1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự sự mê lộ trong tiểu thuyết paul auster

131 206 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và chúng tôi thấy rằng Paul Auster không chỉ xuất sắc ở tiểu thuyết trinh thám trong Trần trụi với văn chương mà còn tạo nên một phong cách độc đáo không kém với Nhạc đời may rủi, Người

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Thị Mỹ Lam

TỰ SỰ MÊ LỘ TRONG TIỂU THUYẾT PAUL AUSTER

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Thị Mỹ Lam

TỰ SỰ MÊ LỘ TRONG TIỂU THUYẾT PAUL AUSTER

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn:

Thầy giáo hướng dẫn, Phó Giáo sư Tiến sĩ Đào Ngọc Chương Các thầy cô Tổ Văn học nước ngoài, các thầy cô Khoa Ngữ Văn Phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh Gia đình và bạn bè

đã tận tình góp ý, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Tp Hồ Chính Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2011

Người viết luận văn

Võ Thị Mỹ Lam

Lớp Cao học Văn học nước ngoài K19

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO4 115

4

PHỤ LỤC4 123

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố ở các công trình khác

Người viết luận văn

Võ Thị Mỹ Lam

Lớp Cao học Văn học nước ngoài K19

Trang 7

MỞ ĐẦU

Paul Auster từng nói rằng điều kì diệu của văn học chính là tuy nhiều độc giả sẽ cùng đọc một

cuốn sách nhưng mỗi người sẽ có “một cuốn sách” cho riêng mình bởi vì mỗi độc giả sẽ đọc rất

khác nhau, “mỗi người có một quá khứ, cá tính và những kinh nghiệm khác nhau” [7, tr.70] Và

theo ông, “sách chính là phương tiện để hai người xa lạ, chưa bao giờ gặp gỡ nhau, dù sống ở hai vùng khác nhau của thế giới, vẫn có thể gặp gỡ nhau trong những khuôn khổ gần gũi và tin cậy” [7,

tr 70] Có lẽ sáng tác với phương châm như trên nên tiểu thuyết của Paul Auster đã đánh thức niềm đồng cảm sâu xa của bao trái tim từ muôn nẻo xa xôi cùng hướng về những vấn đề chung của cuộc sống nhân sinh đương đại mà ông đã phản ánh trong sáng tác của mình Và cũng có lẽ vì thế mà đã tạo nên tên tuổi và vị trí của ông hiện nay trên văn đàn Mỹ nói riêng và thế giới nói chung

Paul Auster là một tác giả hậu hiện đại nổi tiếng, có tên đầy đủ là Paul Benjamin Auster, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1947 ở Newark, New Jersey, trong một gia đình trung lưu Do Thái gốc Ba Lan Cha của ông là Samuel Auster và mẹ là Queenie Auster Paul Auster đã từng đi du lịch nhiều nơi như Italia, Pháp, Dublin (quê hương của Jame Joyce) Tháng 6 năm 1969, ông tốt nghiệp cử nhân ngành tiếng Anh và văn học so sánh rồi tiếp tục hoàn thành chương trình thạc sĩ một năm sau đó Năm 1970, Paul Auster đã đến Paris (Pháp) và sống bằng nhiều nghề khác nhau trong đó có dịch các tác phẩm văn học Pháp

Năm 1974, từ Pháp trở về Mỹ, Paul Auster bắt tay vào việc viết Sự sáng chế cô đơn (The

Invention of Solitude,1982) là tác phẩm thành công đầu tay của ông nhưng chưa thực sự tạo nên

một tiếng vang lớn Đến năm 1985, sau khi lần lượt bị bảy nhà xuất bản từ chối, Thành phố thủy

chúng Sau đó, năm 1986, ông xuất bản cuốn Những bóng ma (Ghosts) và năm 1987 là Căn phòng

khóa kín (The locked room) Cả ba cuốn trên được tác giả tập hợp in chung với tiêu đề The

với văn chương) Sau khi ra đời, tác phẩm này đã tạo nên một làn sóng mới trong lòng độc giả cũng

như giới phê bình nghiên cứu văn chương Trong đó, các ý kiến đánh giá chủ yếu xoay quanh vấn

đề “trinh thám phản truyền thống” cũng như đặc trưng của hư cấu hậu hiện đại trong tiểu thuyết của

ông Brendan Martin trong Tính chất hậu hiện đại của Paul Auster (Paul Auster’s postmodernity)

đã có những nhận xét tương tự về vấn đề trên:

Thành phố thủy tinh là một tác phẩm nhại thể loại trinh thám và mang nhiều đặc trưng

chuẩn mực của hư cấu hậu hiện đại Chúng bao gồm một quan hệ không rõ ràng, vô định

Trang 8

và mỉa mai giữa nhân vật với tác giả; một giọng kể chuyện mơ hồ; sự nhập nhằng giữa thực tế và hư cấu; và nhân vật song trùng như là một chủ đề trung tâm….P

1

P [114]

Sự xuất hiện của Trần trụi với văn chương cũng đã tạo nên danh tiếng của Paul Auster với tư

cách là một tác giả hậu hiện đại

Cho đến nay, Paul Auster đã xuất bản mười ba tiểu thuyết bao gồm Trần trụi với văn chương

(The NewYork trilogy, 1985-1987), Trong xứ sở của những điều cuối cùng (In the country of last

things, 1988), Nguyệt đài (Moon palace, 1989), Nhạc đời may rủi (The music of chance, 1991),

sách về những ảo giác (The book of illusions, 2002), Đêm đền thiêng (Oracle night, 2003), Những hành động điên cuồng ở Brooklyun (The Brooklyn follies, 2005), Cuộc du hành trong phòng văn (Travel in the scriptorium, 2007), Người trong bóng tối (Man in the dark, 2008) và Vô hình (Invisible, 2009) Ông còn có hồi kí và tự truyện: Nghệ thuật của khao khát (The Art of

hunger), Sự sáng chế cô đơn (The invention of solitude, 1982), Cuốn vở đỏ (The red notebook,

1995), Vừa đủ (Hand to mouth, 1997); năm kịch bản phim: Nhạc đời may rủi (The music of

chance, 1993), Khói (Smoke, 1995), Tuyệt vọng (Blue in the face, 1995), Lulu trên cầu (Lulu on

the bridge, 1998) và Góc khuất nội tâm của Martin Frost (The inner life of Martin Frost, 2007)

Ngoài ra, ông còn có năm tác phẩm dịch thuật, một tập thơ và nhiều tiểu luận văn học.P

2

Paul Auster đã nhận được nhiều giải thưởng văn học danh tiếng, trong đó, có Prince Asturias của Tây Ban Nha vào tháng 10 năm 2006 Ông đang là phó chủ tịch trung tâm Pen của Mỹ Hiện nay, ông sống cùng với vợ (Siri Hustvedt, cũng là một nhà văn nổi tiếng ở Mỹ) và con gái (Sophie Auster) tại Brooklyn, NewYork

0

Trong Một nghệ thuật của khát vọng: việc đọc Paul Auster (A art of desire: Reading Paul

đàn Mỹ hiện nay Paul Auster đã tạo cho mình một phong cách văn chương hậu hiện đại đặc trưng với những tác phẩm có phong cách giả trinh thám cũng như nhiều thể loại khác

Với thể loại trinh thám, Paul Auster được đánh giá như một bậc thầy với ngòi bút siêu hạng

Từ việc phải giải mã câu chuyện của tội phạm, tác giả đẩy nhân vật cũng như độc giả vào hành trình

vô tận của cuộc truy tìm bản ngã, truy nguyên về bản thể thế giới, về một ngôn ngữ chân xác của con người “thời kì tiền sa ngã” để “diễn ngôn sự thật”, về bí ẩn khôn lường trong thế giới nội tâm của các nhà văn… Trinh thám của ông được các nhà nghiên cứu xem như là một dạng “trinh thám

1 City of glass is a pastiche of the dectective genre and exhibit many of classic traits of postmodern fiction These include an indeterminate and irionic relationship between character and author; an ambiguous, narative voice; the blurring of fact and fiction; and dopelganger as a central theme…

2 Nguồn: http://www.stuartpilkington.co.uk/paulauster/body.htm và http://www.answers.com/topic/paul-auster

Trang 9

phản truyền thống”, là “tiểu thuyết trinh thám siêu hình”, “một trò chơi chấp dính bằng thủy tinh”,

“một biến tấu lạ lùng của thể loại trinh thám”, hay “một hỗn hợp của trinh thám và tân lãng mạn”…nhằm chuyển tải tinh thần của kỉ nguyên hậu hiện đại Có thể nói rằng, Paul Auster đã tạo ra một dạng đặc biệt của tiểu thuyết trinh thám hậu hiện đại, nhưng vẫn dùng đến những yếu tố quen thuộc của tiểu thuyết trinh thám cổ điển, đồng thời sáng tạo được một hình thức mới kết nối các đặc tính của thể loại này với các phẩm chất thử nghiệm, siêu hình và châm biếm mỉa mai của văn phong hậu hiện đại Cùng với tiểu thuyết của D.Brow, U.Eco, J.L.Borges, G.G.Márquez…tiểu thuyết trinh thám phản truyền thống của Paul Auster góp phần tạo nên bức chân dung văn học trinh thám náo động hiện nay

Giống với nhiều tác giả đương đại khác, trinh thám chỉ là một điểm dừng chân trong nhiều điểm dừng chân khác của họ trên hành trình văn học Vì vậy, bên cạnh thể loại trinh thám, Paul Auster còn thử nghiệm trong những thể loại khác như tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết phiêu lưu

Và chúng tôi thấy rằng Paul Auster không chỉ xuất sắc ở tiểu thuyết trinh thám trong Trần trụi với

văn chương mà còn tạo nên một phong cách độc đáo không kém với Nhạc đời may rủi, Người trong bóng tối, Nguyệt đài (Moon palace)…Trong nhiều tác phẩm của ông, dù thể hiện dưới bút

pháp khác nhau nhưng chúng cùng hướng về hành trình đi tìm nhân dạng của nhân vật, về ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa cha và con trai, vấn đề ngẫu nhiên may rủi, việc hư cấu một tiểu thuyết

trong chính tiểu thuyết của ông…Tất cả đan bện trong nhau tạo nên một mối liên văn bản giữa các tác phẩm của ông và với các tác phẩm trước đó như một mê cung bất tận nối liền trong sự kết nối với nhiều nhân vật lịch sử, thậm chí với cả chính cuộc đời bản thân tác giả Đó là một trong những biểu hiện cho kĩ thuật tự sự mê lộ

Viết về mê lộ là một đề tài đầy sức quyến rũ huyền hoặc với các tác giả lớn từ F.kafka, J.L.Borges, J.Joyce, R.Grillet cho đến G.G.Márquez…Với họ, mê lộ đã hiện hình qua những không gian mê cung, thời gian tuần hoàn vô tận, qua tâm trạng hoang mang bối rối của nhân vật, qua những tấm gương tầng tầng lớp lớp soi chiếu nhau thành một màn sương hư hư thực thực Cùng với những lớp phủ của thời gian, bản chất rối rắm cố hữu của mê lộ nay phức tạp hơn trong thi pháp

kể chuyện của các nhà văn khi chuyển tải hiện thực thuộc kỉ nguyên “đa phương”, “đa tầng” của xã hội hậu hiện đại Vì thế, đề tài và kĩ thuật tự sự mê lộ đã tạo nên một vệt nối dài trong dòng văn chương của nhân loại qua các thời đại Trong đó, khó có thể nào không lưu ý đến hiện tượng kể chuyện theo lối mê lộ trong nhiều tiểu thuyết của Paul Auster

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cho đến nay, ở Việt Nam, đã có sáu tiểu thuyết của Paul Auster đã được dịch và giới thiệu đến

với độc giả, bao gồm Thành phố thủy tinh, Những bóng ma, Căn phòng khóa kín được in chung

Trang 10

trong Trần trụi với văn chương do nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành năm 2007; Nhạc đời may rủi

được dịch ra tiếng Việt và in vào năm 2007 ở nhà xuất bản Phụ Nữ; Người trong bóng tối xuất bản năm 2008 của nhà xuất bản Hội Nhà văn Và một tác phẩm nữa mà dịch giả Cao Việt Dũng đã để nguyên tên tiếng Anh Moon Palace in năm 2009 Nhưng do điều kiện khách quan trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ xin đi vào Thành phố thủy tinh, Những bóng ma, Căn phòng khóa kín,

Nhạc đời may rủi, và Người trong bóng tối Cả năm tác phẩm trên đều được dịch giả Trịnh Lữ dịch

sang tiếng Việt Trong đó, nằm ở trục trung tâm là bộ ba tác phẩm trong Trần trụi với văn chương

Đồng thời, như trên chúng tôi đã khẳng định, tác phẩm của Paul Auster như những khối rubic,

vì vậy chúng ta có thể soi ngắm dưới nhiều góc độ khác nhau để thấy được vẻ đẹp lấp lánh và chiều sâu huyền bí của chúng Bởi vậy, trong khuôn khổ của luận văn cao học, chúng tôi chỉ tập trung đi vào tìm hiểu vấn đề tự sự mê lộ trong năm tiểu thuyết trên ở một số phương diện cách tổ chức không gian, nghệ thuật xây dựng nhân vật và kiểu trần thuật liên văn bản Nhìn ngắm tác phẩm của Paul Auster dưới góc độ tự sự mê lộ, chúng tôi muốn chỉ ra phần chìm của tảng băng trong tác phẩm của ông về vấn đề nhân sinh, bản ngã, thế giới…trong sự lắp ghép kết nối bất định của phương thức

liên văn bản

3 Lịch sử vấn đề

Hiện nay, trên thế giới, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Paul Auster Xuất phát từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà phê bình cho thấy sự phong phú về đề tài trong tiểu thuyết của Paul Auster Đó là vấn đề nhân dạng, bản ngã, ngôn ngữ, cái ngẫu nhiên…Tuy nhiên, dù

số lượng các bài là khá nhiều nhưng phần lớn chỉ chủ yếu tập trung vào bộ ba tác phẩm trinh thám trong Trần trụi với văn chương

Ở đây, chúng tôi xin nêu ra một cách khái quát những vấn đề cơ bản trong một số công trình nghiên cứu đi trước Trong đó, chủ yếu xem xét giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm qua các vấn đề nhân vật, đặc trưng thể loại trinh thám, hình tượng không gian nghệ thuật và thủ pháp trần thuật liên văn bản Tuy nhiên, cách phân chia này cũng chỉ là cách thức mang tính

tương đối để tiện theo dõi trong quá trình tiếp nhận những đóng góp của các công trình đi trước

Xem xét tác phẩm của Paul Auster về mặt nội dung tư tưởng, các nhà nghiên cứu thường đi từ vấn đề nhân vật Bởi vì nhân vật là chìa khóa để đi vào khám phá quan niệm, tư tưởng và cách nhìn nhận của nhà văn về con người trong một thời đại nhất định

Trong hầu hết các công trình nghiên cứu về tác phẩm của Paul Auster, đa số các tác giả đều trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến vấn đề nhân vật

Borbála Bokos là tác giả đam mê nền văn học Mỹ hậu hiện đại, đã xuất bản công trình Thế

giới là một ảo ảnh (The world is an illusion) Trong đó, có bài tiểu luận Về nhân vật cặp đôi bí ẩn

Trang 11

trong Trần trụi với văn chương của Paul Auster (On the uncanny double in The NewYork

trilogy’s Paul Auster), tác giả xem xét mối liên hệ của các nhân vật cặp đôi, tên gọi và sự trộn lẫn

nhân dạng của họ để chỉ ra các yếu tố tạo nên sự bí ẩn trong Trần trụi với chương qua mối liên hệ

liên văn bản Và sự bí ẩn của những nhân vật cặp đôi tạo nên nỗi khiếp sợ mà chủ yếu xuất phát từ hiện tượng xuất hiện hoặc biến mất rất đột ngột của các nhân vật cặp đôi Trong đó, những nhân vật cặp đôi này có thể là hiện thân của sự cô độc, của những đau khổ, những ám ảnh Bởi vậy, cảm quan về nhân sinh hiện ra trong tác phẩm qua những hiện thân của nhân vật cặp đôi cùng với nỗi ám ảnh về sự sợ hãi và những nỗi đau từ quá khứ ấy Chúng luôn hiện diện và dày vò khiến họ luôn cố gắng kiềm nén và trốn tránh bằng cách lao vào những hành trình bí ẩn Họ là những con người cô độc, lẻ loi sống trong xã hội như những bóng ma, như những chiếc bóng vô hình vô ảnh Bởi vậy,

Trần trụi với văn chương được Borbála Bokos xem là “một câu chuyện của những nỗi đau và sự

hầu hết các tiểu thuyết của Paul Auster liên quan đến phần vô thức Phần ý thức của cái tôi

do thám cái tôi vô thức bí ẩn riêng tư nhằm nhận thức những hoạt động của cái tôi vô thức

Sự phân tách giữa cái tôi ý thức và cái tôi vô thức diễn ra suốt văn bản và đây chính là quá trình mà Auster tổ chức trong thơ ca và tác phẩm văn xuôi của ông.P

Công trình Chuyến bộ hành xuyên Thành phố thủy tinh của Paul Auster: Sự rong chơi trong tiểu thuyết của ông (Walking through Paul Auster’s “City of glass”: Flânerie in his novel)

của Jeanette Gonsior cũng hướng đến phân tích hình tượng nhân vật nhưng theo một hướng khác

Trong tiểu thuyết thứ nhất của bộ ba tác phẩm này, Thành phố thủy tinh, các nhân vật được xem

3

The NewYork trilogy is a story of pain and loss

4 Paul Auster’s fiction mostly deals with the unconscious The conscious part of the self spies on the intimate, secret, unconscious self, so as to see through its workings A split between conscious and unconscious selves occurs during writing and it is this process that Auster stages in his poetry and in his prose

5 The desire of the other is called “hunger” in Paul Auster’s fiction It is what motivates his characters, what makes them walk endlessly

Trang 12

xét từ góc độ như là người lang thang trong thành phố New York hậu hiện đại, cũng là một chủ đề thường xuất hiện trong tiểu thuyết của Paul Auster Ở đây, tác giả cho rằng nhân vật Quinn là một

thám tử lang thang (flâneur-detective) và Stillman là nhân vật chống lại lang thang (anti-flâneur)

Tuy tác giả không chủ ý kết luận hành trình của nhân vật là hành trình trong một mê cung và bản thể của mỗi nhân vật cũng là những mê cung nhưng trong công trình này người nghiên cứu đã chỉ ra cho người đọc rằng những nhân vật đang lang thang trong “thành phố New York hậu hiện đại” là những con người lẩn quẩn trong không gian như rơi vào một mê cung không lối thoát

Tiếp đến, Thành phố thủy tinh của Paul Auster như là một tiểu thuyết trinh thám hậu hiện

đại (Paul Auster’s ‘City of glass’ as a postmodern dectective novel) của Toni Rudat cũng hướng góc

nhìn vào vấn đề nhân vật Sau khi chỉ ra một số vấn đề như khái quát tiểu thuyết trinh thám hậu hiện đại, câu hỏi về sự thực và nhân dạng trong thời kì hậu hiện đại Ở phần trung tâm của công trình, tác giả chủ yếu phân tích hình tượng nhân vật Quinn như một nhân vật phức tạp trong mối quan hệ với các nhân vật khác, và Paul Auster cũng là một hình ảnh của Quinn Ở đây, tác giả cũng chỉ ra có đến bốn Paul Auster như chúng tôi có đề cập theo quan điểm của Steven E Alford trong công trình kế tiếp

Tập trung vào vấn đề nhân vật người kể chuyện là một điểm chú ý khác của giới phê bình khi

nghiên cứu Trần trụi với văn chương Trong tiểu luận Những tấm gương của chứng điên cuồng:

Trần trụi với văn chương của Paul Auster (Mirrors of Madness: Paul Auster's The New York

Trilogy), Steven E.Alford chủ yếu đi vào phân tích hình tượng nhân vật người kể chuyện trong mối tương quan với tác giả và độc giả để từ đó chỉ ra người kể chuyện của bộ ba tác phẩm này cũng là {Paul Auster} (là danh tính của nhân vật người kể chuyện xưng tôi ẩn danh) bên cạnh một nhân vật nhà văn Paul Auster và một tác giả Paul Auster thật Nhà nghiên cứu chủ yếu xuất phát từ vấn đề tác

giả của tác phẩm Don Quixote mà nhân vật nhà văn Paul Auster đã kể cho Quinn nghe, từ đó, ông

cho rằng nếu nhân vật Quinn là nhại nhân vật Pancha, nhân vật Stillman nhại tập hợp ba người bạn của Don Quixote (ông cố đạo, lão thợ cạo và anh chàng độc thân) và Don Quixote được kể bởi chính nhân vật Don Quixote thì người kể chuyện Thành phố thủy tinh là {Paul Auster} Bởi vì, ta

sẽ có nhân vật tác giả Cid Hamete Benengeli tương đương với nhân vật nhà văn Paul Auster, tác giả Miguel de Saavedra tương đương với tác giả Paul Auster thật và người kể chuyện Don Quixote sẽ tương đương với người kể chuyện {Paul Auster} Như vậy, chúng ta sẽ có đến ba Paul Auster: tác giả thật – nhân vật – người kể chuyện Hiện tượng tạo ra bộ ba này một lần nữa được tác giả Paul Auster nhại lại khi tạo ra bộ ba Daniel Quinn - William Wilson - MaxWork Ngoài ra, nhà nghiên

cứu cũng khẳng định người kể chuyện trong Những bóng ma và Căn phòng khóa kín cũng là {Paul Auster} Bởi vì, câu chuyện Những bóng ma đã xảy ra cách thời điểm kể chuyện hơn ba

Trang 13

mươi năm trước, thời điểm bắt đầu truyện là ngày 3 tháng 2 năm 1947 cũng là năm sinh của tác giả Paul Auster Trong Căn phòng khóa kín, người kể chuyện xưng tôi cũng sinh vào năm 1947 Như

vậy, người kể chuyện của ba tiểu thuyết trong Trần trụi với văn chương là một và có mối tương tác

rất phức tạp với nhau trong ba tiểu thuyết như lời nhận xét của Steven E Alford:

Những tên gọi và những mối tương quan qua lại của người kể chuyện của ba tiểu thuyết trong Trần trụi với văn chương là phức hợp và nghịch lý Tên của các nhân vật đối xứng

nhau, các nhân vật được tiết lộ là những con người tưởng tượng được hư cấu bởi những nhân vật khác, các nhân vật xuất hiện trong một tiểu thuyết chỉ để duy trì tên họ của họ nhưng chuyển sang một nhân dạng khác trong một tiểu thuyết khác…Điều này không chỉ tạo nên sự phức tạp mà còn hoàn toàn mâu thuẫn nhauP

6

P [109]

Đi vào vai trò của tác giả trong mối tương quan với vai trò của người kể chuyện là một trong

những vấn đề John Zilcosky phân tích trong Trận đấu của tác giả: sự thách thức của Paul Auster

với lý thuyết (The revenge of the author: Paul Auster’s challenge to theory) Theo nhà nghiên cứu,

tác giả không còn là những người mang quyền năng tuyệt đối của thượng đế, công việc tạo lập văn bản với họ không đồng nghĩa với việc họ có quyền sinh thành, tạo lập và phán quyết tất cả mọi lớp

ý nghĩa của văn bản để và người đọc chỉ có việc tiếp nhận một cách thụ động Nên trong quá trình đọc tác phẩm của Paul Auster, độc giả càng phải là người chủ động tìm ra những “văn bản” riêng cho mình, cũng như tác giả có thể ẩn mình qua các thủ thuật và tiểu xảo mà họ sử dụng trong tác

phẩm là những nhận xét của John Zilcosky khi phân tích Trần trụi với văn chương Ông cũng cho

rằng nếu R Barthe coi tác giả văn học thời hậu cấu trúc như đã chết, họ chỉ là những “người biên

chép hiện đại” (modern scriptor) thì trong tác phẩm của Paul Auster, đã xuất hiện kiểu tác giả như

vậy Trong tác phẩm của ông, tác giả không ẩn mình mà xuất hiện một cách rõ ràng, có khi là một nhân vật hoặc đóng vai một người kể chuyện với vai trò của “một người biên chép hiện đại” Hiện

tượng Thành phố thủy tinh xuất hiện hai tác giả, trong đó bao gồm nhân vật cũng với tên tuổi là

Paul Auster (giống tác giả thật ngoài đời) và người kể chuyện xưng tôi xuất hiện ở cuối tác phẩm khẳng định mình chỉ là “người biên tập” lại nội dung câu chuyện này thông qua cuốn vở đỏ của Quinn và những gì nhân vật nhà văn Paul Auster kể lại là một ví dụ điển hình minh họa cho luận

điểm trên của John Zilcosky mà ông đã đưa ra trong bài viết Trận đấu của tác giả: sự thách thức

của Paul Auster với lý thuyết Cũng như thông qua cặp đôi khái niệm “thám tử - độc giả”

6

The names and interrelations of the narrators of the three books of The New York Trilogy are complex and paradoxical

Characters' names are twinned, characters are revealed to be imaginary beings invented by other characters, characters appear in one book, only to maintain their name, but switch to another identity, in another book, and so forth This makes for not only complexity, but outright contradiction.

Trang 14

detective) và “tội phạm – tác giả” (author – criminal), ông cho rằng những nhân vật như Stillman

trong Thành phố thủy tinh, Đen trong Những bóng ma hay Fanshawe trong Căn phòng khóa kín

đều là “tội phạm” đồng thời cũng là “tác giả” của những câu chuyện trên, đã biên kịch nội dung, đã

“vẽ kiểu cuộc đời” cho các nhân vật thám tử; và các nhân vật Quinn trong Thành phố thủy tinh,

Lam trong Những bóng ma hay người kể chuyện xưng tôi trong Căn phòng khóa kín vừa là những

nhân vật đóng vai thám tử truy tìm tội phạm nhưng thật ra đang đọc câu chuyện do các tội phạm vẽ

ra cũng là chuyện cuộc đời của chính họ Tuy nhiên, những “tác giả - tội phạm” này lại không được

xem như là tác giả của câu chuyện mà người kể chuyện mới chính là tác giả, người biên tập lại câu chuyện Như vậy, với cách tạo ra sự nhập nhằng rối rắm trong sự tương quan giữa các nhân vật là

con đường mà Paul Auster đi đến kết luận “văn bản không tác giả” (author-less writing) Vì vậy, John Zilcosky đã cho rằng “sự chấp nhận của người kể chuyện về sự ngẫu nhiên không lý giải

được…là một ẩn dụ cho sự chào đón của Auster về một thể loại mới của văn bản vô tác nhân”P

7

P[120]

Với tác phẩm Trần trụi văn chương của Paul Auster, ngoài vấn đề nhân vật, đa số các nhà phê

bình thường nghiên cứu đặc trưng của thể loại “tiểu thuyết trinh thám phản truyền thống”

Trong bài viết Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn chương của Barry Lewis được in trong công

trình Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết do Nhà xuất bản Hội Nhà văn Trung

tâm Văn hóa Đông Tây ấn hành năm 2003, bên cạnh những tên tuổi như John Barth, Donald

Barthelme, Don De Lillo, Robert Coover…tác giả đã xếp Paul Auster vào một trong hai mươi văn sĩ

hậu hiện đại danh tiếng nhất đương đại Ở bài viết này, ông cũng nhận định rằng Trần trụi với văn

chương được xem là một tác phẩm nhại thể loại trinh thám Paul Auster đã dùng lớp áo trinh thám

phủ lên tác phẩm một màn sương hư ảo để chuyển tải những vấn đề của nhân sinh bởi vì “việc truy

tầm những manh mối cám dỗ nhà văn hậu hiện đại…rất gần gũi với việc độc giả săn tìm nghĩa của văn bản” [46, tr 244]

Nhà nghiên cứu văn học Hans Bertens cũng có nhận xét rằng Thành phố thủy tinh được viết

theo chiều hướng sử dụng “cách viết và đề tài lạ lùng” Bởi vì ngay bản thân câu chuyện này xuất hiện rất nhiều sự kiện kì lạ Điều đó thể hiện ở việc nhân vật Quinn nhận được cú điện thoại kì lạ giữa đêm khuya bởi một người lạ để tìm thám tử Paul Auster Quinn đã đóng vai thám tử Paul Auster Trong quá trình nhập vai ấy, thám tử giả này lại đi gặp một nhà văn cũng có tên là Paul

Auster Rồi đến gần cuối tác phẩm, Quinn một mình đến ở trong căn hộ nhà Peter, “nhận thức ăn từ

7 The narator’s acceptance of author-less contingency is, I would argue, a metaphor for Auster’s welcoming of a new type of

‘author-less writing’

Trang 15

một vài người lạ mang đến, với ngày tháng cứ ngắn dần cho đến khi rút cuộc anh thấy mình như tan vào hư không” [46, tr 352]

Trần trụi với văn chương được chú ý hơn cả ở phương diện thể loại trinh thám Trong Trận đấu của tác giả: sự thách thức của Paul Auster với lý thuyết (The revenge of the author: Paul

Auster’s chanllenge to the theory), ngoài việc phân tích mối quan hệ giữa tác giả, người kể chuyện

và nhân vật, John Zilcosky còn xem xét Trần trụi với văn chương từ góc độ thể loại trinh thám

Ông khẳng định đây là là một tác phẩm thuộc thể loại trinh thám mới, tiểu thuyết trinh thám siêu hình trong sự pha trộn với lý thuyết văn học Nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, trong thể loại trinh thám, những thám tử truy tìm tội phạm như những độc giả đang truy tìm đầu mối của câu chuyện mà tác giả viết ra

Một số tác giả khác đi vào nghiên cứu Trần trụi với văn chương của Paul Auster trên phương

diện nhìn nhận tầm ảnh hưởng của các tác giả như Beckett hay Kafka đến tác phẩm của ông Đồng thời, xem xét tác phẩm thuộc nền văn học của trào lưu hậu hiện đại trên phương diện thi pháp, các nhà phê bình cũng chỉ ra mối liên hệ giữa các tác phẩm, tác giả; những câu chuyện thần thoại và lịch

sử mà Paul Auster có đề cập trong tác phẩm của mình và tìm hiểu mối quan hệ giữa các tác phẩm của Paul Auster với nhau Theo cách thức này, họ chỉ ra trong tác phẩm của Paul Auster đã tồn tại một dạng liên văn bản như sự xuất hiện của các tác giả (Walt Withman, Nathaniel Hawthorne, Herman Meville…) thuộc chủ nghĩa siêu nghiệm và hiện thực trong văn học Mỹ thế kỉ XIX Ngoài

ra, các tác phẩm như Âm thanh và cuồng nộ, Marco Polo du kí, Walden, Moby Dick…cũng như

nhiều bộ phim cũng được đề cập trong tác phẩm của ông tạo nên sự phức tạp và bí ẩn trong tác

phẩm của Paul Auster Ở xu hướng nghiên cứu này, đặc biệt kể đến công trình Thế giới là quyển

sách: tiểu thuyết của Paul Auster (The world that is the book: Paul Auster’s fiction) của Aliki

Varvogli Trong công trình này, tác giả đã khảo sát một cách tỉ mỉ những nguồn văn hóa và văn học giàu có đã xuất hiện trong tác phẩm của Paul trong cách nhìn của những tác phẩm hậu hiện đại để chỉ ra những vấn đề về nhân dạng của nhân vật, về ngôn ngữ…

0

Một nhận định khác nữa mà nhiều nhà nghiên cứu đã từng đưa ra, đó là sự xuất hiện của cuộc đời tác giả trong đời nhân vật, đây cũng là một biểu hiện của thủ pháp siêu hư cấu Brendan Martin nói như vậy và Bernd Herzogenrath cũng đã nói như vậy

ra đời vào năm 2005 đã dành hẳn một chương để khảo sát Thành phố thủy tinh Trước hết, nhà phê

bình dựa vào đặc trưng thể loại trinh thám mà trong đó chủ yếu là truyện trinh thám của Edgar Allan

Poe để đi vào phân tích Thành phố thủy tinh rồi đưa ra kết luận đó là một tiểu thuyết trinh thám

siêu hình (a metaphysical detective novel) Sau đó, ở chương hai, tác giả dựa vào phân tâm học của

Trang 16

Lacan và giải cấu trúc của Derrida để chỉ ra một số vấn đề về ngôn ngữ, lý thuyết chấn thương, sự thăng hoa, về nền tảng triết học trong những tác phẩm của Paul Auster, về hư cấu và hiện thực…chủ

yếu về xoay quanh khái niệm khát vọng (desire)

0

Và cũng theo nhà nghiên cứu Bernd Herzogenrath, vì tác phẩm của Paul Auster có sự đan cài

giữa cuộc sống và hư cấu nên có thể đọc theo hai cách “Một cách đọc sẽ xem xét những dữ liệu tiểu

sử như là nguồn gốc hư cấu (tiểu thuyết) của Paul Auster Từ khía cạnh này, những tiểu thuyết của ông sẽ có tính nhận thức, tính nghệ thuật, cải trang một cách mong manh sự trình diễn của chính cuộc đời tác giả”0

8

P[113] Và một cách đọc nữa mà ông sẽ đi theo con đường đó là “tập trung vào

những câu chuyện, cách kể hơn là người kể”0

9

P [113]

0

Trong công trình Tính chất hậu hiện đại của Paul Auster (Paul Auster’s postmodernity, ra

đời năm 2008), Brendan Martin cũng đã chỉ ra đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Paul Auster qua các vấn đề tác giả, về nhân dạng, về cái ngẫu nhiên…Ông cũng cho rằng cuộc đời của tác giả với nhân vật trong tác phẩm có nhiều điểm giống nhau (Điều này cũng được Paul Auster

khẳng định một lần nữa trong bài phỏng vấn Tôi là người liên tục bắt đầu) Và sử dụng những chi

tiết trong cuộc đời mình lồng vào tác phẩm là một trong những cách tác giả tạo nên sự đa nghĩa trong tác phẩm

0

Nhiều yếu tố trong cuộc sống của Auster là những bằng chứng rõ ràng trong những tác phẩm hư cấu của ông, và đa số những nhân vật chính (trong tiểu thuyết của Auster) chia sẻ lai lịch và nghề nghiệp của tác giả…Nếu Aaron được xem như là một bản sao của Auster, một nhân vật khác tương tự, tác giả ở Brooklyn được gọi là Paul Auster, xuất hiện như một nhân vật trong Thành phố thủy tinh Paul Auster khẳng định rằng tác phẩm của ông cấu thành nên “cuốn sách về cuộc đời ông ở một mức độ nhất định” Tuy nhiên, ông cương quyết rằng mặc dù tiểu thuyết chứa đựng những sự kiện, những địa điểm, những nhân vật

có thực nhưng chúng cũng không gì khác hơn là những tác phẩm hư cấu 0

Trang 17

Bên cạnh những vấn đề như nhân vật, tác giả, người kể chuyện, thể loại trinh thám hay bút

pháp trần thuật trong Trần trụi với văn chương, một số nhà phê bình còn quan tâm đến phạm trù

không gian trong bộ ba tiểu thuyết trinh thám này Có thể kể đến 0Steven E.Alford với Cách

khoảng: nghĩa và không gian trong Trần trụi với văn chương của Paul Auster (Spaced out:

signification and space in Paul Auster’s The NewYork Trilogy) Ở tiểu luận này, nhà phê bình chỉ

ra ba loại không gian trong tác phẩm, đó là những không gian dành cho người đi bộ (pedestrian spaces), những không gian bản vẽ (mapped spaces) và những không gian không tưởng (utopia spaces) Ba loại không gian này được xem xét trong mối quan hệ được thiết lập với cá tính (selfhood), không gian (space) và ý nghĩa (signification) Và tất cả để hướng đến những không gian không tưởng (utopia spaces) Kiểu không gian không tưởng này đã được 0Richard A.Swope kế thừa

và phát triển tiếp tục trong công trình của ông

công trình này có tiêu đề Giả sử về một không gian thành phố: Trần trụi với văn chương của

tập trung vào vấn đề không gian hậu hiện đại trong Thành phố thủy tinh cùng với mối tương quan

về đề tài nhân dạng và ngôn ngữ, hai đề tài xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của Paul Auster Theo Richard A.Swope, Paul Auster đã phá vỡ khái niệm không gian trong tiểu thuyết trinh thám truyền thống và quan niệm lại không gian “nhà” (home) Bên cạnh kiểu không gian thành phố và biểu tượng căn phòng khóa kín, ông cho “nhà” là nơi mà thám tử không bao giờ ở và cái cách họ thoát ra khỏi không gian ấy Từ đó, ông xem xét vấn đề xây dựng hình tượng không gian trong mối tương quan với sự cấu trúc nhân dạng

0

Đó là một số công trình nghiên cứu về tác phẩm của Paul Auster ở nước ngoài mà chúng tôi có dịp khảo sát

Các tác phẩm của Paul Auster xuất hiện ở Việt Nam khá muộn (Trần trụi văn chương, Nhạc

đời may rủi được ấn hành năm 2007) nên số lượng các bài nghiên cứu về tác phẩm của ông cho đến

nay cũng còn rất khiêm tốn Tuy nhiên, gần đây, tiểu thuyết của ông đã được giới nghiên cứu bắt

đầu tìm hiểu và đánh giá cao Paul Auster và Nhạc đời may rủi của Lê Huy Bắc xuất hiện trên tạp

của Paul Auster Sau khi trình bày khái những nét chính về tiểu sử, nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc đã chỉ ra sự ảnh hưởng về tư tưởng của các tác giả đi trước như N.Hawthorne, J.Lacan…đến Paul

Trang 18

Auster và những đề tài thường xuất hiện trong tác phẩm của ông Ở phần trọng tâm của bài nghiên

cứu, nhà nghiên cứu đã phân tích Nhạc đời may rủi qua ba hình ảnh biểu trưng, đó là canh bạc, bức

tường và nhạc đời Để từ đó, tác giả đi đến kết luận về sự chi phối của tính chất may rủi đến cuộc sống hay định mệnh bị giật dây của mỗi con người Dù không tìm hiểu về nhân vật nhưng thảng hoặc trong quá trình phân tích Lê Huy Bắc cũng có nhắc qua kiểu nhân vật con rối và song trùng trong cặp nhân vật Nashe và Pozzi, tính chất ngẫu nhiên trong cuộc sống…

Cùng với việc ấn hành Trần trụi văn chương, dịch giả Trịnh Lữ đã có một số ý kiến trong bài

giới thiệu tác phầm này Ông đề cập đến một số đặc điểm như tính chất liên văn bản trong văn bản qua việc sử dụng nhiều nguồn của câu chuyện hay sử dụng nhiều chi tiết liên quan đến đời thật của tác giả, đặc trưng cơ bản của văn chương hậu hiện đại xuất hiện trong bộ ba tác phẩm viết về

NewYork như tính chất phi trung tâm về đề tài, “đặc tính interractive-tương tác: người đọc phải

tham g ia và tự tìm thấy câu chuyện cùng nghĩa của nó” [1, tr 8]

Ở Việt Nam, Trần trụi với văn chương cũng đã được chú ý ở một mức độ nhất định trên phương diện thi pháp thể loại trinh thám Nguyễn Thị Thanh Hiếu trong Trần trụi với văn chương

và ngòi bút phản trinh thám của Paul Auster (đăng trên tạp chí Khoa học số 5 năm 2010 của

trường Đại học Sư phạm Hà Nội) đã rất tinh tế khi nhận ra cái lớp áo thể loại trinh thám phủ lên câu

chuyện chỉ là vỏ bọc bên ngoài để tác giả tạo nên một phong cách hoàn toàn mới ở “tiểu thuyết trinh

thám siêu hình”, “tiểu thuyết trinh thám phản truyền thống” Tác giả đã đi vào xem xét một số đặc

trưng cơ bản của thể loại trinh thám như hình tượng thám tử và hành trình truy tìm tội phạm thế nhưng tội phạm thật sự không phải là một cá nhân nào mà là một khái niệm, một triết lý Ở đó, tác giả đã sử dụng các luận điểm tội phạm không còn là kẻ thụ động trong hành trình chạy trốn mà chủ động chơi trò trốn tìm với thám tử, còn nhân vật thám tử đôi khi lại trở thành kẻ bị động, đánh mất hết cuộc sống trước đây, đánh cắp sự sống của chính mình…để đi đến kết luận như trên

Cùng chia sẻ với quan điểm này, trong bài Những khuynh hướng chính của văn chương hậu

hiện đại, Lê Huy Bắc cũng khẳng định Trần trụi với văn chương là một tiểu thuyết “giả trinh

thám” ở đặc trưng “giả cốt truyện” và “giả nhân vật” cũng như thay đổi mục đích theo đuổi tội phạm thành truy tìm “bản thể con người” bằng cách đan xen nhiều chủ đề, nhiều tuyến cốt truyện Trong đó, hành trình sáng tạo của nhà văn cũng chính là “hành trình của một nhà trinh thám, hành

trình xâm nhập và khám phá một tội lỗi hoặc một tội ác nào đó” [98]

Cũng đi theo vết tích của thể loại trinh thám, tác giả Phan Tuấn Anh trong Đặc trưng truyện

trinh thám hậu hiện đại trong tiểu thuyết Tin tức về một vụ bắt cóc của G.G.Márquez đăng trên

tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 5 năm 2010 chú ý đến hiện tượng “tiểu thuyết trinh thám phản truyền

thống” Trần trụi với văn chương không phải là vấn đề được tác giả trực tiếp nghiên cứu mà chỉ thi

Trang 19

thoảng đề cập đến khi liên hệ về đặc trưng thể loại “tiểu thuyết trinh thám phản truyền thống”

Ngoài việc khẳng định thể loại trinh thám như một thể nghiệm của các nhà văn hậu hiện đại, ông còn chỉ ra một số đặc điểm của thể loại này như tội ác lớn nhất và kẻ phạm tội lớn nhất trong những câu chuyện trinh thám hậu hiện đại không phải là một hung thủ cụ thể mà thường là một khái niệm, một vấn đề xã hội, một quan niệm về tồn tại và nhân sinh; tốc độ trần thuật thường bị kéo dãn theo nhịp suy tư nội tâm của nhân vật; nghệ thuật trần thuật chủ yếu tuân theo ba nguyên tắc: mê lộ, cực hạn và mảnh đoạn Trong đó, tác giả khẳng định bản thân mỗi truyện trinh thám hậu hiện đại có hai

mê lộ, “mê lộ của những khả năng giải mã và truy tầm tội ác và mê lộ của tự sự” [66, tr.44] mà

Trần trụi với văn chương là một ví dụ điển hình

Nguyễn Khắc Phê trong bài Một cuốn sách thức tỉnh con người trên tạp chí Văn hóa Nghệ

An có những nhận định về Người trong bóng tối Ông cho rằng Người trong bóng tối được viết khi

Paul Auster đã hơn sáu mươi, giọng điệu trở nên trầm lắng nhưng mang tính lạc quan Với độc giả,

có lẽ nó còn quá mới mẻ vì mới được xuất bản năm 2008 Tuy nhiên, khi đọc Người trong bóng tối,

dường như ta có một cảm giác nó có một sức cuốn hút và quyến rũ kì lạ Có lẽ bởi vì tác giả đã sử dụng thủ pháp “truyện trong truyện” tạo nên hai tuyến truyện song hành của hai thế giới ảo đan cài

với nhiều mẫu chuyện phim, được xem là tính chất liên văn bản, làm cho Người trong bóng tối

không những rối rắm mà còn truyền tải một “hiện thực thậm phồn” Cũng như, những câu chuyện

về chiến tranh mà người kể chuyện nghe được từ mọi người cùng với cái chết thê lương của Titus ở chiến trường Iraq cộng hưởng với nhau tạo nên niềm ám ảnh dai dẳng và thức tỉnh sâu sắc con người

Ngoài ra, trong bài trả lời phỏng vấn trên báo Tuổi trẻ, dịch giả Trịnh Lữ cũng đưa ra một số ý kiến về Người trong bóng tối như những thực tại song hành, phi trung tâm về đề tài và cốt truyện,

niềm tin vào những tiểu tự sự…

Tóm lại, chúng tôi đã điểm qua những ý kiến đánh giá về tiểu thuyết Paul Auster của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đồng thời, chúng tôi chủ yếu tập trung chú ý các nhận xét về vấn đề nhân vật, thể loại trinh thám, phương pháp trần thuật liên văn bản và không gian nghệ thuật để có một cái nhìn tổng quan về những điểm liên quan đến nội dung luận văn của chúng tôi

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp cấu trúc, phương pháp văn hóa lịch sử, phương pháp so sánh đối chiếu là những

phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài

Sử dụng phương pháp cấu trúc, chúng tôi sẽ bước vào thế giới của hình tượng không gian nghệ thuật cũng như cách tổ chức xây dựng kiểu nhân vật cấu trúc Ở đó, chúng ta sẽ bắt gặp kiểu nhân

Trang 20

vật của những hành trình, một kiểu nhân vật đặc trưng trong tiểu thuyết của Paul Auster Phương pháp cấu trúc cũng là một trong những phương pháp hữu hiệu khi phân tích những dạng văn bản liên văn bản, siêu văn bản sẽ được chúng tôi chỉ ra ở chương ba

Phương pháp văn hóa lịch sử sẽ giúp chúng tôi nhìn nhận quan niệm của nhà văn về con người

và thế giới trong cuộc sống đương đại thông qua hình tượng nhân vật cũng như hành trình khám phá của họ mang lại Đồng thời, phương pháp này cũng được chúng tôi sử dụng trong chương ba khi phân tích phương thức lồng truyện qua cách trích dẫn, cắt dán bất định những câu chuyện, những bộ phim, những tiểu luận nghiên cứu trong lịch sử; những cặp vòng tròn tương tác qua sự xuất hiện của cuộc đời tác giả hay những nhân vật lịch sử và tác phẩm của Paul Auster thực sự đã dung chứa một thứ “hiện thực ngoại cỡ” theo quan niệm của các nhà phê bình hậu hiện đại

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhìn nhận vấn đề không gian, nhân vật hay bút pháp tự

sự trong mối tương quan giữa các tiểu thuyết của Paul Auster với nhau và với một số tác phẩm của các thế hệ nhà văn đi trước Vì vậy, không thể không có sự xuất hiện của phương pháp so sánh đối chiếu

Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu tiểu sử, xã hội học, phân tâm học hay phê bình huyền thoại cũng được chúng tôi sử dụng như là những phương pháp bổ trợ

5 Bố cục của luận văn

Chúng tôi sẽ triển khai luận văn theo ba phần: phần mở đầu, các chương chính và phần kết luận

Trong phần mở đầu, gồm có sáu mục Lí do chọn đề tài là mục thứ nhất Ở mục này, chúng tôi

sẽ trình bày một cách khái quát về tác giả Paul Auster cũng như vị trí của ông trên văn đàn Mỹ cũng như những biểu hiện tiêu biểu của phương thức tự sự mê lộ của Paul Auster trong mối tương quan

kế thừa truyền thống của một số nhà văn đi trước Từ đó, trong Đối tượng và phạm vi nghiên cứu,

chúng tôi sẽ giới hạn những vấn đề cơ bản của phương thức tự sự mê lộ trong một số tiểu thuyết của Paul Auster được khảo sát trong luận văn này Đồng thời, hướng tiếp cận vấn đề của chúng tôi ở một mức độ nhất định sẽ kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước Vì vậy, ở mục

Lịch sử vấn đề, một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Paul Auster trong cũng như ngoài

nước sẽ được chúng tôi khảo sát một cách khái quát nhất Ở mục Phương pháp nghiên cứu, chúng

tôi nêu ra một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu và bổ trợ được sử dụng trong quá trình thực hiện

luận văn Trong Bố cục của luận văn, chúng tôi sẽ trình bày sự sắp xếp các chương, mục Và cuối cùng, ở Đóng góp của luận văn, ý nghĩa khoa học và thực tiễn mà đề tài mang lại sẽ được chúng tôi

chỉ ra một cách khái quát

Ba chương chính của luận văn sẽ nối tiếp phần mở đầu

Trang 21

Ở chương một, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu nội hàm ý nghĩa chung nhất của mê lộ như là một thuật ngữ trọng tâm và lý giải phương thức tự sự mê lộ một cách khái quát qua một số tác giả đi trước để thấy được sự kế thừa, ảnh hưởng của họ cũng như sáng tạo của chính Paul Auster trong thủ pháp xây dựng hình tượng không gian mê cung

Chương hai với trọng tâm hướng về thủ pháp xây dựng nhân vật, ở đó chúng tôi chủ yếu khảo sát cấu trúc hình tượng nhân vật để làm rõ hành trình vượt mê lộ của họ cũng như mục đích đạt được

Chương ba sẽ rẽ sang hướng phân tích thủ pháp xây dựng những siêu văn bản của tác giả trong cách kết hợp giữa hư cấu với hư cấu hay hư cấu với phi hư cấu qua cách thức lồng ghép và những cặp vòng tương tác

Cuối cùng, Kết luận được chúng tôi triển khai trong luận văn này nhằm để đánh giá lại tất cả

những phần đã khảo sát trong các chương chính và mở ra những hướng có thể được nghiên cứu trong tương lai đối với tiểu thuyết của Paul Auster

Ngoài ra, luận văn sẽ còn có Tài liệu tham khảo và Phụ lục

6 Đóng góp của luận văn

Ý nghĩa khoa học: Như chúng tôi đã đề cập trong phần lịch sử vấn đề, Paul Auster là một nhà

văn đương đại được đánh giá cao Cho đến nay, trên thế giới Trần trụi với văn chương, Nhạc đời

may rủi và Người trong bóng tối của ông được giới phê bình nghiên cứu khảo sát trên nhiều

phương diện từ thi pháp thể loại đến loại hình nhân vật hay những đặc trưng hậu hiện đại Rải rác đây đó đã nói đến nhân vật cặp đôi, nói đến không gian hay liên văn bản trong tiểu thuyết của ông

Ở việt Nam, đã có một số bài nghiên cứu nhỏ về tác phẩm của Paul Auster Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu các vấn đề trên dưới góc nhìn mê lộ Vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn cao học, cùng với tinh thần kế thừa những ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi sẽ khảo sát một số tiểu thuyết của Paul Auster về các vấn đề không gian, nhân vật và trần thuật liên văn bản trong mối quan hệ với cảm quan mê lộ Qua đó, thấy được

nó vừa là cảm quan chính thể hiện quan niệm của nhà văn về con người và thế giới cũng như hiện rõ trong thi pháp kể chuyện Đặc biệt, đó cũng chính là cảm quan chính chi phối đời sống nhân loại cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI ở Mỹ nói riêng và thế giới nói chung

Ý nghĩa thực tiễn: Với khối lượng tác phẩm khá đồ sộ cũng như những đóng góp to lớn cho nền văn học Mỹ, Paul Auster đã thực sự tạo nên cho mình một vị trí riêng trên văn đàn Mỹ đương đại nói riêng và văn học thế giới nói chung Tác phẩm của ông được các nhà phê bình trên thế giới nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay, ở Việt Nam, Paul Auster chưa được

chú ý nhiều Dù gần đây, trong cuốn Giáo trình văn học Mỹ của P.GS Lê Huy Bắc, xuất bản vào

Trang 22

năm 2011, có một bài viết về Paull Auster và tác phẩm Nhạc đời may rủi trong phần viết về những

văn sĩ hậu hiện đại Mỹ Nhưng hầu như chúng tôi thấy rằng vẫn vắng bóng tên tuổi Paul Auster trong chương trình giảng dạy đại học Vì vậy, đến với đề tài tự sự mê lộ trong tiểu thuyết của Paul Auster, người viết mong muốn tác phẩm của ông sẽ được tiếp cận nhiều hơn nữa ở giảng đường đại học

Trang 23

CHƯƠNG 1: MÊ LỘ VÀ CÁC KIỂU KHÔNG GIAN

Nếu ai đã từng đọc và suy ngẫm về tiểu thuyết của Paul Auster, chắc chắn sẽ không thể không

có cảm giác dường như ta đang lạc vào một mê hồn trận với hình ảnh của những con người đang đi trong mê lộ và những con đường liên tục rẽ ngả Những hình ảnh ấy biểu trưng cho không gian mê

lộ rối rắm, phức tạp, tối tăm Vậy phải chăng cảm hứng về mê lộ đã chi phối đến sáng tác của Paul Auster? Kĩ thuật tự sự ấy biểu hiện như thế nào trong tác phẩm của ông? Qua đó, tác giả muốn nói

gì về thế giới và con người được nhìn nhận bằng “cảm quan hỗn mang” trong xã hội đương đại Mỹ?

Để trả lời những câu hỏi này, trước hết, nhất thiết phải hiểu rõ về bản chất của mê lộ

Theo nghĩa thông thường nhất, mê cung được dùng để chỉ “công trình kiến trúc, thường là

tưởng tượng, có nhiều cửa, nhiều lối đi phức tạp, khó phân biệt, người đã đi vào trong thì khó tìm được lối ra” [61, tr 628] Còn mê lộ là “đường đi lạc, khó tìm được lối ra” [61, tr 628] Nó cũng

thường được sử dụng để chỉ “con đường lầm lạc” [61, tr 628] Như vậy, dù là mê lộ hay mê cung

thì chúng vẫn nói đến những không gian được xây dựng theo một kiểu rất rắc rối, phức tạp khiến con người khi đã lạc vào khó có thể tìm được lối ra Bởi vậy, chúng cũng có thể để chỉ những con đường lầm lạc

Tương tự, trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, các nhà nghiên cứu cũng dùng từ mê

cung hay mê lộ để chỉ kiểu không gian mà trong đó nó có thể là những công trình, hệ thống phòng thủ hay những con đường nhiều lối đi, ngả rẽ Nên, chúng tôi cũng sẽ không đi tìm sự khu biệt giữa hai khái niệm này mà sử dụng chúng trong sự giao thoa ý nghĩa với nhau để cùng nói đến một kiểu không gian - mê lộ và mở rộng nội hàm sang các lĩnh vực khác như thời gian, tâm trạng…

Có lẽ, mê lộ (labyrinth) xuất phát từ câu chuyện trong Thần thoại Hi Lạp Tương truyền rằng

mê lộ là khu cung điện của vua Minos được xây dựng tại đảo Crète, (do Dedalus, người xứ Aten thiết kế), để nhốt con quái vật Minotaure nửa người nửa ngựa Thésee (người xứ Aten) đã tức giận trước hành động độc ác của vua Minos là cứ hằng năm phải cống nạp nhiều người để quái vật ăn thịt Chàng đã tự nguyện lên đường sang Crète với mong mong muốn tiêu diệt con quái vật này Khi

bị vua Minos nhốt vào mê lộ, chàng đã bình tĩnh chiến đấu và thoát ra khỏi đó nhờ sợi chỉ đỏ dẫn lối của Ariane

Hình ảnh mê lộ trong thần thoại trên là “một tòa nhà ngục tráng lệ và rối tinh rối mù Chẳng

biết có bao nhiêu phòng, bao nhiêu buồng, còn hành lang thì chằng chịt lên xuống…” [36, tr 464]

Ở đây, mê lộ chỉ một khối không gian hiện hữu, nhiều phòng, nhiều đường đi rắc rối và phức tạp

Trang 24

được xây dựng nhằm để không ai có thể thoát ra được.Và đồng thời, nó còn tượng trưng cho quyền lực thống trị của vua Minos

Cũng xuất phát từ cách nhìn về không gian, mê lộ được nhận định như là “dạng bố trí các lối

đi giao nhau nhiều ngả, nhiều đoạn rẽ, có những đoạn không đi tiếp được nữa và do đó, thành ra các ngõ cụt không lối thoát đặt chân vào cung này phải tìm cho được lối đi vào tâm điểm của tấn mạng nhện kì quái đó” [13, tr 591]

Có thể tìm thấy hình ảnh mê lộ trong “các hành lang đi vào hang động thời tiền sử”, “trên các

tấm lát nền ở các nhà thờ lớn” [13, tr 591] hay các điệu múa của Ai Cập, Ấn Độ hay Trung Quốc

Các mê cung được nói trên vừa phải “mở lối vào tâm điểm bằng một kiểu du hành thụ pháp, vừa

phải ngăn lối, không cho vào nơi ấy những kẻ không đủ phẩm chất” [13, tr 591] Và đó là “dạng hình tượng hóa những bước thử thách để phân ly trong quá trình thụ pháp, trước khi lần bước vào tới tâm điểm còn ẩn giấu” [13, tr 591]

Ngoài ra, “mê cung cũng dẫn vào nội tâm của bản thân, tới một thứ điện thờ ẩn giấu bên trong con người, nơi tọa lạc của cái phần huyền bí của nhân tính” [13, tr 592] Bởi vậy, khi con người

thoát ra khỏi mê cung “sẽ đánh dấu chiến công của tinh thần thắng vật chất, đồng thời cũng của cái

vĩnh hằng thắng cái có thể lụi tàn, trí tuệ thắng bản năng, tri thức thắng bạo lực mù quáng” [13, tr

593]

Có lẽ cũng chính vì vậy mà J.L Borges cho rằng trước hết mê lộ thường hiện hình qua không gian “Trong số đó có mê lộ của Crète Đó là một tòa dinh y hệt một chuồng bò tót, với một số cửa

sổ bé tí và một số đường rãnh hẹp” [12, tr 29] Ông quan niệm rằng mê lộ có nguồn gốc từ ngôn

ngữ Hi Lạp, “labyrinthos mà nghĩa từ nguyên của nó nhằm chỉ những cột chống và lối đi của một

hầm mộ, bây giờ nó chỉ một cấu trúc kì lạ, được xây dựng để con người có thể bị lạc” [11, tr 54]

Cũng theo J.L.Borges, ông cho rằng nếu con người tin rằng có một trung tâm trong vũ trụ thì vũ trụ

là một không gian mê lộ “Trong mê lộ có một trung tâm Trung tâm đó có thể là khủng khiếp, yêu

quái hoặc thánh thiện” [11, tr 53] Trung tâm ấy cũng được điều khiển theo một quy luật như sự

quay tròn của các hành tinh, những mùa khác nhau trong cuộc sống… Nó được biểu hiện ở không

gian và thời gian Mê lộ trong tác phẩm của ông thể hiện ở “những hệ không gian lồng vào nhau,

quay tròn, gắn với luận đề về thời gian, vừa vô tận vừa tuần hoàn…” [80, tr.10] Đồng thời,

J.L.Borges còn chỉ ra rằng mê lộ cũng là “biểu tượng rõ ràng cho tâm trạng bối rối” [12, tr 29] Ông lập luận: “bởi vì ý tưởng về một tòa nhà được xây dựng để cho ai đó bị lạc vào trong nó là biểu

tượng không thể tránh được của một tâm trạng bối rối” [12, tr 30] Như thế, với J.L.Borges, mê lộ

vừa là không gian, vừa là thời gian, vừa hiện hữu trong cõi tâm linh vốn rất phức tạp của con người

mà chủ yếu xuất hiện qua cách viết của ông

Trang 25

Quả thật, J.L.Borges đã xây dựng kiểu mê lộ như thế trong tác phẩm của ông Trong Công

viên những lối đi rẽ hai ngả, J.L.Borges không chỉ vẽ ra hình ảnh của những không gian mê lộ qua

những con đường liên tục rẽ ngả, đó là những “con đường cứ xuống dốc” hay những con đường mà tại mỗi ngã ba cứ việc rẽ trái…mà ông còn xây dựng kiểu thời gian mê lộ “Ta nghĩ đến một mê lộ

của những mê lộ, đến một mê lộ vòng vo cứ lớn lên, lớn lên bao gồm cả quá khứ lẫn tương lai và bằng một hình thức nào đó nó còn ôm cả các hành tinh ” [12, tr 217] Hay “…Cụ tin vào những loại thời gian vô tận, vào mạng lưới cứ lớn lên dần và vần vụ đến chóng mặt của những thứ thời gian chia tách hội nhập và song hành Cái bẫy ấy của các thứ thời gian vốn tự đến gần, tự rẽ hai ngả, tự đứt đoạn hoặc tự lãng quên đi từng thế kỉ một, thứ thời gian ấy bao gồm tất cả mọi khả năng…”[12, tr 224]

Nói về mê lộ, nhà nghiên cứu văn học Ngô Tự Lập, người yêu mến J.L Bosges cho rằng mê

lộ là một dạng biểu tượng hướng tới cái toàn thể “Mê lộ mô phỏng tính vô tận, hỗn loạn và vĩnh

cửu Nói cách khác, mê lộ chính là vô tận, hỗn loạn và vĩnh cửu nhân tạo” [38, tr 124] Và “phẩm hạnh lớn nhất của mê lộ là tính phổ quát” [38, tr 124]

Tóm lại, dù có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng qua khảo sát, chúng tôi cho rằng mê lộ hiện hữu qua không gian, là những con đường quanh co, rắc rối, phức tạp và nhiều ngả rẽ, giao nhau khiến người đi dễ dàng bị lạc lối; những căn phòng tối tăm, ngột ngạt, tù đọng, bưng bít và giam hãm sự sống Mê lộ cũng được sinh thành trong những kiểu thời gian tuần hoàn đến vô tận Không những thế, nó còn tồn tại trong thế giới tinh thần rối rắm của mỗi con người mà chỉ đạt được một trạng thái thông tuệ khi họ trải qua một hành trình vượt mê lộ, vượt quá trình “khai tâm thụ pháp”

Mê lộ có nguồn gốc xuất phát từ cảm quan về hình ảnh của vũ trụ là một khối hỗn mang Đặc trưng

cơ bản của nó là tính phổ quát, vô tận, vĩnh hằng và mang tính biểu tượng hướng đến cái toàn thể

Trong các tác phẩm văn chương, đề tài viết về mê lộ lâu nay có một sức quyến rũ huyền bí với các thế hệ nhà văn, nhà thơ bao đời Là hình ảnh biểu tượng mang sức gợi lớn, mê lộ đã chi phối đến cảm hứng nghệ thuật, đề tài của bút pháp tự sự các văn sĩ

Xuất phát từ cách hiểu trên, để xem xét bút pháp nghệ thuật của Paul Auster trong tiểu thuyết của ông dưới góc nhìn mê lộ, ở luận văn này, chúng tôi tập trung vào vấn đề không gian, cách tổ chức nhân vật và bút pháp trần thuật liên văn bản trong mối quan hệ với mê lộ Đi vào cấu trúc mê

lộ sẽ bật ra hình tượng không gian nghệ thuật, cách xây dựng mê lộ sẽ được làm rõ ở bút pháp xây dựng nhân vật và phương thức trần thuật liên văn bản tạo nên những lớp mê cung văn bản chồng chồng lớp lớp lên nhau bất định một cách phi thực Và bởi vì, mê lộ là phổ quát nên nó không những chỉ được sử dụng trong việc xây dựng hệ thống pháo đài phòng thủ hay biểu tượng của các tôn giáo mà nó còn trở thành một đề tài phổ biến và tạo nên một vệt nối dài trong tác phẩm văn học

Trang 26

của nhiều nhà văn trên thế giới và mỗi văn sĩ đi sau đều có thể bắt gặp mình trong những thế hệ cha anh đi trước Mê lộ không tạo nên một dòng văn học chủ lưu nhưng trong tác phẩm của nhiều nhà văn hình ảnh của nó vẫn hiện diện là một niềm ám ảnh lớn như J.L.Borges, như F.Kafka, như G.G Márquez…Có lẽ, cũng nằm trong trào lưu này, Paul Auster đã biết đến và chịu ảnh hưởng không ít bởi cảm quan về mê lộ của các nhà văn đi trước Vì vậy, sau đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu một cách khái quát kĩ thuật tự sự mê lộ trong tác phẩm của một số nhà văn đã tạo nên một vệt nối dài đến Paul Auster

1.1.2 Khái quát về phương thức tự sự mê lộ

Theo dòng lịch sử văn học của nhân loại, mê lộ đã trở thành một biểu tượng mang một sức quyến rũ lớn đối với các nhà văn, nhà thơ Nó không những chỉ được lấy làm đề tài mà đã trở thành một kĩ thuật kể chuyện, tạo nên một kiểu kể chuyện theo lối mê lộ Biểu tượng mê lộ hay kiểu kể chuyện theo lối mê lộ ấy xuất hiện trong tác phẩm văn chương của nhiều tác giả qua nhiều thế hệ hình thành một vệt nối dài trên cơ sở họ vừa kế thừa, vừa thổi vào đó những nét sáng tạo độc đáo của riêng từng nhà văn Sau đây, chúng tôi sẽ đề cập đến hiện tượng ấy trong tác phẩm của các thiên tài văn chương như F.Kafka, J.L.Borge, G.G.Márquez qua một số nhận định khái quát của các tác giả nghiên cứu ở Việt Nam

Giờ đây, F.Kafka đã là một tên tuổi quen thuộc với độc giả và tác phẩm của ông đã vượt qua

sự thử thách của thời gian với những thông điệp có ý nghĩa lớn lao F.Kafka (1883-1924) là người Đức, gốc Do Thái, được mệnh danh là người khai sinh hiện thực mà hiện thực ấy hiện hữu trong tác phẩm của ông một phần qua phương thức sử dụng biểu tượng mê lộ Về thi pháp mê lộ trong tác phẩm của F.Kafka, ở Việt Nam đã có một số bài nghiên cứu theo xu hướng này, trong đó, họ đã đưa

ra các loại mê cung, đặc điểm của mê cung và ý nghĩa của nó

Nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc có sự quan tâm đặc biệt đến kĩ thuật tự sự mê lộ cả trong tác

phẩm của F.Kafka lẫn J.L.Borges Trong phần Mĩ học của sự khốn cùng trích trong công trình Thế

giới nghệ thuật F.Kafka, tác giả có đề cập đến vấn đề Những mê lộ Ông cho rằng mê lộ của F

Kafka hiển hiện trong những cái bình thường hay là mê lộ nhân tạo một cách trừu tượng trong cung cách hành chính, thiết chế nhà nước hoặc là những mê lộ cụ thể qua không gian như đường hầm, căn phòng…Mà biểu hiện dễ thấy nhất là khi nhân vật đánh mất phương hướng và rơi vào một hệ thống nhập nhằng, mơ hồ, chồng chéo, không lối thoát và thường đối diện với cái chết Tính chất

mê lộ của F.Kafka theo sự khẳng định của Lê Huy Bắc còn thể hiện qua ngôn ngữ Kafka thường sử

dụng “những câu dài, nhiều mệnh đề mà sự liên kết giữa chúng lỏng lẻo, dễ gây ra sự tối nghĩa” [10, tr.194] hoặc “những ẩn ý chìm sâu dưới lời kể, lời miêu tả và đối thoại” [10, tr 195]

Trang 27

Nhìn ở góc độ biểu tượng, trong luận văn thạc sĩ Hiện thực và huyền thoại trong tác phẩm

cung “song song bao bọc lấy nhau” hay “kiểu mê cung nhiều vòng tạo nên một kết cấu trùng điệp”

và kiểu mê cung hướng tới nội tâm của con người

Trong bài Tính chất mê cung trong tác phẩm của Franz Kafka, trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 2 năm 2009, Lê Từ Hiển và Lê Minh Kha cho rằng chủ đề mê cung là một chủ đề chủ chốt

của Kafka, nó chính là vỏ bọc của cái không thể diễn đạt…Chủ đề mê cung thật sự là một thủ pháp quan trọng của Kafka trong việc diễn đạt cái phi lí Và đồng thời, nó còn “là niềm ám ảnh lớn, là nỗi âu lo bi kịch thường nhật hiện tồn của kiếp người, nó trở thành nguyên tắc kết cấu tác phẩm, chi phối đến cả văn phong, lối viết của Kafka Ở đây, hai ông chỉ ra rằng chủ đề - thủ pháp

mê cung hiện hình trong tác phẩm Kafka dưới nhiều góc độ từ không gian, thời gian đến giấc mơ

và cả lối viết Ở không gian,

những mê lộ của Kafka gắn liền với một vũ trụ - nơi điểm trung tâm nhạt nhòa, hư ảo, dường như không có thật Tính lập lờ của điểm trung tâm khiến không gian trong tác phẩm có lúc trở thành một khối hỗn độn Sống trong không gian như vậy, con người hoang mang, lo sợ và hoàn toàn mất phương hướng” [81, tr 2]

Không gian mê cung trong sáng tác của F.Kafka lại có không gian hữu hình (những ngõ ngách, những đường hầm, lâu đài, cung điện…) và không gian vô hình (một cung cách hành chính,

một cơ chế quan liêu hay một thế lực độc tài đè nén và tha hóa con người), thời gian thì “vừa vô tận

vừa tuần hoàn” Giấc mơ lại là kiểu mê cung cung khác Ngôn ngữ của giấc mơ là ngôn ngữ của

dòng ý thức nên rất nó bất định, hơn nữa nó “không chỉ đơn thuần là sự đi – về, nhập mộng – tỉnh

mộng, mà còn là sự đan cài mộng trong mộng, những trùng lắp bất ngờ giữa cõi thực và cõi mơ, lắm khi cơn ác mộng chỉ thực sự bắt đầu khi con người tỉnh giấc” [81, tr 5]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu dù đi vào xem xét vấn đề mê cung trong tác phẩm của

F.Kafka ở nhiều góc độ khác nhau nhưng ta vẫn có thể thấy rằng cuối cùng họ đều chỉ ra rằng mê cung không chỉ là đề tài, chủ đề mà nó đã hiện hữu và ám ảnh trong tác phẩm của F.Kafka ở việc tác giả xây dựng hình ảnh không gian; dòng chảy của thời gian; trong bút pháp tự sự qua cách viết của những câu văn dài dòng, những đoạn đối thoại lập lờ, nhát gừng, bỏ lững; của những giấc mơ; của những đam mê khát vọng của mỗi bản thể cá nhân muốn vượt thoát ra khỏi chốn mịt mùng của bản thân và đi vào trung tâm tinh thần khi vượt qua quá trình “khai tâm thụ pháp” Thế nhưng, cái trung tâm ấy thấy như rất gần trước mắt vậy mà cứ ẩn hiện và mập mờ trước mắt nhân vật, mãi mãi họ không bao giờ bước vào được Mê cung đó còn là những thiết chế quyền lực, cung cách hành chính, cơ chế nhà nước quan liêu, hình ảnh của nỗi ám ảnh của nhà văn về thế giới…

Trang 28

J.L.Borges là người kế thừa quan niệm mê lộ của F.Kafka Ở J.L.Borges, mê lộ không chỉ dừng lại ở đề tài, ở hình ảnh biểu tượng mà nó còn thể hiện trong một lối viết rất “mê cung” Nếu

mê lộ trong sáng tác của F.Kafka thường có một trung tâm mà nhân vật hướng đến dù nó cứ mờ mờ,

ẩn ẩn và mãi mãi không thể nào bước vào mà nhân vật chỉ có thể kết thúc với cái chết hoặc quanh quẩn bên cái chết thì trong những truyện ngắn của mình, J.L.Borges xây dựng nên những mê cung

phi trung tâm và mang nhiều ý nghĩa biểu tượng” [62, tr 79]

Bên cạnh những đề tài về chiếc gương và giấc mơ thì mê lộ thống lĩnh xuyên suốt sự nghiệp

sáng tác của J.L.Borges Mê lộ có thể là hình ảnh về không gian Đó là hình ảnh mê cung trong Hai

vị hoàng đế và hai mê cung, những con đường vòng vèo mờ ảo trong Công viên những lối đi rẽ hai ngả Có thể là thời gian qua “những tương lai khác nhau, những thời gian khác nhau mà chúng

đồng thời sinh sôi, đồng thời rẽ hai ngả” [62, tr 82] Có thể là hình ảnh của cuốn sách mà trong đó

trang đầu và trang cuối giống hệt nhau; và cũng có thể là mê cung của những giấc mơ lồng giấc mơ,

của những “tâm trạng bối rối và hoang mang của con người” (trong truyện ngắn Người bất tử)

Cũng có thể hiện hữu qua những dòng thơ đột ngột rẽ ngả

Dớt chẳng thể nào phá toang những bức tường

đã vây kín ta Ta đã quên

những người trước đây ta đã là Ta bước tiếp con đường

oán hận của những bức tường đá đơn điệu

vốn là số phận của ta Những hành lang thẳng băng

ngoặt vào những đường vòng lắt léo

cuối mỗi năm Sự hao mòn của năm tháng

đã tưởng tượng ra nhưu con bò mộng có đầu người và biết bao thế hệ đã lạc đường trong cái lưới đá của nó như María Kodama và tôi chúng tôi đã đi lạc buổi sáng hôm đó và còn tiếp tục thất lạc trong thời gian, cái mê lộ khác kia [99]

Trang 29

Để rồi, cuối cùng, J.L.Borges đưa người đọc đến thế giới bí ẩn của chiều sâu nội tâm nhân vật

về một bản thể cô đơn của con người khi đối diện giữa sự hữu hạn, bé nhỏ và mong manh của chính mình với sự bất tận, vô hạn và vĩnh cửu của thế giới bởi vì chính bản thân Borges chọn lựa đề tài

mê lộ xuất phát từ tính vô tận, vĩnh hằng và hướng đến tính biểu tượng toàn thể của nó

Tuy không nhằm mục đích chỉ ra đặc trưng mê lộ nhưng nhà nghiên cứu Đào Ngọc Chương

cũng đã đề cập đến vấn đề này khi viết về Công viên của những lối đi rẽ hai ngả của Jorge Luis Borges trong mối tương quan so sánh về “thực và phi thực” với Cuộc nổi loạn của người Da Đỏ

của Donald Barthelme Bằng một hướng tiếp cận khác so với các tác giả nghiên cứu về J.L.Borges, nhà nghiên cứu Đào Ngọc Chương chỉ ra lịch sử trong hai truyện ngắn liên tục được đính chính với những nếp gấp qua lời kể của nhân vật người kể chuyện, của nhân vật Yu Tsun…Đồng thời, tác giả cũng lưu ý độc giả ở cách đọc văn chương hậu hiện đại trong mối liên kết của những kết nối bất định tạo nên những siêu văn bản phi thực Các siêu văn bản này với tư cách là các siêu hư cấu sử dụng thủ pháp truyện trong truyện, ở những câu chuyện song hành và tương tác giữa các câu

chuyện Đó là những “câu chuyện về Yu Tsun trùm lên câu chuyện vê Ts’ui Pên, câu chuyện về

Albert; câu chuyện về Yu Tsun đánh giá câu chuyện về Ts’ui Pên rồi câu chuyện về Albert đánh giá

về câu chuyện của Ts’ui Pên…” [16, tr 274] Các câu chuyện như những tầng lớp chồng xếp lên

nhau trong cái nhìn bất định của các mối liên kết vô hình Trong cách nhìn ấy, siêu văn bản là một loại mê lộ

Như vậy, với J.L.Borges, mê lộ không còn là cảm hứng sáng tạo hay đề tài sáng tác Nó đã trở thành một chủ đề ám ảnh thường xuyên trong thơ văn của ông và biểu hiện qua việc ông sáng tạo một mê cung không gian, thời gian, những giấc mơ lồng giấc mơ, thậm chí trong tâm trạng bối rối của nhân vật Và hơn hết, kiểu viết những câu dài có cấu trúc lặp lại liên tục hay những câu thơ bất ngờ rẽ ngả và hình thức siêu văn bản là biểu hiện đặc biệt của kĩ thuật tự sự mê lộ trong tác phẩm của J.L.Borges so với các tác giả khác

Còn với G.G.Márquez, viết bằng cảm hứng và đề tài về mê lộ, ông đưa người đọc vào một thế giới của những chi tiết huyễn hoặc, kì bí tạo nên bản sắc của dòng văn chương huyền ảo đương đại của Columbia nói riêng và Châu Mỹ La Tinh nói chung

Một trong những phương thức kể chuyện tạo nên chất huyền ảo của G.G.Márquez là trần thuật

mê lộ Nghiên cứu về chủ đề và kĩ thuật tự sự mê lộ trong Trăm năm cô đơn, nhà nghiên cứu Lê

Huy Bắc chỉ ra một số đặc trưng về kiểu trần thuật mê lộ này Điểm xuất phát của nó là tự sự đa chủ thể Câu chuyện được kể lại bởi chủ thể kép, tức có hai người kể chuyện, một là người kể chuyện ở

ngôi thứ ba, một nữa là “người kể chuyện song hành dưới dạng tiên tri xuất hiện trực tiếp trong tác

phẩm” [11, tr 225] Vì vậy, “tự sự đa điểm nhìn trở thành tâm điểm để triển khai mê lộ văn chương

Trang 30

của tác phẩm” [11, tr 230] qua “kết cấu của mê lộ” ở việc những cái tên được lặp lại từ thê hệ này

sang thế hệ khác, hoặc việc cấu trúc những cặp song sinh, rồi xây dựng những kí ức đồng dạng của các nhân vật, các tuyến nhân vật song trùng, đồng dạng hay những vòng tròn cô đơn trong bản thể

của mỗi cá nhân Ngoài ra, Lê Huy Bắc còn cho rằng đặc tính mê lộ của tự sự trong Trăm năm cô

đơn còn được tạo dựng trên việc “đan kết các yếu tố hiện thực và hoang đường” [11, tr 232] hay sử

dụng những lời tiên tri bởi vì “những lời tiên tri khiến cho câu chuyện lung linh vô vàn sắc ảo” [11,

tr 234]

Cũng viết về bút pháp tự sự trong tác phẩm của G.G.Márquez, tác giả Phan Tuấn Anh chú ý

hai tiểu thuyết Tướng quân giữa mê hồn trận và Tin tức về một vụ bắt cóc, trong đó có xem xét về

kĩ thuật tự sự mê lộ Điểm cơ bản của kiểu tự sự này trong Tướng quân giữa mê hồn trận thể hiện

qua bút pháp “trần thuật đa chủ thể luân phiên trong thì quá khứ” [65, tr 144] Quá khứ được nhìn

qua kí ức của tướng quân là một dạng thực tại của tâm tưởng nên khi kể chuyện G.G.Márquez

thường xuyên “đẩy sự kiện đang nói về thì quá khứ “hoặc “tái hiện lại kí ức liên quan đến sự kiện

đó” [65, tr 145] tạo nên vòng tròn thời gian tuần hoàn như những mê lộ Ngoài ra, Phan Tuấn Anh

cũng chỉ ra một số đặc điểm cơ bản khác của cấu trúc mê lộ như trong tiểu thuyết này như

trần thuật đa chủ thể, đa điểm nhìn; sự đồng hiện nhiều thế hệ, nhiều số phận, nhiều kí ức làm thành vòng tròn thời gian nghệ thuật; sự xuất hiện của các yếu tố huyền ảo, không ngừng xen cắt và tham gia vào thực tiễn; đặt sự kiện nằm trong thì quá khứ nhằm hồi tưởng lại theo các hướng khác nhau và nhiễu hóa sự định vị minh bạch về không gian nghệ thuật bằng các phép ẩn dụ [65, tr 147]

Với Tin tức về một vụ bắt cóc, Phan Tuấn Anh xem xét đặc trưng mê lộ dưới góc độ truyện

trinh thám hậu hiện đại Tác giả chỉ ra một số đặc trưng của tiểu thuyết này là cốt truyện và kết cấu trần thuật mê lộ, cảm quan đa trị và Carnaval hóa Trong đó, mê lộ biểu hiện trong bút pháp trần thuật và cốt truyện qua việc tác giả xây dựng những thông tin về vụ bắt cóc đều được tái hiện trên hai phía: tâm trạng của các nạn nhân và những tin đồn xung quanh vụ án Trong bản thân tuyến nhân vật nạn nhân, tác giả lại chia ra ba tuyến nhỏ và tâm trạng của họ lại rất khác nhau Đồng thời, Phan Tuấn Anh cũng chú ý đến kỹ thuật mê lộ của G.G.Márquez trong việc xây dựng cốt truyện tác

phẩm bằng cách vừa đưa vào “những sự kiện có thật trong hiện tại”, vừa kết hợp với “những hình

tượng và sự kiện mang tính hư cấu phóng đại” [66, tr 46] Cốt truyện mê lộ ở Tin tức về một vụ bắt

cóc còn thể hiện của nhiều tuyến truyện kể, “các tuyến không ngừng xen cắt, thúc đẩy hoặc kìm hãm

nhau phát triển”, [66, tr 47], trong từng tuyến chính lại có nhiều tuyến phụ và mối quan hệ của

chúng lại rất phức tạp, “tương tác không ngừng lên nhau theo một kiểu mê cung quan hệ” [66, tr

48] Cuối cùng, Phan Tuấn Anh chỉ ra trong tác phẩm này, nghệ thuật trần thuật mê lộ còn xuất hiện

Trang 31

qua phương thức trần thuật đa chủ thể và áp dụng một cách linh hoạt và phức hợp các dạng bản trần thuật khác nhau Như vậy, bút pháp tự sự mê lộ trong tác phẩm của G.G.Márquez thể hiện rõ nhất qua thủ pháp xây dựng những mê cung thời gian, tự sự đa chủ thể, cốt truyện đa tuyến, và sự đan kết giữa hiện thực và hoang đường

Ngoài các tác giả trên, nhiều nhà văn khác cũng lấy mê lộ làm đề tài sáng tác, biểu hiện trong thủ pháp xây dựng hình tượng không gian hay hiệu ứng tâm lý của độc giả khi đọc tác phẩm như

trường hợp Trong mê cung của R Grillet (Pháp) hay Mê lộ của Phạm Thị Hoài (Việt Nam)…

Nhìn chung, nếu so sánh với F.Kafka và J.L Borges thì kiểu kể chuyện bằng kĩ thuật mê lộ trong tác phẩm của G.G.Mázquer đã đi theo một hướng khác dầu cùng xuất phát từ tính chất của mê

lộ Cũng kiểu thời gian bất tận của mê lộ nhưng G.G Márquez đã vẽ nên những vòng tròn trùng lặp song trùng từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo nên kiểu thời gian mê cung tuần hoàn đồng tâm Với J.L.Borges, thời gian là vô tận rẽ nhiều hướng bất tận Nếu phương thức tự sự mê lộ trong tác phẩm của J.L.Borges thể hiện rõ qua cấu trúc câu thì với G.G.Márquez kĩ thuật mê cung lại thể hiện trong việc đan xen nhiều tuyến tự sự, nhiều tầng lớp hiện thực, tự sự đa chủ thể hay cảm quan đa trị…Vì thế, ta thấy, tuy cùng chịu ảnh hưởng của cảm quan mê lộ và có chủ ý thể hiện bằng kĩ thuật mê lộ trong tác phẩm của mình nhưng mỗi tác giả đều có những sáng tạo riêng làm nên phong cách đặc trưng của riêng mỗi người

Tuy nhiên, đi qua một số nhận định về đề tài mê lộ hay phương thức tự sự mê lộ trong tác phẩm của một số tác giả trong lịch sử văn học nhân loại, chúng tôi không nhằm khẳng định sự khác nhau hay giống nhau trong bút pháp tự sự của họ mà muốn chỉ ra rằng phương thức tự sự này đã có

từ lâu trong văn chương, đồng thời đã tạo thành một vệt nối dài trong văn học mà mỗi tác giả có một đặc sắc riêng Và Paul Auster là một tác giả thời đương đại, ở một mức độ nào đó có thể đã tiếp nhận một sự ảnh hưởng nhất định từ thế hệ các nhà văn đi trước Tiếp nối truyền thống ấy, Paul Auster đã tạo ra cho mình một bản sắc riêng, một văn phong đặc sắc của dòng văn học hậu hiện đại Hình tượng không gian mang tính chất mê cung sẽ là điểm đến đầu tiên khi chúng tôi tìm hiểu vấn đề tự sự trong một số tiểu thuyết của Paul Auster

Trong tác phẩm tự sự, không gian nghệ thuật là một trong những hình tượng được tác giả chú ý khắc họa Bởi vì đó là nơi nhân vật hoạt động, phiêu lưu cũng như xảy ra các sự kiện và phát triển diễn biến của cốt truyện Với Paul Auster cũng vậy, ông đã xây dựng một kiểu không gian nghệ thuật đặc trưng trong tác phẩm của mình, đó không chỉ là nơi để nhân vật thực hiện hành trình, còn

là một trong những hình tượng để nhà văn thể hiện quan niệm về thế giới và nhân sinh Tiểu thuyết của ông xuất hiện nhiều kiểu dạng không gian khác nhau từ con đường, căn phòng, nhà ga cho đến

Trang 32

bầu trời…Tuy nhiên, đi vào trọng tâm của hình tượng không gian mê cung trong tác phẩm của Paul Auster, chúng tôi sẽ chú ý đến hai kiểu không gian tiêu biểu nhất: con đường và căn phòng biểu hiện cho cảm quan mê lộ mà chúng tôi sẽ gọi chung là hệ không gian mê cung Hai kiểu không gian này có thể sẽ hiện ra trong tác phẩm là chính nó nhưng đôi khi sẽ biến tướng thành những kiểu không gian khác Đồng thời, chúng cũng có thể gắn liền với những hình ảnh không gian khác như cánh cửa, tấm gương để tạo nên ý nghĩa biểu tượng của dạng không gian mê cung

Đặc điểm chung của không gian mê cung trong sáng tác của F.Kafka theo nhận định của Lê

Văn Mâu là “sự xuất hiện của những yếu tố ngẫu nhiên, biến hóa dị thường, gây tâm lý bất an và

làm mất phương hướng nhân vật chính và đẩy nhân vật chính vào kết thúc bi kịch và cái chết như là định mệnh đã an bài” [92, tr 87] Những cảm giác này trở đi trở lại với con người mọi thời đại Tuy

nhiên, trong văn học hậu hiện đại, cảm giác ấy thường xuyên xuất hiện và khi ấy họ thấy mình dường như luôn luôn lang thang trong một mê lộ vô định Một mê lộ mà con người bắt buộc phải sinh thành, tồn tại và luôn dịch chuyển trong nó Mê lộ đã trở thành thứ không gian ám ảnh bao nhà văn, trong đó, có Paul Auster

Con người luôn tồn tại trong một không gian và một thời gian Không gian tồn tại là một trong những nhân tố có tác động lớn đến việc sinh thành tư tưởng của con người Ngược lại, tồn tại trong mỗi thời đại xã hội khác nhau, con người cũng tư duy khác nhau về hình tượng không gian Từ những năm năm mươi của thế kỉ trước, với sự phát triển tột bậc của khoa học, đã tạo nên những thay đổi lớn trong tư duy nhân loại Trong văn học, cùng với sự thay đổi của thủ pháp nghệ thuật, quan niệm về con người…hình tượng không gian nghệ thuật qua cái nhìn của nghệ sĩ cũng có nhiều biến đổi Có thể nó sẽ được kéo căng, tách hoặc chồng lên nhau, có thể tạo nên những không gian

ảo hoặc thực…Đặc biệt, khi nghĩ về mê lộ, bao giờ hình tượng không gian cũng mang một sức gợi lớn Đó là hình ảnh mê lộ mà ta thường thấy qua những con đường như vô tận nối đuôi nhau rẽ ngả bất ngờ, những hành lang nối dài hun hút đến vô cùng, những căn phòng vừa nhỏ bé tối tăm, vừa ngột ngạt bưng bít, vừa giam cầm sự sống Trong nhiều tiểu thuyết của Paul Auster, xuất hiện dạng hình tượng không gian như vậy Hình ảnh những con đường nhiều rẽ ngả, hình ảnh bầu trời liên tục thay đổi, hình ảnh không gian quảng trường náo động và đặc biệt hơn nữa hình ảnh không gian căn phòng trong mối tương quan với bóng tối trở đi trở lại trong tác phẩm của ông Nó gợi đến không gian mê cung trong thần thoại Hi Lạp biểu trưng cho sự rắc rối, phức tạp, nhiều đoạn giao nhau, vừa gợi đến cõi hư vô Dường như chúng luôn mang trong mình bản chất về một thế giới hỗn mang, về những hiện sinh phi lý, về những ám ảnh của một cõi chết chóc…

Tiếp cận hình tượng không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Paul Auster dưới góc nhìn mê

lộ, chúng tôi muốn đi vào tính chất cũng như những ý nghĩa biểu tượng

Trang 33

1.2.1 Không gian con đường

Không gian nhân vật thực hiện hành trình luôn luôn và bao giờ cũng được hiện ra trong hình ảnh những con đường dài ngoằn nghèo, hun hút, nhiều ngả rẽ hoặc những hành lang tối tăm chập

chùng liên tiếp nối dài Không gian mê cung trong Lâu đài, trong Hang ổ…của F.Kafka là như vậy Những con đường nhiều ngả rẽ mờ ảo trong Công viên của những lối đi rẽ hai ngả hay trong Mê

lộ II của J.L Borges cũng như vậy:

“Sẽ chẳng bao giờ có một cửa Mi đã ở bên trong

và thành quách sẽ ôm gọn thế giới,

không có mặt phải, chỉ có mặt trái,

không có tường mặt ngoài cũng chẳng có sân trong kín đáo,

chớ mong rằng sự đúng mực của con đường mi,

con đường ương ngạnh cứ rẽ vào lối khác, cứ ương ngạnh rẽ vào lối khác

sẽ kết thúc Số phận mi là sắt đá…” [12, tr 56]

Tiếp nối truyền thống của các bậc tiền bối đi trước, trong tiểu thuyết của Paul Auster, chúng ta cũng sẽ bắt gặp hình ảnh những con đường cứ nối tiếp và rẽ ngả theo bước chân của nhân vật Kiểu không gian ấy chúng tôi gọi là không gian dịch chuyển Không gian dịch chuyển có thể là những nhà ga náo động, những công viên, những quãng trường, những hình ảnh bầu trời… Nơi ấy, đều có thể tồn tại những thế giới thực và ảo xen lồng trong nhau và biến đổi liên tục Nhưng, chúng tôi chú

ý hơn hết đến kiểu không gian con đường Bởi vì, không gian con đường cũng là một trong những

motif quan trọng trong tác phẩm văn học “vì nó là yếu tố không gian chủ đạo tổ chức nên hệ thống

hình tượng của tác phẩm” [27, tr 179] Đồng thời, đó là kiểu không gian xuất hiện với tần suất cao

bên cạnh kiểu không gian căn phòng - bóng tối trong tác phẩm của Paul Auster, là nơi xảy ra nhiều

sự kiện ngẫu nhiên, biến đổi cuộc đời nhân vật, nơi họ thực hiện những hành trình, nơi giao nhau của không gian và thời gian… Quả thật, con đường là một trong hai kiểu không gian chủ đạo thể hiện hình ảnh nhân vật đang hành trình trong thế giới mê cung xuyên suốt tiểu thuyết của Paul Auster Đó là một trong hai địa điểm chính để thám tử thực hiện hành trình trinh thám nhằm phát hiện tội phạm thật sự hay như theo Lê Huy Bắc cũng là hành trình thám tử trinh thám chính bản thân mình Cũng là nơi các nhân vật hành trình của cuộc sống cô độc và lang thang

Thử một lần dõi theo bước đi của họ, người đọc sẽ dễ dàng nhận thấy hình ảnh những con đường rẽ đôi hay những ngã ba đường trong tác phẩm của Paul Auster giống như những con đường

mà nhân vật Yu Tsun trong Công viên của những lối đi rẽ hai ngả của J.L.Borges đã đi qua Như

những con người đang lạc lối trong mê cùng, họ cứ lẩn quẩn, quẩn quanh trên những con đường rẽ ngả, loay hoay đi tìm lối ra Đó là bước chân lang thang đơn độc trong vô định ở một chốn vô định

Trang 34

với một tâm trạng vô định, hoảng loạn, mất phương hướng Nơi ấy, họ phải đối mặt với những ngẫu nhiên, xui rủi trong cuộc đời như những ngẫu lực vô hình đẩy con người di chuyển trong mê cung Không gian mê cung trong tiểu thuyết của Paul Ausetr được tạo ra qua những bước lang thang

vô định của nhân vật trong thành phố NewYork, trước hết là những mê cung hữu hình Ông đã từng

ví von thành phố NewYork là một mê cung được tạo nên bởi sự nhập nhằng của những con đường Quinn trong Thành phố thủy tinh là người thích đi lang thang trong không gian rộng lớn của thành

phố NewYork Chỉ ở nơi đó, anh thấy mình như ở nơi vô định “NewYork là một chốn không cùng,

một mê cung vô tận, và dù hắn có đi xa đến mấy, có quen thuộc những con đường và các khu phố đến mấy hắn vẫn luôn có cảm giác bị lạc Không những lạc trong cái thành phố ấy, mà còn lạc ngay trong bản thân mình” [1, tr 16] Trong mê cung này, những con đường liên tục rẽ ngả hiện ra

Đó là những con đường khi Quinn theo dõi Stillman, mỗi ngày Stillman đi theo lộ trình khác nhau

khác nhau nhưng vẫn lẩn quẩn trong một khu hạn định của bốn bức tường như mà “Phố 110 về phía

Bắc, Phố 72 ở phía Nam, công viên Riverside ở phía Tây và Đại lộ Amsterdam ở phía Đông…” [1,

tr 104]

Đó cũng là hình ảnh con đường mà Stillman “bước dọc theo những lối đi trải đá một cách rất

nền nếp hoặc đi loạn qua các bụi cỏ với một cái gậy trong tay mỗi ngày”.[1, tr 104] được Quinn

ghi chép cẩn thận và được thể hiện qua dạng sơ đồ Anh phát hiện ra lộ trình ấy có thể biểu trưng

cho nhiều hình ảnh không gian khác Kết quả ghi chép ngày đầu tiên cho thấy nó “trông hơi giống

bản đồ của một tiểu bang giả tưởng nào đó ở vùng Trung Tây” [1, tr.116], hoặc có thể giống một

hình chủ nhật Càng nhìn, Quinn càng thấy nó giống chữ “O” Các ngày tiếp theo cũng được anh xem xét một cách tương tự và kết luận chúng có hình dáng tương tự với các chữ cái khác Chẳng

hạn, lộ trình ngày kế tiếp có thể giống như hình ảnh “một con chim săn mồi với hai cánh dang rộng,

đang lơ lửng rất cao trong không trung”[1, tr 117], hoặc cũng có thể là “hai hình ảnh trừu tượng nối với nhau bằng một cái cầu bé xíu”[1, tr 117], cũng có thể đó là hình ảnh của chữ “W”

Ngày hôm sau nữa cho hắn một chữ “O” méo mó, một cái bánh tròn bị bẹp một bên và bên kia thì thò ra mấy đường dích dắc Rồi đến một chữ “F” gọn gàng, với mấy nét lượn thêm vào rất điệu đà ở một bên Sau đó là chữ “B” trông như hai cái hộp đặt chồng lên nhau một cách hú họa, thấy cái vỏ bào lót hộp loăn xoăn thò ra ngoài mép Tiếp theo đó là một chữ “A” nghiêng ngả hơi giống một cái thang gập có bậc hai bên Và cuối cùng là một chữ

“B” nữa: chênh vênh trên một điểm tựa duy nhất như một kim tự tháp lộn ngược [1, tr

120]

Mỗi bước chân của Stillman như những nét vẽ vô tình chạm khắc vào không khí tạo nên hình ảnh không gian của những con đường vòng vèo giống như những mê cung nối dài hun hút nhưng

Trang 35

hoàn toàn theo những hướng khác nhau mỗi ngày Nay, chúng lại được hiện hữu qua những bản vẽ

có thể biểu đạt cho những ý nghĩa khác, giống như những chữ cái Bởi vậy, sau khi kết nối tất cả các

dữ kiện, Quinn đã lắp ghép được dòng chữ “The tower of Babel” Nó gợi đến một kiểu không gian

có trong huyền thoại Sáng thế kí, chính là hình ảnh ngọn tháp Babel mà Stillman có nhắc đến trong

cuốn sách của ông Không gian ngọn tháp vừa là biểu tượng cho khát vọng của con người muốn

vươn tới thần linh, vừa hàm ẩn cho sự vươn lên của con người sau sa ngã Nó “có dáng dấp vươn

tới các tầng trời, các biểu tượng phục sinh của ý trí nhân loại” [1, tr 89] Đó cũng là không gian ảo

trong những huyền thoại xa xưa Quinn biết được qua cuốn sách của Stillman, cũng là khát vọng của người Mỹ, một giấc mơ Mỹ đi tìm một thiên đường Như vậy, phải chăng để nhân vật lang thang vô định trên những con đường như hun hút trong mê lộ là một cách nhà văn đưa họ vào những hành trình, đi tìm mục đích thật của sự sống?

Như chúng ta đã biết, không gian mang tính chất mê cung không phải đến Paul Auster mới

xuất hiện mà đã có từ trước đó với F.Kafka hay J.L.Borges hay cả R.Grillet Hang ổ của F.Kafka có

kiểu không gian mê cung nhiều ngóc ngách, hun hút, ngoằn nghèo Và như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, mê cung rắc rối này của con vật cũng chính là mê cung trong nội tâm đầy hoang mang,

lo lắng của nó Cũng có thể thấy mê cung những con đường dài hun hút dưới bão tuyết, những

đường đi mà K trong Lâu đài của F.Kafka đã đi qua và tưởng chừng như đã đến đích nhưng hóa ra

lại phải tiếp tục hành trình bằng cách rẽ vào những lối khác, và cứ thế cho đến cuối tác phẩm, nhân

vật chẳng thể nào bước vào được trung tâm Cho đến mê cung thành phố trong Trong mê cung

(1959) của R.Grillet cũng hiện ra với những lối vòng vo Theo nhận định của Bruce Moorrissette

(nhà phê bình người Pháp), “ngay từ đầu, mê cung- thành phố nơi người lính lạc lối- xuất hiện

trước chúng ta như một bát đồ trận vừa là chất liệu trơ lì vừa là ảo ảnh lo âu” [45, tr 174] Tất cả

hiện ra qua sự “dao động giữa căn phòng và những tiêu điểm khác như tiệm cà phê, đường phố,

hành lang và những căn hộ trong các tòa nhà cao tầng… Không gian Trong mê cung là một “thành

phố - mê cung: những đường phố giống hệt nhau, với những đoạn giao nhau đều đặn và cùng những dãy nhà như nhau, những khung cảnh trung tính, nhạt nhẽo trống rỗng, những cụm tuyết rơi xuống cách quãng đều đều, giống như một cấu trúc cứng đờ chậm chạp chuyển dịch xuống dưới”

[45, tr 174-175]

Thế nhưng, với các tác giả trước đó, nếu nhân vật của họ cứ lẩn quẩn trong mê cung và không thể nào tìm ra lối, hoặc đối mặt với cái chết thì với Paul Auster, tuy nhân vật cũng luôn lang thang hay thực hiện hành trình trong tâm trạng bất an, mất phương hướng hay thậm chí hoảng loạn trên những con đường nhiều ngả rẽ, vòng vèo, ngoằn nghèo nhưng họ vẫn đang tiếp tục hành trình và lao vào phía trước để mở ra những hành trình khác

Trang 36

Chúng ta có thể thấy rõ qua hành trình Quinn lang thang với tâm trạng hoảng loạn và mất phương hướng ở thành phố NewYork trên những con đường dích dắc nối dài vô tận luôn luôn rẽ ngả vào lúc anh để mất dấu vết của Stillman

Hắn đi theo Broadway xuống đến Phố 72 thì rẽ trái đến đường Central Past West, lại theo đường ấy xuống Phố 59, chỗ bức tượng Colombus Đến đó thì hắn lại rẽ trái, đi dọc Central Park South cho đến Đại lộ Madison thì rẽ phải và đi xuống nhà ga Grand Central Sau khi lòng vòng quanh mấy ngã tư, hắn đi tiếp một dặm nữa xuống phía Nam đến chỗ Broadway cắt Đại lộ ở Phố 23, đứng đó nhìn tòa nhà mỏng dính Flaration một lúc, rồi chuyển hướng đi sang phía Tây cho đến lúc gặp Đại lộ 7, đến đó thì rẽ trái và đi xuống tiếp phía Nam Đến quảng trường Sheridan lại rẽ trái, lang thang xuống chỗ Wavery Place, vượt qua Đại lộ 6 và tiếp tục đi đến quảng trường Washington Hắn đi qua dưới cổng vòm cuốn của quảng trường và chen qua các đám đông về phía Nam, đứng lại một lúc xem một người tung hứng biểu diễn trong khi đi trên dây căng giữa một cột đèn và một thân cây Rồi hắn rời quảng trường công viên ở góc Đông Nam, đi qua khu nhà của đại học Houston Đến đường West Broadway thì hắn lại rẽ, lần này thì sang trái, và đi mãi cho đến đường Canal Đi chéo sang phải một tí, hắn qua một mảnh công viên nhỏ rồi vòng lại vào phố Varick, đi qua nhà số 6 là nơi trước đây từng ở, rồi lại đi về phía Nam cho đến chỗ West Broadway lại nhập vào với Varick Hắn theo West Broadway xuống đến Trung tâm Thương mại Thế giới…Sau đó, hắn lại đi về phía Đông, loanh hoanh qua những con phố hẹp của khu tài chính, rồi đâm xuống phía Nam đến tận Bowling Green, nơi hắn có thể nhìn thấy biển và những con hải âu chao lượn trên mặt nước giữa trưa nắng Hắn đã định lên phà sang bên đảo Staten, nhưng rồi lại thôi và bắt đầu đi sang quay lên phía Bắc Đến phố Fluton hắn rẽ phải và đi dọc đường East Broadway theo hướng Đông Bắc, xuyên qua khu vực dơ dáy của khu Đông Hạ thành phố rồi lên khu phố Tầu Từ đó, hắn tìm ra đường Bowery dẫn lên phố 14 Đến đó hắn vòng sang trái, đi chéo qua Quãng trường Union, và

đi tiếp lên đại lộ Park… [1, tr 173]

Bước chân lang thang của Quinn vẫn còn được tác giả tiếp tục miêu tả với những rẽ ngả như vậy Đây là hình ảnh của một con người đã để bản thân mình bị lạc trong một nơi quen thuộc khi đánh mất phương hướng trong cuộc sống Anh đã đi lang thang, vô mục đích, theo những con đường liên tục rẽ ngả không định trước Tuy nhiên, sau những bước chân vô định, anh vẫn phải tiếp tục hành trình bằng chính con đường anh tự vẽ ra và tiếp tục lao vào “hành trình trinh thám chính bản thân mình”

Trang 37

Lam trong Những bóng ma cũng vậy, anh thực hiện những chuyến lang thang trong quá trình

theo dõi

Đó là một buổi sáng lặng gió, yên ắng đến mức hắn có thể nghe thấy tiếng tuyết rơi trên vòm cây Chẳng có ai khác ở đó, và Đen đã để lại những vết chân hoàn hảo trên hè phố trăng phau Lam theo những vết chân ấy đến gốc phố thì thấy Đen đang đi xuống con phố tiếp theo, như thế đang hưởng thụ tiết trời hôm đó Không phải là hành vi của một kẻ định

bỏ trốn, Lam nghĩ bụng và chậm chân lại Qua hai phố nữa thì Đen vào một tiệm rau quả nhỏ, ở trong đó hai mươi phút, rồi trở ra với hai bịch giấy nâu chất nặng các thứ Không

để ý gì đến Lam đang đứng dưới một vòm cổng bên kia đường, gã bắt đầu lần bước trỏ lại phố Orange…[1, tr 224]

Không di chuyển trên những con đường ngả rẽ liên tục như Quinn trong Thành phố thủy tinh,

O Brick trong Người trong bóng tối cũng đi trên những con đường nhưng có cảm giác rất lạ lùng

và ma quái khi bước vào một thế giới hoàn toàn xa lạ với sự hoang tàn, đổ nát và chết chóc của chiến tranh Đó là thành phố Wellington, nơi O.Brick được đưa tới và đối diện với bản án vô hình nếu không ám sát được người đã tạo ra cuộc chiến thì anh sẽ phải đối diện với cái chết Đó là con đường anh phải đi vào buổi sáng đầu tiên thức dạy ở chốn kì lạ là nước Mỹ nhưng không phải là nước Mỹ Ta thấy

đi thêm năm sáu dặm đường nữa thì các dấu hiệu của một sự sống bắt đầu xuất hiện – mà

là dấu hiệu của sự sống đã chấm dứt thì đúng hơn: nhà cửa cháy rụi, chợ búa đổ nát, một con chó chết, xác xe cộ bị nổ tung Một bà già quần áo tả tơi đẩy một cái xe mua hàng chất đầy những thứ lỉnh kỉnh đột ngột hiện ra ngay trước mắt hắn [3, tr 37]

Không gian dịch chuyển còn là những nẻo đường nước Mỹ mà Nashe trong Nhạc đời may rủi

du hành từ “những vùng hoang vắng và rộng rãi ở phía Bắc tiểu bang NewYork và vùng New

England ” [2, tr 24], và cho đến “xứ sở nông trại bằng phẳng ở miền Trung Tây, những miền hoang

mạc miền Tây” [2, tr 24] Trên những con đường phiêu lưu ấy, đôi khi Nashe bị lạc đường do đột

ngột rẽ vào những ngả không hề định trước rồi cứ chạy mãi theo vô thức mà cũng không buồn quay lại theo dự tính Và cũng chính trên những ngả đường rẽ đột ngột này, anh đã gặp Pozzi một cách ngẫu nhiên như định mệnh cuộc đời để cuối cùng xô đẩy nhau vào một trò chơi may rủi dẫn đến kết cục bi thương của hai kẻ xa lạ đã tình cờ gặp nhau

Con đường Nashe và Pozzi đến tòa lâu đài của Flower và Stone trong một buổi chiều “lãng bãng

sương mù” [2, tr 93] cũng như đang đi trong mê cung Con đường họ đi trải dài từ đường hầm

Lincoln, những xa lộ của tiểu bang NewYork ven sông Delaware cho đến cây cầu ở Frenchton sang

tiểu bang Pennsylvania Đến đây, họ phải qua nhiều chỗ ngoặt phức tạp và “thấy mình đi chậm như

Trang 38

rùa dọc theo những con đường nhỏ ngoằn nghèo”[2, tr 101] Rồi lần theo những chỉ dẫn như cây

cầu có mái che, một hộp thư màu lam hay một tảng đá có vẽ một vòng tròn màu đen, họ cảm thấy hoàn toàn như “đang đi trong một mê cung, và khi đến được chỗ rẽ cuối cùng, cả hai đều phải công

nhận là khó có thể tìm đường trở lại sông như trước”[2, tr 102] Và cho đến khi tác phẩm kết thúc,

ta thấy rằng từ khi bắt đầu hành trình trên con đường định mệnh trong mê cung, những ngả rẽ bất ngờ kì lạ, Nashe và Pozzi hầu như đã không hề có cơ hội quay trở lại mà chỉ lao vào phía trước

Không gian con đường, biểu tượng chỉ sự dịch chuyển liên tục trong Nhạc đời may rủi tồn tại

song song với một dạng không gian dịch chuyển đặc biệt khác, đó là hình ảnh chiếc xe Saab đỏ, vật gắn liền với hành trình phiêu lưu của nhân vật Nashe Anh sống cô độc trên chiếc xe Saab đỏ và băng băng mỗi đêm tối qua bao nhiêu nẻo đường tự do Thậm chí, ngôi nhà sau này Nashe ở cùng với Pozzi trong thời gian xây dựng bức tường cũng được làm từ một cái rơ-mooc, thực ra đó là một dạng của chiếc xe, kiểu không gian gắn liền với con đường và những cuộc hành trình Nó vừa như căn phòng cho anh cư ngụ và trốn tránh những đau khổ, đối diện với cô độc và hư vô, cũng là phương tiện giúp anh dịch chuyển và lao vào hành trình dịch chuyển bất tận

Chiếc xe trở thành cõi an toàn bất khả xâm phạm, một nơi ẩn náu trong đó không gì có thể làm anh tổn thương được nữa Cứ lái xe là anh cất được hết mọi gánh nặng, không mảy may vướng bận một điều gì của những quãng đời trước đây nữa Nói vậy không có nghĩa là

ký ức đã không còn dâng lên nữa trong anh nữa nhưng hình như chúng đã không còn dằn vặt như xưa [2, tr 23]

Con đường vừa là nơi để Nashe đối diện với bản thể cô đơn và đưa anh vào mê cung của những may rủi trong cuộc đời, vừa là điểm đưa anh đến chặng “dừng chân” cuối cùng trên hành trình phiêu lưu Vào lúc vừa thực hiện xong bản giao kèo để trở lại với tự do, nhưng cũng vào chính lúc này, anh lại mãi mãi đánh mất nó một lần nữa khi kết thúc hành trình, đi về bên kia thế giới vào đêm sinh nhật lần thứ ba mươi bốn Điểm kết thúc của anh cũng ở trên đường và cũng trong chiếc

xe Saab đỏ Trên con đường quê vắng vẻ nhỏ hẹp và ngoằn nghèo, anh vừa chạy xe vừa hồi tưởng

lại những con đường đã đi qua Đó là những con đường đầy tuyết với tiếng quạ kêu “Tuyết nhào

xuống đập liên tục vào kính trước và trong tâm trí, anh thấy những con quạ đang chao lượn trên bãi

cỏ, kêu những tiếng kêu bí hiểm trong lúc anh nhìn chúng bay qua trên đầu ” [2, tr 321] và không

thể phân biệt được tiếng đàn của Mozart hay của Haydn khi tăng tốc bất ngờ Lúc tiếng đàn đột ngột tắt, cũng là lúc anh mất tay lái lao vào ánh đèn pha phía trước với tốc độ khủng khiếp Đó là kết thúc cuộc đời của Nashe Định mệnh ấy đã diễn ra trên chính chiếc xe Saab đỏ và trên con đường, nơi anh khao khát đi tìm tự do

Trang 39

Như vậy, hầu hết các nhân vật của Paul Auster trong một số tiểu thuyết chúng tôi đã khảo sát đều di chuyển liên tục trên những con đường, đây cũng là kiểu không gian đặc trưng và tiêu biểu mà mỗi nhân vật của ông sinh tồn Họ không lấy nhà làm điểm tựa bình yên, là nơi trú ẩn thường trực như bao người Họ xem con đường đi mới là “ngôi nhà” thực sự Ở đó, họ lang thang, lạc lõng và

bơ vơ Thậm chí biết rằng mình sẽ bị lạc trong mê cung hun hút ấy vẫn cứ lao vào bởi vì họ sẽ an tâm khi được ở nơi vô định này Quinn đã từng như vậy trong mê cung thành phố NewYork Theo

lời người kể chuyện trong Thành phố thủy tinh, trong khi lang thang như vậy, Quinn “mới có thể

cảm thấy đúng là mình đang ở một nơi vô định Và rốt cuộc thì đó là tất cả những gì hắn mong đợi: được ở nơi vô định NewYork là một chốn vô định hắn đã xây cất được xung quanh mình, và hắn nhận ra rằng hắn sẽ không bao giờ có ý định rời bỏ nó một lần nữa” [2, tr 17] Nashe cũng đã từng

như vậy khi lang thang trên chiếc Saab đỏ hơn một năm trời trên đường chỉ để thỏa cái khát vọng

mơ hồ- thích đi, thích di chuyển liên tục Vì vậy, mê cung này không chỉ còn là những con đường

mà còn là những mê cung nội tâm của nhân vật Ở đó, con người cảm thấy an toàn hơn Họ sẽ cảm thấy an toàn trong một cõi mê cung của những con đường vô định

Như vậy, với Paul Auster, một trong những không gian mà mỗi cá nhân trong xã hội này có thể sinh tồn chính là mê lộ của những lối đi không định trước và có thể rẽ ngả bất cứ lúc nào Nó biểu trưng cho một cõi mê lộ hỗn mang, cõi hỗn mang mà theo J.L.Borges nếu thế giới là một mê lộ thì con người sẽ an tâm tồn tại vì nó sẽ có một trung tâm và chúng ta sẽ đích đến cuối cùng chỉ khi nào vượt qua mê lộ này Tiếp thu quan niệm của J.L.Borges cũng như chịu ảnh hưởng bởi không khí xã hội những năm cuối thế kỉ XX trong một thời đại “phẳng” của những mạng lưới chằng chịt hữu hình lẫn vô hình, Paul Auster đã xây dựng hình tượng không gian con đường biểu trưng cho những mê cung hun hút muôn nẻo mà nhân vật lấy làm “ngôi nhà của mình” Ông cũng đã nói hộ cho nhân loại rằng thế giới mà chúng ta sinh sống, với mỗi người đã là một mê lộ, dù chúng ta có

hoang mang thì nó vẫn hiện hữu như nhiên Bởi vì chắc chắn rằng mê lộ đã nảy sinh như là ký ức

về vũ trụ, chính là cội nguồn của nhân loại, cái cội nguồn vô tận, hỗn loạn và vĩnh cữu Mê lộ chính

là sản phẩm của nỗi khắc khoải ngày càng lớn, theo đuổi con người suốt toàn bộ cuộc phiêu lưu văn minh của mình”[38, tr 152]

Như vậy, những con đường vừa gợi ra hình ảnh của không gian trong đó con người dịch chuyển liên tục, vừa là dấu hiệu đẩy nhân vật vào hành trình đi trong mê lộ Và để vào được bên trong mê lộ cũng như phát hiện được trung tâm tinh thần, nhân vật của Paul Auster phải trải nghiệm cuộc sống của mình trong một không gian đặc trưng khác của mê cung, là căn phòng gắn liền với bóng tối

Trang 40

1.2.2 Không gian căn phòng

Cùng với kiểu không gian dịch chuyển để đẩy nhân vật vào hành trình, một kiểu không gian nữa tượng trưng cho nơi tù túng, ngột ngạt, bưng bít, nơi giam cầm con người và xa rời sự sống, nơi của những ác mộng, nơi của cả thế giới thực và ảo đan quyện trong nhau, cũng là nơi con người cô đơn và đối diện với bản thể vô định, đó là không gian căn phòng – bóng tối và nhiều biến thể của nó như không gian cái hộp, cái hố, lỗ huyệt, ngõ cụt, bức tường

Nhân vật trong tiểu thuyết của Paul Auster thường là những hành nhân đơn độc và thực hiện nhiều hành trình một cách thầm lặng Chính vì vậy, nơi họ tồn tại là những không gian cô độc, ngột ngạt, tối tăm, bưng bít sự sống, và thường gắn liền với bóng tối Đó là hình ảnh không gian căn phòng và nhiều biến thể của nó như không gian chiếc xe, cái hộp, cái hố, bức tường…Ở trong đó,

nhân vật của Paul Auster thực hiện những dòng suy tưởng bất tận về ý nghĩa của cuộc đời, về thế giới Kiểu không gian căn phòng với sự phủ trùm của bóng tối xuất hiện với tần suất cao trong tiểu thuyết của Paul Auster khiến độc giả không thể không liên tưởng về hình ảnh những mê cung tối tăm của vua Minos trên đảo Crète vào thuở hồng hoang xa xưa Với cảm quan ấy, cặp đôi hình ảnh căn phòng - bóng tối trở thành kiểu không gian chủ đạo làm nên thế giới nghệ thuật độc đáo trong sáng tác của ông

Căn phòng hay ngôi nhà thường biểu trưng cho mái ấm của gia đình, ở đó, mỗi người sống trong sự chia sẻ nâng đỡ và tình yêu thương Ngược lại, hình tượng căn phòng trong tiểu thuyết của Paul Auster ẩn dụ cho sự cô đơn và những nỗi ám ảnh, mất mát, tổn thương, đau đớn; sự trốn chạy

hiện tại; cũng là nơi con người thường xuyên sống với thế giới tưởng tượng Ở Thành phố thủy

tinh, Quinn một mình sống trong căn hộ của mình đã năm năm từ ngày vợ và con trai qua đời Cuộc đời hiện tại của anh cuối cùng cũng chỉ như một cuộc chạy trốn khỏi mất mát ấy bằng cách phiêu

lưu trong một hành trình trinh thám Hay khi anh đến sống ở nhà Peter, đó cũng chỉ là một “căn hộ

trống trơn, không còn một thứ gì trong tất cả các phòng Mà phòng nào cũng hệt như phòng nào:

một cái sàn gỗ và bốn bức tường trắng” [1, tr 203] Suốt quá trình theo dõi Đen, Lam trong Những

hoàn toàn với sự sống thường nhật trước đây

Cảm quan đơn độc là màu sắc chung xuất hiện với nhiều nhân vật của Paul Auster Nhạc đời

may rủi đưa ta vào thế giới may và rủi, được và mất của cuộc sống, tất cả đan trộn vào nhau trong

“thoáng chốc” đơn độc của nhân vật Nashe Hành trình của anh bắt đầu từ sự ra đi của vợ, từ đó anh

đã sống một mình cô độc trong căn nhà thuê ở“cái tầng dưới buồn thảm ấy của ngôi nhà hai hộ gia

đình ở Somerville”[2, tr 8] Sau này, cái rơ-mooc được trang bị đầy đủ tiện nghi và biến thành ngôi

nhà cho Nashe và Pozzi sống trrong thời gian họ trả nợ cho Flower và Stone bằng cách xây bức

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w