1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Một số biện pháp phát triển kinh tế trang trại

77 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế trang trại ở nước ta đã tồn tại từ lâu, nhưng chỉ phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, có thể nói việc thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư TW Đảng Khoá 4, Nghị quyết 10 -

Trang 1

HOÀNG VĂN NINH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ SỐ: 60.34.04.10

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quang Minh

HẢI PHÒNG - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Hoàng Văn Ninh – tác giả của đề tài “Một số biện pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện An Lão - TP Hải Phòng”, tôi xin

cam đoan:

- Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả

- Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và hoàn toàn chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Người viết chịu trách nhiệm về những thông tin trong luận văn

Hải Phòng, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Ninh

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của

cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc

và kính trọng tới tất cả các tập thể, các cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong qúa trình học tập và nghiên cứu

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Nguyễn Quang Minh là thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Hải Phòng, các thầy, cô giáo giảng dạy sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội được tiếp cận và khẳng định bước đầu trong công việc nghiên cứu khoa học của mình

Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của lãnh đạo, các chuyên viên của Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện An Lão, Chi Cục Thống kê huyện An Lão và các đồng nghiệp, lãnh đạo chính quyền các địa phương và các chủ trang trại đã giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình làm luận văn./

Hải Phòng, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Ninh

Trang 4

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI 4

1.1 Kinh tế trang trại 4

1.1.1 Khái niệm, vai trò, vị trí và đặc điểm của kinh tế trang trại 4

1.1.2 Phân loại kinh tế trang trại 7

1.1.3 Nhận diện kinh tế trang trại 8

1.2 Phát triển kinh tế trang trại 9

1.2.1 Khái niệm về phát triển kinh tế trang trại 9

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế trang trại 11

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại 13

1.3.1 Nhân tố về hệ thống chính sách 13

1.3.2 Nhân tố về khoa học – cộng nghệ 14

1.3.3 Nhân tố về nguồn lực 15

1.3.4 Nhân tố về điều kiện tự nhiên 16

1.3.5 Tác động của công nghiệp hoá và đô thị hoá đến trang trại 16

1.3.6 Công tác bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế trang trại 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở HUYỆN AN LÃO – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 20

2.1 Giới thiệu về huyện An Lão, Thành phố Hải Phòng 20

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 20

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 23

2.1.3 Thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện An Lão, Thành phố Hải Phòng 24

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở huyện An Lão, Thành phố Hải Phòng 25

Trang 5

2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở huyện An Lão, Thành phố Hải Phòng 29

2.3 Đánh giá chung 41

2.3.1 Kết quả đạt được 41

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 43

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 49

3.1 Định hướng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện An Lão, thành phố Hải Phòng 49

3.1.1 Định hướng về phát triển kinh tế trang trại tại Việt Nam 49

3.1.2 Định hướng về phát triển kinh tế trang trại huyện An Lão, Thành phố Hải Phòng 52

3.2 Biện pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện An Lão, Thành phố Hải Phòng 53

3.2.1 Tăng cường huy động vốn trong sản xuất kinh doanh 53

3.2.2 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và đổi mới về khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý 56

3.2.3 Gia tăng quy mô diện tích đất đai sử dụng trong các trang trại 58

3.2.4 Biện pháp về quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng 59

3.2.5 Mở rộng tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực 60

3.2.6 Mở rộng thị trường, chế biến và tiêu thụ sản phẩm 60

3.2.7 Biện pháp cụ thể cho từng loại hình trang trại 63

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 6

Từ viết tắt Giải thích

Trang 7

Số hiệu

bảng,

biểu

2.3 Tổng giá trị sản lượng hàng hóa trang trại năm 2015 30 2.4 Qui mô diện tích bình quân của các loại hình trang

trại huyện An Lão năm 2011 và năm 2015

31

2.5 Tình hình sử dụng lao động bình quân của các trang

trại huyện An Lão năm 2015

32

2.6 Biểu đồ cơ cấu lao động của trang trại huyện An Lão

năm 2015

33

2.9 Số lượng trang trại của huyện An Lão giai đoạn

(2011-2015)

37

2.10 Số lượng trang trại chia theo các loại hình sản xuất

kinh doanh ở huyện An Lão giai đoạn 2011-2015

38

2.11 Biểu đồ các loại hình trang trại của huyện An Lão

năm 2015

39

2.12 Cơ cấu kinh tế trang trại huyện An Lão theo loại hình

kinh doanh giai đoạn (2011-2015)

40

3.1 Sơ đồ tổ chức mối quan hệ giữa các tổ chức dịch vụ và

trang trại

55

Trang 8

Số hiệu hình Tên hình Trang

Trang 9

Thế nhưng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé Cho đến bây giờ, nông nghiệp Việt Nam nói chung vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả và thiếu tính hợp lý Do vậy cần phải hình thành và phát triển những hình thức sản xuất đem lại hiệu qua kinh tế cao hơn, trong đó kinh tế trang trại là một mô hình tốt có thể áp dụng để đáp ứng yêu cầu này

Kinh tế trang trại ở nước ta đã tồn tại từ lâu, nhưng chỉ phát triển mạnh

mẽ trong những năm gần đây, có thể nói việc thực hiện Chỉ thị 100 của Ban

Bí thư TW Đảng (Khoá 4), Nghị quyết 10 - NQ/TW của Bộ Chính trị (Tháng 4/1988) và phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra đời của kinh tế trang trại với những thành tựu của công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp có bước phát triển vượt bậc, nhiều hộ nông dân có tích luỹ, đã tạo điều kiện cho kinh tế trang trại phát triển Đặc biệt là sau khi luật đất đai ra đời năm 1993 và luật đất đai sửa đổi bổ sung năm 2013, thì kinh tế trang trại mới có bước phát triển khá nhanh và đa dạng Sự tăng nhanh

về số lượng, gia tăng về giá trị sản lượng đã chứng tỏ đây là một mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta, giúp nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và cho

xã hội

Hải Phòng là một thành phố trực thuộc trung ương, nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại

Trang 10

với quy mô đất đai lớn như ở vùng trung du miền núi phía Bắc hay vùng đồng bằng phía Nam, nhưng những năm qua, cùng với sự gia tăng diện tích kinh tế trang trại Hải Phòng đứng trước nhiều nhiều cơ hội phát triển mới Qua quá trình công tác tại UBND huyện An Lão - Thành phố Hải Phòng em nhận thấy

mô hình trang trại trên địa bàn huyện những năm qua đã có nhiều thành tích đáng khích lệ nhưng thật sự vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của

nó Câu hỏi đặt ra là: Khả năng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện đến đâu ? Làm sao để mô hình được áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế xã hội

cao nhất ? Trả lời cho câu hỏi này chính là mục đích của đề tài: “Một số biện pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện An Lão - TP Hải Phòng”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở An Lão để đề xuất những định hướng và biện pháp thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển

3 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp chuyên khảo

Trang 11

- Phương pháp chuyên gia

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề về kinh tế trang trại ở huyện

An Lão để làm rõ tính lý luận và thực tiễn cho quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại của địa phương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện An Lão

Về mặt thời gian: Số liệu đánh giá thực trạng được thu thập trong giai đoạn thời gian từ năm 2011 - 2015

4.3 Nội dung nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu về tổ chức, quy mô, cơ cấu, loại hình, kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả kinh tế của các trang trại trên địa bàn huyện An Lão

5 Kết cấu của đề tài: Đề tài bao gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở Lý luận chung về kinh tế trang trại

Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện An

Lão – Thành phố Hải Phòng

Chương 3: Một số biện pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn

huyện An Lão – Thành phố Hải Phòng

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI 1.1 Kinh tế trang trại

1.1.1 Khái niệm, vai trò, vị trí và đặc điểm của kinh tế trang trại

a Khái niệm về kinh tế trang trại

Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến.[1]

Phần lớn các các nhà nghiên cứu đều cho rằng trang trại là một loại hình

tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu, hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ, trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường.[4]

Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả vốn và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một số loại sản phẩm hàng hoá từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường

Để hiểu hơn về khái niệm kinh tế trang trại, trước hết cần phân biệt các thuật ngữ “trang trại” và “kinh tế trang trại” Trong tiếng Việt hiện nay hai thuật ngữ này trong nhiều trường hợp được sử dụng không phân biệt, tuy nhiên về thực chất “trang trại” và “kinh tế trang trại” là hai khái niệm không đồng nhất Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại Còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó.[4]

Trang 13

Điểm chung của những khái niệm trên cho thấy kinh tế trang trại là kinh

tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá, nhưng quy mô sản xuất hàng hoá đó phải đạt tới một mức độ tương đối lớn Như vậy, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệu sản xuất cơ bản của hộ gia đình, hoàn toàn tự chủ và bình đẳng với các tổ chức kinh tế khác, sản phẩm làm ra chủ yếu để bán và tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế

trang trại đã ghi rõ: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”[2]

b Phân biệt kinh tế hộ và kinh tế trang trại

* Sự khác nhau

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cao hơn kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ muốn tiến tới kinh tế trang trại thì phải phá vỡ vỏ bọc tự cấp tự túc vốn có của kinh tế tiểu nông để đi vào sản xuất hàng hoá

c Vai trò, vị trí và đặc điểm của kinh tế trang trại

* Về vị trí và đặc điểm của kinh tế trang trại: Theo Nghị quyết 03 năm

2000 của Chính phủ thì:

Trang 14

- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông lâm, thuỷ sản

- Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới

- Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn

* Vai trò của kinh tế trang trại

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới Ở các nước phát triển, trang trại gia đình có vai trò to lớn và quyết định trong sản xuất nông nghiệp và tuyệt đại bộ phận nông sản cung cấp cho xã hội được sản xuất ra trong các trang trại gia đình [1],[3]

Ở nước ta, kinh tế trang trại (mà chủ yếu là trang trại gia đình) mặc

dù mới phát triển trong những năm gần đây, song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện rõ nét cả về kinh tế cũng như về mặt

xã hội và môi trường

- Về mặt kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hoá cao mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng phát triển đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ

và hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn so với kinh tế

Trang 15

nông hộ Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy

sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn[5]

- Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động Điều này rất có ý nghĩa trong giá trị vấn đề lao động và việc làm, một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu

hạ tầng trong nông thôn và tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh do đó phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào việc giá trị các vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt xã hội nông thôn nước ta

- Về mặt môi trường: Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực và lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý

và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng Các trang trại

ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trồng đồi núi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai - những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng đất nước [3]

1.1.2 Phân loại kinh tế trang trại

* Theo hình thức quản lý

- Trang trại gia đình: toàn bộ tư liệu sản xuất đều thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình, hộ gia đình là người tự quyết định tổ chức và sản xuất kinh doanh Loại hình trang trại này sử dụng sức lao động trong gia đình là chính, kết hợp thuê nhân công phụ trong mùa vụ

Trang trại gia đình là mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới, chiếm tỷ trọng lớn về đất canh tác và khối lượng nông sản so với các loại hình sản xuất khác

Trang 16

- Trang trại hợp tác: là loại hình hợp tác tự nguyện của một số trang trại gia đình với nhau thành một trang trại quy mô lớn hơn để tăng thêm khả năng

về vốn, tư liệu sản xuất và công nghệ mới tạo ra ưu thế cạnh tranh

- Trang trại cổ phần: là loại hình hợp tác các trang trại thành một trang trại lớn theo nguyên tắc góp cổ phần và hoạt động giống nguyên tắc của công

ty cổ phần Loại hình này chủ yếu phát triển trong lĩnh vực chế biến, tiêu thụ lâm sản

- Nông trại uỷ thác: là loại hình trang trại mà chủ trang trại uỷ thác cho

bà con, bạn bè quản lý từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh trong khoảng thời gian nhất định khi chủ trang trại đi làm việc khác

* Theo cơ cấu sản xuất

- Trang trại kinh doanh tổng hợp: là loại nông trại sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm, gắn trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp với các ngành nghề khác

- Trang trại sản xuất chuyên môn hoá là trang trại tập trung sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm như trang trại chuyên nuôi gà, vịt, lợn và bò sữa, chuyên trồng hoa, rau, chuyên nuôi trồng thuỷ sản

- Trang trại thuê toàn bộ tư liệu sản xuất của chủ khác để sản xuất kinh doanh

1.1.3 Nhận diện kinh tế trang trại

Cho đến nay tiêu chuẩn để xác định thế nào là một trang trại vẫn là vấn

đề còn nhiều tranh cãi, thiếu thống nhất Thực tế cho thấy, giữa các địa phương còn có sự khác biệt rất lớn trong việc xác định tiêu chuẩn trang trại Theo kết quả tổng hợp số liệu của tổng Cục Thống kê, tính đến năm 2015 cả nước có 29,500 trang trại, trong đó đồng bằng sông Hồng có 5775 trang trại

Trang 17

- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long;

- 2,1 ha đối với vùng còn lại

- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

b) Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỷ đồng/năm trở lên

c) Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha

và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

Bên cạnh tiêu chí trực tiếp còn có các tiêu chí gián tiếp để nhận dạng trang trại sau:

- Quy mô diện tích của trang trại

- Quy mô vốn của trang trại

- Quy mô về đàn gia súc

- Số lượng lao động

Các tiêu chí trên có thể xét trên phạm vi cả nước hoặc từng vùng cụ thể cho phù hợp

1.2 Phát triền kinh tế trang trại

1.2.1 Khái niệm về phát triển kinh tế trang trại

* Khái niệm phát triển:

- Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn

Trang 18

- Theo Giáo sư Bùi Đình Thanh,phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo

ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ

* Khái niệm về phát triển kinh tế trang trại:

- Phát triển kinh tế trang trại là việc gia tăng mức độ đóng góp về giá trị sản lượng và sản lượng hàng hoá nông sản của các trang trại cho nền kinh tế, đồng thời phát huy vai trò tiên phong của nó trong việc thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết việc làm ở khu vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại gắn với yêu cầu bền vững

- Phát triển kinh tế trang trại là quá trình tăng cường các yếu tố vật chất của trang trại cả về mặt số lượng và chất lượng, đồng thời là quá trình giải quyết hài hoà hơn các mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Phát triển kinh tế trang trại phải được đặt trong mối quan hệ hài hoà với yếu tố xã hội và bảo vệ môi trường là cơ sở bảo đảm cho

sự phát triển bền vững của kinh tế trang trại

* Ý nghĩa của việc phát triển kinh tế trang trại

- Về kinh tế: Kinh tế trang trại đã tạo bước chuyển biến cơ bản về giá trị sản phẩm hàng hoá, thu nhập của trang trại vượt trội hơn hẳn so với kinh tế

hộ, hình thành nên những vùng sản xuất hàng hoá lớn tập trung, thúc đẩy quá

Trang 19

- Về môi trường: Phát triển kinh tế trang trại có ý nghĩa rất lớn trong vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của kinh tế trang trại

Căn cứ thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011, quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:

* Giá trị sản lượng hàng hóa:

- Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên

- Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

- Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

- Trên thực tế của huyện An Lão giá trị sản lượng hàng hóa trung bình

01 trang trại là 2.239 triệu đồng/năm Tổng giá trị sản lượng hàng hóa trang trại toàn huyện đạt 282.050 triệu đồng/năm

* Quy mô sản xuất:

- Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

+ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; + 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

- Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha

Trang 20

Trên thực tế tại huyện An Lão diện tích bình quân của 01 trang trại là 0,69 ha/01 trang trại Tổng diện tích đất trang trại là 859.263m2/126 trang trại

* Quy mô về vốn: Vốn là yếu tố vật chất hết sức quan trọng cho sản

xuất Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, trang trại có vốn tích luỹ nhiều hơn, mức độ đầu tư cho sản xuất ngày càng lớn hơn chứng tỏ sự phát triển của kinh tế trang trại ngày càng rõ rệt Vốn đầu tư ngày càng lớn thể hiện sức mạnh kinh tế của trang trại Vốn đầu tư được thể hiện dưới hình thức là những tài sản như nhà xưởng, máy móc thiết bị, các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh và các loại tài sản ưu động khác Các yếu tố vật chất này càng nhiều và chất lượng càng cao, càng hiện đại thì càng chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế trang trại

* Trình độ công nghệ và các biện pháp kỹ thuật mới được ứng dụng vào

quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Mức độ đầu tư công nghệ và trình độ công nghệ được các trang trại đưa vào sử dụng càng cao, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề dịch vụ được áp dụng ngày càng nhiều sẽ là những yếu tố có tính quyết định đến năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi, và trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của trang trại, một yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh của kinh tế trang trại trên thương trường

* Cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản xuất, mức độ chuyên môn hoá, trình độ sản xuất hàng hoá của trang trại Đây là những yếu tố thể hiện sự

tăng cường về mặt chất ượng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế trang trại

Đến nay kinh tế trang trại đã được hình thành và phát triển trên khắp các vùng của cả nước, đặc biệt phát triển mạnh ở miền nam, trung du và miền núi, ven biển Đã xuất hiện mô hình trang trại như: trang trại thuần nông, trang trại thuần lâm nghiệp, trang trại chuyên chăn nuôi, trang trại chuyên nuôi trồng thuỷ sản, trang trại phát triển tổng hợp nông lâm nghiệp, nông ngư nghiệp,

Trang 21

a, Chính sách của Trung ương: là yếu tố quan trọng nhằm tạo điều kiện

thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, trong đó hình thức kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển mạnh mẽ Thực tế cho thấy các trang trại ở các nước tiên tiến phát triển mạnh mẽ không chỉ vì trình độ sản xuất kinh doanh của trang trại mà một yếu

tố hết sức quan trọng đó là có sự tác động và hỗ trợ mạnh mẽ của các chính sách tích cực từ Nhà nước đặc biệt là các chính sách về đất đai, chính sách về đầu tư, chính sách thuế và các chính sách hỗ trợ khác, ở nước ta trong những năm gần đây nhờ những chính sách cụ thể của Nhà nước đã góp phần tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng các loại hình kinh tế trang trại Các chủ trang trại đã mạnh dạn đầu tư vào việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại với nhiều loại hình trang trại khác nhau Chính sách kinh tế là công cụ, phương tiện không thể thiếu được của Nhà nước để quản lý kinh tế Bởi vì, các chính sách kinh tế chính là môi trường, công cụ truyền dẫn các tác động quản lý của Nhà nước đến mỗi con người trong xã hội theo mục tiêu đã đề ra Chính sách kinh tế là con đường, biện pháp để đi đến thực hiện thắng lợi chiến lược và kế hoạch Vai trò, tác dụng của chính sách phát triển kinh tế trang trại được thể hiện trên các mặt:

- Chính sách phát triển kinh tế trang trại tạo lập môi trường thuận lợi tự

do phát triển, phát huy quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh, giải phóng mọi năng lực sản xuất để thúc đẩy kinh tế trang trại

- Chính sách phát triển kinh tế trang trại đúng đắn là động lực thúc đẩy

và khơi dậy mọi tiềm năng các chủ thể sản xuất kinh doanh cũng như huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực như vốn, khoa học công nghệ, đất đai và lao động trong nông nghiệp, nông thôn

Trang 22

b, Chính sách của huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

- Chính sách phát triển kinh tế trang trại có tác động thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thôn phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

- Chính sách phát triển kinh tế trang trại có tác động trực tiếp đến người sản xuất, điều chỉnh cơ cấu sản xuất, khai thác tiềm năng đất đai, lao động và điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phát triển nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn theo hướng hiện đại

- Chính sách phát triển kinh tế trang trại tạo điều kiện cho sự phát triển sản xuất hàng hoá và các thành phần kinh tế, nâng cao đời sống của nông dân

- Chính sách phát triển kinh tế trang trại còn làm cơ sở cho các biện pháp khác được thực thi có hiệu quả

1.3.2 Nhân tố về khoa học – công nghệ

Khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự phát triển của kinh tế trang trại Trong những năm qua nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đã được áp dụng mạnh mẽ và nhanh chóng vào trong nông nghiệp Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá như là yếu tố đầu vào cho sản xuất của các trang trại đó là các loại vật tư, phân bón, giống cây con các loại, máy móc thiết bị Chính những yếu tố đầu vào có chất lượng tốt đã tạo ra một khả năng to lớn góp phần tăng năng suất, sản lượng và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp

Số lượng trang trại ngày càng tăng lên trong đó có nhiều trang trại đã mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh những loại cây trồng vật nuôi, những loại sản phẩm mới có năng suất và chất lượng cao hơn và do đó làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại một cách rõ rệt

Đối với nông nghiệp, nông thôn vị trí, vai trò của khoa học công nghệ cũng mang những nội dung trên, nhưng sắc thái của nó đậm nét hơn, vì mức

Trang 23

độ khó khăn lớn hơn, trầm trọng hơn của các vấn đề của nông nghiệp và nông thôn cần phải giải quyết theo các nội dung của phát triển kinh tế xã hội nói chung của CNH, HĐH đất nước Cụ thể:

- Khoa học công nghệ cho phép con người hiểu biết ngày càng rõ hơn các quy luật của tự nhiên, từ quy luật của thời tiết khí hậu, quy luật hình thành

và vận động của đất đai, đến các quy luật về đồng hoá và dị hoá, về sinh trưởng và phát triển của cây trồng vật nuôi.… Nhờ đó phát triển kinh tế trang trại có những tác động phù hợp với quy luật sinh học của sản xuất nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ Hiểu biết các quy luật tự nhiên, đặc biệt là các quy luật thời tiết, khí hậu con người còn có thể né tránh

và khắc phục những tác động tiêu cực, khai thác những tác động tích cực để kinh doanh trang trại ngày càng hiệu quả nhưng không tác động xấu đến môi trường sống

- Khoa học và công nghệ với nội dung chế tạo các công cụ sản xuất đã tạo ra các điều kiện vật chất để phát triển kinh tế trang trại có thể nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất đồng thời làm thay đổi phương thức lao động, tạo những điều kiện đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phân công lao động trang trại

1.3.3 Nhân tố về nguồn nhân lực

Việc quản lý sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại trên thực tế là quản lý một doanh nghiệp Vì vậy, chủ trang trại phải có trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh để đảm bảo cho trang trại hoạt động có hiệu quả Trong nền kinh tế tiểu nông, chỉ cần có những người nông dân, chủ hộ cần cù lao động, còn trong kinh tế thị trường lại cần có những chủ trang trại đồng thời là chủ doanh nghiệp năng động, đủ năng lực điều hành quản lý trang trại đạt hiệu quả cao Năng lực quản lý điều hành của chủ trang trại thể hiện ở khả năng về quản lý tư liệu sản xuất, quản lý lao động, quản lý vốn sản xuất kinh doanh, quản lý điều hành, xây dựng kế hoạch, quy hoạch sản xuất, tiêu thụ nông sản phẩm

Trang 24

Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng Trang trại chỉ có thể được hình thành khi có chủ trang trại là những người có trình độ quản lý kinh tế của kinh tế thị trường, có trình độ khoa học kỹ thuật, hiểu biết các quy luật sinh học, có kinh nghiệm kinh doanh nông nghiệp Đặc biệt, chủ trang trại phải là người nhạy bén, cần cù, có ý chí và có tham vọng làm giàu từ nông nghiệp Các nhà khoa học cũng coi những yêu cầu trên của chủ trang trại như là điều kiện hình thành và phát triển của kinh tế trang trại Bên cạnh chủ trang trại còn có những người giúp việc trong quản lý, trong các vấn đề kỹ thuật… Ngoài ra, đội ngũ những người lao động trực tiếp cũng cần phải có trình độ kỹ thuật Bởi vì, sản phẩm của các trang trại là sản phẩm hàng hoá cung cấp cho thị trường Các sản phẩm đó phải đáp ứng nhu cầu về số lượng, chất lượng và giá cả Muốn đáp ứng yêu cầu đó, trang trại phải nhạy bén nắm bắt nhu cầu thị trường, lựa chọn sản phẩm trang trại có lợi thế và tổ chức kinh doanh với giá thành hạ Tất cả những vấn đề đó, cần phải có đội ngũ quản lý có trình độ

và nhạy bén, những người lao động có tay nghề cao

1.3.4 Nhân tố về điều kiện tự nhiên

Đặc điểm tự nhiện là vị trí địa lý, điều kiện thời tiết, khí hậu, điều kiện

vê thổ nhưỡng đất đai và môi trường sinh thái có ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các loại hình kinh tế trang trại

1.3.5 Tác động của công nghiệp hoá và đô thị hoá đến trang trại

Công nghiệp hoá và đô thị hoá có tác động khá mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển của nó Thật vậy, công nghiệp hoá, trước hết là công nghiệp hoá nông nghiệp là quá trình trang bị các cơ sở vật chất cho nông nghiệp trong

đó có trang trại Nhờ đó các trang trại được hình thành, được phát triển từ chiều rộng đến chiều sâu Thông qua công nghiệp hoá, các cơ sở hạ tầng nói chung, trong nội bộ các trang trại nói riêng được xây dựng; cơ sở vật chất kỹ thuật của trang trại được tăng cường Đó là cơ sở rất quan trọng để trang trại có điều kiện khai thác các tiềm năng và lợi thế, nâng cao sức cạnh tranh

Trang 25

Công nghiệp hoá, với tư cách là sự phát triển của công nghiệp chế biến, thị trường của nông nghiệp nói chung, các trang trại nói riêng đã được giải quyết khá vững chắc Trong nghiên cứu về các điều kiện hình thành và phát triển của trang trại, các nhà nghiên cứu đã xem sự phát triển của công nghiệp chế biến như là điều kiện hình thành và phát triển của kinh tế trang trại Công nghiệp chế biến với tư cách là thị trường tiêu thụ của trang trại còn chi phối mạnh đến hoạt động kinh doanh của trang trại Phương hướng kinh doanh của các trang trại có điều kiện vững chắc theo hướng chuyên môn hoá kết hợp với việc phát triển tổng hợp các ngành

Ngoài ra, công nghiệp hoá, đô thị hoá mở rộng, những dân cư phi nông nghiệp ngày càng tăng Nhu cầu về nông sản của hộ sẽ tăng lên về số lượng, chất lượng và chủng loại Trong bối cảnh trên, công nghiệp hoá, đô thị hoá với tư cách như là những thị trường cho các sản phẩm của các trang trại là một trong các điều kiện cho sự hình thành và phát triển của chúng

Bên cạnh những tác động tích cực, công nghiệp hoá, đô thị hoá cũng tác động tiêu cực đến sự hình thành và phát triển của các trang trại Trước hết, công nghiệp hoá và đô thị hoá với sự hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị, muốn phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị cần phải chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Quá trình đó sẽ dẫn đến một số hộ nông dân bị mất đất sản xuất nông nghiệp không tìm kiếm được việc làm, trong đó có các trang trại Ngoài ra, trong những điều kiện nhất định, sự phát triển của công nghiệp và đô thị sẽ gây nên những tác động xấu đến môi trường nói chung, môi trường tự nhiên của nông nghiệp nói riêng, trong đó có các trang trại Hiện tượng các nhà máy thải các chất độc hại, các khu dân cư tập trung thải nước sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường ở ngoại thành là những minh chứng

1.3.6 Công tác bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế trang trại

Trang 26

Hiện nay các trang trại đã xây hệ thống biogas, sử dụng phân vi sinh, dùng chế phẩm sinh học để xử lý môi trường; một số trang trại đã áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, mạnh dạn đầu tư công nghệ mới

Bên cạnh những kết quả tích cực, vì nhiều lý do, công tác bảo vệ môi trường trong phát kinh tế trang trại ở An Lão hiện nay vẫn chưa đi vào chiều sâu Nhiều trang trại thiếu quan tâm và đầu tư cho việc bảo vệ môi trường tại khu vực sản xuất Rất nhiều trang trại không đầu tư hoặc đầu tư không đúng mức các công trình xử lý chất thải Việc đốt phụ phẩm nông nghiệp vẫn diễn

ra phổ biến cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường chung Điều này đã gây tác động có hại đến môi trường, góp phần làm nghiêm trọng hơn tình hình dịch bệnh gây thiệt hại không nhỏ cho các trang trại

Mặt khác, do mức độ phát triển kinh tế của huyện còn hạn chế, cơ sở hạ tấng chưa phát triển đồng bộ, một số khu vực nông thôn còn thiếu nước sạch

để sinh hoạt Phần lớn chất thải rắn nông thôn chưa được tổ chức thu gom và

xử lý đảm bảo vệ sinh môi trường

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN LÃO – HẢI PHÒNG

2.1 Giới thiệu về huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý

Ngày 05/3/1980, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định

số 71 về điều chỉnh địa giới hành chính huyện An Thuỵ, thị xã Kiến An và thị

xã Đồ Sơn Theo đó An Lão lại trở về sáp nhập với thị xã Kiến An và đổi tên

thành huyện Kiến An

Hình 2.1 Bản đồ địa giới hành chính huyện An Lão – TP Hải Phòng

Trang 28

Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, ngày 8/8/1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 100 về việc phân vạch địa giới hành chính đổi tên huyện Kiến An thành huyện An Lão và thành lập thị xã Kiến An Huyện An Lão được trở về đúng với tên gọi của mình sau 19 năm chia tách, sáp nhập

Huyện An Lão nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 19 km;

Phía Nam giáp huyện Tiên Lãng

Phía Đông bắc giáp quận Kiến An, phía đông giáp huyện Kiến Thụy; Phía Bắc giáp huyện An Dương;

Phía Tây giáp huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương

Diện tích 11.490 ha

Dân số 144.616 người (Số liệu của Chi cục Thống kê huyện năm 2015), trong đó số lao động trong độ tuổi: 85.986 người, chiếm 63,01% tổng

số dân, số người có khả năng lao động 79.760 người

Huyện An Lão, thành phố Hải Phòng là huyện Anh hùng, được tái lập ngày 08/08/1988 theo quyết định số 100-QĐ/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng Đây là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng của thành phố Hải Phòng và vùng Duyên hải Bắc Bộ, là đầu mối giao thông của Thành phố An Lão có nhiều khu, cụm công nghiệp, trung tâm dịch vụ, du lịch, là căn cứ hậu cần, kỹ thuật của Bộ chỉ huy Quân sự thành phố, các đơn

vị quân đội thuộc Bộ tư lệnh quân khu 3 và Bộ tư lệnh Hải quân

An Lão có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng, theo quy hoạch tổng thể của Thành phố đến năm 2020, An Lão sẽ trở thành đô thị vệ tinh của thành phố Hải Phòng - Thành phố thứ 3 xếp loại

đô thị đặc biệt và trong tương lai trở thành thành phố quốc tế

* Địa hình

Phía Đông bắc của An Lão là Núi Voi và dãy đồi thấp kéo dài từ An Lão đến Đồ Sơn gồm các núi: Voi, Tiên Hội, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng,

Trang 29

Độ từ cống Trung Trang đi qua trung tâm huyện, quận Kiến An, Kiến Thuỵ

và đổ ra của Cầu Tiểu - Đồ Sơn là con sông cung cấp nước phục vụ sản xuất

và sinh hoạt của nhân dân huyện An Lão, Kiến Thuỵ và các quận nội thành

Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất 2016 của huyện An Lão

Số

(Nguồn: Báo cáo thống kê đất đai huyện An Lão năm 2015)

Trang 30

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

* Dân số, quy mô & phân bổ dân số

Huyện An Lão có quy mô dân số trung bình của thành phố với tổng số dân trên địa bàn là 144.616 người, mật độ dân số 1259 người/km2 Trong đó khu vực thành thị là 13160 người và khu vực nông thôn 131.456 người Số người trong độ tuổi lao động 89.951 người phân bổ trong ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao khoảng trên 28,3%

* Thu nhập bình quân cơ cấu ngành nghề

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua tình hình kinh tế xã hội của huyện An Lão đã được phát triển với nhịp độ cao Thu nhập bình quân 3,8 trđ/người/1 tháng tuy còn khá thấp so với tiềm năng phát triển xong không ngừng được tăng lên

Xu hướng phát triển kinh tế hàng hoá tiếp tục được duy trì và phát triển, một số mặt được củng cố, nhất là nông - lâm nghiệp nhiều loại nông sản hàng hoá đã có khối lượng tương đối khá Sản xuất công nghiệp - xây dựng và dịch

vụ tuy không ít khó khăn nhưng tỷ trọng đang tăng dần, trạng thái tự cấp, tự túc nặng nề căn bản được khắc phục, mức độ thuần nông đã giảm bớt

Có thể nhận định rằng, nền kinh tế liên tục phát triển và chuyển dịch đúng hướng theo xu hướng phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước phù hợp với nhu cầu của thị trường, hướng theo xuất khẩu và sát với lợi thế của địa phương, từng bước đi vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

* Giáo Dục - Y tế - Văn hoá

Công tác giáo dục các năm gân đây đã được phát triển xã hội hoá cao, mạng lưới giáo dục đã được mở rộng đi đôi với chất lượng đào tạo Trên địa bàn huyện có 19 trường tiểu học, 17 trường trung học cơ sở, 05 trường trung học phổ thông trong đó có 02 trường dân lập Với tổng số 11.473 học sinh tiểu học, 6467 học sinh trung học cơ sở, 5036 học sinh trung học phổ thông

Trang 31

Là một huyện ven thành phố Hải Phòng nơi gần một số trường Đại học, cao đẳng, trung cấp trong đó có trường Trung cấp Nông nghiệp cũng đã góp phần cho việc phát triển kinh tế trang trại nói riêng và trong sản xuất nông nghiệp nói chung

Nguồn nhân lực cũng sẽ là lợi thế nếu biện pháp cụ thể trong việc tổ chức quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng và cơ chế thích hợp nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển lâu dài

Nhà nước, Thành phố và địa phương đã đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn, huyện An Lão đã có những điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá nhất là khi hệ thống giao thông, điện nông thôn

và thuỷ lợi được cải thiện sẽ là nhân tố tích cực cho các chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, quyết định cây trồng lâu năm (cây ăn quả, cây công nghiệp, cây đặc sản), cây ngắn ngày và cây lâm nghiệp… rất phù hợp với quy mô trang trại của huyện

b Khó khăn

Các mô hình kinh tế trang trại chủ yếu phát triển ở các xã ven sông Văn

Úc, Đa độ có nhiều đất rộng do đó hệ thống cơ sở hạ tầng rất kém và nhanh xuống cấp Thu nhập của người dân còn thấp, trình độ dân trí không cao, chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo, điều này phần nào đã làm hạn chế khả năng

áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và thông tin thị trường…

Trang 32

Kinh tế trang trại phát triển ở mức độ chậm, với điểm xuất phát thấp Năng lực sản xuất ngành nông nghiệp còn yếu và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Tuy cơ sở hạ tầng đã được chú ý và nâng cấp song hệ thống giao thông

và thuỷ lợi, điện vẫn còn yếu kém, chưa đồng bộ

Qua việc tìm hiểu sơ bộ tình hình nông hộ ở huyện An Lão chúng tôi thấy

có 3 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thu nhập và hiệu quả kinh tế của hộ nông dân: thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, thiếu cơ cấu giống thích hợp, chưa có công thức canh tác hợp lý để hiệu quả kinh tế cao Vì vậy chúng ta phải có những biện pháp nhằm nâng cao năng lực cho cộng đồng, tăng nhận thức, đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật cho các hộ nông dân

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại tại huyện An Lão – Thành phố Hải Phòng

2.2.1 Sự phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

* Về quy mô đất canh tác của mỗi trang trại

- Với các tỉnh phía bắc, Bình quân đất sản xuất của mỗi trang trại trên 4ha, 2 ha chiếm 56%, 10 ha chiếm 38.3%, 10 - 30 ha chiếm 0,6%, chưa có trang trại nào đến vài trăm ha

- Với các tỉnh phía nam, đất sản xuất Bình quân của một trang trại ở Gia Lai là 4,29 ha, Đắc Lắc 6,3 ha, Bình Dương 10 ha, Bình Định 8 ha, Quảng Nam 2 ha, Bình thuận 7 - 8 ha, Thành phố Hồ Chí Minh 2 ha, ước tính đất Bình quân của một trang trại Việt Nam là 8 - 10 ha

* Về lao động của mỗi trang trại

- Với các tỉnh phía Bắc, với trang trại trồng cây lâu năm như cây ăn quả, diện tích 2 ha đất canh tác thì ngoài 2 - 3 lao động gia đình cũng chỉ cần thuê mướn 1 lao động thường xuyên, từ 2 - 5 ha thuê 2 - 3 lao động từ 5 - 10 ha thuê 3 - 5 lao động từ 10 - 20 ha thuê 6 - 10 lao động như vậy lao động thuê Bình quân trang trại phía Bắc chỉ 2 - 40 lao động thời vụ 3 - 40 lao động với mức lương khoảng 2.500.000 – 3.000.000 đồng/tháng

Trang 33

- Các tỉnh phía Nam số lao động cần cho hoạt động sản xuất của mỗi trang trại thường lớn hơn các tỉnh phía bắc, do quy mô đất canh tác, tính chất tập trung hàng hoá cao hơn Tính bình quân một trang trại phía nam thuê lao động thường xuyên trong năm là 8 - 10 lao động tiền lương được trả 5.000.000đ hoặc 6.000.000 đồng/tháng

* Vốn đầu tư của mỗi trang trại

Theo các tài liệu nghiên cứu điều tra, báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn viện kinh tế nông nghiệp của các Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh, thì vốn đầu tư cho trang trại của các tỉnh phía bắc là khoảng từ 50 - 80 triệu đồng Ở các tỉnh phía Nam vốn đầu tư lớn hơn

ít nhất khoảng 50 triệu đồng cao nhất là 4 tỷ đồng Bình Dương bình quân một trang trại là 250 triệu đồng Đáng chú ý là nguồn vốn tự có trên 81%, vốn vay ngân hàng từ 3 - 5% vốn vay của chương trình (ngoài chương trình 327 nếu có) không đáng kể còn lại vay các nguồn khác

* Đánh giá về phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Mặc dù nó xuất hiện từ rất lâu, nhưng kinh tế trang trại ở Việt Nam chỉ phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, có thể xem thực hiện chỉ thị

100 của Ban bí thư TW khoá IV, NQ10 của Bộ chính trị về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân và đặc biệt sau khi luật đất đai ra đời năm 1993,

2013 thì kinh tế trang trại thực sự có bước phát triển khá nhanh và đa dạng Chia theo vùng kinh tế: Vùng Đông Bắc có 3.491 trang trại, chiếm 7,7%; Vùng Tây Bắc có 238 trang trại chiếm 0,5%; Vùng Đồng Bằng Sông Hồng có

1394 trang trại chiếm 9,2%; Vùng Duyên Hải Miền Trung có 2.706 trang trại, chiếm 4,6%; Vùng Tây Nguyên có 6.333 trang trại, chiếm 4,6%; Vùng Tây Nguyên có 6.333 trang trại, chiếm 13,6%; Vùng Đông Nam Bộ có 8402 trang trại, chiếm 18,5%; Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long có 19259 trang trại, chiếm 42,4%

Số lao động bình quân/ trang trại là 2,8 người, lao động thuê ngoài theo thời

vụ 11,5 người Bình quân 1 trang trại trồng trọt có 5,3 ha đất nông nghiệp, lâm

Trang 34

nghiệp có 26,8 ha nuôi trồng thuỷ sản có 10,7 ha, chăn nuôi có 528 con trâu, bò;

530 con gia cầm Vốn sản xuất bình quân của 1 trang trại là 60,2 triệu đồng; thu nhập bình quân 1 trang trại là 22,6 triệu đồng (thu nhập đó trừ chi phí)

Về quy mô diện tích của mỗi trang trại ở nước ta theo điều tra của Cục thống kê cho thấy: trang trại < 1ha chiếm 15%; từ 1 - 5 ha chiếm 28%; từ 5-

10 ha chiếm 34%; từ 10- 20 ha chiếm 16%; từ 20 - 50 ha chiếm 4% và trên 50

ha chiếm 3%

Vùng đồi núi nước ta từ Bắc Bộ đến Trung Bộ, Tây nguyên và Đông Nam Bộ có lợi thế về quỹ đất phát triển nông - lâm nghiệp với 9,3 triệu ha đất rừng và 9,6 triệu ha đất trống đồi núi trọc, có thời tiết khí hậu thuận lợi cho phát triển trồng rừng, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc theo mô hình kinh tế trang trại

Vùng ven biển: nước ta có triều dài bờ biển trên 2000 km với các eo biển,

bờ biển, đầm phà, rừng ngập mặn Diện tích của vùng địa lý này ước tính vào khoảng 400.000 ha là vùng lãnh hải rộng lớn có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng, khai thác thuỷ hải sản Ở các vùng ven biển từ Bắc đến Nam đó xuất hiện các mô hình trang trại nuôi tôm, cua, sò, ngao với đủ mọi quy mô Đến năm 1997, vùng ven biển có 15.666 trang trại có quy mô từ 5 - 20 ha

Vùng Đồng Bằng: Đồng bằng là nơi sản xuất ra 70 - 80% sản lượng lương thực, thực phẩm của cả nước và là nơi xuất khẩu toàn bộ lúa gạo Đồng bằng là nơi đất trật, người đông, lao động dồi dào, cơ sở hạ tầng phát triển, gần thị trường, có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất và tiêu thụ hàng hoá Đồng Bằng Sông Cửu Long có quỹ đất tương đối dồi dào nên nhiều hộ nông dân đó thực hiện sản xuất theo mô hình trang trại với đủ môị quy mô từ 1 - 30 ha

2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện An Lão

Theo tiêu chí quy định tại Thông tư liên tịch số TCTK của Bộ Nông nghiệp & PTNT và Tổng cục Thống kê và Thông tư liên

Trang 35

tịch số 74/2003/TTLT/BNN-TCTK, Thông tư số 27/2011/TT - Bộ Nông Nghiệp & PTNT của Bộ Nông nghiệp & PTNT, trên địa bàn huyện An Lão có

số trang trại năm 2011 có 55 trang trại, năm 2016 là 130 trang trại

a Giá trị sản lượng hàng hóa

Bảng 2.3 Tổng giá trị sản lượng hàng hóa trang trại năm 2016

Đơn vị: Triệu đồng Loại hình

Xã, thị trấn

Chia theo loại hình trang trại

Tổng cộng

Tỷ lệ (%) Chăn

nuôi

Nuôi trồng thủy sản

SXKD tổng hợp

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện An Lão)

Ngành chăn nuôi: tỷ trọng ngành chăn nuôi của An Lão khá cao chiếm

tỷ lệ cao (79,1%), cao hơn mức trung bình toàn thành phố Đây là một tỷ

Trang 36

trọng tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp, đã chú trọng chất lượng vật nuôi, chuyển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá và từng bước đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính Việc phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại nuôi gia súc, gia cầm là hướng đi đúng đắn của ngành nông nghiệp An Lão

Ngành SXKD tổng hợp: Sản xuất ra các loại sản phẩm nông nghiệp đang trong giai đoạn tiềm năng, chiếm 17,9% tổng giá trị sản xuất của khu vực nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng trung bình

Ngành nuôi trồng thủy: sản xuất thuỷ sản của huyện còn nhỏ bé, chỉ chiếm 2,9% trong tổng giá trị sản xuất khu vực kinh tế nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng đạt thấp Sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu là khai thác cá thịt với sản lượng đạt 4200 tấn (năm 2016)

b Quy mô sản xuất

- Đất đai

Bảng 2.4 Diện tích bình quân của các loại hình trang trại huyện An Lão

TT Phân loại theo loại

hình trang trại

Tổng

số trang trại

Tổng diện tích (ha)

Diện tích bình quân (ha)

Tổng

số trang trại

Tổng diện tích (ha)

Diện tích bình quân (ha)

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện An Lão)

Căn cứ vào bảng 2.4, ta thấy diện tích bình quân của 01 trang trại đã có

sự biến động theo chiều hướng đi xuống, năm 2011 các trang trại đã sử dụng

Trang 37

68,75 ha, bình quân 0,79 ha/trang trại, năm 2016 diện tích sử dụng 85,086 ha, bình quân 0,65 ha/trang trại, xu hướng trang trại nuôi trồng thủy sản, SXKD tổng hợp, trang trại chăn nuôi ngày càng phát triển

- Nguồn lao động

Bảng 2.5 Tình hình sử dụng lao động bình quân của

các trang trại huyện An Lão

TT

Loại hình trang trại

Tổng số Trang trại

Số người Lao động

Bình quân lao động/trang trại (người)

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện An Lão)

- Thực trạng lao động trong trang trại

+ Về chủ trang trại: Trong tổng số các trang trại được khảo sát thì có 91,3% số chủ trang trại là nam giới Độ tuổi bình quân của chủ trang trại tương đối trẻ Số chủ trang trại từ 50 tuổi trở lên chỉ chiếm 19.46% Các chủ trang trại ở An Lão xuất thân từ nhiều nguồn gốc khác nhau Trong đó chủ yếu là nông dân thuần tuý (chiếm 78,57%) Số chủ trang trại hiện đang là cán

bộ cấp xã là 7,14% Các loại khác (bộ đội, công an xuất ngũ, cán bộ, công nhân hưu trí công chức và công nhân đang làm việc…) chỉ chiếm từ 5% trở xuống Về chuyên môn, nghiệp vụ, đa số chủ trang trại chưa qua đào tạo (chiếm 71,43%), phần còn lại chủ yếu có trình độ công nhân kỹ thuật

+ Về lao động của trang trại: Tính bình quân, mỗi trang trại có 10 lao động, trong đó có 6 lao động thời vụ Riêng ở xã Tân Viên là 12 lao động, 3 lao động thời vụ còn lại các xã khác đạt xấp xỉ mức bình quân chung Mức sử dụng thời gian lao động ở trang trại hiện nay đạt thấp, tính chung chỉ sử dụng 78,92% thời gian làm việc bình quân Xem xét ở từng xã, mức sử dụng thời

Trang 38

- Các chủ trang trại của mọi loại hình trang trại đều thuê thêm lao động thời vụ, lao động kỹ thuật đã qua đào tạo và chưa qua đào tạo

- Chỉ có trang trại của các chủ trang trại là công chức đương chức là không thuê thêm lao động đã qua đào tạo

- Các trang trại của nông dân có thuê thêm lao động thời vụ đã qua đào tạo chiếm 62% số lao động thuê thời vụ

- Ngành nghề kinh doanh chủ yếu thì việc thuê lao động đã qua đào tạo của các chủ trang trại cũng khác nhau Đối với lao động thuê thường xuyên, có 70% số người có chuyên môn về trồng trọt, chăn nuôi, 20% số người có chuyên môn về nuôi trồng thuỷ sản, SXKD tổng hợp Đối với lao động thuê thời vụ, chủ yếu là những người có chuyên môn về chăn nuôi, trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản

Biểu đồ 2.6 Cơ cấu lao động của trang trại huyện An Lão

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện An Lão)

Ngày đăng: 10/02/2020, 17:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w