Xuất thân từ ngành Lí luận - Biên kịch Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội, là nhà báo, nhưng Nguyễn Ngọc Tiến đã sáng tác với nhiều thể loại: truyện ngắn, khảo cứu ghi chép, tiểu thuyết và
Trang 1
NGUYỄN BÍNH THÌN
TỪ NGỮ VÀ CÂU
TRONG TIỂU THUYẾT ME TƯ HỒNG
CỦA NGUYỄN NGỌC TIẾN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2016
Trang 2NGUYỄN BÍNH THÌN
TỪ NGỮ VÀ CÂU
TRONG TIỂU THUYẾT ME TƯ HỒNG
CỦA NGUYỄN NGỌC TIẾN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22 01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN HOÀI NGUYÊN
NGHỆ AN - 2016
Trang 3Trong quá trình theo học ngành Ngôn ngữ học, khoa Sư phạm Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh và quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, chúng tôi
đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của gia đình và bạn bè
Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Đặc biệt, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo,
TS Nguyễn Hoài Nguyên, người đã tận tâm hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, chúng tôi đã hết sức
cố gắng nhưng do khả năng có hạn nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi sai sót Do vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn
Nghệ An, tháng 8 năm 2016
Tác giả
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của luận văn 3
7 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Những nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 4
1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ nghệ thuật 4
1.1.3 Những nghiên cứu về tiểu thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam và tiểu thuyết Me Tư Hồng 5
1.1.4 Vài nét về tiểu thuyết đương đại Việt Nam 6
1.2 Nguyễn Ngọc Tiến và tiểu thuyết Me Tư Hồng 11
1.2.1 Tác giả Nguyễn Ngọc Tiến 11
1.2.2 Tiểu thuyết Me Tư Hồng 14
1.3 Cơ sở khoa học của đề tài 18
1.3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 18
1.3.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết 22
1.3.3 Từ ngữ và câu văn trong văn bản nghệ thuật 27
1.4 Tiểu kết chương 1 30
Trang 52.1 Các cách phân loại từ và hướng nghiên cứu từ trong tiểu thuyết
Me Tư Hồng 32
2.1.1 Sơ lược về các cách phân loại từ 32
2.1.2 Tiếp cận các lớp từ trong tiểu thuyết Me Tư Hồng 34
2.2 Các lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết Me Tư Hồng về mặt cấu tạo 34
2.2.1 Từ láy 34
2.2.2 Từ ghép trong tiểu thuyết Me Tư Hồng 43
2.3 Các lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết Me Tư Hồng về mặt phong cách 50
2.3.1 Từ khẩu ngữ 50
2.3.2 Từ Hán - Việt 56
2.3.3 Từ vay mượn gốc Ấn Âu 66
2.4 Tiểu kết chương 2 69
Chương 3 CÂU VĂN VÀ CÁC HÌNH THỨC DIỄN ĐẠT TRONG TIỂU THUYẾT ME TƯ HỒNG CỦA NGUYỄN NGỌC TIẾN 71
3.1 Câu văn trong tiểu thuyết Me Tư Hồng 71
3.1.1 Câu trong tiểu thuyết và các hướng nghiên cứu câu hiện nay 71
3.1.2 Câu trong tiểu thuyết Me Tư Hồng xét về cấu tạo 73
3.1.3 Câu trong tiểu thuyết Me Tư Hồng xét theo mục đích nói 89
3.2 Hình thức diễn đạt trong tiểu thuyết Me Tư Hồng 100
3.2.1 Hình thức xen thơ, ca dao, câu đối, bài hát 101
3.2.2 Hình thức xen thư từ, lời khấn hứa, trích dẫn 105
3.3 Tiểu kết chương 3 111
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 119
Trang 6Bảng 2.1 Bảng thống kê tần số sử dụng từ láy trong Me Tư Hồng 36
Bảng 2.2 Từ láy trong Me Tư Hồng và Thời của thánh thần 42
Bảng 2.3 Bảng thống kê tần số sử dụng từ ghép trong Me Tư Hồng 44
Bảng 2.4 Bảng thống kê tần số sử dụng từ Hán - Việt trong Me Tư Hồng 57
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát câu trong tiểu thuyết Me Tư Hồng xét về cấu tạo ngữ pháp 74
Bảng 3.2 Câu trong Me Tư Hồng và Thời của thánh thần xét về mặt cấu tạo 88
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của tác phẩm văn học, là chất liệu để xây dựng và sáng tạo hình tượng văn học Mỗi nhà văn có một cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau nhằm tạo ra phong cách và diện mạo riêng của mình Bởi vậy, thông qua việc tìm hiểu ngôn ngữ trong các tác phẩm, chúng ta có thể nhận diện được phong cách và cá tính sáng tạo của nhà văn Ngôn ngữ trong tác phẩm cũng là nơi in đậm dấu ấn thể loại Mỗi thể loại văn học có một đặc điểm riêng về mặt ngôn ngữ Ngôn ngữ tiểu thuyết khác ngôn ngữ truyện ngắn; ngôn ngữ văn xuôi, khác ngôn ngữ thơ ca, v.v Tìm hiểu ngôn ngữ là hướng đi đúng đắn nhằm xác lập đặc trưng của thể loại văn học
Từ công cuộc đổi mới 1986, nền văn xuôi Việt Nam đương đại đã đạt được một số thành tựu xuất sắc, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết Sự phát triển của thể loại tiểu thuyết được ghi nhận ở sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới tư duy nghệ thuật và đổi mới về mặt ngôn ngữ Những sự phát triển, đổi mới đó gắn liền với tên tuổi của các nhà văn như Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Ngọc Tiến,…, trong đó, Nguyễn Ngọc Tiến là một gương mặt khá tiêu biểu Xuất thân từ ngành Lí luận - Biên kịch Đại học Sân khấu Điện ảnh
Hà Nội, là nhà báo, nhưng Nguyễn Ngọc Tiến đã sáng tác với nhiều thể loại: truyện ngắn, khảo cứu ghi chép, tiểu thuyết và đã từng nhận các giải thưởng: giải Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội 2012, Giải thưởng Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam 2012
1.2 Tiểu thuyết Me Tư Hồng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến dựa theo cuộc đời của cô Tư Hồng, có sự hư cấu mang hình dáng tiểu thuyết chân dung
Đây là một cuốn sách mà nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến dành nhiều tâm huyết
Trang 8Ngôn ngữ tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tiến có nhiều nét đặc sắc, thể hiện sự đổi mới theo hướng hiện đại hóa, thoát khỏi những đặc điểm của ngôn ngữ tiểu
thuyết truyền thống Do đó, chúng tôi chọn khảo sát Từ ngữ và câu trong tiểu
thuyết Me Tư Hồng của Nguyễn Ngọc Tiến làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, một mặt, làm sáng tỏ những đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tiến, mặt khác, góp phần nhận diện những đổi mới của ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam đương đại, khẳng định những dấu hiệu hậu hiện đại của một nền tiểu thuyết thập niên đầu thế
kỉ XXI
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi xác định cho luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu, xác lập một cách nhìn có tính hệ thống về ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ tiểu thuyết, ngôn ngữ tiểu thuyết đương đại Việt Nam
- Chỉ ra những nét đặc sắc về cách dùng từ ngữ trong tiểu thuyết Me Tư
Hồng của Nguyễn Ngọc Tiến
- Chỉ ra những đặc điểm của câu văn và hình thức diễn đạt trong tiểu
thuyết Me Tư Hồng của Nguyễn Ngọc Tiến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết
Me Tư Hồng (Nguyễn Ngọc Tiến), Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2014
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Tiến là nhà báo, đồng thời là nhà văn, bên cạnh những tập khảo cứu và truyện ngắn đạt được thành công, thì tiểu thuyết là thể loại mới nhà văn thử bút nhưng đã tạo được ấn tượng với độc giả Tuy nhiên, do
Trang 9giới hạn của đề tài nên chúng tôi không có điều kiện khảo sát toàn bộ các
phương diện của ngôn ngữ trong tiểu thuyết Me Tư Hồng mà chỉ tập trung tìm
hiểu các lớp từ tiêu biểu xét theo cấu tạo, xét theo phong cách; khảo sát các kiểu câu xét theo cấu tạo, xét theo mục đích nói và một số hình thức diễn đạt làm đối tượng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn chủ yếu sử dụng kết hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
- Dùng phương pháp thống kê, phân loại để xác định tư liệu, đưa ra các
số liệu làm cơ sở cho những nhận xét định tính
- Dùng phương pháp phân tích, miêu tả để diễn giải làm sáng tỏ các khía cạnh, các bình diện của nội dung nghiên cứu; đồng thời xử lí tư liệu ngôn ngữ đã khảo sát nhằm rút ra những luận điểm khái quát về những vấn đề nghiên cứu
- Dùng phương pháp so sánh để chỉ ra nét riêng trong cách sử dụng từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tiến
6 Đóng góp của luận văn
Từ những nét đặc sắc trong từ ngữ và câu văn, luận văn tập trung làm nổi rõ cá tính ngôn ngữ tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tiến, đồng thời, góp phần nhận diện xu hướng biến đổi của ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam đương đại
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận
văn trình bày thành ba chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Các lớp từ ngữ tiêu biểu trong tiểu thuyết Me Tư Hồng
Chương 3: Câu và các hình thức diễn đạt trong tiểu thuyết Me Tư Hồng
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Trên bình diện lí thuyết, công trình Văn học Việt Nam thế kỉ XX do
Phan Cự Đệ chủ biên (2004) đã dành phần hai để tổng quan về tiểu thuyết Việt Nam thế kỉ XX, nhấn mạnh về thể loại, chủ thể thể loại đến khung hình thể loại, những vận động, cách tân, trong đó, có hình thức ngôn ngữ của tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại Tập tiểu luận - phê bình Tiểu thuyết đương đại Việt
Nam của Bùi Việt Thắng (2009) cũng đặt ra nhiều vấn đề về thể loại, đề tài,
nhân vật, ngôn từ,…, cùng với những đánh giá khách quan về hiện trạng và tương lai của tiểu thuyết đương đại Việt Nam
Những nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm cụ thể trên các phương diện nội dung và hình thức đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học và ngữ học Đặc biệt, bình diện ngôn từ trong các tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Hoàng Minh Tường,
Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, đã trở thành đề tài hấp dẫn cho các khoá luận tốt nghiệp đại học, luận văn cao học, các luận án của nghiên cứu sinh ở các trường đại học, các viện nghiên cứu
1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật là một phương diện quan trọng của sáng tác văn chương Rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực này
đã trở thành cơ sở, nền tảng cho sự khám phá thế giới nghệ thuật trong tác
phẩm văn học Có thể kể ra: M Bakhtin với Những vấn đề lý luận và thi pháp
tiểu thuyết; Ju Lotman với Cấu trúc văn bản nghệ thuật ngôn từ; Trần Đình
Trang 11Sử với Một số vấn đề thi pháp học hiện đại và Dẫn luận thi pháp học; Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa với Phân tích phong cách ngôn ngữ
trong tác phẩm văn học…; các công trình Luận án tiến sĩ như Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Thị Thu Thủy, Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu của Nguyễn Thị Hiên, v.v
Ngoài ra, một số Luận văn thạc sĩ cũng đề cập đến vấn đề ngôn ngữ
nghệ thuật với nhiều phương diện, như: Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh của Nguyễn Thị Thanh Xuân; Đặc trưng lời nói nghệ thuật trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng của Đặng Nguyệt
Anh; Ngôn từ nghệ thuật trong truyện Đường rừng của Lan Khai của Lê Thị Tâm Hảo; Đổi mới giọng điệu trong văn xuôi về đề tài lịch sử của Nguyễn
Huy Thiệp và Trần Vũ của Nguyễn Thị Hà Giang, v.v
Những công trình này đã giúp cho người viết có được những định hướng ban đầu trong việc tìm hiểu và thực hiện đề tài
1.1.3 Những nghiên cứu về tiểu thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam và tiểu thuyết Me Tư Hồng
- Hiện tại, những nhận định, đánh giá về trào lưu tiểu thuyết hậu hiện
đại ở Việt Nam đã được nêu ra trong một số bài viết như: Bàn về văn học hậu hiện đại của Nguyễn Văn Tùng (Văn học và tuổi trẻ, 9/2013), Một cách nhìn
về tiểu thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam của Hoàng Cẩm Giang và Lý Hoài Thu
(http//phebinhvanhoc.com), Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn
hậu hiện đại của Thái Phan Hoàng Anh (http//phongdiep.net), Về thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại ở phương Tây
của Trần Mạnh Tiến (http//vannghequandoi.com), v.v
- Những nghiên cứu về các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tiến
Người đọc đã biết đến Nguyễn Ngọc Tiến qua tập truyện ngắn Phần
mềm tình yêu (2006), đặc biệt, gần đây nhà văn cho ra đời hai cuốn sách Đi
Trang 12ngang Hà Nội, Đi dọc Hà Nội đã đánh dấu một bước lớn trong sự nghiệp văn
chương của nhà văn Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tiến và tác phẩm của ông chưa nhiều Hiện tại, nhà phê bình Nguyễn Hoà có
bài giới thiệu về hai cuốn tạp văn Đi ngang Hà Nội, Đi dọc Hà Nội Riêng về tiểu thuyết Me Tư Hồng, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
bàn đến
1.1.4 Vài nét về tiểu thuyết đương đại Việt Nam
1.1.4.1 Tiểu thuyết đương đại Việt Nam trong quá trình phát triển
Trong quá trình hình thành và phát triển, nền văn học Việt Nam hiện đại đã đạt nhiều thành tựu lớn qua các chặng đường với các đỉnh cao: văn học hiện thực và lãng mạn 1930 - 1945, văn học cách mạng 1945 - 1975, văn học
từ sau 1975, nhất là từ 1986 đến nay Các thành công của văn học Việt Nam hiện đại chịu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, văn hóa xã hội và có liên quan đến các trào lưu văn học hiện đại của phương Tây
Với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, chúng ta có thể nhận thấy một số đặc điểm sau: Thứ nhất, về bản chất loại hình, tiểu thuyết là những tác phẩm
được biết bằng văn xuôi và mang tính văn xuôi rõ nét trong cả hình thức ngôn
ngữ và nội dung biểu hiện, phản ánh một cách đầy đủ và trung thực những trải
nghiệm trong đời sống con người Thứ hai, về phương thức tự sự (cấp độ
ngôn ngữ), cấu trúc tự sự của tiểu thuyết phải dựa trên sự hợp lý, logic, liền mạch và hấp dẫn trong cốt truyện, kết cấu, v.v Nhìn chung, đó là đòi hỏi về một tổng thể nhất quán và hoàn thiện trên phương diện hình thức tự sự nhằm tái hiện rõ nét nhất nội dung hiện thực của tác phẩm Thứ ba, về hình tượng nhân vật và không - thời gian (cấp độ hình tượng), sự tồn tại của nhân vật và tính cách nhân vật, sự tồn tại của không - thời gian và tính chất không - thời gian đều đòi hỏi phải có sự nhất quán, hợp lý và gắn liền với cốt truyện, với
diễn trình của tác phẩm Những gì vượt ra ngoài khuôn hình và khả năng có
Trang 13thể lý giải, có thể dung nạp của cốt truyện, của diễn trình tự sự đều có thể coi
là lạc lõng, dư thừa Thứ tư, về vấn đề dung lượng và quy mô tác phẩm, tất
nhiên, độ dài một tác phẩm bao nhiêu thì được gọi là tiểu thuyết ở đây chỉ
mang tính tương đối, song xét một cách toàn diện, theo quan niệm truyền thống, tiểu thuyết thường có một dung lượng lớn (vài trăm trang trở lên) và đặc biệt có một quy mô đồ sộ, bề thế, là những “đại tự sự” về xã hội, lịch sử
và con người Đây cũng là một trong những cơ sở, nền tảng để chúng ta tiến hành nghiên cứu các khuynh hướng phát triển của tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI
và đi tìm con đường của văn chương hậu hiện đại
1.1.4.2 Đôi nét về tiểu thuyết Việt Nam 2014
Năm 2014, bất chấp văn học dịch luôn áp đảo trên mọi kệ sách và văn học ngôn tình Hoa ngữ đang có lượng công chúng chung thủy tột bậc, văn học Việt dường như vẫn đáng chú ý hơn bởi sự xuất hiện đều đặn của tiểu thuyết, một thể loại mà từ lâu, trong nhiều tổng kết văn học sử, giới nghiên cứu đã sốt ruột trông ngóng
Viết tiểu thuyết không phải bỗng chốc mà thành Nếu tản văn, truyện ngắn có thể mau chóng được đón nhận thì tiểu thuyết cần nhiều hơn những
cung đường thẩm thấu khác nhau Bởi thế, tính chất cách năm mới có một
cuốn tiểu thuyết đã được minh chứng rõ ngay cả với những tác giả chuyên thâm canh thể loại này: Nguyễn Việt Hà, bẵng đi gần mười năm đầy đủ quyền
uy lẫn danh tiếng ở tản văn, mới tái xuất với Ba ngôi của người; Nguyễn Bình Phương, sau Ngồi (2006) cùng một tập thơ xen kẽ, Buổi câu hờ hững (2011),
đã quay lại đường đi tiểu thuyết với Mình và họ Hai cuốn tiểu thuyết này đã
thay phiên nhau tạo nên những tranh luận đa chiều trong diễn đàn của các độc giả ưa đặt kì vọng vào tiểu thuyết gia lớn
Viết tiểu thuyết, rút cuộc, đã đánh thức những thứ không thể quên và
ưu tư, nhẫn nại tìm kiếm niềm tin vào cái đẹp phổ quát Điều lí tưởng này dù
Trang 14chưa lấy gì đảm bảo thật đắc địa nhưng cũng đã làm nhiều người viết chú tâm Như cái cách Trần Chiến chạm sâu đến kí ức và bóng hình Hà Nội trong
số phận Cậu ấm Hay cái cách Nguyễn Ngọc Tiến tái dựng xen lẫn phong thái khảo cứu một phần quá vãng Hà thành ở Me Tư Hồng Ở đây, câu chuyện về
Hà Nội xưa chỉ như cái cớ để tiếng gọi của kí ức được vang vọng và xáo trộn tâm tư hiện sinh đương thời
Tiểu thuyết Việt Nam 2014 đánh dấu sự đua nở của thế hệ viết đang vào độ trưởng thành ý thức thể loại: Nguyễn Xuân Thủy thoát khỏi chủ đề
người lính để phức tạp trong những biểu đạt hiện thực đô thị ở Nhắm mắt
nhìn trời; Nguyễn Danh Lam điềm tĩnh và phần nào gọn ghẽ hơn với Cuộc đời ngoài cửa; Trần Nhã Thụy sau Sự trở lại của vết xước cũng tự mình nhẹ
nhõm và thú vị ngay cả ở những triết lí trong tiểu thuyết Hát; Uông Triều đa nghĩa và gai góc hơn hẳn trong Tưởng tượng và dấu vết, v.v
Dù có đôi phần dị biệt nhưng điểm gặp gỡ của đa số các tiểu thuyết trên vẫn là tính chất hồi tâm nhìn về phong tục, lịch sử và chiến tranh Phong tục
và lịch sử Hà Nội trong bộ ba Ba ngôi của người (Nguyễn Việt Hà), Cậu ấm (Trần Chiến), Me Tư Hồng (Nguyễn Ngọc Tiến) sâu sắc vì sự truân chuyên và
đời tư của nó, thay vì mĩ từ thêu dệt, khiến ta hiểu lịch sử không dễ ăn ngay
mà cần những trải nghiệm tận cùng Còn chiến tranh, trong Mình và họ (Nguyễn Bình Phương), Xác phàm (Nguyễn Đình Tú), và Miền hoang của
Sương Nguyệt Minh đã giãn cách hơn khi lồng vào bối cảnh xưa những câu chuyện hôm nay
Sự hấp dẫn của tiểu thuyết, đôi khi, nằm trong bút pháp Là thể loại không chịu dừng lại ở bất kì những tìm tòi lối viết nào, tiểu thuyết trở nên chiều chuộng độc giả vì sự cởi mở của nó Đọc tiểu thuyết Việt 2014, nếu phải gạt bỏ một vài vụng về xứng đáng thất bại, vẫn có thể lọc ra những tìm tòi hoặc nỗ lực làm mới đường đi thể loại
Trang 15Nhìn chung, tiểu thuyết Việt 2014, như lâu nay, là hành trình tự hoàn thiện các lối viết đã định hình
1.1.4.3 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết đương đại
Cuộc cách mạng về ngôn từ bao giờ cũng là cuộc cách mạng tác động
trực tiếp nhất đến cảm quan và tiếp nhận của độc giả Các nhà tiểu thuyết thuộc khuynh hướng cách tân đầu thế kỉ XXI đã quyết liệt thay đổi cái nhìn cũng như cách quan niệm mang tính truyền thống của độc giả về phạm trù ngôn từ trong các tác phẩm Như vậy, họ cũng đã quyết liệt đặt nền móng cho
một cuộc cách mạng về cấu trúc thể loại cho tiểu thuyết Việt Nam hiện tại và
tương lai
Trong các cấp độ cấu thành nên một khuynh hướng tiểu thuyết thì bình
diện ngôn từ liên quan đến việc dàn dựng thành một văn bản hoàn chỉnh Bởi
lẽ, sau khi đã xác lập được cái được kể, hình thành nên một chiến lược kể nội
dung đó, người viết phải hiện thực hoá tất cả thành một thực thể ngôn từ Dĩ
nhiên, đó chỉ là một sự phân xuất tương đối, bởi về nguyên tắc không có một
hoạt động nào của tư duy lại tồn tại ngoài ngôn ngữ Dẫu vậy, ta vẫn có thể
thấy, sự khác nhau về chất liệu ngôn từ sẽ làm nên những tự sự rất khác nhau,
dù chúng cùng kể về một đối tượng, một đề tài Sự phân chia khuynh hướng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại cũng bắt nguồn sâu xa từ sự phân chia
phong cách ngôn ngữ và sự lựa chọn giọng điệu trần thuật
Một vấn đề khá mới về ngôn từ trong tiểu thuyết đương đại đó là sự xuất hiện của rất nhiều từ ngữ thông tục (những câu chửi thề, những từ chỉ các
bộ phận kín đáo của đàn ông, đàn bà, những từ chỉ hoạt động bản năng của con người,…) Các tác giả đương đại ưa sử dụng lời ăn, tiếng nói bình dân hơn những lời nói quyền uy cao đạo Những khẩu ngữ, phương ngữ, tiếng lóng và những phát ngôn đặc trưng của xã hội hiện đại ồ ạt đi vào tác phẩm
Đặc biệt, sự bùng nổ của thông tin và nhu cầu hội nhập đã in bóng vào
tác phẩm Nếu trước đây, văn đàn chủ yếu là sân chơi của các nhà văn trong
Trang 16nước thì giờ đây có sự xuất hiện không ít của các nhà văn là người Việt sống
ở nước ngoài Ngôn ngữ đời sống không ngừng biến đổi, lớp từ mượn có nguồn gốc châu Âu ngày càng nhiều; nó cũng để lại dấu ấn khá đậm nét trong văn chương đương đại Lớp ngôn từ đặc trưng của thời đại kỹ thuật số, công nghệ thông tin, những khái niệm kinh tế, tiền tệ,… nghiễm nhiên có
mặt trong các tác phẩm như ôsin, vila, gay, les, vip, sếp, sê ri, v.v Tiếng nước ngoài nguyên dạng cũng xuất hiện với tần số cao: Miracle, Doctor,
Expansion, Citizen, v.v
Một đặc trưng nữa của ngôn ngữ tiểu thuyết đương đại chính là ngôn ngữ rất giàu chất thơ và giàu nhịp điệu Nếu với tiểu thuyết trước đây, người đọc say mê những câu chuyện li kì, những tình tiết hấp dẫn, có nguyên nhân,
có cao trào, kết thúc có thắt nút, mở nút, thì tiểu thuyết đương đại lại mang dáng dấp một bản nhạc, một bức tranh lập thể
Giọng điệu giễu nhại cũng là nét nổi bật trong ngôn ngữ tiểu thuyết đương đại Nếu ở giai đoạn trước, do cảm hứng sử thi chi phối, nên giọng
điệu hào sảng, bi hùng, giọng đại diện, giọng của tác giả toàn tri; là giọng
đồng ca có tính chất ngợi ca, hào hung,… là chủ âm thì các tác giả hậu hiện
đại, trong nỗ lực kéo văn chương gần hơn với cuộc sống, đã phát hiện ra những cái lố bịch của thực tại và khai thác đến cùng phương tiện gây cười của
nó để đưa vào cốt truyện Bằng cách ấy, các nhà văn phanh phui, đả kích, phủ định những thói hư tật xấu của thế thái nhân tình, phê phán sự xuống cấp trong đời sống tinh thần người Việt, lối hưởng lạc, sự huỷ hoại của đồng tiền
Như vậy, sự thay đổi ngôn ngữ trong tiểu thuyết đương đại là một phương diện tiêu biểu trong thay đổi quan niệm về thi pháp văn học đương đại Nó đánh dấu, ghi nhận khát vọng, tài năng, sức sáng tạo của các tác giả đương đại, đồng thời thể hiện một cách chân thực hiện thực và đời sống tâm hồn con người Việt Nam trong thời đại mới
Trang 17Nhìn chung, xét từ phương diện ngôn ngữ - giọng điệu, tiểu thuyết đương đại có sự cách tân mạnh mẽ, phá dỡ quyết liệt cách tổ chức và ứng xử với ngôn từ theo kiểu truyền thống, các tác giả cũng đồng thời hướng đến việc
tạo nên những văn bản trần thuật đa thanh, đa chủ thể phát ngôn, và tất nhiên,
khó nắm bắt ý nghĩa trong quá trình tiếp nhận; văn bản trở thành một cấu trúc
phi trung tâm, một mê lộ với vô vàn phương án đọc Những cách tân mạnh mẽ
trong chiến lược ngôn từ kết hợp với chiến lược tự sự khiến cho tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI tiến gần hơn bao giờ hết đến mỹ học hậu hiện đại
Sự phân hoá trong quan niệm về ngôn từ tiểu thuyết và nghệ thuật tổ chức ngôn từ - tất yếu vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của những phân hoá
trong cấu trúc tự sự Cuộc cách mạng về ngôn từ bao giờ cũng là cuộc cách
mạng tác động trực tiếp nhất đến cảm quan và tiếp nhận của độc giả nói chung
1.2 Nguyễn Ngọc Tiến và tiểu thuyết Me Tư Hồng
1.2.1 Tác giả Nguyễn Ngọc Tiến
Nguyễn Ngọc Tiến yêu Hà Nội, thứ tình yêu không định nghĩa bằng
những khái niệm hời hợt kiểu như tôi là người Hà Nội gốc Tình yêu của anh
dành cho mảnh đất mình sinh ra và lớn lên thể hiện ở sự cởi mở Anh muốn cho người dân cả nước, thậm chí, tất cả bạn bè thế giới biết tới những giá trị văn hóa của Thủ đô ở những tầng sâu nhất
Nguyễn Ngọc Tiến mở đầu với nghề văn nhưng lại gắn bó nhiều nhất với nghề báo Có lẽ, đó là cái duyên trời định mà thời trẻ anh chưa bao giờ nghĩ tới Từ những ngày còn theo học phổ thông, anh đã phát huy năng khiếu văn chương bằng những truyện ngắn viết bằng cảm xúc của chàng thanh niên đầy mơ mộng Sau khi học hết lớp 10, anh nhập ngũ, chiến đấu tại chiến trường biên giới phía Tây Nam ở Lộc Ninh, Sông Bé Nghiệp văn chương với chàng trai trẻ Hà Nội cũng tạm đứt đoạn từ đó Tuy nhiên, bù lại, chiến trường ác liệt lại trau dồi cho anh một kỹ năng khác, một nghiệp vụ khác cũng
Trang 18liên quan đến viết lách - làm báo Vậy là, từ những thực tế trên chiến trường bom rơi, đạn nổ, nguy hiểm luôn rình rập, anh lính trẻ có dịp thể hiện tài năng ngôn ngữ của mình qua những tin, bài gửi về cộng tác cho các báo Nguyễn
Ngọc Tiến đã từng tâm sự: Có lẽ không đi lính tôi sẽ chỉ biết đến viết văn thôi
Tuy nhiên, quãng thời gian ra chiến trường lại dạy tôi làm báo Có thực tế chứng kiến, trải qua chiến tranh mới thấy nó ác liệt chừng nào […] Chính những năm tháng trải qua hiểm nguy, gian khổ trên chiến trường ấy mà tôi trở thành người viết báo và nhận ra sự khác biệt giữa viết báo với viết văn Viết báo là cứ viết những gì mình đã chứng kiến, đã trải qua chứ không trau chuốt, mơ mộng như viết văn,….http://hanoimoi.com.vn/
Nguyễn Ngọc Tiến sinh ra và lớn lên ở vùng ven nội thành Hà Nội (hiện nay thuộc khu phố Vọng, quận Hai Bà Trưng) Anh yêu Hà Nội từ những ngày còn cùng chúng bạn bơi qua Hồ Tây mỗi buổi chiều tan học, từ hương hoa sữa nồng nàn mỗi đêm mùa thu rồi cả tiếng tàu điện leng keng qua những đường phố yên bình, Từ tình yêu ấy, anh muốn khám phá Hà Nội ở tầng sâu nhất Sinh ra và sống ở Hà Nội nhưng liệu có mấy ai biết ai là người xây Tháp Rùa, đào Nhật Tân có từ bao giờ, phim và rạp chiếu phim một thời như thế nào? Đọc những trang sách viết về Hà Nội của Nguyễn Ngọc Tiến, độc giả như được lật giở từng trang chân thật nhất về đời sống của người Hà Nội, của đất Hà Nội Anh viết đơn giản nhưng có hệ thống; không màu mè, kiểu cách mà người đọc vẫn thấy rất cuốn hút
Ngoài viết báo, viết văn, Nguyễn Ngọc Tiến còn có một đam mê khác gần với chuyên ngành lý luận phê bình mà anh theo học tại trường đại học Sân khấu điện ảnh sau khi xuất ngũ - viết kịch bản sân khấu và kịch bản phim
Kịch bản Live show cho người nổi tiếng của anh được đạo diễn Lê Quý
Dương dàn dựng và diễn tại sân khấu 5B Võ Văn Tần (TP Hồ Chí Minh)
năm 2005 Anh cũng là tác giả của kịch bản phim tài liệu Không chỉ là kỷ vật
Trang 19của đạo diễn Cao Mạnh, bộ phim đoạt Huy chương Vàng tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 2010 Bộ phim tài liệu này nói về những thứ từng
là vũ khi giết người trong chiến tranh qua bàn tay khéo léo của người dân, bộ đội đã biến thành những đồ dùng hữu ích cho cuộc sống sinh hoạt Ví như vỏ quả bom chế thành chiếc kẻng, hộp đạn dùng để đựng đồ trang điểm, mũ sắt
làm cối giã cua,… Kịch bản phim tài liệu Hồn quê nói về những di tích văn
hóa của Hà Nội bị xuống cấp hoặc biến mất, hay đang bị biến dạng bởi những ngôi nhà cao tầng xen kẽ các ngôi nhà cổ như đình làng Hòa Mục, làng cổ Đông Ngạc, vườn đào Nhật Tân,… của Nguyễn Ngọc Tiến cũng đã giành giải
C tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc năm 2008
Anh từng theo học các khóa viết kịch ở Trung tâm văn hóa Hà Nội Nhưng chính thời gian học đại học đã giúp anh đã tích lũy vốn kiến thức quý giá về Hà Nội khi đọc rất nhiều sách ở thư viện quốc gia, nhất là các báo xuất bản từ 1954 về trước Ban đầu chỉ đơn thuần là việc đọc những gì liên quan đến văn hóa văn nghệ phục vụ học tập, nhưng anh nhận thấy có nhiều tư liệu
về đời sống đô thị Hà Nội chưa được khai thác và thế là ghi chép lại làm của
để dành, từ chuyện áo dài Le Mur đến xe đạp, xe máy, ô tô, hát xẩm, tàu
điện,… những thứ đặc trưng của đời sống đô thị
Khi làm báo, lại viết mảng văn hóa văn nghệ đã thêm cơ hội cho anh
gặp gỡ, trò chuyện, hóng hớt với các nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ thời chống
Pháp, các bậc cao niên gắn bó với Hà Nội giúp anh hiểu thêm về Hà Nội Từ
đó, dù làm gì, đi đâu, có được thông tin gì anh đều cất giữ vào hộp tư liệu của mình, đặc biệt, việc đọc cũng như thu thập những tư liệu của các tác giả người Pháp viết về Hà Nội cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Nguyễn Ngọc Tiến là phóng viên Ban phóng sự - Điều tra của Báo Hà Nội mới Hiện tại, anh sống một mình trong căn nhà ở phố Trần Khát Chân Những tổn thương từ cuộc hôn nhân tan vỡ cách đây hơn chục năm với người
Trang 20vợ đầu tiên đã khiến anh sợ cuộc sống gia đình Có lẽ, vì thế mà anh đi nhiều
hơn, viết nhiều hơn, sống với văn chương nhiều hơn Anh từng tâm sự hài
hước: Tôi làm bạn với cô đơn mà Tuy hiện tại không có người phụ nữ nào
bên cạnh, nhưng tôi có rất nhiều bạn Cả những chuyến đi nữa, những chuyến
đi làm tôi phấn chấn hơn rất nhiều
Năm 2012, bộ sách gồm hai tập viết về Hà Nội của anh, Đi dọc Hà
Nội (2012) và Đi ngang Hà Nội (2012) đã vinh dự đạt giải thưởng Bùi Xuân
Phái - Vì tình yêu Hà Nội và Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hà Nội 2012
Các tác phẩm:
Khảo cứu: - 5678 bước chân quanh Hồ Gươm, 2008
- Đi dọc Hà Nội, 2012
- Đi ngang Hà Nội, 2012
- Đi xuyên Hà Nội, 2015
1.2.2 Tiểu thuyết Me Tư Hồng
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến đã có nhiều tác phẩm sâu sắc về Thủ đô
như Đi ngang Hà Nội, Hà Nội đi dọc, Vòng quanh Hà Nội,… Nhân dịp kỷ
niệm 60 năm giải phóng thủ đô Hà Nội (tháng 9 năm 2014), nhà văn Nguyễn
Ngọc Tiến xuất bản tiểu thuyết Me Tư Hồng
Sinh ra và lớn lên ở ngoại ô Hà Nội, vì vậy, đầu tiên, nhà văn viết để thể hiện tình yêu với mảnh đất mình sinh ra, lớn lên, đang sống và còn tiếp tục sống Thứ hai, có rất nhiều cuốn sách viết về Hà Nội của các tác giả châu
Trang 21Âu, nhất là người Pháp (họ viết chủ yếu từ thế kỷ XVI đến 1954); theo Nguyễn Ngọc Tiến, qua các sách đó chúng ta có thể biết rất rõ về thời kỳ cách mạng, thời kỳ chiến tranh nhưng về đời sống thị dân thì vẫn còn rất ít, thiếu thân phận con người cụ thể và có tên đích xác, Điều đó khiến nhà văn quyết định đi tìm, lục lọi báo cũ, các cuốn sách đã xuất bản và ký ức bản thân để viết - viết về đời sống của thị dân Hà Nội
Tiểu thuyết Me Tư Hồng của Nguyễn Ngọc Tiến dựa theo cuộc đời của
cô Tư Hồng - một người phụ nữ xinh đẹp xuất thân từ nông thôn lấy chồng
An Nam, chồng Tàu và chồng Tây Cô Tư Hồng nổi danh nhờ vượt qua các nhà thầu Tây, Tàu trúng thầu phá tường thành Hà Nội năm 1894 Cô là người đàn bà Việt Nam đầu tiên mở công ty ở xứ Bắc Kỳ cuối thế kỷ XIX, cũng là người đầu tiên mắc điện thoại vào năm 1899 Làm ăn thành công, cô còn giúp
đỡ nguời nghèo, nhưng hơn tất cả là nghị lực và quyết tâm vượt lên tất cả định kiến Nho giáo, điều mà rất ít phụ nữ thời đó dám làm
Tác phẩm mang hình dáng tiểu thuyết chân dung Cùng với nhân vật cô
Tư Hồng, rất nhiều nhân vật khác trong tiểu thuyết là những người có thật Bên cạnh đó, hoàn cảnh lịch sử trong tiểu thuyết, địa danh, thời gian xảy ra sự
kiện,… cũng đã được ghi trong chính sử và dã sử, vì vậy, có thể gọi Me Tư
Hồng là tiểu thuyết tư liệu Đây là một cố gắng nhìn lại con người và xã hội
cách chúng ta đã hơn một thế kỷ Qua tiểu thuyết Me Tư Hồng, người đọc
nhận diện được một xã hội Việt Nam vào thời điểm đã suy vong các giá trị cũ
và cả nỗi bi kịch của con người trong sự va chạm giữa đạo đức truyền thống
và văn minh vật chất tân thời, một bi kịch vẫn đậm tính thời sự
Hơn trăm năm rồi, người ta vẫn muốn đặt câu hỏi: Cô Tư Hồng là
người có công hay có tội? Dựa trên các trang tư liệu, giai thoại dân gian về
cuộc đời của người đàn bà có tính cách mạnh mẽ, quyết liệt nhưng đầy nữ tính, báo chí trước đây đã khai thác các khía cạnh khác nhau với những góc
Trang 22nhìn khác nhau, đôi khi đối nghịch Cô Tư Hồng là người nổi danh khắp Bắc
Kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX vì trúng thầu phá tường thành Hà Nội
năm 1894 - một sự kiện đụng chạm đến di sản cung điện nghìn năm của nhiều
triều đại lẫn tổn thương tinh thần sĩ phu Bắc Hà trong hoàn cảnh thuộc địa Nhưng đời cô Tư Hồng còn nhiều câu chuyện đình đám khác: mở công ty buôn bán đầu tiên của người Việt, làm từ thiện, lấy chồng Tàu, chồng Tây Xinh đẹp, khêu gợi, thông minh, cuộc đời cô Tư Hồng vẫn còn đầy bí ẩn như một huyền thoại đất Hà thành
Nhà văn, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, đương khi tìm tư liệu về thời cận đại bắt gặp những điều thú vị về nhân vật này nên cho ra cách hình dung khác
về bà Tiểu thuyết chân dung hay tiểu thuyết tư liệu Me Tư Hồng ra đời trên
cơ sở đó, nối những sự kiện, mốc cứ liệu có thật bằng trí tưởng tượng Tưởng tượng thế nào cho hợp với hiện thực là một nhẽ, cái khó hơn là cho người đọc
thấy những nét tích cực của me, khác nhiều cái chân dung xấu xa đương thời
để lại
Trong bối cảnh xã hội ngổn ngang, triều đình dù chủ hòa hay chủ chiến, cánh văn thân Cần Vương đã thất bại nhưng ý thức hệ Nho giáo lấy sĩ làm đầu, tư tưởng bài ngoại cùng đạo đức hương ẩm còn vững chắc Dễ hiểu,
ai cộng tác với Tây đều bị ghét bỏ, huống hồ đàn bà Cô gái quê Trần Thị Lan lấy chồng Tàu, Tây - nghĩa là thập thành lang chạ - đã đành, lại giao thiệp với quan chức thuộc địa để "làm" mại bản, buôn bán dọc ngang, thầu phá thành
Hà Nội; cuối đời được phong Ngũ phẩm nghi nhân và biển vàng Lạc quyên
nghĩa phụ, và xin cho cha sắc phong Hàn lâm thị độc
Nhưng theo con mắt mới mẻ, me lại nhiều nết tốt Về quan niệm xã hội,
cô dấn thân vào chốn công thương, làm lu mờ vai trò của sĩ, nông Về đạo đức, bỏ qua tam tòng, cô giúp đỡ nhiều kẻ cơ nhỡ, họ tộc, làng xóm, cả người tình cũ Cái cách cô tuyển ngay đám thợ đấu cùng quê lên phá thành Hà Nội
Trang 23thật tài tình Bị giữ ba tàu thóc, không giải cứu được, cô biến ngay chúng thành hàng cứu trợ dân đói Sành sỏi tâm lý nhiều hạng người, cô Lan hiện đại hơn ông trưởng họ ở quê đã đành mà còn có phần vượt cả ông chồng người Hoa thạo buôn bán và ông chồng công chức Pháp Là người giàu tham vọng, cô tuyên chiến với thời cuộc, chấp nhận bươu đầu mẻ trán về tiếng tăm, tính mạng Đa tài, đa tình nên đa đoan, lắm mâu thuẫn giữa vô vàn đòi hỏi, Trần Thị Lan phải nhận bao nhiêu trái đắng: người thân xa lánh, đường con cái bị triệt hạ, cuối cùng bất đắc kỳ tử vô duyên cớ
Me Tư Hồng là cuốn tiểu thuyết hấp dẫn Bản thân hành trạng nhân vật
chính cùng nhân tình thế thái xung quanh đã rất lôi cuốn Nguyễn Ngọc Tiến
trần thuật kiểu cổ điển, theo dòng thời gian và thành công khi không thông
thái nhảy vào cắt nghĩa, áp đặt quan niệm của mình vào người đọc Văn ông
hơi phẳng, kiểu của người quen viết khảo cứu
Cô Tư Hồng tên thật là Trần Thị Lan, theo về ở với người chồng không kèn không trống Nhưng người chồng nghèo khổ và hèn nhát không thể nào kìm giữ được người vợ mạnh mẽ, đầy ý chí Lan bỏ ra đi cùng gã đàn ông
người Hoa tên là Hồng (sau này cô lấy tên chồng), điều này, biến cô thành me
Tàu Nhưng đó mới là điểm khởi đầu của một đời ngang dọc
Đẹp đẽ, mạnh mẽ, khiến đàn ông say mê, nhưng ngay từ đầu cuốn sách,
số phận cô Tư Hồng hé lộ nhiều hiểm họa Cuộc đời đẩy cô đến duyên gặp gỡ
viên quan tư Laglan, rồi lấy ông, trở thành cô Tư Hồng, hay một me Tây như
lối gọi kỳ thị thời ấy
Tiểu thuyết Me Tư Hồng đặc biệt ở chỗ viết về một me Tây trong xã
hội thế kỷ trước nhưng không phê phán, kỳ thị Cô Tư Hồng có cả công lẫn tội với lịch sử, hiện lên như một nhân vật văn chương đa diện và hơn thế, đầy quyến rũ Thái độ này, văn học thị dân Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng vẫn còn thiếu
Trang 241.3 Cơ sở lí luận của đề tài
1.3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật
1.3.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người, là cái vỏ của tư duy
Trong giao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ được dùng một cách tự nhiên, thông dụng, toàn dân với nhiều sắc thái đa dạng, phong phú, diễn tả nhiều cung bậc cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ khác nhau của con người Loại ngôn ngữ mang tính tự nhiên, nguyên sơ mà ai cũng có thể sử dụng, được quan niệm là ngôn ngữ phi nghệ thuật
Trong văn học, Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học (M.Gorki)
Ngôn ngữ trong tất cả tính chất tự nhiên của nó là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Về vấn đề này, tác giả Poxpêlốp
trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học đã viết: Tính độc đáo của mỗi loại
hình nghệ thuật trước hết là do tính chất của các phương tiện vật chất mà người ta dùng để xây dựng hình tượng trong loại hình đó quy định Về mặt này, lẽ tự nhiên, văn học là một nghệ thuật ngôn từ; yếu tố vật chất mang hình tượng của nó là lời nói của con người mà cơ sở là ngôn ngữ của một dân tộc nhất định [49, tr.124] Nói như vậy cũng có nghĩa, ngôn ngữ nghệ thuật
lấy ngôn ngữ toàn dân làm chất liệu biểu hiện
Tuy nhiên, trong văn học, ta bắt gặp một thế giới ngôn ngữ có sự phân biệt rõ nét so với ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ toàn dân đã được nghệ thuật hóa nhằm mục đích xây dựng thế giới hình tượng nghệ thuật và cụ thể hóa sự biểu hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm
Nó là sản phẩm của năng lực sáng tạo đặc biệt của mỗi nhà văn, được nhà văn
chắt lọc từ ngôn ngữ tự nhiên, nâng cấp và mang đến cho nó một vẻ mới, tinh
lọc hơn, sáng láng hơn, chuẩn mực hơn
Theo Trần Đình Sử: Ngôn từ văn học là ngôn từ được lựa chọn, được
tổ chức thành văn bản cố định, sao cho nói một lần mà có thể giao tiếp mãi
Trang 25mãi [50, tr.24] Tô Hoài trong Công việc viết văn cho rằng: Mỗi chữ đều soi bóng hoàn cảnh và tình hình xã hội lúc chữ ấy ra đời… Người viết văn không thể ngồi bóp óc nghĩ cách trau dồi câu chữ mà phải đi vào thực tế đời sống mới bồi bổ được chữ nghĩa cho ngòi bút [34, tr.59] Chính vì vậy, một nhà
văn đích thực phải luôn ý thức về mình như một nhà ngôn ngữ
Có nhiều quan niệm khác nhau về ngôn ngữ nghệ thuật Theo cách hiểu của chúng tôi, ngôn ngữ nghệ thuật là phạm trù chung bao gồm toàn bộ các yếu tố ngôn ngữ được vận dụng trong tác phẩm văn chương Đó là thứ ngôn ngữ đã được chọn lọc, gọt giũa, trau chuốt, có tính gợi hình, gợi cảm, đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mỹ thông qua những rung động tình cảm
Được sáng tạo từ kho tàng tiếng nói dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật không tách rời chủ thể thẩm mĩ, do đó, đã hình thành nên phong cách ngôn ngữ nghệ thuật riêng trong các tác phẩm của mỗi nhà văn Nói cách khác, đối với văn
chương, ngôn ngữ không chỉ là cái vỏ của tư duy mà còn là tài năng, cá tính,
quan điểm nghệ thuật và phong cách nhà văn Một trong những biểu hiện quan trọng của phong cách ngôn ngữ trong văn chương là việc sử dụng và phát huy khả năng diễn tả của các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
1.3.1.2 Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
Mỗi bộ môn nghệ thuật có một chất liệu riêng, một ngôn ngữ riêng Nếu hội họa là nghệ thuật của đường nét, màu sắc, âm nhạc là nghệ thuật của
âm thanh, tiết tấu,… thì văn học là nghệ thuật của ngôn từ Ngôn từ là vật liệu, chất liệu, là tiếng nói của văn học Vì thế, Gorky đã coi yếu tố thứ nhất
của văn học là ngôn ngữ Cũng vì thế, nhà văn được mệnh danh là nghệ sĩ của
ngôn từ Thực ra, ngôn từ nghệ thuật cũng bắt nguồn từ ngôn ngữ đời sống
toàn dân Nhưng trước khi đi vào tác phẩm thành ngôn ngữ văn học, nó đã trải qua quá trình chọn lựa, sàng lọc, gọt giũa, tái tạo dưới bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ Vì thế, ngôn từ nghệ thuật có những đặc trưng riêng của nó
Trang 26Ngôn ngữ nghệ thuật là chất liệu và phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học, Không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học, bởi các tác giả phải dùng ngôn ngữ để thể hiện cốt truyện, chủ đề và tính cách nhân vật trong văn xuôi và tứ thơ trong thi ca, v.v
Ngôn ngữ nghệ thuật khá đa dạng về thể loại, phong phú về màu sắc, biến hóa về tính sáng tạo nhưng thống nhất ở các đặc trưng cơ bản sau:
Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ đơn thuần có chức năng nhận thức mà điều quan trọng là nó có chức năng thẩm mĩ: phản ánh cái đẹp và khơi dậy cảm xúc thẩm mĩ ở người nghe, người đọc bằng những hình tượng văn học giàu khả năng gợi tả, gợi cảm Để tạo ra hình tượng, người viết thường sử dụng rất nhiều biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh,… ; có thể dùng đơn lẻ và cũng có thể kết hợp chúng với nhau một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo để mang lại hiệu quả nghệ thuật và thẩm mĩ cao nhất
Như một kết quả tất yếu của tính hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật phải
có tính đa nghĩa, cô đọng, hàm súc Từ ngữ, câu văn, hình ảnh hoặc toàn bộ văn bản nghệ thuật có khả năng gợi ra nhiều nghĩa, nhiều tầng nghĩa khác nhau Tính đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật cũng quan hệ mật thiết với tính hàm súc Người viết chỉ dùng một vài từ, vài câu, vài hình ảnh,… có thể tạo nên những hình tượng khác nhau
Có lẽ, không ít người sẽ ngỡ ngàng khi đề cập đến tinh chính xác của ngôn ngữ nghệ thuật Người ta vẫn nghĩ rằng tính chính xác là độc quyền của ngôn ngữ khoa học Làm sao có thể nói đến tính chính xác trong một lĩnh vực tưởng như mơ hồ ấy của văn chương? Thế nhưng, ngôn ngữ nghệ thuật vẫn
có tính chính xác riêng của nó Tính chính xác của ngôn ngữ nghệ thuật chính
là ở chỗ: nó có khả năng diễn đạt chính xác những cái mơ hồ Đời sống muôn
Trang 27màu, muôn vẻ, thiên hình vạn trạng, có cái hữu hình, cái vô hình, cả thứ bền vững lẫn thứ mong manh hư ảo, cả thứ trường tồn lẫn những thứ chỉ thoảng qua,…; đối tượng nào cũng đòi hỏi được nắm bắt và thể hiện Ngôn ngữ văn học không chịu bó tay, bất lực trước những đòi hỏi càng ngày càng phức tạp
ấy Thậm chí, một trong những niềm say mê của ngôn ngữ văn học là đuổi bắt cái vô hình, mơ hồ, hư thoảng, những biến thái tinh vi mong manh, và nhiều khi ngôn ngữ văn học đã đến một độ chính xác bất ngờ đến như là… phi lí
Khi Xuân Diệu tả: Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu / Lả lả cành hoang nắng
trở chiều thì ta thấy những biến thái tinh vi của tự nhiên đã được diễn tả chính
xác Hiện ra trước mắt chúng ta một con đường tình với tất cả vẻ xinh xắn, duyên dáng của nó
Ngôn ngữ nghệ thuật không thể thiếu tính truyền cảm vì văn học luôn tác động tới cuộc sống bằng con đường tình cảm Nó thông qua tình cảm mà hướng dẫn nhận thức và thôi thúc hành động của con người Tính truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ làm cho người đọc (nghe) cùng vui, buồn, yêu thích,… như chính người nói (viết) Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật chính là tạo ra sự hòa đồng, giao cảm, gợi cảm xúc cho người đọc
Ngôn ngữ nghệ thuật thường giàu hình ảnh, nhưng có khí không có hình ảnh nó vẫn có sức hấp dẫn lạ thường Mặc dù, ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt chung có tính xã hội rất cao nhưng khi các nhà văn, nhà thơ sử dụng thì mỗi người lại tạo cho mình một giọng điệu riêng, một phong cách ngôn ngữ nghệ thuật riêng, hay còn gọi là dấu ấn sáng tác cá nhân Nguyên nhân của sự khác biệt ấy nằm trong cách dùng từ, đặt câu, cách sử dụng hình ảnh
và xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm của từng người viết Kho tàng ngôn ngữ chỉ có một nhưng khả năng tiếp thu và sáng tạo của các tác giả
là vô tận Chính các biện pháp xử lí ngôn ngữ khác nhau đã tạo ra phong cách ngôn ngữ khác nhau trong văn chương
Trang 28Ngoài ra, tính cá thể hóa còn được thể hiện qua ngôn ngữ của từng nhân vật trong từng tác phẩm Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật vẻ đẹp đa dạng, phong phú Nó cũng là cơ sở để các tác giả phát triển và thể hiện tài năng sáng tác, in đậm dấu ấn phong cách viết của mình trong lòng bạn đọc
Những đặc điểm nêu trên của ngôn ngữ nghệ thuật kết hợp với nhau hài hòa, khéo léo sẽ góp phần thể hiện thành công tư tưởng chủ đề và nội dung tác phẩm mà tác giả muốn thể hiện
1.3.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết
1.3.2.1 Khái niệm tiểu thuyết
Có thể nói rằng, tiểu thuyết là thể loại trung tâm của văn học hiện đại Tuy nhiên, để có một định nghĩa hoàn chỉnh và chính xác về thể loại này, là
một điều không đơn giản M Bakhtin đã nói: Tiểu thuyết là thể loại văn
chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình, những lực cấu thành thể loại còn đang hoạt động trước mắt ta nòng cốt của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán hết những khả năng uyển chuyển của nó [5, tr.23] Các nhà nghiên cứu không chỉ ra được một dấu hiệu
chắc chắn nào của tiểu thuyết mà không phải đính chính, để rồi, sự đính chính
ấy lại bác bỏ dấu hiệu ấy như chính là một dấu hiệu thể loại: Tiểu thuyết là
một thể loại nhiều bình diện, mặc dù có những tiểu thuyết tuyệt vời chỉ có một bình diện; tiểu thuyết là thể loại có cốt truyện gay cấn và năng động, mặc dù
có những tiểu thuyết đạt được tính miêu tả thuần túy đến cực độ trong văn học; tiểu thuyết là thể loại đặt vấn đề, mặc dù sản phẩm đại trà của tiểu thuyết cho ta một mẫu mực về sự hấp dẫn không đòi hỏi suy nghĩ mà các thể loại khác không thể đạt được; tiểu thuyết là chuyện tình yêu, mặc dù những mẫu mực vĩ đại nhất của tiểu thuyết châu Âu hoàn toàn không có yếu tố diễm tình [5, tr.32-33] Bởi vậy, người ta không mệt mỏi đi tìm cái định nghĩa
chính xác nhất, những đặc thù riêng biệt nhất với tư cách là một thể loại đã
Trang 29hoàn mĩ (như sử thi chẳng hạn) Và chắc hẳn rằng, chỉ có thể tiếp cận tiểu thuyết đích thị như môt thể loại luôn luôn biến chuyển, thể loại đi đầu trong tiến trình phát triển của toàn bộ văn học thời đại mới Như cách mà M
Bakhtin khẳng định: Về bản chất nó là một thể loại không quy phạm Đó là
hiện thân của tính uyển chuyển Đó là thể loại mãi mãi tìm tòi, mãi mãi tự khảo sát bản thân mình và xét lại tất cả những dạng thức đã định hình của mình [5, tr.84], và thiết nghĩ như thế nó mới phù hợp với khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang biến chuyển Cũng tương tự như thế, trong Từ điển thuật ngữ văn học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một định nghĩa rộng nhất có
thể để ta tạm hình dung về thể loại này như sau: Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả
năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng [27, tr.328]
1.3.2.2 Đặc trưng thể loại tiểu thuyết
Chúng ta có thể nhìn nhận đặc trưng của thể loại tiểu thuyết qua những điểm cơ bản sau: (1) Tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Tiểu thuyết
ra đời khi vấn đề của đời sống cá nhân được đặt ra một cách gắt gao, nhu cầu của con người cá thể được chú ý tới Đây chính là đặc trưng của tiểu thuyết khi so sánh với những thể loại khác như sử thi hay anh hùng ca Tùy theo từng thời kỳ phát triển, cái nhìn đời tư có thể sâu sắc tới mức thể hiện được hoặc kết hợp với các chủ đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc (2) Tiểu thuyết mang đậm chất văn xuôi Tiểu thuyết là thể loại luôn vận động biến đổi cùng thực tại cuộc sống Nó tái hiện cuộc sống như đang diễn ra Nó hấp thụ vào bản thân mọi yếu tố ngổn ngang, bề bộn của hiện thực cuộc đời, bao gồm cái cao
cả lẫn cái tấm thường, cái bi thương lẫn hài hước, (3) Nhân vật của tiểu
thuyết là kiểu con người nếm trải, tư duy chịu đau khổ, trăn trở, bứt phá Tiểu
Trang 30thuyết miêu tả nhân vật như là con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, con
người đang trưởng thành do cuộc đời dạy bảo Bản thân vùng tiếp xúc với cái
hiện tại hoàn thành - và như vậy là với tương lai - tất sẽ tạo ra sự không trùng hợp của con người với bản thân nó Ở nó bao giờ cũng còn lại những tiềm năng chưa thành hiện thực và những đòi hỏi chưa được đáp ứng [56,
80] (4) Tiểu thuyết là loại tự sự cỡ lớn, nó tái hiện cuộc sống với đầy đủ mọi dạng thái Bởi thế, thành phần chính của tiểu thuyết không chỉ là cốt truyện, tính cách nhân vật như truyện ngắn, mà còn đòi hỏi cách miêu tả suy tư của nhân vật, phân tích cặn kẽ diễn biến tâm lý tình cảm của nhân vật, hoạt động của nhân vật, mọi chi tiết về mối quan hệ giữa người với người, giữa người với môi trường hoàn cảnh, (5) Tiểu thuyết miêu tả hiện thực như cái hiện tại đang diễn ra với người trần thuật, tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách về giá trị giữa người trần thuật và nội dung trần thuật Đặc điểm này làm cho tiểu thuyết trở thành thể loại dân chủ, người trần thuật trở nên thân mật, suồng sã với nhân vật của mình (6) Tiểu thuyết là thể loại có khả năng tổng hợp lớn nhất so với các thể loại khác, cả những thể loại nghệ thuật lẫn phi nghê thuật Những thể loại ấy khi kết hợp với tiểu thuyết không bị tan loãng, thường vẫn giữ được tính co giãn về kết cấu và tính độc lập, cũng như ngôn ngữ và văn phong đặc thù của chúng
Về vấn đề phân loại tiểu thuyết: tùy từng góc độ tiếp nhân mà có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau Dựa vào đề tài thì có tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết tâm lí Dựa vào trào lưu khuynh hướng thì có tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực (còn gọi là tiểu thuyết xã hội), tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết hiện sinh, tiểu thuyết mới (còn gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại) Dựa vào thi pháp thể loại thì có tiểu thuyết tâm lí, tiểu thuyết phiêu lưu Tuy nhiên, các cách phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối; bởi vì, bản thân
Trang 31tiểu thuyết đã chứa trong nó các thể loại nghệ thuật khác, các địa hạt tri thức khác nhau của cuộc sống
1.3.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết
Ngôn ngữ tiểu thuyết trước hết là ngôn ngữ nghệ thuật, nó mang trong mình đầy đủ đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật: tính hình tượng, tính cấu trúc, tính cá thể, tính biểu cảm Tuy nhiên, bên cạnh đó, nó còn mang những nét đặc thù so với các thể loại khác
Để thấy rõ đặc điểm riêng của ngôn ngữ tiểu thuyết, M Batktin đã chỉ
ra sự khác biệt khi đối sánh với các thể loại khác như so sánh tiểu thuyết với thơ ca theo nghĩa hẹp Do đặc điểm thể loại, ngôn ngữ tiểu thuyết không phải
là ngôn ngữ thống nhất, hoàn bị mà nó được tái tạo trong trạng thái sống động, biến chuyển và không ngừng đổi mới Đó là thứ ngôn ngữ phức hợp, soi chiếu lẫn nhau, đối thoại với nhau, không thể nào xếp đặt trên một bình diện; ở đó, luôn có sự tương giao, pha trộn Giả thử, nếu như xóa đi tất cả những dấu nháy ngữ điệu, tất cả mọi sự phân chia bè giọng và phong cách, mọi khoảng cách khác nhau giữa những ngôn ngữ được miêu tả với tiếng nói trực tiếp của tác giả thì ta sẽ thu được một tập hợp xộc xệch và vô nghĩa Nhưng thơ ca lại khác, ngôn ngữ có sự thoát ly một cách ước lệ khỏi mọi sự tương tác với lời người khác Trong một tác phẩm thơ ca, dù có thể hiện trong
đó bao nhiêu mâu thuẫn, xung đột bế tắc đi chăng nữa thì nó vẫn được soi chiếu bằng một thứ ngôn ngữ thống nhất, miễn bàn Đây là sự khác biệt rõ nét giữa ngôn ngữ thơ ca và ngôn ngữ tiểu thuyết Ngôn ngữ tiểu thuyết không tẩy xóa từ ngữ giọng điệu người khác, không thủ tiêu những mầm mống, ngôn
từ xã hội khác tiềm ẩn trong nó, không chối bỏ những khuôn mặt, cung cách nói năng đằng sau từ ngữ và hình thức ngôn ngữ Tuy nhiên, tất cả được sắp xếp ở những khoảng cách khác nhau theo ý đồ của tác giả Tóm lại, ngôn ngữ tiểu thuyết là dạng thức ngôn ngữ đa thanh, dung hợp nhiều giọng điệu
Trang 32Những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau ấy được tổ chức thành một hệ thống nghệ thuật hoàn chỉnh Đây chính là một trong những đặc trưng quan trọng của tiểu thuyết
Nếu đặt tiểu thuyết cạnh sử thi, ta sẽ dễ dàng nhận ra sự khác nhau về ngôn ngữ giữa hai thể loại này Theo M Bakhtin, ngôn ngữ sử thi là lời tiên tri, lời sấm truyền Còn ngôn ngữ tiểu thuyết là lời tiên đoán, lời dự báo Lời sấm truyền được thực hiện hoàn toàn trong khuôn khổ quá khứ tuyệt đối, không liên quan đến độc giả và thời đại thực tế của anh ta Ngôn ngữ sử thi là ngôn ngữ thành kính, cái nhìn sử thi là cái nhìn tưởng niệm Ngược lại, tiểu thuyết lại có sự tiếp xúc mãnh liệt với môi trường hiện thực chưa hoàn thành - cái hiện thực thấp kém đối với sử thi Có thể nói, sự khác biệt này ta có thể tạm hình dung: ngôn ngữ sử thi là ngôn ngữ của người chết, còn ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ của người đang sống, cả về nội dung lẫn phong cách
So sánh tiểu thuyết với truyện ngắn, truyện ngắn mang trong nó các nguồn lực để trở thành tiểu thuyết: ngôn ngữ, nội dung, đề tài, phong cách, nhân vật, Tuy nhiên, do yêu cầu thể loại khiến ngôn ngữ truyện ngắn và ngôn ngữ tiểu thuyết có những điểm khác nhau rõ nét Truyện ngắn, vì đặc
thù là ngắn, cô đọng nên tự bản thân nó đã tạo ra một ranh giới dứt khoát, rõ
ràng Truyện ngắn luôn súc tích, cô đọng; cốt truyện kịch tính, có thắt nút, mở nút, có cao trào, đến đỉnh điểm thì vỡ òa ra Bởi thế, ngôn ngữ truyện ngắn được tổ chức chặt chẽ, chính xác, không dư thừa Tiểu thuyết không hạn chế
về dung lượng, có thể mải miết, triền miên, có khả năng phân nhánh, kéo dài;
vì thế, đọc tiểu thuyết ta có thể bỏ qua một vài câu, thậm chí vài trang mà không ảnh hưởng Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa ngôn ngữ tiểu thuyết
và truyện ngắn
Ngôn ngữ tiểu thuyết có nhiều lớp lang, là kiểu ngôn ngữ đa thanh Ngôn ngữ trực tiếp hướng đến đối tượng, tái hiện đối tượng, ngôn ngữ của các
Trang 33nhân vật Ngoài ra, còn có ngôn ngữ song thanh, là ngôn ngữ nhấn vào một đối tượng khác, một tiếng nói khác, như tác giả hướng đến nhân vật, hoặc nhân vật này xen lẫn giọng nhân vật khác; có loại song thanh cùng hướng, sẽ tạo ra sự đồng cảm, gần gũi; lại có loại song thanh khác hướng, sẽ tạo ra thứ ngôn thoại mỉa mai, tranh luận ngầm bên trong
Như vậy, tiểu thuyết và ngôn ngữ của nó mang những đặc thù riêng so với các thể loại khác Đây chính là cơ sở lý luận khoa học để tiếp cận ngôn ngữ của các tiểu thuyết cụ thể trên tiến trình phát triển của thể loại
1.3.3 Từ ngữ và câu văn trong văn bản nghệ thuật
1.3.3.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ và từ ngữ trong văn bản nghệ thuật
a Từ ngữ trong ngôn ngữ
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, từ là cơ sở cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn là cụm từ, câu, văn bản Xung quanh khái niệm từ, có rất nhiều ý kiến của các nhà ngôn ngữ học, có thể kể ra đây một số định nghĩa sau:
Theo Nguyễn Thiện Giáp: Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý
nghĩa, dùng để tạo câu, nó có hình thức của một âm tiết, một "chữ" viết rời
[25, tr.72] Tác giả Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm
tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong kiểu cấu tạo nhất định Tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [16, tr.16]
Từ các định nghĩa trên, ta thấy các nhà nghiên cứu đều có sự thống nhất
ở các khía cạnh âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và chức năng của từ Trong luận văn, chúng tôi sử dụng định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu làm cơ sở Theo
đó, ta có thể nhận thấy rất rõ các đặc điểm cơ bản của từ: 1/ Có hình thức ngữ
âm và ý nghĩa nhỏ nhất; 2/ Được cấu tạo theo một phương thức ngữ pháp nhất định; 3/ Là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu
Từ là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, mang nhiều chức năng (chức năng định danh, phân biệt nghĩa, thông báo) Ở mỗi cá nhân, từ được tích lũy dần
Trang 34và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ, trở thành vốn từ vựng riêng của từng người, không ai giống ai Trong kho từ vựng riêng đó, từ tồn tại ở trạng thái tĩnh; chỉ khi tham gia hoạt động ngôn ngữ cụ thể, nó mới có cuộc sống riêng, bộc lộ hết thuộc tính và đặc điểm, chức năng Trong thực tế sử dụng, từ có sự chuyển hóa, biến đổi đa dạng, đem đến những ý nghĩa mới ngoài nghĩa gốc ban đâu
b Từ ngữ trong văn bản nghệ thuật
Khi từ đi vào hoạt động, nghĩa là nó được hiện thực hóa, cụ thể, xác định; lúc đó, các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ giảm dần tính trừu tượng, tính khái quát đến mức tối thiểu, để đạt tới tính chính xác, cụ thể
tối đa Chẳng hạn, từ mắt trong từ điển với tư cách là đơn vị ngôn ngữ có 5 nghĩa khác nhau Nhưng khi đi vào hoạt động cụ thể thì nghĩa của từ mắt mới
được bộc lộ một cách cụ thể:
Mắt nàng đăm đắm trông lên
Con bươm bướm trắng về bên ấy buồn
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Hoàng Trung Thông) Lúc này, từ bàn tay không đơn thuần là để chỉ bộ phận của cơ thể người nữa mà nó mang ý nghĩa sức mạnh lao động con người Cũng như thế, sỏi đá hay cơm cũng được hiểu theo nghĩa mới mang tính lâm thời phù hợp với ý nghĩa của cả câu thơ Như vậy, các từ bàn tay, sỏi đá, cơm không còn giữ
nguyên nghĩa như trong từ điển mà đã có sự chuyển nghĩa lâm thời theo
Trang 35phương thức ẩn dụ hay hoán dụ nhất định, tạo nên hiệu quả cho sự diễn đạt sâu sắc của lời nói
Từ trong sáng tạo nghệ thuật còn chịu sự chi phối rất lớn từ các yếu tố khác như đề tài, chủ đề, năng lực ngôn ngữ và phong cách nhà văn Bởi thế, tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ trong tác phẩm cụ thể giúp ta có cái nhìn chính xác hơn, sát thực hơn về ngôn ngữ nói chung và hoạt động của từ nói riêng
Từ trong ngôn ngữ nghệ thuật là một dạng hoạt động đặc thù Do đó, từ lâu, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã chú ý tiếp cận, khám phá, xem nó như một con đường tối ưu để hiểu, cắt nghĩa tác phẩm thay vì tiếp cận những yếu tố khác kém khách quan, mang tính áp đặt (tiểu sử, thời đại, con người ) Tùy mục đích nghiên cứu khác nhau mà có những hướng tiếp cận khác nhau
1.3.3.2 Vấn đề định nghĩa câu và câu trong văn bản nghệ thuật
a Định nghĩa câu
Đối tượng chủ yếu của cú pháp học nói riêng và ngữ pháp học nói chung là câu Đến nay, đã có trên 300 định nghĩa về câu (theo thống kê của
A.Akhmanôva - Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học) Tuy vậy, vẫn chưa có một
định nghĩa thống nhất về câu Tùy vào những hướng tiếp cận khác nhau mà có những định nghĩa cũng như cách phân loại câu khác nhau Có thể chia ra thành các hướng cơ bản sau:
- Hướng định nghĩa dựa vào mặt ý nghĩa, các nhà nghiên cứu chỉ chú ý vào nội dung ý nghĩa của câu
- Hướng định nghĩa câu dựa vào hành động phát ngôn, tác giả E.Sapir
(1921) định nghĩa: Câu là một hành động ngôn ngữ diễn đạt một hành động
của tư duy
- Hướng định nghĩa câu theo quan điểm ngữ pháp duy lý Các nhà ngữ pháp duy lý nghiên cứu câu gắn liền với phán đoán, họ cho rằng mọi lời nói đều là phán đoán hay một chuỗi phán đoán
Trang 36- Hướng định nghĩa câu dựa vào mặt hình thức, các nhà nghiên cứu cho rằng: câu là một tổng hợp từ với một ngữ điệu kết thúc
- Hướng định nghĩa câu dựa đồng thời vào hai mặt cấu trúc và ý nghĩa
Theo Diệp Quang Ban: Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ, có cấu tạo
ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị
thông báo nhỏ nhất [6, tr.107]
b Câu trong văn bản nghệ thuật
Câu trong văn bản nghệ thuật có sự khác biệt với câu tồn tại độc lập trong ngôn ngữ về mặt cấu tạo ngữ pháp và ý nghĩa, do bị chi phối bởi nhiều yếu tố: thể loại, văn cảnh, mục đích sử dụng, phong cách tác giả, Theo cách hiểu của nhiều nhà nghiên cứu, câu trong văn bản nghệ thuật có một số đặc điểm sau: 1/ Câu trong văn bản nghệ thuật có tính đa dạng về cấu tạo: câu có đầy đủ thành phần, câu đơn phần, câu tối giản, câu mở rộng theo nhiều tầng bậc khác nhau, câu đơn, câu ghép, Chúng có thể nằm kề nhau đan xen vào nhau hết sức đa dạng và phức tạp 2/ Câu trong văn bản luôn có sự chuyển đổi trật tự một cách linh hoạt và nó phụ thuộc vào phong cách chức năng mà văn bản thể hiện 3/ Câu trong văn bản nghệ thuật thường chứa đựng nhiều tầng nghĩa, dựa vào chỉnh thể của văn bản đó ta có thể suy ra các tầng nghĩa của chúng 4/ Câu trong văn bản nghệ thuật thường có sự chuyển đổi về trật tự nhằm thể hiện những sắc thái tu từ khác nhau, gây những cảm xúc mới ở người tiếp nhận
Trang 37Trong tác phẩm văn chương nói chung, tiểu thuyết nói riêng, cái yếu tố vật chất đầu tiên, trực tiếp thể hiện nội dung, tư tưởng tác phẩm chính là các
từ, các cấu trúc câu, ngữ điệu và giọng điệu Từ cái vỏ ngôn từ ý nghĩa logic
sự vật và sắc thái biểu cảm của nó, tức là từ lời văn nghệ thuật các chi tiết được sống dậy, và nhờ sự đan kết các chi tiết lại làm cho hình tượng hiện ra trọn vẹn, toàn bộ với ý nghĩa là một chỉnh thể: chính thể hình tượng gắn với chỉnh thể ngôn từ Bởi vậy, các nghệ sĩ ngôn từ đặc biệt chú ý trong việc lựa chọn từ, kiểu câu để làm nên lời văn gọt giũa, đạt đến mức tinh diệu trở thành những khuôn mẫu không thể khác được
Tiểu thuyết với những đặc trưng thể loại riêng biệt và giá trị chuyển tải đặc biệt của nó đã khẳng định vị trí quan trọng trong nền văn học nước nhà Trong bối cảnh chuyển mình và giao thoa văn hóa rộng lớn hiện nay, việc tiểu thuyết khẳng định vững chắc vị trí của mình trong nền văn học và phát triển, biến đổi uyển chuyển, không ngừng trên đặc trưng vốn có của thể loại, đặc biệt có sự xuất hiện của xu hướng sáng tác mang yếu tố hậu hiện đại là điều tất yếu Nó thực sự tạo nên sự khởi sắc, đổi mới, đa dạng cách viết, cách đọc
và cách tiếp nhận
Nguyễn Ngọc Tiến với tiểu thuyết Me Tư Hồng có thể coi là hiện
tượng đặc biệt của nền văn học Việt Nam đương đại, mang dáng vẻ hậu hiện đại Nguyễn Ngọc Tiến thực sự đã tạo ra một tác phẩm đa thanh phức điệu, xây dựng được một khung truyện kể giản đơn để tạo ra ở bên trên một cấu
trúc ngữ nghĩa vô cùng phong phú, phức tạp Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Me
Tư Hồng có thể coi là biểu hiện tập trung cho cá tính ngôn ngữ của Nguyễn
Trang 38Chương 2
CÁC LỚP TỪ TIÊU BIỂU TRONG TIỂU THUYẾT ME TƯ HỒNG
2.1 Các cách phân loại từ và hướng nghiên cứu từ trong tiểu thuyết
Me Tư Hồng
2.1.1 Sơ lược về các cách phân loại từ
Nếu từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng định danh, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu thì vốn từ thường được xem là một hệ thống bao gồm toàn bộ từ (và ngữ cố định) của một ngôn ngữ nằm trong những quan hệ nhất định Theo những quan hệ, tiêu chí khác nhau và tùy theo bình diện, mục đích nghiên cứu, vốn từ của một ngôn ngữ có thể được chia thành những lớp từ vựng khác nhau Tiếng Việt cũng có rất nhiều tiêu chí khác nhau được vận dụng để phân chia vốn từ, nên kết quả và tên gọi của các lớp từ vì thế cũng khác nhau
Những cách chia vốn từ tiếng Việt khác nhau thường được áp dụng là: 1) Dựa vào phương thức cấu tạo từ; 2) Dựa vào phong cách chức năng; 3) Dựa vào nguồn gốc của từ; 4) Dựa vào phạm vi sử dụng; 5) Dựa vào ý nghĩa mang tính phạm trù ngữ pháp; 6) Dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong từ vựng,…
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn áp dụng các cách phân chia khác về vốn từ để nghiên cứu từ về mặt lịch sử, hình thái, sự phát triển, tần số sử dụng, phong cách chức năng,… Do đó, từng lớp từ cụ thể như: lớp từ cơ bản, lớp từ cổ, lớp từ mới, lớp từ tích cực, từ phái sinh, từ ngữ nghệ thuật, từ khẩu ngữ, cũng sẽ được chú ý
Dựa theo kết quả phân loại từ tiếng Việt của các nhà Việt ngữ học, đứng ở góc độ vận dụng, phân tích từ trong sử dụng, tùy theo đối tương nghiên cứu và mục đich tìm hiểu, chúng ta có thể lựa chọn phân tích những
Trang 39lớp từ cụ thể theo những cách phân loại từ nhất định Như đã nói, mỗi cách phân chia từ đều xuất phát từ những tiêu chí nhằm đạt những mục đích nhất định Do vậy, kết quả phân loại sẽ cho thấy đặc điểm của từ về một phương diện, vì thế, sử dụng kết quả phân loại từ khác nhau sẽ cho phép đánh giá vai trò hiệu quả của từ cũng như từng lớp từ trong những chức năng nhất định
Chẳng hạn, xét về mặt cấu tạo, theo các phương thức cấu tạo từ, phần lớn các nhà nghiên cứu chia từ tiếng Việt thành ba loại là từ đơn, từ ghép và
từ láy; trong đó, do quan niệm về hình vị và phương thức cấu tạo từ không hoàn toàn giống nhau nên có những lớp từ cụ thể các tác giả phân định không
hoàn toàn giống nhau (mồ hóng, cà phê,…) Cách phân loại từ theo cấu tạo
như vậy không chỉ phản ánh kết quả nghiên cứu cấu trúc từ của tiếng Việt về mặt hình thái mà còn cho phép vận dụng kết quả nghiên cứu cấu tạo từ để phân tích đánh giá vai trò, giá trị của từng loại từ trong ngôn ngữ cũng như trong hành chức Cũng có thể xét theo các phương diện khác nhau về âm thanh, ngữ nghĩa, tri nhận,… để khảo sát từ tiếng Việt
Trong giao tiếp, có những lớp từ có thể dùng rộng rãi theo những phong cách khác nhau, không bị giới hạn về phạm vi địa lý hay đối tượng người dùng trong xã hội, nhưng cũng có những lớp từ chỉ dùng trong những lĩnh vực, phạm vi giao tiếp nhất định, vì thế, người ta có thể chia từ thành hai loại, gồm lớp từ đa phong cách và lớp từ đơn phong cách hoặc lớp từ toàn dân
và lớp từ địa phương, lớp từ nghệ thuật và lớp từ khẩu ngữ - sinh hoạt, v.v
Theo phong cách chức năng, từ ngữ dùng trong một tác phẩm văn học trước hết đã được quy định bởi chức năng hành chức của loại ngôn bản này; ngoài ra, còn tùy thuộc vào phong cách thể loại, theo đặc trưng loại hình tác phẩm, theo thói quen lựa chọn của tác giả,…
Như vậy, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là dạng ngôn ngữ đã qua lựa chọn mang dấu ấn của nhà văn, vì thế, khi phân tích từ ngữ trong tác
Trang 40phẩm nghệ thuật, người ta phải chú ý các lớp từ nổi bật thể hiện sự lựa chọn, mang dấu ấn phong cách nhà văn Đó cũng là định hướng của chúng tôi khi phân tích từ ngữ trong tác phẩm văn học
2.1.2 Tiếp cận các lớp từ trong tiểu thuyết Me Tư Hồng
Từ là một đơn vị của ngôn ngữ mang tính cố định nhưng khi tham gia hành chức, từ rất linh hoạt, nhất là trong chức năng nghệ thuật Trong hoạt động, gắn với ngữ cảnh, không chỉ các nét nghĩa riêng thể hiện sự tinh tế về tri nhận sự vật mà cả các nét nghĩa mới, sắc thái nghĩa mới của từ trong những ngữ cảnh nhà văn sử dụng mang đậm dấu ấn sáng tạo của tác giả Quá trình sáng tạo nghệ thuật cho phép nhà văn lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu
tố phương tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất cho mục đích thẩm mĩ của mình
Như vậy, dấu hiệu phong cách nhà văn thể hiện trước hết ở việc lựa chọn ngôn ngữ cho tác phẩm của mình Qua đó, nhà văn có thể vận dụng từ ngữ một cách sáng tạo và hiệu quả nhất trong hành chức Vì vậy, khi đi tìm
hiểu ngôn ngữ tiểu thuyết Me Tư Hồng của Nguyễn Ngọc Tiến, chúng tôi đi
vào xem xét các lớp từ nổi bật mà tác giả sử dụng trong tác phẩm
Qua khảo sát từ trong tiểu thuyết Me Tư Hồng chúng tôi thấy dấu ấn
phong cách nhà văn thể hiện khá đậm nét ở việc sử dụng từ ngữ Nhưng trong luận văn, do dung lượng và tính chất đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành tìm hiểu
từ láy, từ ghép (theo cấu tạo), từ khẩu ngữ, từ Hán - Việt và từ vay mượn (theo phong cách)
2.2 Các lớp từ tiêu biểu trong tiểu thuyết Me Tư Hồng về mặt cấu tạo
2.2.1 Từ láy
2.2.1.1 Khái niệm về từ láy
Từ láy là kết quả của một phương thức cấu tạo từ đặc sắc của tiếng
Việt, đó là phương thức láy Phương thức láy, theo Nguyễn Như Ý là phương