Thuật ngữ mê lộ

Một phần của tài liệu Tự sự mê lộ trong tiểu thuyết paul auster (Trang 23 - 46)

Nếu ai đã từng đọc và suy ngẫm về tiểu thuyết của Paul Auster, chắc chắn sẽ không thể không có cảm giác dường như ta đang lạc vào một mê hồn trận với hình ảnh của những con người đang đi trong mê lộ và những con đường liên tục rẽ ngả. Những hình ảnh ấy biểu trưng cho không gian mê lộ rối rắm, phức tạp, tối tăm. Vậy phải chăng cảm hứng về mê lộ đã chi phối đến sáng tác của Paul Auster? Kĩ thuật tự sự ấy biểu hiện như thế nào trong tác phẩm của ông? Qua đó, tác giả muốn nói gì về thế giới và con người được nhìn nhận bằng “cảm quan hỗn mang” trong xã hội đương đại Mỹ?

Để trả lời những câu hỏi này, trước hết, nhất thiết phải hiểu rõ về bản chất của mê lộ.

Theo nghĩa thông thường nhất, mê cung được dùng để chỉ “công trình kiến trúc, thường là tưởng tượng, có nhiều cửa, nhiều lối đi phức tạp, khó phân biệt, người đã đi vào trong thì khó tìm được lối ra” [61, tr. 628]. Còn mê lộ là “đường đi lạc, khó tìm được lối ra” [61, tr. 628]. Nó cũng thường được sử dụng để chỉ “con đường lầm lạc” [61, tr. 628]. Như vậy, dù là mê lộ hay mê cung thì chúng vẫn nói đến những không gian được xây dựng theo một kiểu rất rắc rối, phức tạp khiến con người khi đã lạc vào khó có thể tìm được lối ra. Bởi vậy, chúng cũng có thể để chỉ những con đường lầm lạc.

Tương tự, trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, các nhà nghiên cứu cũng dùng từ mê cung hay mê lộ để chỉ kiểu không gian mà trong đó nó có thể là những công trình, hệ thống phòng thủ hay những con đường nhiều lối đi, ngả rẽ. Nên, chúng tôi cũng sẽ không đi tìm sự khu biệt giữa hai khái niệm này mà sử dụng chúng trong sự giao thoa ý nghĩa với nhau để cùng nói đến một kiểu không gian - mê lộ và mở rộng nội hàm sang các lĩnh vực khác như thời gian, tâm trạng…

Có lẽ, mê lộ (labyrinth) xuất phát từ câu chuyện trong Thần thoại Hi Lạp. Tương truyền rằng mê lộ là khu cung điện của vua Minos được xây dựng tại đảo Crète, (do Dedalus, người xứ Aten thiết kế), để nhốt con quái vật Minotaure nửa người nửa ngựa. Thésee (người xứ Aten) đã tức giận trước hành động độc ác của vua Minos là cứ hằng năm phải cống nạp nhiều người để quái vật ăn thịt. Chàng đã tự nguyện lên đường sang Crète với mong mong muốn tiêu diệt con quái vật này. Khi bị vua Minos nhốt vào mê lộ, chàng đã bình tĩnh chiến đấu và thoát ra khỏi đó nhờ sợi chỉ đỏ dẫn lối của Ariane.

Hình ảnh mê lộ trong thần thoại trên là “một tòa nhà ngục tráng lệ và rối tinh rối mù. Chẳng biết có bao nhiêu phòng, bao nhiêu buồng, còn hành lang thì chằng chịt lên xuống…” [36, tr. 464].

Ở đây, mê lộ chỉ một khối không gian hiện hữu, nhiều phòng, nhiều đường đi rắc rối và phức tạp

được xây dựng nhằm để không ai có thể thoát ra được.Và đồng thời, nó còn tượng trưng cho quyền lực thống trị của vua Minos.

Cũng xuất phát từ cách nhìn về không gian, mê lộ được nhận định như là “dạng bố trí các lối đi giao nhau nhiều ngả, nhiều đoạn rẽ, có những đoạn không đi tiếp được nữa và do đó, thành ra các ngõ cụt không lối thoát đặt chân vào cung này phải tìm cho được lối đi vào tâm điểm của tấn mạng nhện kì quái đó” [13, tr. 591].

Có thể tìm thấy hình ảnh mê lộ trong “các hành lang đi vào hang động thời tiền sử”, “trên các tấm lát nền ở các nhà thờ lớn” [13, tr. 591] hay các điệu múa của Ai Cập, Ấn Độ hay Trung Quốc.

Các mê cung được nói trên vừa phải “mở lối vào tâm điểm bằng một kiểu du hành thụ pháp, vừa phải ngăn lối, không cho vào nơi ấy những kẻ không đủ phẩm chất” [13, tr. 591]. Và đó là “dạng hình tượng hóa những bước thử thách để phân ly trong quá trình thụ pháp, trước khi lần bước vào tới tâm điểm còn ẩn giấu” [13, tr. 591].

Ngoài ra, “mê cung cũng dẫn vào nội tâm của bản thân, tới một thứ điện thờ ẩn giấu bên trong con người, nơi tọa lạc của cái phần huyền bí của nhân tính” [13, tr. 592]. Bởi vậy, khi con người thoát ra khỏi mê cung “sẽ đánh dấu chiến công của tinh thần thắng vật chất, đồng thời cũng của cái vĩnh hằng thắng cái có thể lụi tàn, trí tuệ thắng bản năng, tri thức thắng bạo lực mù quáng” [13, tr.

593].

Có lẽ cũng chính vì vậy mà J.L. Borges cho rằng trước hết mê lộ thường hiện hình qua không gian. “Trong số đó có mê lộ của Crète. Đó là một tòa dinh y hệt một chuồng bò tót, với một số cửa sổ bé tí và một số đường rãnh hẹp” [12, tr. 29]. Ông quan niệm rằng mê lộ có nguồn gốc từ ngôn ngữ Hi Lạp, “labyrinthos mà nghĩa từ nguyên của nó nhằm chỉ những cột chống và lối đi của một hầm mộ, bây giờ nó chỉ một cấu trúc kì lạ, được xây dựng để con người có thể bị lạc” [11, tr. 54].

Cũng theo J.L.Borges, ông cho rằng nếu con người tin rằng có một trung tâm trong vũ trụ thì vũ trụ là một không gian mê lộ. “Trong mê lộ có một trung tâm. Trung tâm đó có thể là khủng khiếp, yêu quái hoặc thánh thiện” [11, tr. 53]. Trung tâm ấy cũng được điều khiển theo một quy luật như sự quay tròn của các hành tinh, những mùa khác nhau trong cuộc sống… Nó được biểu hiện ở không gian và thời gian. Mê lộ trong tác phẩm của ông thể hiện ở “những hệ không gian lồng vào nhau, quay tròn, gắn với luận đề về thời gian, vừa vô tận vừa tuần hoàn…” [80, tr.10]. Đồng thời, J.L.Borges còn chỉ ra rằng mê lộ cũng là “biểu tượng rõ ràng cho tâm trạng bối rối” [12, tr. 29].

Ông lập luận: “bởi vì ý tưởng về một tòa nhà được xây dựng để cho ai đó bị lạc vào trong nó là biểu tượng không thể tránh được của một tâm trạng bối rối” [12, tr. 30]. Như thế, với J.L.Borges, mê lộ vừa là không gian, vừa là thời gian, vừa hiện hữu trong cõi tâm linh vốn rất phức tạp của con người mà chủ yếu xuất hiện qua cách viết của ông.

Quả thật, J.L.Borges đã xây dựng kiểu mê lộ như thế trong tác phẩm của ông. Trong Công viên những lối đi rẽ hai ngả, J.L.Borges không chỉ vẽ ra hình ảnh của những không gian mê lộ qua những con đường liên tục rẽ ngả, đó là những “con đường cứ xuống dốc” hay những con đường mà tại mỗi ngã ba cứ việc rẽ trái…mà ông còn xây dựng kiểu thời gian mê lộ. “Ta nghĩ đến một mê lộ của những mê lộ, đến một mê lộ vòng vo cứ lớn lên, lớn lên bao gồm cả quá khứ lẫn tương lai và bằng một hình thức nào đó nó còn ôm cả các hành tinh..” [12, tr. 217]. Hay “…Cụ tin vào những loại thời gian vô tận, vào mạng lưới cứ lớn lên dần và vần vụ đến chóng mặt của những thứ thời gian chia tách hội nhập và song hành. Cái bẫy ấy của các thứ thời gian vốn tự đến gần, tự rẽ hai ngả, tự đứt đoạn hoặc tự lãng quên đi từng thế kỉ một, thứ thời gian ấy bao gồm tất cả mọi khả năng…”[12, tr. 224].

Nói về mê lộ, nhà nghiên cứu văn học Ngô Tự Lập, người yêu mến J.L. Bosges cho rằng mê lộ là một dạng biểu tượng hướng tới cái toàn thể. “Mê lộ mô phỏng tính vô tận, hỗn loạn và vĩnh cửu. Nói cách khác, mê lộ chính là vô tận, hỗn loạn và vĩnh cửu nhân tạo” [38, tr. 124]. Và “phẩm hạnh lớn nhất của mê lộ là tính phổ quát” [38, tr. 124].

Tóm lại, dù có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng qua khảo sát, chúng tôi cho rằng mê lộ hiện hữu qua không gian, là những con đường quanh co, rắc rối, phức tạp và nhiều ngả rẽ, giao nhau khiến người đi dễ dàng bị lạc lối; những căn phòng tối tăm, ngột ngạt, tù đọng, bưng bít và giam hãm sự sống. Mê lộ cũng được sinh thành trong những kiểu thời gian tuần hoàn đến vô tận. Không những thế, nó còn tồn tại trong thế giới tinh thần rối rắm của mỗi con người mà chỉ đạt được một trạng thái thông tuệ khi họ trải qua một hành trình vượt mê lộ, vượt quá trình “khai tâm thụ pháp”.

Mê lộ có nguồn gốc xuất phát từ cảm quan về hình ảnh của vũ trụ là một khối hỗn mang. Đặc trưng cơ bản của nó là tính phổ quát, vô tận, vĩnh hằng và mang tính biểu tượng hướng đến cái toàn thể.

Trong các tác phẩm văn chương, đề tài viết về mê lộ lâu nay có một sức quyến rũ huyền bí với các thế hệ nhà văn, nhà thơ bao đời. Là hình ảnh biểu tượng mang sức gợi lớn, mê lộ đã chi phối đến cảm hứng nghệ thuật, đề tài của bút pháp tự sự các văn sĩ.

Xuất phát từ cách hiểu trên, để xem xét bút pháp nghệ thuật của Paul Auster trong tiểu thuyết của ông dưới góc nhìn mê lộ, ở luận văn này, chúng tôi tập trung vào vấn đề không gian, cách tổ chức nhân vật và bút pháp trần thuật liên văn bản trong mối quan hệ với mê lộ. Đi vào cấu trúc mê lộ sẽ bật ra hình tượng không gian nghệ thuật, cách xây dựng mê lộ sẽ được làm rõ ở bút pháp xây dựng nhân vật và phương thức trần thuật liên văn bản tạo nên những lớp mê cung văn bản chồng chồng lớp lớp lên nhau bất định một cách phi thực. Và bởi vì, mê lộ là phổ quát nên nó không những chỉ được sử dụng trong việc xây dựng hệ thống pháo đài phòng thủ hay biểu tượng của các tôn giáo mà nó còn trở thành một đề tài phổ biến và tạo nên một vệt nối dài trong tác phẩm văn học

của nhiều nhà văn trên thế giới và mỗi văn sĩ đi sau đều có thể bắt gặp mình trong những thế hệ cha anh đi trước. Mê lộ không tạo nên một dòng văn học chủ lưu nhưng trong tác phẩm của nhiều nhà văn hình ảnh của nó vẫn hiện diện là một niềm ám ảnh lớn như J.L.Borges, như F.Kafka, như G.G.

Márquez…Có lẽ, cũng nằm trong trào lưu này, Paul Auster đã biết đến và chịu ảnh hưởng không ít bởi cảm quan về mê lộ của các nhà văn đi trước. Vì vậy, sau đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu một cách khái quát kĩ thuật tự sự mê lộ trong tác phẩm của một số nhà văn đã tạo nên một vệt nối dài đến Paul Auster.

1.1.2 Khái quát về phương thức tự sự mê lộ

Theo dòng lịch sử văn học của nhân loại, mê lộ đã trở thành một biểu tượng mang một sức quyến rũ lớn đối với các nhà văn, nhà thơ. Nó không những chỉ được lấy làm đề tài mà đã trở thành một kĩ thuật kể chuyện, tạo nên một kiểu kể chuyện theo lối mê lộ. Biểu tượng mê lộ hay kiểu kể chuyện theo lối mê lộ ấy xuất hiện trong tác phẩm văn chương của nhiều tác giả qua nhiều thế hệ hình thành một vệt nối dài trên cơ sở họ vừa kế thừa, vừa thổi vào đó những nét sáng tạo độc đáo của riêng từng nhà văn. Sau đây, chúng tôi sẽ đề cập đến hiện tượng ấy trong tác phẩm của các thiên tài văn chương như F.Kafka, J.L.Borge, G.G.Márquez qua một số nhận định khái quát của các tác giả nghiên cứu ở Việt Nam.

Giờ đây, F.Kafka đã là một tên tuổi quen thuộc với độc giả và tác phẩm của ông đã vượt qua sự thử thách của thời gian với những thông điệp có ý nghĩa lớn lao. F.Kafka (1883-1924) là người Đức, gốc Do Thái, được mệnh danh là người khai sinh hiện thực mà hiện thực ấy hiện hữu trong tác phẩm của ông một phần qua phương thức sử dụng biểu tượng mê lộ. Về thi pháp mê lộ trong tác phẩm của F.Kafka, ở Việt Nam đã có một số bài nghiên cứu theo xu hướng này, trong đó, họ đã đưa ra các loại mê cung, đặc điểm của mê cung và ý nghĩa của nó.

Nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc có sự quan tâm đặc biệt đến kĩ thuật tự sự mê lộ cả trong tác phẩm của F.Kafka lẫn J.L.Borges. Trong phần Mĩ học của sự khốn cùng trích trong công trình Thế giới nghệ thuật F.Kafka, tác giả có đề cập đến vấn đề Những mê lộ. Ông cho rằng mê lộ của F.

Kafka hiển hiện trong những cái bình thường hay là mê lộ nhân tạo một cách trừu tượng trong cung cách hành chính, thiết chế nhà nước hoặc là những mê lộ cụ thể qua không gian như đường hầm, căn phòng…Mà biểu hiện dễ thấy nhất là khi nhân vật đánh mất phương hướng và rơi vào một hệ thống nhập nhằng, mơ hồ, chồng chéo, không lối thoát và thường đối diện với cái chết. Tính chất mê lộ của F.Kafka theo sự khẳng định của Lê Huy Bắc còn thể hiện qua ngôn ngữ. Kafka thường sử dụng “những câu dài, nhiều mệnh đề mà sự liên kết giữa chúng lỏng lẻo, dễ gây ra sự tối nghĩa”

[10, tr.194] hoặc “những ẩn ý chìm sâu dưới lời kể, lời miêu tả và đối thoại” [10, tr. 195].

Nhìn ở góc độ biểu tượng, trong luận văn thạc sĩ Hiện thực và huyền thoại trong tác phẩm Franz Kafka, Nguyễn Thị Bích Thúy cho rằng mê cung trong tác phẩm của F. Kafka là dạng mê cung “song song bao bọc lấy nhau” hay “kiểu mê cung nhiều vòng tạo nên một kết cấu trùng điệp” và kiểu mê cung hướng tới nội tâm của con người.

Trong bài Tính chất mê cung trong tác phẩm của Franz Kafka,trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 2 năm 2009, Lê Từ Hiển và Lê Minh Kha cho rằng chủ đề mê cung là một chủ đề chủ chốt của Kafka, nó chính là vỏ bọc của cái không thể diễn đạt…Chủ đề mê cung thật sự là một thủ pháp quan trọng của Kafka trong việc diễn đạt cái phi lí. Và đồng thời, nó còn “là niềm ám ảnh lớn, là nỗi âu lo bi kịch thường nhật hiện tồn của kiếp người, nó trở thành nguyên tắc kết cấu tác phẩm, chi phối đến cả văn phong, lối viết của Kafka. Ở đây, hai ông chỉ ra rằng chủ đề - thủ pháp mê cung hiện hình trong tác phẩm Kafka dưới nhiều góc độ từ không gian, thời gian đến giấc mơ và cả lối viết. Ở không gian,

những mê lộ của Kafka gắn liền với một vũ trụ - nơi điểm trung tâm nhạt nhòa, hư ảo, dường như không có thật. Tính lập lờ của điểm trung tâm khiến không gian trong tác phẩm có lúc trở thành một khối hỗn độn. Sống trong không gian như vậy, con người hoang mang, lo sợ và hoàn toàn mất phương hướng” [81, tr. 2].

Không gian mê cung trong sáng tác của F.Kafka lại có không gian hữu hình (những ngõ ngách, những đường hầm, lâu đài, cung điện…) và không gian vô hình (một cung cách hành chính, một cơ chế quan liêu hay một thế lực độc tài đè nén và tha hóa con người), thời gian thì “vừa vô tận vừa tuần hoàn”. Giấc mơ lại là kiểu mê cung cung khác. Ngôn ngữ của giấc mơ là ngôn ngữ của dòng ý thức nên rất nó bất định, hơn nữa nó “không chỉ đơn thuần là sự đi – về, nhập mộng – tỉnh mộng, mà còn là sự đan cài mộng trong mộng, những trùng lắp bất ngờ giữa cõi thực và cõi mơ, lắm khi cơn ác mộng chỉ thực sự bắt đầu khi con người tỉnh giấc” [81, tr. 5].

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu dù đi vào xem xét vấn đề mê cung trong tác phẩm của F.Kafka ở nhiều góc độ khác nhau nhưng ta vẫn có thể thấy rằng cuối cùng họ đều chỉ ra rằng mê cung không chỉ là đề tài, chủ đề mà nó đã hiện hữu và ám ảnh trong tác phẩm của F.Kafka ở việc tác giả xây dựng hình ảnh không gian; dòng chảy của thời gian; trong bút pháp tự sự qua cách viết của những câu văn dài dòng, những đoạn đối thoại lập lờ, nhát gừng, bỏ lững; của những giấc mơ; của những đam mê khát vọng của mỗi bản thể cá nhân muốn vượt thoát ra khỏi chốn mịt mùng của bản thân và đi vào trung tâm tinh thần khi vượt qua quá trình “khai tâm thụ pháp”. Thế nhưng, cái trung tâm ấy thấy như rất gần trước mắt vậy mà cứ ẩn hiện và mập mờ trước mắt nhân vật, mãi mãi họ không bao giờ bước vào được. Mê cung đó còn là những thiết chế quyền lực, cung cách hành chính, cơ chế nhà nước quan liêu, hình ảnh của nỗi ám ảnh của nhà văn về thế giới…

Một phần của tài liệu Tự sự mê lộ trong tiểu thuyết paul auster (Trang 23 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(131 trang)