nhập cao hơn nhiều lần so với kinh tế

Trang 23

hộ Đây cũng là mục tiêu cơ bản của kinh tế trang trại, của hình thức tổ chức sản xuất quy mô lớn trong nông nghiệp

1.3 Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế - xã hội

Kinh tế trang trại là một trong những biểu hiện văn minh kinh tế trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đã xuất hiện ở một số nước trên thế giới vào thời kỳ kinh tế hàng hóa bắt dầu được vận hành theo cơ chế thị trường Cho đến nay kinh tế trang trại đã phát triển hầu hết các nước có sản xuất nông - lâm nghiệp và trở thành mô hình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp thế giới Các trang trại gia đình được hình thành chủ yếu từ cơ sở của các hộ tiểu nông sau khi phá vỡ cái vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín, vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hoá với qui mô từ nhỏ đến lớn, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh So với kinh tế tiểu nông thì kinh tế trang trại là một bước phát triển của nền sản xuất xã hội Kinh tế trang trại có ưu

thế là (Đào Hữu Hòa, 2007):

- Có khả năng dung nạp các trình độ sản xuất nông nghiệp khác nhau về

xã hội hoá, chuyên môn hoá, tập trung hoá trong sản xuất

- Có khả năng dung nạp các quy mô sản xuất khác nhau

- Có khả năng liên kết các loại hình kinh tế, sở hữu khác nhau (gia đình, hợp tác hóa, nhà nước)

- Có khả năng đáp ứng yêu cầu của các trình độ khoa học - công nghệ khác nhau

Là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền sản xuất hàng hóa, vì vậy trang trại có vai trò hết sức to lớn trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho xã hội Trong điều kiện nền kinh tế nước ta chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa, sự hình thành và phát triển các trang trại có vai trò cực kỳ quan trọng Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phương thức sản xuất chủ yếu, vì vậy, nó cho phép huy động khai thác đất đai, sức lao động và nguồn lực khác một cách đầy đủ hợp lý và có hiệu quả Nhờ vậy, nó góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn

Trang 24

Vai trò cụ thể của kinh tế trang trại đối với nước ta được thể hiện cụ thể :

- Kinh tế trang trại với kết quả và hiệu quả sản xuất cao góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục tình trạng manh mún, tạo vùng chuyên môn hóa cao, đẩy nhanh nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa

- Qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại tạo ra nhiều nông sản nhất là những nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp, vì vậy trang trại góp phần thúc đẩy công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn phát triển đẩy nhanh công cuộc đô thị hóa vùng nông thôn

- Kinh tế trang trại là hình thức sản xuất có quy mô lớn hơn kinh tế hộ, vì vậy có khả năng áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh tiên tiến, trang trại là nơi tiếp nhận và chuyền tải các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến đến kinh tế hộ thông qua chính hoạt động sản xuất của mình

- Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu

hạ tầng nông thôn, là tấm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức kinh doanh tiên tiến và có hiệu quả Tất cả những điều đó góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội ở nông thôn Trang trại là tế bào quan trọng

để phát triển nông nghiệp nông thôn, thực hiện sự phân công lao động xã hội trong điều kiện nước ta chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá

- Về mặt môi trường: Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải tạo và bảo

vệ môi trường sinh thái Thực hiện phát triển kinh tế trang trại nước ta đã đem lại nhiều kết quả về kinh tế xã hội và môi trường Nhưng phát triển kinh tế trang trại ở nước ta phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế từng vùng và từng địa phương, nhất là những vùng địa phương có điều kiện đất đai và điều kiện sản xuất hàng hoá

Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản xuất hàng hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các nghành sản xuất nông- lâm– ngư nghiệp

Trang 25

ở các vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đã thích ứng với các trình độ công nghiệp hoá khác nhau Thời gian tới bước vào thế kỷ 21 theo

dự báo của nhiều nhà kinh tế trên thế giới, kinh tế trang trại có bước phát triển mạnh mẽ, với số lượng ngày càng nhiều ở các nước đang phát triển, trên con đường công nghiệp hoá và vấn đề còn tồn tại ở các nước công nghiệp hoá cao, trên cơ sở điều chỉnh số lượng và cơ cấu trang trại cho phù hợp Kinh tế trang trại trong thời gian tới vẫn tồn tại và phát triển vì có nhiều thế mạnh hơn hẳn các

hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp khác Kinh tế trang trại có thể phát triển

với nhiều hình thức đa dạng khác nhau (như tư bản tư nhân, cổ phần, liên doanh,

uỷ thác, ) Hình thức quản lý, nội dung hoạt động, cơ cấu và qui mô sản xuất của trang trại thay đổi tuỳ theo đặc điểm và điều kiện cụ thể ở mỗi nước, mỗi vùng sinh thái, nhưng trang trại gia đình là loại thích hợp nhất, phổ biến nhất Trên thế giới, trang trại gia đình chiếm khoảng 80- 90 tổng số trang trại Đây chính là hình thức sản xuất lấy hộ gia đình làm nền tảng để sản xuất nông sản hàng hoá, sử dụng lao động gia đình trong quản lý sản xuất, có thể sử dụng lao động làm thuê thường xuyên hoặc theo thời vụ

1.4 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại và tiêu chí xác định trang trại

1.4.1 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại

Theo Bùi Minh Vũ, Nguyễn Thị Lai – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt

Nam thì kinh tế trang trại có một số đặc trưng sau (Bùi Minh Vũ, Nguyễn Thị

Lai, 2005):

- Mục đích của trang trại: mục đích chủ yếu của trang trại là sản xuất

nông sản hàng hoá với quy mô lớn đáp ứng nhu cầu thị trường Đặc trưng cơ bản của sản xuất hàng hoá có thể được biểu hiện về mặt lượng với các chỉ tiêu chủ yếu sau:

+ Chỉ tiêu 1: Giá trị sản lượng hàng hoá Nông, Lâm, Thuỷ sản được tạo

ra trong năm của trang trại

+ Chỉ tiêu 2: Quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại

Trang 26

+ Chỉ tiêu 3: Tỷ suất hàng hoá của trang trại

- Hoạt động của trang trại: hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại

được tiến hành trên cơ sở các yếu tố sản xuất, trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá

Có thể nêu các chỉ tiêu sau đây (Bùi Minh Vũ, Nguyễn Thị Lai, 2005):

+ Chỉ tiêu 1: Quy mô ruộng đất của trang trại Nếu trang trại chăn nuôi thì

quy mô đó đựơc tính theo số lượng gia súc, gia cầm

+ Chỉ tiêu 2: Quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại -Tổ chức và quản lý sản xuất: tổ chức và quản lý sản xuất tiến bộ trên cơ

sở chuyên môn hoá, thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hạch toán kinh doanh và thường xuyên tiếp cận thị trường Mô hình sản xuất rất đa dạng

và phong phú, phản ánh những đặc thù, kinh nghiệm và những truyền thống canh tác của địa phương

- Chủ trang trại :

+ Có khả năng về tổ chức quản lý

+ Có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất

+ Có hiểu biết nhất định về kinh doanh theo cơ chế thị trường

+ Có ý chí và quyết tâm cao, dám nghĩ, dám làm, không sợ khó khăn, gian khổ

- Nguồn nhân lực:

+ Nhân lực của gia đình

+ Nhân lực đi thuê : Thuê theo thời vụ và thuê thường xuyên Nguyên tắc thuê là thoả thuận giữa chủ trang trại và người lao động làm thuê; số lượng lao động thuê mướn phụ thuộc vào loại hình, quy mô và năng lực sản xuất của trang trại

- Loại hình trang trại :gồm nông trại, lâm trại và ngư trại

- Về quan hệ sở hữu: quan hệ sở hữu của trang trại được thể hiện bằng hệ

thống pháp luật và tạo nên chế độ sở hữu Chế độ sở hữu bao gồm các quyền :

+ Quyền sở hữu

+ Quyền quản lý kinh doanh

+ Quyền chi phối

+ Quyền thực hiện lợi ích kinh tế

Trang 27

Trong 4 quyền đó thì 2 nhóm quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh

là quan trọng nhất Trong quyền quản lý kinh doanh có quyền sử dụng đất đai

Thông tư liên tịch số 69/2000 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ngày 23 tháng 6 năm 2000 xác định kinh tế trang trại có 3 đặc trưng

- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn

- Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như:đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá

- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệuquả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ

Nói chung, kinh tế trang trại so với kinh tế hộ gia đình có những đặc trưng khác biệt, cụ thể:

- Lĩnh vực sản xuất chủ yếu là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản và mục đích

là sản xuất hàng hoá theo nhu cầu thị trường Hay nói cách khác là hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và sản xuất của đơn vị kinh tế này là sản xuất hàng hoá

- Phần lớn tư liệu sản xuất của trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền

sử dụng lâu dài của người chủ độc lập như máy móc, đất đai…

- Các yếu tố cơ bản như đất đai, mặt nước, tiền vốn phải được tập trung ở quy mô nhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá Để sản xuất hàng hoá với

số lượng lớn hơn kinh tế hộ Kinh tế trang trại phải đáp ứng nhu cầu về vốn và

tư liệu sản xuất ở mức độ cho phép đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hoá

- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiến bộ trên

cơ sở chuyên môn hoá, hợp tác sản xuất, tiêu thụ sản phẩm có điều kiên ứng

dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất

- Các trang trại đều thuê lao động làm việc ổn định, nhất là các lao động

có chuyên môn kỹ thuật và thuê lao động hợp đồng thời vụ Cá biệt có trang trại

Trang 28

vừa là chủ trang trại vừa là cán bộ kỹ thuật và lao động chính của trang trại Do sản xuất mang tính đặc thù nên kinh tế trang trại có thể tận dụng phát huy tối đa trong sản xuất những điều kiện hiện có của gia đình, địa phương

1.4.2 Các tiêu chí nhận dạng trang trại

Thông tư liên tịch số 69/2000 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ngày 23 tháng 6 năm 2000 quy định một số tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại như sau:

- Giá trị hàng hoá và dịch vụ bình quan một năm đủ lớn, tức là mức độ

sản xuất cung cấp hàng háo ra thị trường phải đủ lớn để khẳng định vị thế của mình trong sản xuất

- Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế hộ gia đình, ngành sản xuất và vùng kinh tế, tức là sở hữu và sản xuất phải vượt hơn hẳn kinh tế hộ

- Tiêu chí giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:

+ Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên + Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

- Tiêu chí quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

a Đối với trang trại trồng trọt

(1)Trang trại trồng cây hàng năm

+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung + Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

(2)Trang trại trồng cây lâu năm

+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung + Từ 5 ha trở lên đối với ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

+ Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên

(3)Trang trại lâm nghiệp

+ Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước

b Đối với trang trại chăn nuôi

(1)Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò, v.v

Trang 29

+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên

+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

(2) Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, v.v

+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với hơn 20 con trở lên, đối với

dê, cừu từ 100 con trở lên

+Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên

(3) Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, v.v có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

c Trang trại nuôi trồng thuỷ sản

Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

d Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính

chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thuỷ đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1)

Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại dựa vào các tiêu chí sau:

* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;

- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

* Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;

* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

Hai tiêu chí nêu trên cần làm rõ vị trí của từng tiêu chí, trong đó tiêu chí quy mô giá trị sản lượng hàng hoá hàng năm của trang trại là cơ bản, tiêu chí thứ

Trang 30

2 – quy mô sản xuất của trang trại là bổ sung, là cơ sở để nhận dạng ban đầu để trên cơ sở đó điều tra, tính toán quy mô giá trị sản lượng hàng hoá và xác định kinh tế trang trại

1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế trang trại

Để đánh giá sự phát triển của kinh tế trang trại, có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu khác nhau tạo thành một hệ thống các chỉ tiêu Hệ thống chỉ tiêu này có

thể được chia thành 3 nhóm chính sau đây (Bùi Bằng Đoàn, 2010):

1.4.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá quy mô và cơ cấu phát triển kinh tế trang trại

- Chỉ tiêu số lượng: thể hiện số lượng trang trại hiện có của từng địa phương, từng khu vực hay trên toàn quốc Số lượng nhiều hay ít thể hiện về lượng trình độ phát triển kinh tế trang trại của một địa phương, một khu vực hay một quốc gia cụ thể

- Chỉ tiêu cơ cấu: thể hiện mối quan hệ theo tỷ lệ giữa các loại trang trại trong một địa bàn cụ thể Có rất nhiều loại cơ cấu trang trại khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí phân loại trang trại Chẳng hạn, theo ngành nghề có trang trại trồng trọt hay chăn nuôi; theo quy mô có trang trại lớn và trang trại nhỏ; theo trình độ phát triển có trang trại truyền thống và trang trại ứng dụng công nghệ cao…

- Chỉ tiêu về sự phân bố của trang trại: đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung của số lượng các trang trại trong những địa bàn nhỏ trong một địa bàn lớn hơn Chẳng hạn giữa khu vực thành thị và nông thôn; giữa các huyện trong một tỉnh, giữa các tỉnh trong một quốc gia…

- Chỉ tiêu về quy mô của trang trại: chỉ tiêu này phản ánh thông qua nhiều tiêu chí khác nhau như diện tích, vốn đầu tư, số lượng lao động, giá trị sản lượng thu hoạch… Quy mô của trang trại càng lớn càng thể hiện trình độ phát triển kinh

tế trang trại ở mức độ càng cao

1.4.3.2 Các chỉ tiêu định tính đánh giả mức độ phát triển kinh tế trang trại

- Chỉ tiêu nguồn gốc đất đai của các trang trại: thể hiện khía cạnh về khả năng tận dụng nguồn lực đất đai sẵn có của địa phương Nếu khả năng sử dụng các loại đất xấu, đất nghèo, đất khô hạn… để phát triển trang trại thì càng thể hiện khả năng phát triển kinh tế trang trại ở trình độ cao Ngược lại, nếu khai thác các

Trang 31

nguồn đất thuận lợi để phát triển trang trại thì sẽ gây ra lãng phí, dẫn đến các nguồn đất đai ít thuận lợi hơn sẽ không được khai thác, các ngành nghề khác cần đất đai sẽ không có cơ hội để phát triển

- Chỉ tiêu mức độ ứng dụng khoa học - công nghệ của trang trại: thể hiện mức độ tham gia của tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất trang trại Một

số chỉ tiêu như vốn đầu tư cho công nghệ cao, tỷ lệ sản phẩm công nghệ cao, giá trị sản phẩm công nghệ cao…có thể được dùng để đánh giá trình độ ứng dụng khoa học – công nghệ cao vào trong hoạt động sản xuất của trang trại Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện trình độ phát triển của kinh tế trang trại

Ngoài ra, các chỉ tiêu như khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường, mức

độ liên kết giữa các trang trại và mối liên kết chủ trang trại - nhà doanh nghiệp - ngân hàng - nhà khoa học , mức độ bảo vệ môi trường ở các trang trại… cũng là một số chỉ tiêu dùng để đánh giá trình độ phát triển của kinh tế trang trại

1.4.3.3 Các chỉ tiêu đánh giả hiệu quả phát triển kinh tế trang trại

- Chỉ tiêu kết quả sản xuất: gồm các chỉ tiêu phản ánh về hiện vật và các chỉ tiêu phản ánh về mặt giá trị

+ Chỉ tiêu hiện vật phản ánh kết quả về mặt hiện vật của các hoạt động, cụ thể là của từng loại cây trồng, vật nuôi của trang trại thu được trong một năm Tùy theo từng ngành sản xuất, các chỉ tiêu phản ánh kết quả về hiện vật cũng khác nhau và tính theo các đơn vị khác nhau Trong trồng trọt, chỉ tiêu kết quả hiện vật là số lượng sản phẩm thu được của từng loại cây trồng trong một vụ, một năm và được tính bằng các đơn vị kg, tạ, tấn…Đối với ngành chăn nuôi, kết quả sản xuát thể hiện là số sản phẩm thu được từ chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản tùy theo từng đối tượng chăn nuôi khác nhau mà kết quả sản phẩm chăn nuôi được thể hiện là khác nhau

+ Chỉ tiêu giá trị của trang trại thường được thể hiện thông qua giá trị sản xuất (GO) hoặc thu nhập Các chỉ tiêu này càng lớn thể hiện trình độ phát triển của kinh tế trang trại càng cao

Giá trị sản xuất (GO) là toàn bộ giá trị sản phẩm của các ngành sản xuất

mà trang trại thu được trong một kỳ nhất định, thường là một năm Giá trị sản

Trang 32

xuất của trang trại bao gồm giá trị của số sản phẩm sản xuất bán ra hay chuyển

ra ngoài, giá trị của số sản phẩm dùng cho tiêu dùng nội bộ và giá trị của số sản phẩm dùng cho dự trữ

Có thể sử dụng các chỉ tiêu cụ thể khác nhau để đánh giá hiệu quả của trang trại thông qua giá trị sản xuất như giá trị sản xuất thu được trên một đơn vị diện tích, giá trị sản xuất thu được trên một đơn vị đầu vào khác như một lao đông, một đồng vốn…

- Chỉ tiêu chi phí sản xuất:là giá trị các yếu tố đầu vào sử dụng cho các hoạt động sản xuất của trang trại Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, mỗi ngành sản xuất chi phí có nội dung thể hiện khác nhau Để phục vụ cho công tác quản lý, chi phí sản xuất được phân loại theo nhiều cách khác nhau Các cách phân loại chi phí khác nhau xuất phát từ mục đích phục vụ cho công tác hạch toán hay phục vụ cho quản lý và ra quyết định

Để đánh giá hiệu quả của trang trại thông qua chỉ tiêu chi phí sản xuất có thể phân tích so sánh mối tương quan giữa chi phí qua các năm hoặc tương quan giữa chi phí so với các chỉ tiêu khác như giá trị sản xuất hay thu nhập…

- Chỉ tiêu lợi nhuận: là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và của trang trại nói riêng Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí Đây được coi là chỉ tiêu mà các chủ trang trại có thể dễ dàng sử dụng để đánh giá hiệu quả của đầu tư Ngoài ra có thể sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận như tỷ suất lợi nhuận theo thu nhập, tỷ suất lợi nhuận trên đơn vị diện tích, tỷ suất lợi nhuận theo vốn đầu tư… để đánh giá hiệu quả kinh tế của trang trại

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại

1.5.1 Các yếu tố khách quan

Theo tác giả Mai Văn Xuân, trong cuốn Giáo trình kinh tế nông hộ và trang trại, Trường Đại học Huế (2008) thì phát triển kinh tế trang trại chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan, cụ thể:

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Sản phẩm nông nghiệp có đặc điểm khi tiêu thụ là sản phẩm tươi sống,

Trang 33

khó khăn cho việc bảo quản, sản phẩm nông nghiệp mang tính mùa vụ và có đặc điểm là cung muộn không thể đáp ứng một cách ngay lập tức, vì đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sống nên cần có thời gian sinh trưởng, phát triển sau đó mới đến bước thu hoạch Do đó, dù giá nông sản rất cao, các nông trại phải mất hàng tháng, thậm chí hàng năm mới có được sản phẩm

Đối tượng khách hàng là ai? Khách hàng mua nông sản cũng được phân chia theo nhiều nhóm đối tượng khác nhau Ví dụ, những khách hàng là những công dân của những nước có thu nhập cao, thường họ có yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và những tiêu chuẩn vệ sinh, tuy nhiên họ thường sẵn sàng trả giá cao khi mua nông sản Với những nhóm khách hàng có thu nhập thấp, thường thì họ có yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hoá cũng thấp, giá cả cũng khó chấp nhận ở mức cao Ngoài ra, chúng ta cần chú ý đến đặc điểm khách hàng từng khu vực châu lục, cũng có những đặc điểm yêu cầu về sản phẩm có khi cũng khác nhau

Một đặc điểm chú ý nữa với khách hàng là nên quan tâm đến yếu tố văn hoá và đặc điểm tôn giáo mà khách hàng đang tuân thủ Ví dụ, thịt lợn là thứ mà những người theo đạo Hồi kiêng, cũng như những người theo đạo Hin Đu không dùng thịt bò là thực phẩm trong bữa ăn của mình Tóm lại thị trường tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng, nó là vấn đề sống còn của sự phát triển kinh tế trang trại Đối với hàng hoá, sản phẩm nông nghiệp thì thị trường tiêu thụ sản phẩm là vô cùng lớn Tất cả các thành phần kinh tế đều phải sử dụng sản phẩm của nông nghiệp Mà hiện nay kinh tế trang trại đang là then chốt và chủ đạo trong phát triển nông nghiệp Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp lại luôn phải gắn liền với đất đai, phụ thuộc rất lớn về khí hậu và thời tiết, bệnh dịch Hơn nữa vùng sản xuất lại luôn dàn trải, không tập trung Các hệ thống phân tán rộng khắp trên toàn lãnh thổ Chính điều này cũng khiến gặp không ít khó khăn trong vấn đề tiêu thụ

- Chính sách về đất đai

Hiện nay Chính phủ đã có những quyết sách đổi mới và thuận lợi nhiều cho phát triển kinh tế trang trại như chính sách giao đất, giao rừng, dồn điền, đổi thửa,

Trang 34

điều này tạo đà cho sự phát triển kinh tế trang trại một cách vững chắc và lâu dài Bên cạnh đó nền kinh tế nông nghiệp nước ta trước đây quá nghèo nàn lạc hậu; chính vì vậy mà việc cải tạo lại những bờ vùng bờ thửa sau khi dồn điền đổi thửa là

vô cùng khó khăn và tốn kém, gây không ít trở ngại cho các chủ trang trại về vấn

đề vốn và lao động

- Chính sách về tín dụng

Nhà nước đã thành lập các hệ thống ngân hàng từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là hệ thống ngân hàng nông nghiệp để phục vụ cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp ngày càng tiến xa hơn và vững chắc Bên cạnh hệ thống ngân hàng rất lớn, xong việc kinh doanh tiền tệ, và việc bảo tồn vốn là điều tiên quyết lại từ phía ngân hàng Chính điều này gây không ít khó khăn khi các nhà đầu tư vào kinh tế trang trại nhưng thiếu tài sản thế chấp Đây là vấn đề cần tháo gỡ

- Các chính sách khác

Ví dụ như chính sách thuế; bảo hộ sản phẩm nông nghiệp; xuất nhập khẩu hàng nông nghiệp; chính sách ưu tiên cán bộ nông nghiệp làm việc ở vùng sâu, vùng xa nhằm phục vụ kỹ thuật cho các nhà đầu tư kinh tế trang trại…

- Yếu tố tự nhiên

Đây là một yếu tố có sự tác động vô cùng to lớn đến hoạt động của kinh tế trang trại, vì đối tượng của kinh tế trang trại đều là các sinh vật sống, có thời gian sinh trưởng và phát triển phụ thuộc rất lớn đối với yếu tố tự nhiên Trong những năm vừa qua đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, bắt đầu nền công nghiệp hoá đất nước hình thành, các nhà máy, công xưởng, nhà cửa mọc lên như nấm, cũng đồng nghĩa với việc nạn phá rừng chàn lan gây nên thảm họa về môi trường như hạn hán, lụt lội sảy ra liên tiếp, môi trường bị tàn phá một cách nghiêm trọng, sự mất cân bằng sinh thái là tất yếu, dẫn đến dịch bệnh, sâu bọ phá hoại mùa màng khủng khiếp, điều này khiến không ít các nhà quản lý cũng như các chủ trang trại ngần ngại khi đầu tư Cụ thể các loaị dịch bệnh luôn hoành hành, làm cho những nhà chăn nuôi luôn phải đau đầu khi mà hết bệnh lở mồn long móng sảy ra ở gia súc, sau đó lại đến bệnh H5N1 sảy ra ở gia cầm,

Trang 35

đến nay lại dịch bệnh lợn tai xanh… Thông qua đây ta thấy rằng đối với dịch bệnh nó là hiểm họa cao nhất đối với người làm nông nghiệp

1.5.2 Các yếu tố chủ quan

Cũng theo tác giả Mai Văn Xuân, các yếu tố chủ quan tác động đến phát

triển kinh tế trang trại bao gồm (Mai Văn Xuân, 2008):

- Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của chủ trang trại

Con người Việt Nam xưa nay vốn cần cù và chịu thương chịu khó, tính vươn lên trong cuộc sống, tính cộng đồng lớn Điều này là điều kiện cho phát triển một đất nước mạnh mẽ về cả vật chất lẫn tinh thần Bên cạnh đó chủ trang trại không được đào tạo, hoặc là đào tạo chắp vá, điều này khiến không ít các trang trại làm ăn bị thua lỗ, dẫn đến phá sản

- Quy mô diện tích trang trại

Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới, gió mùa đất đai phì nhiêu cây cối tươi tốt quanh năm, diện tích đất trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn Ngoài ra đất còn là hàng hoá đặc biệt, khi có sự đầu tư của con người thì đất ngày càng tốt độ phì ngày càng cao, diện tích đất canh tác ngày càng lớn, chứ không như các tài sản khác là có sự hao mòn và dẫn đến hư hỏng Bên cạnh đó diện tích đất tuy lớn nhưng đất canh tác lại thiếu, vì nước ta phân làm bốn vùng

rõ rệt, vùng cao nguyên, vùng núi cao; vùng trung du; vùng đồng bằng Nhưng diện tích vùng đồng bằng phù hợp cho phát triển kinh tế trang trại thì bình quân trên đầu người lại ít, mà vùng núi và trung du lại nhiều Để cải tạo và tạo vùng nguyên liệu rộng lớn là rất khó khăn, thậm chí là không thể

- Lao động

Lượng lao động dồi dào trên 70% dân số nước ta phân bố ở nông thôn, tính cần cù chịu khó, tính tập thể tốt Bên cạnh đó trình độ lao động thấp, tác phong công nghiệp hầu như không có, dẫn tới kỷ luật trong lao động kém làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả lao động Lực lượng lao động không tập trung mà phân bố rải rác khắp nơi, nên việc quy tụ lại một chỗ lại nhiều vấn đề như chỗ ăn, ở, quản lý con người vô cùng khó khăn, điều này cũng là nhân tố tăng các chi phí đầu vào ảnh hưởng lớn tới việc tăng giá thành sản phẩm

Trang 36

- Nguồn vốn

Đầu tư cho kinh tế trang trại vốn không cần lớn như sản xuất công nghiệp, đầu tư dần trong suốt quá trình sản xuất hoặc chu kỳ sản phẩm Điều này có thể giãn cách thời gian huy động vốn cũng như đầu tư vốn Hiện nay Đảng và Nhà nước đang huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn thông qua các chương trình dự án phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn như các vốn chương trình dự án: 135; ODA; ADB; WB đây cũng là một hình thức đầu tư gián tiếp và lâu dài Bên cạnh đó nước ta là một nước đang trong thời kỳ quá độ, sau những năm cải cách đổi mới nền kinh tế còn khó khăn, chính vì vậy việc bảo hộ và bảo trợ cho nông nghiệp còn thấp, các chủ kinh tế trang trại chủ yếu là từ các hộ kinh tế gia đình thành lập tự phát với lượng vốn khởi điểm thấp Vốn huy động từ nguồn vay của ngân hàng nông nghiệp thì ít,

do không có tài sản thế chấp, hoặc có thì cũng không đủ để đáp ứng được lượng vốn cần thiết để phát triển với quy mô cao Vốn đầu tư cho nông nghiệp tuy không cần ồ ạt và đầu tư một lúc như trong công nghiệp, nhưng do đặc thù của sản phẩm nông nghiệp là phải có chu kỳ của sản phẩm, vì đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật sống, đòi hỏi phải có thời gian sinh trưởng và phát triển nhất định, chính điều này đầu tư vốn cho sản xuất nông nghiệp rất dài, hơn nữa trong thời gian như vậy sản phẩm nông nghiệp lại chịu sức ép rất lớn về thời tiết và khí hậu, dịch bệnh Bởi vậy rủi do trong đầu tư sản xuất nông nghiệp

là không nhỏ, dẫn đến việc huy động vốn rất khó khăn, đây cũng là vấn đề mà Nhà nước cần quan tâm

- Công nghiệp chế biến sản phẩm

Đây là một vấn đề rất lớn có tác động đến phát triển kinh tế trang trại, điều mà Đảng và Nhà nước luôn cần quan tâm nhưng không phải là không vướng mắc Sản phẩm sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, thu hoạch ồ ạt trong thời gian ngắn nên số lượng rất lớn, dẫn đến việc đầu tư vào công nghệ chế biến rất tốn kém và hiệu quả lại không cao, vì đặc thù công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp mang tính đơn nhất lớn, tức là một dây truyền thì chỉ chế biến một vài loại sản phẩm của nông nghiệp Chính điều này gây không ít khó

Trang 37

khăn cho nhà đầu tư, vì với một lượng vốn đầu tư rất lớn, nhưng chỉ sản xuất được trong một thời gian rất ngắn trong năm Chính vì vậy các nhà đầu tư cần chú ý tới các sản phẩm phụ khi chế biến sản phẩm của nông nghiệp, để tránh sự đơn điệu trong chế biến, sản xuất kinh doanh, cũng như giảm chi phí, tăng thêm nguồn thu nhập, khai thác hết tiềm năng sẵn có của lĩnh vực mà nhà đầu tư quan tâm

Ví dụ: Nhà máy chế biến mía đường thì ngoài sản phẩm chính là đường, thì cần quan tâm đến các sản phẩm phụ của đường như gỉ đường, bã mía, có thể tận dụng cho việc sản xuất cồn công nghiệp, rượu và một số chế phẩm khác như

bã mía, có thể sản xuất được thành các thức ăn chăn nuôi gia súc và phân bón quay trở lại phục vụ cho nông nghiệp Vì vậy cần quan tâm đến việc kéo dài mùa vụ bằng cách trồng xen vụ, nhằm sử dụng tối đa công xuất máy giảm chi phí khấu hao trên từng đơn vị sản phẩm, giảm giá thành sản xuất, cũng như tăng tính cạnh tranh trên thị trường Cũng như việc lập nên các nhà máy bảo quản sản phẩm thô trong nông nghiệp nhằm kéo dài thời gian chế biến Một điều nữa là cần có bộ máy quản lý chất lượng sản phẩm đã qua chế biến, nhằm duy trì và phát huy chất lượng sản phẩm ngày càng có uy tín trên thị trường, chính điều này đã làm tăng giá trị của sản phẩm tinh cao gấp nhiều lần so với sản phẩm thô, dẫn tới tăng lợi nhuận, khấu hao nhanh giảm chi phí đầu tư tới mức tối đa Ngoài ra sản phẩm nông nghiệp phân bố rất rộng, hơn nữa nước ta lại có địa hình phức tạp, giao thông và các cơ sở hạ tầng nông thôn còn kém, các vùng nguyên liệu xa nhau và không lớn việc thu gom sản phẩm phức tạp, việc bảo quản và vận chuyển vô cùng khó khăn dẫn đến giá thành cao gây ảnh hưởng lớn

về cạnh tranh giá trên thị trường Bởi vậy khi lập dự án cho dây truyền chế biến sản phẩm nông nghiệp, thì các nhà đầu tư cần chú ý đến việc nghiên cứu kỹ vùng nguyên liệu có đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất của nhà máy hay không? Tránh các trường hợp như các nhà máy đường của nước ta trong những năm gần đây 1.6 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở trong và ngoài nước

1.6.1 Kinh nghiệm ngoài nước

* Kinh nghiệm của Nhật Bản

Từ những năm 1950 đến nay, nhờ cải cách ruộng đất, đã hình thành các trang trại gia đình sản xuất nông sản hàng hoá, trang trại gia đình giảm dần về số

Trang 38

lượng, và tăng dần về quy mô ruộng đất Số lượng trang trại của Nhật Bản năm

1995 là 3.640.000, trong đó có 2.830.000 trang trại sản xuất nông sản hàng hoá, chiếm gần 80% Quy mô bình quân trang trại năm 1995 là 1,5 ha, trang trại lớn nhất không vượt quá 10 ha Riêng đảo Hokkaido ở miền bắc nước Nhật, là vùng đất đồi, nên ruộng đất của các trang trại có từ 1 ha đến 30 ha, các trang trại ở đây

có diện tích từ 10 ha đến 30 ha trở lên chiếm khoảng 40% tổng số trang trại Đặc điểm nổi bật của trang trại ở Nhật Bản là quy mô trang trại nhỏ, chi phí sản xuất, đặc biệt là chi phí lao động cao, giá nông sản cao, không tạo được ưu thế cạnh tranh Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện cuộc cải cách rộng lớn về phương thức và quy mô sản xuất trong nông nghiệp, tạo ra những vùng chuyên canh về trồng trọt và thực hiện việc khuyến khích tích tụ đất

để mở rộng diện tích các trang trại trồng trọt Trong 10 năm lại đây, đất nông nghiệp Nhật Bản tiếp tục giảm do phát triển đô thị và phát triển của các ngành công nghiệp Số lượng trang trại ngày một giảm, tuy nhiên số trang trại chuyên môn hoá trong trồng trọt lại tăng lên Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng mạnh mẽ cơ giới hoá vào sản xuất nông nghiệp nói chung, trang trại nói riêng Ngay từ thời gian đầu trong thiết kế chế tạo máy nông nghiệp đã có những sáng tạo độc đáo như máy tách hạt lúa, máy xay xát thóc gạo, máy làm đất cho trang trại nhỏ hẹp, các loại máy cấy và máy "gặt liên hợp" Đến nay, hầu hết các khâu trong quá trình sản xuất của trang trại đã được cơ giới hoá, đảm bảo cơ giới liên hoàn đồng bộ các khâu sản xuất từ khai hoang, làm đất đến gieo cấy, bơm nước, trừ sâu, trừ cỏ, cắt gặt, đập tuốt, sấy thóc, xay xát, bảo quản vận chuyển Trong nhiều năm qua, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng mạnh mẽ chính sách hỗ trợ như trợ giá, hỗ trợ trực tiếp cho kinh tế trang trại, khuyến khích tích tụ ruộng đất để tăng quy mô trang trại, phát triển những thành tựu công nghệ sinh học, phát triển ứng dụng khoa học kỹ thuật chuyên môn hoá

(Trần Đức, 1995)

Mô hình trang trại của Nhật Bản là mô hình trang trại có tính thương mại rất cao Nhật Bản là nước châu Á đầu tiên công nghiệp hóa, hiện có khoảng 6 triệu người sống trên 1,6 triệu trang trại Khoảng 1,8 triệu nông dân chi hơn 50%

Trang 39

thời gian của họ cho việc canh tác Mặc dù các trang trại thương mại trung bình nhỏ hơn 5 ha, các hộ gia đình quản lý các trang trại nhỏ vẫn có thu nhập gần bằng các hộ gia đình phi nông nghiệp Một phần nguồn thu nhập này là từ những hoạt động phi nông nghiệp; Tuy nhiên, các trang trại của Nhật Bản cũng được hưởng lợi từ giá đầu ra rất cao theo tiêu chuẩn toàn cầu Mức giá cao này được duy trì bởi các rào cản nhập khẩu đối với những mặt hàng chính được sản xuất ở Nhật Bản như: gạo, thịt bò, các sản phẩm sữa và nguyên liệu chất ngọt như củ cải đường và mía Trợ cấp của chính phủ cũng hỗ trợ thêm thu nhập cho các trang trại Hơn một nửa số thu nhập từ trang trại của Nhật Bản là từ sự can thiệp của chính phủ Một số lĩnh vực, chẳng hạn như các loại rau và hoa quả, cần sự hỗ trợ của chính phủ ít hơn vì hàng sản xuất trong nước tươi hơn và phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản và do đó hàng nhập khẩu khó có thể thay thế

* Kinh nghiệm của Thái Lan

Từ những năm 1960, hệ thống trang trại ở Thái Lan đã phát triển rất nhanh theo hướng chuyên canh, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với thị trường thế giới Có được sự thành công như vậy là do Thái Lan đã thực hiện một

số chính sách sau (Trần Đức, 1995):

- Khuyến khích liên kết trong sản xuất, áp dụng khoa học-công nghệ trong các trại chăn nuôi bò sữa Chính phủ Thái Lan khuyến khích hình thành các trang trại chăn nuôi bò sữa với quy mô lớn để cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu Chính phủ hỗ trợ các trang trại liên kết với nhau thành lập các HTX chăn nuôi bò sữa, nông dân và chủ trang trại là thành viên, hoàn toàn

tự nguyện tham gia HTX HTX thực hiện các dịch vụ cung cấp thức ăn cho các trang trại, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi từ 10 đến 15 năm, cử các cán bộ kỹ thuật tư vấn và hướng dẫn kỹ thuật xây dựng chuồng trại, chăm sóc bò sữa, hỗ trợ áp dụng các kỹ thuật chăn nuôi và vắt sữa tiên tiến HTX tổ chức thu mua toàn bộ sữa bò của nông dân ngang giá thị trường, cung cấp cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Do giá thức ăn cho bò sữa ở Thái Lan thấp, cùng với chính sách cho nông dân nuôi bò sữa và do sự liên kết và hỗ trợ của Chính phủ nên chi phí đầu vào sản xuất sữa thấp, đầu ra sản phẩm được bao tiêu với giá hợp lý nên việc chăn nuôi đạt hiệu quả cao

Trang 40

- Chính phủ xây dựng các quy hoạch phát triển kinh tế trang trại, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá tập trung, phát triển mô hình trang trại sinh thái gắn với kinh tế du lịch

Các tỉnh miền Đông Thái Lan rất thuận lợi cho phát triển các loại cây ăn quả, và trồng trọt Với điều kiện đó, ở vùng này, Chính phủ quy hoạch các trang trại chủ yếu là trồng các loại cây ăn quả lâu năm Nơi đây có nhiều trang trại cây

ăn quả rộng lớn, điển hình là trang trại Suphatra, cách Pattaya khoảng 20 km, với diện tích 160 ha, Suphatra là vựa trái cây lớn nhất trong khu vực Các trang trại trồng cây ăn quả này được phát triển theo mô hình trang trại sinh thái, gắn với các tour du lịch của du khách trong và ngoài nước Vùng miền Nam Thái Lan chủ yếu tập trung nuôi trồng thuỷ sản, với mô hình nuôi trồng công nghiệp theo quy mô lớn

- Chính phủ hỗ trợ các trang trại hình thành các mô hình liên kết sản xuất mới Hiện nay 4 tỉnh ở miền Tây Thái Lan là Nakornpathom, Ratchaburi, Karnchanaburi, Supanburi đang áp dụng mô hình liên kết sản xuất, với diện tích trồng rau là 32.500 ha của 2 ngàn nông hộ và trang trại, đã trồng 4 loại rau quả là măng tây, đậu bắp, bắp non và ớt được thị trường châu Âu chấp nhận Các sản phẩm được phép bày bán trong các siêu thị hàng đầu ở Anh, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Pháp, Nhật là Mark&Spencer, Safeway, Tesco, Sainsbury’s, Albert Hein Sự thành công bước đầu của 4 tỉnh miền Tây Thái Lan đang được các vùng chuyên canh rau quả khác ở Thái Lan ứng dụng triển khai

Các trang trại ở vùng này đã liên kết chặt chẽ với nhau, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm Trước hết, các chủ trang trại có diện tích gieo trồng lớn đã cùng hợp tác với nhau soạn thảo ra một kế hoạch sản xuất dựa theo tiêu chuẩn nhập khẩu của thị trường muốn xuất khẩu như EU, Mỹ, Nhật Sau đó các chủ trang trại đề nghị chính quyền địa phương thay đổi một số chính sách hoặc bổ sung một số ưu đãi về vốn, đất đai và liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học nhờ cung cấp kỹ thuật, hỗ trợ, huấn luyện Như vậy, mô hình này đi từ nhu cầu thực tế của người sản xuất rồi tác động phát sinh ra cơ chế hỗ trợ của chính quyền và trở thành khách hàng đề xuất đề tài cho các nhà khoa học

- Chính phủ ban hành các chính sách về bảo vệ môi trường sinh thái, vệ

Ngày đăng: 01/12/2015, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban vật giá chính phủ (2000), Tư liệu về kinh tế trang trại, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu về kinh tế trang trại
Tác giả: Ban vật giá chính phủ
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (2000), Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNNPTNT-TCTK hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại ngày 23 tháng 06 năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNNPTNT-TCTK hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại ngày 23 tháng 06 năm 2000
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2000
3. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2011), Tiêu chí mới của trang trại được quy đinh theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011, Hà Nội 4. Ngô Đức Cát (2003), Kinh tế trang trại với việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, Tạp chí Nông nghiệp & PTNT, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trại với việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
Tác giả: Ngô Đức Cát
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp & PTNT
Năm: 2003
5. Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy số 08-CT/TU ngày 08/5/2012 về đẩy mạnh vận động nông dân dân “dồn điền đổi thửa” và khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất quy mô lớn trong nông nghiệp, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: dồn điền đổi thửa
7. Trần Văn Chử (2002), Kinh tế trang trại nước ta những vấn đề đặt ra và giải pháp khắc phục, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 2, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trại nước ta những vấn đề đặt ra và giải pháp khắc phục
Tác giả: Trần Văn Chử
Năm: 2002
8. Cục Thống kê Nghệ An (2011), Báo cáo sơ bộ kết quả tổng điều tra nông thôn nông nghiệp & thủy sản, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ bộ kết quả tổng điều tra nông thôn nông nghiệp & thủy sản
Tác giả: Cục Thống kê Nghệ An
Nhà XB: Nghệ An
Năm: 2011
9. Phạm Thị Mỹ Dung (1996), Phân tích kinh tế Nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh tế Nông nghiệp
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Dung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
10. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
11. Nguyễn Điền, Trần Đức, Nguyễn Huy Năng (1993) kinh tế trang trại gia đình trên thế giới và ở Châu á, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế trang trại gia đình trên thế giới và ở Châu á
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
12. Nguyễn Đình Điền (2000), Trang trại gia đình, bước phát triển mới của kinh tế hộ nông dân, nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trại gia đình, bước phát triển mới của kinh tế hộ nông dân
Tác giả: Nguyễn Đình Điền
Nhà XB: nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2000
13. Trần Đức (1995), Trang trại gia đình ở Việt Nam và trên thế giới, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trại gia đình ở Việt Nam và trên thế giới
Tác giả: Trần Đức
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1995
14. Trần Đức (1995), Trang trại gia đình ở Việt Nam và thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trại gia đình ở Việt Nam và thế giới
Tác giả: Trần Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
15. Trần Đức (1998), Mô hình kinh tế trang trại vùng đồi núi, nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình kinh tế trang trại vùng đồi núi
Tác giả: Trần Đức
Nhà XB: nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1998
16. Trần Hai (2000), Một số nhận thức về kinh tế trang trại Việt Nam, Tư liệu về kinh tế trang trại, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận thức về kinh tế trang trại Việt Nam
Tác giả: Trần Hai
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
17. Đào Hữu Hòa (2007), Vai trò của trang trại gia đình trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp bền vững, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 2, 2007, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của trang trại gia đình trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Tác giả: Đào Hữu Hòa
Năm: 2007
18. Nguyễn Đình Hương (2000), Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
19. Trần Kiên (2000), Làm giàu bằng kinh tế trang trại, NXB Thanh Niên, Hà Nội 20. Nghị quyết số 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm giàu bằng kinh tế trang trại
Tác giả: Trần Kiên
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2000
21. Nguyễn Thế Nhã (1999), Phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam. Lý luận, thực tiễn và giải pháp, Hội thảo khoa học trường Đại học nông nghiệp I, 10/1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam. Lý luận, thực tiễn và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã
Năm: 1999
22. Sở Nông nghiệp và PTNT Nghệ An (2009), Báo cáo rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Nghệ An đến năm 2020, tháng 12 năm 2009, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Tác giả: Sở Nông nghiệp và PTNT Nghệ An
Nhà XB: Nghệ An
Năm: 2009
23. Sở Nông nghiệp & PTNT Nghệ An (2013), Báo cáo kết quả công tác chỉ đạo thực hiện Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Nghệ An đến năm 2020, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác chỉ đạo thực hiện Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Tác giả: Sở Nông nghiệp & PTNT Nghệ An
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lượng trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000-2014 - Phát triển kinh tế trang trại tỉnh nghệ an đến năm 2020
Bảng 2.1. Số lượng trang trại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000-2014 (Trang 55)
Bảng 2.2: Số lượng và cơ cấu trang trại ở Nghệ An phân theo huyện, - Phát triển kinh tế trang trại tỉnh nghệ an đến năm 2020
Bảng 2.2 Số lượng và cơ cấu trang trại ở Nghệ An phân theo huyện, (Trang 56)
Bảng 2.3: Vốn đầu tư của các trang trại ở Nghệ An năm 2005 và 2010 - Phát triển kinh tế trang trại tỉnh nghệ an đến năm 2020
Bảng 2.3 Vốn đầu tư của các trang trại ở Nghệ An năm 2005 và 2010 (Trang 60)
Bảng 2.4.  Thu nhập bình quân của kinh tế trang trại Nghệ An năm 2014 - Phát triển kinh tế trang trại tỉnh nghệ an đến năm 2020
Bảng 2.4. Thu nhập bình quân của kinh tế trang trại Nghệ An năm 2014 (Trang 66)
Hình 3.1: Tổ chức mối quan hệ giữa các tổ chức dịch vụ và trang trại - Phát triển kinh tế trang trại tỉnh nghệ an đến năm 2020
Hình 3.1 Tổ chức mối quan hệ giữa các tổ chức dịch vụ và trang trại (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w