Mặc dù ý thức được Trần Dần là một "đỉnh núi lớn", tác phẩm của ông rất kén người đọc, hiểu được Trần Dần là điều không dễ, nhưng chúng tôi lựa chọn đề tài: “Từ ngữ và câu trong tiểu thu
Trang 2Trong quá trình theo học ngành Ngôn ngữ học - khoa Ngữ văn - trườngĐại học Vinh và quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, chúng tôi đã nhậnđược sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, trườngĐại học Vinh Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ củagia đình và bạn bè Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả cácthầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình họctập và thực hiện luận văn.
Đặc biệt, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo,
TS Đặng Lưu, người thầy đã tận tâm hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luậnvăn này
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, chúng tôi đã hết sức
cố gắng nhưng do khả năng có hạn nên luận văn chắc chắn không tránh khỏisai sót Do vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của cácthầy cô giáo và các bạn
Nghệ An, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Thể loại tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết 8
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 8
1.1.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết 13
1.2 Tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần 18
1.2.1 Vài nét về con người và sự nghiệp văn chương của Trần Dần 18
1.2.2 Thể loại tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Trần Dần 24
1.2.3 Tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại 27
1.3 Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 TỪ NGỮ TRONG NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN CỦA TRẦN DẦN 33
2.1 Từ ngữ trong tiểu thuyết và những hướng nghiên cứu 33
2.1.1 Từ ngữ trong tiểu thuyết 33
2.1.2 Các hướng nghiên cứu từ ngữ trong tiểu thuyết 36
2.2 Các lớp từ ngữ nổi bật trong Những ngã tư và những cột đèn 39
2.2.1 Từ láy 39
2.2.2 Từ Hán Việt 42
2.2.3 Lớp từ khẩu ngữ 46
Trang 42.3.1 Từ ngữ trong lời kể 51
2.3.2 Từ ngữ trong lời nhân vật 54
2.4 Những sáng tạo về từ ngữ của Trần Dần trong Những ngả tư và những cột đèn 60
2.4.1 Sự chính xác trong sử dụng từ ngữ 60
2.4.2 Lạ hóa ngôn từ 61
2.5 Tiểu kết chương 2 66
Chương 3 CÂU VĂN TRONG NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN CỦA TRẦN DẦN 67
3.1 Các hướng nghiên cứu câu văn trong tiểu thuyết 67
3.2 Đặc điểm ngữ pháp của câu văn trong Những ngã tư và những cột đèn 69
3.2.1 Câu đơn 70
3.2.2 Câu đơn có thành phần phụ 71
3.2.4 Câu đặc biệt 73
3.2.4 Câu ghép 76
3.2.5 Những nỗ lực của Trần Dần trong việc làm mới câu văn tiếng Việt .78
3.3 Tính nghệ thuật của câu văn trong Những ngã tư và những cột đèn 82
3.3.1 Tính tạo hình 82
3.3.2 Tính biểu cảm 84
3.3.3 Tu từ cú pháp 86
3.3.4 Tính thơ hay sự xâm nhập của thể loại thơ vào tiểu thuyết 93
3.4 Tiểu kết chương 3 99
Trang 5KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ tiểu thuyếtnói riêng là một trong những mảng đề tài của hoạt động nghiên cứu ngữ văn.Nghiên cứu ngôn ngữ tiểu thuyết, trong đó đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm ngônngữ một tác phẩm là một trong những hướng đi cần thiết để khám phá cáihay, cái đẹp của nghệ thuật văn chương Ngôn ngữ nghệ thuật được tiếp cậntrên nhiều phương diện Tìm hiểu đặc điểm từ ngữ và câu văn trong văn bảnnghệ thuật của một tác giả là một hướng tiếp cận vừa mang tính chuyên sâuvừa mang tính liên ngành, hiện nay đang được vận dụng khá phổ biến Sự lựachọn đề tài nghiên cứu của chúng tôi xuất phát từ định hướng khoa học đó
1.2 Trần Dần là một trong những tác giả hiện đại Việt Nam thể hiệnđược cốt cách của mình trong cả đời sống và văn học nghệ thuật Ông sốnggiữa đời thì “cứng cỏi ngay thẳng, không khoan nhượng với thế tục” (TrầnVăn Toàn), sống trong nghệ thuật thì dấn thân theo cung cách của một nhàtiên phong đích thực Có lẽ cũng vì khí phách ấy mà cả con người lẫn tácphẩm của ông đều chịu không ít những hệ luỵ, đắng cay Đến nay, khi mộtphần tác phẩm của ông đã bước ra ánh sáng, những tranh luận về ông vẫnchưa chấm dứt Những tác phẩm gần nửa thế kỉ có số phận là “bản thảo nằm”,
“tác phẩm trong ngăn kéo” được xuất bản đã gây nên một cơn sốt trong vănchương Dù trải qua nhiều thăng giáng trong số phận, nhưng theo thời gian,càng ngày người ta càng nhận ra vị trí quan trọng của “vị thủ lĩnh trong bóngtối” trong nền văn học Việt Nam hiện đại Tác phẩm của ông đưa lại mộtnguồn mạch mới cho nền văn học nước nhà Chính cái nguồn mạch mới này
là một trong những lí do thu hút chúng tôi tìm hiểu đề tài này
1.3 Sinh thời, Trần Dần viết một số cuốn tiểu thuyết: Người người lớp lớp (in ngay sau giải phóng Thủ đô 1954), Sứa (1960, viết về xã hội loài
Trang 7kiến), Cổng tỉnh (1994), Những ngã tư và những cột đèn (1965 - 2011) Những ngã tư và những cột đèn là một sáng tạo đột xuất, mới mẻ của Trần
Dần trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Tác phẩm được viết hơn 45 nămtrước, nhưng đến tháng 1/2011 mới được xuất bản Riêng điều đó đã cho thấy,
dù ở thơ hay văn xuôi, Trần Dần vẫn mang tầm vóc của một nhà cách tânngoại hạng Đọc và hiểu được Trần Dần thực sự là một thách thức Đây cũng
là một thử thách và động lực hấp dẫn người viết tìm hiểu đề tài này
1.4 Những ngã tư và những cột đèn là cuốn tiểu thuyết chứa đựng
nhiều điều mới lạ về ngôn ngữ Dù được viết từ 45 năm trước, nhưng giờ đâytiếp xúc, ta không khỏi kinh ngạc trước cách viết của Trần Dần Những thủpháp như liên văn bản, phân mảnh tự sự, giễu nhại… của kĩ thuật hậu hiện đại
đã được ông sử dụng từ rất sớm Trong các cách tân về ngôn ngữ ở cuốn tiểuthuyết này, việc sử dụng từ ngữ và câu văn để lại nhiều dấu ấn Nghiên cứu
đặc điểm từ ngữ và câu văn trong Những ngã tư và những cột đèn không chỉ
cho ta thấy vẻ đẹp của ngôn ngữ trong hành chức của nó ở văn bản nghệthuật, mà còn góp phần tìm hiểu những nỗ lực cách tân của tác giả Trần Dầntrong một thể loại quan trọng của nền văn học Mặc dù ý thức được Trần Dần
là một "đỉnh núi lớn", tác phẩm của ông rất kén người đọc, hiểu được Trần
Dần là điều không dễ, nhưng chúng tôi lựa chọn đề tài: “Từ ngữ và câu
trong tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn”, triển khai trong qui mô
một luận văn thạc sĩ, với mong muốn góp phần giải mã một tác phẩm chứađựng những điều mới mẻ trên nhiều phương diện, trong đó có ngôn ngữ
2 Lịch sử vấn đề
Hành trình sáng tạo của Trần Dần là một con đường thăng trầm, và bảnthân lịch sử nghiên cứu hay chính xác hơn là lịch sử đọc - hiểu Trần Dầnkhông khác gì một cuộc phiêu lưu mà đích của nó dường như vẫn còn xa vời.Việc nghiên cứu tác phẩm của Trần Dần đã được đặt ra từ lâu và có tính lịch
Trang 8sử Thời kì từ sau vụ Nhân văn Giai phẩm đến trước ngày đổi mới, sáng táccủa Trần Dần chủ yếu được nhìn nhận như một hiện tượng tiêu cực Với lốiphê bình xã hội học thô thiển, lấy chính trị làm thước đo, những cách tân củaông bị phủ nhận một cách bất công Đến thời kì đổi mới, tác phẩm của TrầnDần bắt đầu nhận được sự quan tâm của giới phê bình Tuy nhiên, từ 1989đến 1995, những bài viết về Trần Dần còn ít ỏi, do các nhà nghiên cứu e ngạiđộng chạm đến chính trị.
Thời kì từ 1995 đến nay, tác phẩm của Trần Dần mới thực sự được khai
mở trước ánh sáng Năm 1995, Cổng tỉnh được nhận giải thưởng Hội nhà văn Tiếp sau đó, các tác phẩm của ông liên tiếp được xuất bản: Mùa sạch (1998), Trần Dần - thơ (2007), Những ngã tư và những cột đèn (2011) Giới nghiên
cứu phê bình có điều kiện tiếp xúc với tác phẩm của ông một cách có hệthống và có nhiều trao đổi mạnh dạn, cởi mở hơn Trang www.tienve.org tậphợp khá phong phú những bài viết, tranh luận xung quanh tác phẩm TrầnDần Trong phạm vi luận văn của mình, để phục vụ cho đề tài nghiên cứu,chúng tôi dành sự quan tâm đặc biệt cho những bài nghiên cứu tác phẩm từgóc độ ngôn ngữ nghệ thuật
Dương Tường trong Lời bạt Mùa sạch nhìn nhận Mùa sạch như một
bước ngoặt đánh dấu một độ chín mới trong phong cách đa bội Trần Dần.Ông cho rằng một trong những điểm đặc sắc nhất của thi phẩm này là tínhchất ca dao - đồng dao như là vật liệu và cấu trúc nhạc giao hưởng được thểhiện qua một tổ khúc lấy từ bốn từ “trong - sạch - sáng - mùa” [15]
Như Huy với Tác phẩm Mùa sạch của Trần Dần qua góc nhìn nghệ thuật ý niệm nhìn theo một hướng khác, khẳng định Mùa sạch là một thi
phẩm tiêu biểu của nghệ thuật ý niệm [30]
Đặng Đình Ân với bài viết Để đến với Jờ Joạcx lại tiếp xúc với văn bản ngôn từ của Jờ Joạcx từ nhiều góc độ: cuộc phiêu lưu vô tận của chữ và nghĩa qua NGUYÊN BẢN và KHÔNG NGUYÊN BẢN, cách bố trí Chữ tinh tế để tạo
Trang 9nên MỘT BÈ ĐỆM, tính tiểu thuyết qua xây dựng NHÂN VẬT CHÍNH và BẤT CHÍNH… [1].
Trần Trọng Vũ trong Đau lòng Sổ bụi… những bức thư không gửi
không đi sâu vào một tác phẩm hay một nét phong cách sáng tạo đặc trưngcủa Trần Dần, mà có cái nhìn khái quát toàn bộ sự nghiệp của ông để thấy
được tính tự sự qua “TÔI và CHO TÔI, THƠ và KHÁCH THƠ”, quan niệm sáng tác mới của Trần Dần thể hiện qua “CHỮ và NGHĨA”, “BÊN NÀY và BÊN KIA” Bên cạnh việc nhận diện quan niệm sáng tạo của Trần Dần, tác giả đi vào khám phá đời sống chiều sâu của NGƯỜI THƠ, đưa đến những
nhận định mang cảm thức nhân sinh sâu sắc [72]
Tháng 1/2011 tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn chính thức ra
mắt độc giả sau 44 năm hoàn thành bản thảo Tác phẩm ngay lập tức được
nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm Nguyễn Thành Thi trong Tiếng nói của "Cái tôi bị chấn thương” và tính khả dụng của yếu tố nhật ký, trinh thám trong tiểu thuyết (Nhân đọc "Những ngã tư và những cột đèn" của Trần Dần)
dành sự quan tâm đến phương diện thẩm mỹ của thể loại và xu hướng tổng
hợp thể loại trong tác phẩm Ông khẳng định: “Những ngã tư và những cột đèn là một bằng chứng sinh động cho tinh thần, ý thức sáng tạo mạnh mẽ của
Trần Dần” Đứng giữa những lằn ranh: hư cấu - phi hư cấu, văn học - cận vănhọc, tổng hợp yếu tố của nhiều thể loại (như tiểu thuyết tâm lý, truyện trinhthám, nhật kí, bi kịch,… và cả sử thi), tác phẩm đã mang lại một cái nhìn đatrị, giàu ý nghĩa triết lý, phản tỉnh về thế giới ngoại quan lẫn nội quan Tácphẩm cũng cho thấy nhiều cách tân đặc sắc trong nghệ thuật tiểu thuyết củaTrần Dần [64]
Dương Tường đọc Những ngã tư và những cột đèn cứ tưởng đây là tác
phẩm được viết năm 2065 chứ không phải 1965 như tự thân nó vậy… Một tácphẩm thực sự mới và lạ [36]
Trang 10Trong bài Trần Dần - Viết để được sống, Nguyễn Vĩnh Nguyên nhấn mạnh đến kĩ thuật viết trong cuốn tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn:
Xét về nghệ thuật văn bản, đây là một cuốn tiểu thuyết gây sững sờ chonhững độc giả có mối quan tâm và hỏi đòi về sự kiếm tìm kỹ thuật Nhữngthủ pháp như liên văn bản, phân mảnh tự sự, giễu nhại… của phương pháphậu hiện đại đã được Trần Dần sử dụng nhuần nhuyễn từ rất sớm với một ýthức ca [49]
Phạm Xuân Nguyên đánh giá Những ngã tư và những cột đèn là cuốn tiểu
thuyết sau gần nửa thế kỷ mới được xuất bản, nhưng đọc rất mới, đọc rồi đọc lạivẫn mới, vẫn bất ngờ trước từng trang, vẫn không dễ nắm bắt nội dung [50]
Nguyễn Chí Hoan chú ý đến không gian phức hợp trong tác phẩm, và
đặc biệt là từ ngữ và câu văn trong Những ngã tư và những cột đèn: từ vựng,
đặc biệt từ vựng thị dân cùng lối văn bạch thoại của Trần Dần trong cuốn sáchnày cho thấy cuộc giao thoa ngôn ngữ thành thị giữa những lời ăn tiếng nóicủa Hà Nội cũ và từ vựng, diễn ngôn cũng như khẩu khí mới mà cách mạng
và chế độ dân chủ cộng hòa đem đến… Từ phép đặt câu, hành văn xây dựngcác hình ảnh và đối thoại, cho đến cấu tạo tiểu thuyết, cuốn sách này vừa tiếptục dòng chảy “hiện thực phê phán” đầu thế kỷ vừa nhảy một bước ngoạnmục “vị lai”: các dấu ngắt câu tạo nhịp điệu như thơ, truyện kể nhiều giọngđiệu với phức hợp các “hình thức của diễn đạt” [29]
Đánh giá cao vai trò sáng tạo của Trần Dần, Hoài Nam nhìn nhận
Những ngã tư và những cột đèn là một cuộc thử nghiệm ngôn ngữ: Sự lặp lại
liên tục của các từ, các cụm từ, các cấu trúc câu đã tạo nên sự cộng hưởng về
âm cho đoạn văn, tạo nên nhịp điệu, tạo nên nhạc tính Những chỗ như vậy,dường như tác giả đã giảm thiểu chức năng trần thuật của câu văn xuôi - nókhông để kể hoặc tả một đối tượng cụ thể- nhưng lại gia tăng sức biểu cảmcho cái điều mà không phải bao giờ và không phải người viết nào cũng dễdàng thể hiện: tâm trạng của nhân vật trong những bối cảnh khác biệt [44]
Trang 11Những vài báo mà chúng tôi đã điểm qua trên đây đã đề cập đến một số
phương diện của tác phẩm Những ngã tư và những cột đèn Tuy nhiên, có thể
thấy, chưa có công trình nào đặt vấn đề tìm hiểu một cách kĩ lưỡng ngôn ngữcủa cuốn tiểu thuyết này Xuất phát từ tình hình đó, chúng tôi mạnh dạn đi
vào khảo sát những đặc điểm từ ngữ và câu văn trong Những ngã tư và những cột đèn, với mong muốn khám phá sâu sắc hơn những sáng tạo của Trần Dần
ở các bình diện cơ bản của ngôn ngữ tiểu thuyết
3 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát từ ngữ và câu văn trong tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn; nhận xét về các lớp từ, các kiểu câu, cách sử dụng giàu sáng tạo của
Trần Dần, trên cơ sở đó, đánh giá những nỗ lực cách tân của Trần Dần về từngữ và câu văn trong tiểu thuyết, góp phần thúc đẩy sự đổi mới của thể loạinày trong văn học Việt Nam đương đại
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của công trình này là tiểu thuyết Những ngã tư
và những cột đèn Trong đó, luận văn tập trung khảo sát phương diện từ ngữ
cú pháp
- Ngoài ra, luận văn còn tham chiếu thêm với tiểu thuyết Người người lớp lớp của ông để thấy được những nét riêng, những mới mẻ trong cách sử dụng từ ngữ và kiến tạo câu văn của Trần Dần ở Những ngã tư và những cột đèn.
4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại;
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
- Phương pháp so sánh
Trang 125 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được
triển khai thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2 Từ ngữ trong Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần Chương 3 Câu văn trong Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Thể loại tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết
1.1.1.1 Nguồn gốc hình thành
Mỗi một thể loại văn học ra đời luôn là sự hội tụ của nhiều điều kiện,nhiều yếu tố Tiểu thuyết cũng không nằm ngoài quy luật ấy Hiện nay, giớinghiên cứu cho rằng tiểu thuyết chỉ có thể ra đời dưới bốn điều kiện sau đây:
Nguồn gốc xã hội: Tiểu thuyết là một thể loại ra đời muộn hơn so với
các thể loại khác Sự ra đời của nó gắn liền với một thời kì lịch sử khá cao của
xã hội loại người - thời kì hoàn thành và phát triển của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa Heghen gọi tiểu thuyết là sử thi lịch sử hiện đại, còn Banzac gọi tiểu thuyết là tấn kịch tư sản Sở dĩ như vậy là bởi xã hội tư sản là xã hội
của nền kinh tế thị trường và tự do cá nhân Chính ý thức tự do cá nhân làđiều kiện chính cho tiểu thuyết ra đời và phát triển
Điều kiện văn hóa: Bản chất của tiểu thuyết là dân chủ Vì thế, tiểu
thuyết chỉ có thể ra đời trong hoàn cảnh mà ở đó sự dân chủ được phát huy
Sự ra đời của tiểu thuyết gắn liền với tính dân chủ của các lễ hội văn hóa dângian, đặc biệt là lễ hội Carnaval
Điều kiện nghệ thuật: Mỗi thể loại bao giờ cũng có nguồn gốc của nó.
Theo nhà nghiên cứu Bakhtin “Tiểu thuyết là thể loại sinh sau đẻ muộn, do
đó, nó gắn liền với những thể loại có từ trước đó… Tiểu thuyết ra đời trên cơ
sở dich thuật tự do các điều kiện trước đó” Tiểu thuyết Trung Quốc ra đời
trên sự ta rã của thần thoại và sự lưu truyền của các thoại bản” (Lỗ Tấn) Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu văn học Văn Ngọc cho rằng: tiểu thuyết Việt Nam
ra đời trên sự phát triển của phóng sự [Dẫn theo 46, tr.13]
Trang 14Điều kiện phân tâm học: Trường phái phân tâm học hay Freud quan
tâm đến hầu hết các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, trong đó có văn học Theoquan niệm về văn học và tiểu thuyết của trường phái này, “văn học nghệ thuậtnói chung là kết quả của sự thăng hoa những ám ảnh vô thức của con người”.Như vậy, bản chất của sáng tác nghệ thuật hay cơ chế của quá trình sáng tác
là chạy trốn thực tại, chuyển dịch những ham muốn vô thức thành các hìnhtượng nghệ thuật Freud đặc biệt đề cao bản năng tình dục, xem nó là nguyênnhân của mọi nguyên nhân và khoái cảm của thẩm mỹ chẳng qua là sự giảithoát con người khỏi các căng thẳng tâm hồn, nghệ sĩ là con bệnh thần kinhđang chống lại điên loạn của mình bằng cách xây dựng các tác phẩm nghệthuật [Dẫn theo 66, tr.14]
1.1.1.2 Khái niệm
Tiểu thuyết là thể loại văn học nhận được sự quan tâm nhiều của cácnhà nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước Có nhiều ý kiến khác nhau,thậm chí là trái ngược nhau xung quanh khái niệm tiểu thuyết, chức năngnhiệm vụ mà nó đảm nhận cũng như các trạng thái đời sống mà nó cần nắmbắt và biểu hiện Thế nào là tiểu thuyết? Đi tìm một khái niệm đầy đủ về tiểuthuyết để đáp ứng mọi trường hợp thực tế văn học là điều rất khó Bởi tiểuthuyết có nhiều xu hướng khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu lại đứng ở một góc
độ riêng để đưa ra nhận xét và quan điểm của mình
Theo các nhà nghiên cứu, tiểu thuyết ra đời ở châu Âu vào thời đại cuốicùng của nền nghệ thuật cổ đại huy hoàng, khi số phận con người, đời sốngriêng tư bắt đầu được quan tâm đến trong văn học Nhà nghiên cứu Bêlinxkicho rằng: Đời sống cá nhân bất luận thế nào cũng không thể là nội dung củaanh hùng ca Hi Lạp, nhưng lại có thể là nội dung của tiểu thuyết Ra đời sau
so với thơ ca, là một thể loại mở trong sáng tác và tiếp nhận, hình thức và nội
dung của tiểu thuyết luôn luôn vận động qua các thời kì phát triển của lịch sửvăn học “Tiểu thuyết là thể loại văn học duy nhất đang chuyển biến và chưa
Trang 15định hình Những lực cấu thành thể loại còn đang hoạt động trước mắt chúng
ta, thể loại tiểu thuyết ra đời và trưởng thành dưới ánh sáng thanh thiên bạchnhật của lịch sử Nòng cốt của thể loại tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng tachưa thể dự đoán hết khả năng uyển chuyển của nó” [5, tr.8] Cho đến nay,các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về tiểu thuyết Các địnhnghĩa đó có sự khác nhau về cách diễn giải, tùy vào các sự khác biệt về gócnhìn, quan niệm
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, Hêghen gọi tiểu thuyết là sử thi tư sản hiện đại, là anh hùng ca của tầng lớp thị dân Với quan niệm này ta thấy
ông nhìn tiểu thuyết từ góc độ kinh tế hàng hóa, nhấn mạnh đến quy mô và
điều kiện của tiểu thuyết Bêlinxki lại gọi tiểu thuyết là sử thi của đời tư bởi
“nó miêu tả những tình cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sốngriêng tư và đời sống nội tâm của con người Ông cho rằng tiểu thuyết là sựtái hiện thực tại với sự thật trần trụi của nó là xây dựng một bức tranh toàn
vẹn, sinh động và thống nhất Theo từ điển Larousse của Pháp (Grand Larousse eneyclop’edique - 1964, tiểu thuyết… là sản phẩm của trí tưởng
tượng, một truyện dài bằng văn xuôi, kể lại một cuộc phiêu lưu, nhận xét vềnhững phong tục, mô tả những tính tình, những đam mê để gây hứng thú chongười đọc” [Dẫn theo 46, tr.18] Theo Bakhtin, tiểu thuyết là sản phẩm tinhthần tiêu biểu của thời đại mới, nó thể hiện được tư duy văn học mới gắn vớithời hiện tại Tư duy này gắn với một thứ triết học mới nhân bản về conngười, nhìn nhận con người như một cá thể độc lập, những cá nhân tồn tạivới bản ngã của nó và trong sự đối thoại với những bản ngã khác Ở phươngdiện này, tiểu thuyết hiện ra như một thể loại đặc biệt dân chủ “Tiểu thuyết
là thể loại ở thời hiện tại, một thể loại đang vận động và phát triển Nó tồntại với tư cách như một thể loại chủ đạo của văn học hiện đại, nó giễu nhại
và thu hút các thể loại khác vào nó Điều đó làm cho ngôn ngữ tiểu thuyết cótính đa thanh, các lớp ngôn ngữ soi sáng và bổ sung cho nhau (ngôn ngữ dân
Trang 16tộc, thổ ngữ, phương ngữ…) thiết lập nên một quan hệ mới giữa ngôn ngữ
và thế giới hiện thực” [5, tr.24]
Ở Trung Quốc, thuật ngữ tiểu thuyết lại có một hàm nghĩa thật rộnglớn Nhà nghiên cứu Phương Lựu tổng kết lại một cách khái quát hàm nghĩatiểu thuyết qua các thời đại ở Trung Quốc: Chữ “tiểu thuyết”xuất hiện sớmnhất trong Ngoại Thiên sách của Trang Tử, nhưng mang hàm nghĩa gần nhưhọc thuyết chứ không phải là sáng tác văn học Đến đời Hán, trong sách Hánthư, thiên Văn nghệ chí, Ban Cố cho rằng các tiểu thuyết gia thuộc một trongmười nhà văn và nói tiếp: “Loại tiểu thuyết gia xuất thân từ hạng quan nhỏ,nghe các lời nói trong các thôn cùng ngõ hẻm khắp các nẻo đường mà viếtnên Khổng Tử có nói: Tuy là con đường nhỏ, nhưng tất yếu cũng có cái cóthể xem được… Cho nên người quân tử không làm nên nó song cũng khôngtiêu diệt nó” Cùng thời với Ban Cố có Hoàn Đàm cũng cho rằng: “Các nhàtiểu thuyết thu nhặt những lời nói vụn vặt, rồi dùng phép tỉ dụ, viết nên nhữngsách ngắn, để sửa mình và sắp xếp việc nhà, có những ngôn từ có thể xemđược” (Văn tuyển) Đến đời Minh nhà tiểu thuyết Phùng Mộng Long có nói:Ngoài Lục kinh quốc sử ra, phàm những trước thuật khác, đều gọi là tiểuthuyết (Tựa Cảnh thế hằng ngôn) Tiêu Hoa chủ nhân thì cho rằng: tiểu thuyết
là sách của bọn tài tử (Cửu Lưu chủ luận hạ) [40, tr.122, 123]
Ở Việt Nam, bàn về khái niệm tiểu thuyết cũng là một vấn đề còn cónhiều tranh cãi Người đầu tiên đưa ra khái niệm tiểu thuyết là tác giả Phạm
Quỳnh trong bài Bàn về tiểu thuyết đăng trên báo Nam Phong (1921): Tiểu thuyết là một loại truyện viết bằng văn xuôi, đặt ra để tả tình tự người khác, phong tục xã hội hay những sự tích lạ đủ làm cho người đọc có hứng thú [45,
tr.42] Ngay từ đầu thế kỉ XX, sáng tác tiểu thuyết đã đặt ra yêu cầu phản ánhcuộc sống, phản ánh xã hội mang đầy màu sắc hiện thực, không lấy đề tài từnhững tuồng tích, những chuyện hoang đường, quái dị nhằm tạo nên sự li kì,hấp dẫn cho tác phẩm Càng về sau, đề tài phản án trong tiểu thuyết càng
Trang 17được mở rộng, các nhà văn quan tâm đến mọi vấn đề, mọi ngõ ngách củacuộc sống bề bộn và phức tạp Nhà văn Vũ Trọng Phụng, một cây bút hiệnthực phê phán sắc sảo và tài hoa tuyên bố: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ làtiểu thuyết Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự
thực ở đời” [45, tr.95] Khái Hưng, một cây bút lãng mạn trong nhóm Tự Lực văn đoàn cho rằng: “Tiểu thuyết phải gần đời, phải là đời với những lúc
sướng, lúc khổ, phải có những cái nhỏ nhen, tầm thường, cao thượng của cuộcđời, phải có những cái đáng thương, những cái đáng buồn cười, những cái
đáng bực tức… Tiểu thuyết chỉ là tiểu thuyết, chỉ là đời” [45, tr.76].
Những quan niệm về đối tượng phản ánh của các nhà văn giai đoạn đầuthế kỉ XX cho thấy một quá trình phát triển mạnh mẽ của những nhận thức vềtiểu thuyết Dù hiện thực hay lãng mạn, vấn đề phản ánh trong tác phẩm đềuxuất phát từ hiện thực cuộc sống với đầy đủ mọi cung bậc của nó Nhữngquan niệm đó hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của tiểuthuyết hiện đại Để có được mô hình hệ thống lí luận về tiểu thuyết hiện đạinhư ngày hôm nay có công lao và những nỗ lực khai phá của thế hệ nhà vănđầu thế kỉ Họ là những con người tìm thấy con đường mới và góp công sức,nhiệt huyết của mình để tiểu thuyết ngày càng phát triển và hoàn thiện
Như vậy, khi bàn về khái niệm tiểu thuyết, mỗi tác giả ở mỗi khu vựckhác nhau, thời gian khác nhau… đưa ra những quan niệm riêng theo cáchnhìn của mình Cho đến hôm nay, chúng ta đã có được những nghiên cứutương đối đầy đủ trên bình diện sáng tác và tiếp nhận, hệ thống lí luận về thipháp và ngôn ngữ của thể loại này Khái niệm tiểu thuyết được định nghĩadựa trên sự đối sánh với truyện ngắn và truyện vừa - hai thể loại tương đốigần gũi với nó Những tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, phản ánh mọi vấn đề, mọiphương diện của đời sống nhưng dung lượng ngắn hơn, thường hướng tớiviệc khắc hoạ một hiện tượng, phản ánh một khoảnh khắc đặc biệt, phát hiệnmột nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay trong đời sống nội tâm của mỗi
Trang 18con người Nếu như truyện ngắn, truyện vừa chỉ có thể đề cập đến một lát cắtnhỏ, một giai đoạn nào đó của cuộc đời thì tiểu thuyết lại có thể miêu tả mộtcách dàn trải những biến cố trong cuộc đời, số phận một con người Vì lẽ đó,tiểu thuyết có ngôn ngữ phong phú và đa dạng, không chịu những giới hạnnhất định về dung lượng và nội dung ý nghĩa như các thể loại khác trong ngôn
ngữ văn xuôi Sách Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) đưa ra định nghĩa về tiểuthuyết: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ởmọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phậncủa nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các
điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [23, tr.328] Tác giả luận văn đồng ý với cách định nghĩa này Phương Lựu trong cuốn Lí luận văn học nêu lên giai đoạn phát triển rực rỡ của tiểu thuyết đặc biệt là trong thời cận đại và hiện đại [41, tr.388] Hà Minh Đức khẳng định thêm vai
trò của tiểu thuyết: “Năng lực phản ánh hiện thực một cách bao quát và sinhđộng theo hướng tiếp cận trên cả bề rộng lẫn chiều sâu của nó” [21, tr.184]
1.1.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết
1.1.2.1 Ngôn ngữ văn xuôi
Ngôn ngữ văn xuôi là một bộ phận của hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật,
một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây dựng chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai [38, tr.49] Được hình thành từ
ngôn ngữ tự nhiên nhưng ngôn ngữ nghệ thuật còn là kết quả của quá trìnhchọn lọc, gọt dũa ngôn từ nhằm diễn tả một nội dung ý nghĩa nào đó mang
tính nghệ thuật Trong văn bản có tính nghệ thuật ngôn từ thì không chỉ ranh giới giữa các kí hiệu là khác nhau mà bản thân khái niệm kí hiệu cũng khác nhau [38, tr.49].
Ngôn ngữ nghệ thuật được sản sinh từ ngôn ngữ tự nhiên, là sự kết hợpcủa yêu cầu nghệ thuật và tài năng sáng tạo của nhà văn Ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 19sau khi ra đời có thể quay trở lại tham gia vào ngôn ngữ toàn dân, làm cho nógiàu có thêm, phong phú lên và đẹp hơn Ngôn ngữ nghệ thuật đảm nhận chứcnăng tạo nên hệ thống mã ngôn ngữ thứ hai, là kết quả của quá trình sáng tạođặc biệt ở người nghệ sĩ Bằng chất liệu ngôn từ, nhà văn sáng tạo ra một thếgiới riêng trong tác phẩm của mình Tác phẩm văn học ra đời mang đậm dấu
ấn cá nhân và truyền tải đến người đọc một lớp ý nghĩa riêng, một giá trị thẩm
mỹ riêng theo ý đồ của tác giả
Thuộc vào hệ thống tín hiệu thứ hai, ngôn ngữ văn xuôi là ngôn ngữnghệ thuật, nó coi trọng chức năng thẩm mĩ, có tính hệ thống, tính truyền cảm
và tính cá thể hoá Tính truyên cảm làm cho người đọc, người nghe có cảmgiác tâm trạng buồn, vui, yêu, ghét…; tạo sự hoà đồng giao cảm, cuốn hút,gợi cảm xúc nơi người tiếp nhận Tính cá thể hóa thể hiện dấu ấn sáng tạo củamỗi tác giả, là cái thuộc về đặc điểm bản chất, thuộc về điều kiện bắt buộc đốivới ngôn ngữ tiểu thuyết nói riêng và ngôn ngữ nghệ thuật nói chung Cùngtrên cơ sở là phương tiện diễn đạt chung của cộng đồng nhưng mỗi nhà vănlại thể hiện một phong cách riêng; đặc biệt, ở những nhà văn lớn văn phongcủa họ càng độc đáo đa dạng
Là một bộ phận của ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ văn xuôi được xemxét trong sự khu biệt với ngôn ngữ trữ tình và kịch Vừa mang đặc điểm củangôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ văn xuôi vừa có những đặc điểm khác biệt sovới hai thể loại này Ngôn ngữ trong tác phẩm trữ tình là sản phẩm của sựthăng hoa cảm xúc ở chủ thể sáng tạo được trau chuốt, gọt đẽo; giàu tính nhạcđiệu Ngôn ngữ trong tác phẩm kịch thường mang kịch tính, thiên về hànhđộng, chủ yếu là ngôn ngữ đối thoại nhằn khắc hoạ tính cách nhân vật Yếu tốchủ thể trữ tình hay người dẫn chuyện trong kịch có thể có nhưng rất mờ nhạt.Ngôn ngữ văn xuôi là thứ ngôn ngữ khách quan và yên tĩnh Đó vừa là ngônngữ trần thuật, ngôn ngữ của nhân vật, ngôn ngữ của cái Tôi trữ tình… đanxen, hoà quyện vào nhau tạo nên nét quen và lạ, tạo nên nét khác biệt với
Trang 20ngôn ngữ trữ tình và kịch Ngôn ngữ văn xuôi dàn trải, khoan thai Nhà văn
có thể mang vào tác phẩm ngôn ngữ tự nhiên ngoài cuộc đời mà vẫn tạo đượchiệu quả thẩm mĩ nhất định
Tiểu thuyết là một bộ phận của văn xuôi tự sự, ra đời muộn hơnvà làthể loại mở trong sáng tác và tiếp nhận Với dung lượng đồ sộ, tiểu thuyết baochứa trong nó những đặc điểm của thể loại văn học khác nhưng vẫn có nhữngđặc điểm riêng trong sự so sánh về mặt ngôn ngữ
1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết
Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của một thể loại là nhằm làm nổi bật nhữngđặc điểm mang tính chất khái quát nhất của ngôn ngữ đó Ngôn ngữ của một dântộc nói chung và ngôn ngữ của thể loại nói riêng không phải là một phạm trù cốđịnh bất biến Nó có sự vận động biến đổi qua các thời kì Sự biến đổi củamột hệ thống tín hiệu ngôn ngữ không dừng lại ở việc gia tăng về số lượng
mà còn là sự thay đổi cả về cấu trúc bên trong Ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đạicũng luôn vận động và có nhiều điểm khác biệt so với các thể loại khác
Nhà nghiên cứu văn học - ngôn ngữ học người Nga Bakhtin là người mở
ra hướng nghiên cứu mới về tiểu thuyết Ông đặt ra vấn đề tìm hiểu tiểu thuyết
đa thanh và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề của lí luận văn học, thi pháp học và ngôn ngữ học Ông phát hiện ra sự đa dạng vô cùng của các loại hình
và dạng thức lời văn [4, tr.221] của Đoxtoiepxki - cái trước đó người ta cho
rằng ngôn ngữ mà nhà văn sử dụng trong tác phẩm là hoàn toàn giống nhau, là
sử dụng ngôn ngữ một cách đơn điệu [4, tr.190] Những vấn đề lí luận về tiểu
thuyết mà M Bakhtin đưa ra chính là cơ sở lí luận để tìm hiểu ngôn ngữ tiểuthuyết, một thể loại tiêu biểu của văn xuôi nghệ thuật Chúng ta có thể kháiquát lên đặc điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết trên một số bình diện sau:
a Về mặt hình thức
Nếu như truyện ngắn không chấp nhận ngay cả một từ không rõ nghĩathì tiểu thuyết sẵn sàng chấp nhận một vài từ không đâu, thậm chí là vài trang
Trang 21trong một cuốn tiểu thuyết Tiểu thuyết là một thể loại có dung lượng lớn về
nội dung và ngôn từ, nó chứa đựng trong lòng mình tất cả mọi hình thức ngônngữ của các thể loại khác trong văn xuôi nghệ thuật tiểu thuyết không đặt rayêu cầu một cách quá khắt khe việc lựa chọn và chắt lọc ngôn từ Trong mộtcuốn tiểu thuyết nhà văn có thể sử dụng nhiêu kiểu câu dài, ngắn khác nhau;câu tỉnh lược, câu mệnh lệnh, câu đặc biệt… làm cho ngôn ngữ tiểu thuyếtcũng trở nên linh hoạt và phong phú Nhưng như vậy không có nghĩa là tiểu
thuyết chấp nhận một sự dễ dãi, ô hợp, cẩu thả về ngôn từ, bởi vì sự cẩu thả trong văn chương là bất lương và đáng bị lên án Mọi từ ngữ, câu văn được sử
dụng trong tiểu thuyết phải đem đến một nét nghĩa nào đó, góp phần làm nêngiá trị biểu đạt chủ đề tư tưởng của toàn bộ tác phẩm, thể hiện ý đồ sáng táccủa nhà văn
Khi mới ra đời, mặc dù chỉ là lời nói trong hang cùng ngõ hẻm (Anmatop) nhưng tiểu thuyết vẫn chịu sự quy định của hệ thống thi pháp văn
học trung đại: mang tính ước lệ, tượng trưng, dày đặc những điển tích, điển
cố, được viết theo kết cấu chương hồi… Ngày nay, ngôn ngữ tiểu thuyết hiệnđại ngày càng trở nên gần gũi với ngôn ngữ đời thường, mang hơi thở của bộn
bề cuộc sống Chính vì lẽ đó, người viết cần có một trình độ nhất định trongviệc xử lí ngôn ngữ tác phẩm Không phải sự kiện gì, bất cứ từ ngữ nào cũng
có thể đưa vào trong tác phẩm và được sử dụng một cách tuỳ ý Để trở thànhmột mã tín hiệu của hệ thống mã ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tự nhiên khi
đi vào tác phẩm văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng phải được lột xác,
phải được chắt lọc Ngôn ngữ phát triển và biến hóa theo cách cảm nhận cuộcsống và ý đồ sáng tạo của nhà văn Cách trình bày ngôn ngữ trong tiểu thuyếtphụ thuộc vào tài năng và văn phong của mỗi nhà văn, nhưng dù mượt màbóng bẩy hay thô ráp; lạnh lùng, tàn nhẫn hay giàu tình yêu thương; cầu kì, tàihoa hay giản dị, trong sáng… thì đều phải hướng tính nghệ thuật và tính thẩm
mĩ cao Các lớp từ tồn tại trong xã hội như: lớp từ tình thái, lớp từ địa
Trang 22phương, tục ngữ, quán ngữ… đều được các nhà văn vận dụng vào trong sángtác góp phần thể hiện phong cách độc đáo của mình trong tác phẩm
Tiểu thuyết là thể loại có dung lượng lớn, có kết cấu đồ sộ Nó có thể
có những từ, những đoạn, thậm chí và trang tưởng chừng như bị thừa, bị bỏ qua nhưng điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ tiểu thuyết có thể đi lệch
nhiệm vụ của mình Mọi yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm đều góp phần thểhiện chủ đề và ý đồ sáng tạo của nhà văn Do có dung lượng lớn nên nhiều lúcngôn ngữ tiểu thuyết không có được cái cô đọng, chắt lọc như trong truyệnngắn Thay vào đó ngôn ngữ tiểu thuyết luôn hướng tới việc xây dựng cáchình tượng văn học - cái làm nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn học
Ngôn ngữ tiểu thuyết phản ánh mọi mặt cuộc sống, là đời với những lúc sướng lúc khổ, phải có những cái nhỏ nhen tầm thường cao thượng của đời, phải có những cái đáng thương, những cái đáng buồn cười, những cái bực tức
[45, tr.76] Tiểu thuyết hiện đại đi sâu vào phám phá, phản ánh đời sống tâm líphức tạp của của cuộc sống đang tranh đấu và phát triển từng ngày, từng giờ,từng khắc… Ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại ngày càng giản dị, gần gũi với cuộcsống nhưng cũng uyên bác, thấm đẫm tính chất triết lí sâu sắc
Trang 23dấu hiệu cơ bản: thứ nhất, “Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụngnhững loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả”; thứ hai,“Sự đi lệch
chuẩn mực của tác giả” [68, tr.123].
Trong sáng tạo văn học, mỗi tác giả đều muốn “khơi những nguồn chưa
ai khơi, sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao), tạo một lối viết riêng nhằm
khẳng định phong cách hay ít nhất là cái riêng của mình trong sáng tạo vănhọc Cái riêng của nhà văn không lẫn vào với bất cứ ai, trước hết là việc hìnhthành những đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm Ngôn ngữ tác phẩm gópphần thể hiện phong cách của nhà văn, là nơi để tác giả phô diễn tài năng vàvốn hiểu biết của mình về ngôn từ, về cuộc sống Tuỳ thuộc và tài năng và cátính của mỗi nhà văn mà ngôn ngữ theo các cách khác nhau
Cùng với xu thế phát triển của thời đại văn học nói chung và tiểu thuyếtnói riêng đang ngày một biến đổi, định hướng và đáp ứng những nhu cầuthẩm mĩ của con người Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng phát triển và ngày cànghoàn thiện để phù hợp với cuộc sống mới nhưng vẫn đáp ứng được các tiêuchí của văn học, hướng đến những giá trị chân - thiện - mĩ
1.2 Tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần
1.2.1 Vài nét về con người và sự nghiệp văn chương của Trần Dần
1.2.1.1 Con người
a Một con người đầy bản lĩnh và niềm tin trong cuộc đời đầy biến động
Trần Dần tên thật là Trần Văn Dần (23/08/1926 - 17/01/1997) là mộtnhà thơ, nhà văn, một tài năng nhiều mặt Ông sinh ra trong một gia đình khágiả nhưng muộn con tại phố Năng Tĩnh, Nam Định Ông hiện diện như một
sự trêu ngươi của đinh mệnh Dường như số phận chưa bao giờ nương nhẹông trên cả cương vị một công dân và một người nghệ sĩ Người ta ngày càngnhắc nhiều đến ông không chỉ ở những sáng tác độc đáo đến dị biệt, đầy tínhtiên phong mà còn ở một cuộc đời đầy biến cố và bi kịch
Trang 24Trên cương vị một công dân, không ít lần người công dân mang tênTrần Dần bị bắt bớ, giam cầm, cải tạo Trên cương vị một người nghệ sĩ, còn
gì bất hạnh hơn khi gần 40 năm sau vụ án Nhân Văn, Trần Dần sống và sáng
tạo chủ yếu trong tình thế: người ngồi thì viết còn cái được viết thì nằm trong
khoảng thời gian dài câm lặng đó, ông viết mà không hề có sự phản hồi, thúcgiục, xuất bản Đó là một gánh nặng của người sáng tác Cuộc đời với nhữngbão tố dữ dội cứ liên tiếp giáng xuống con người có thân hình bé nhỏ, khắckhổ Tất cả như định mệnh, như là một sự trêu ngươi của số phận Chỉ cónhững người trong cuộc, gần gũi, gắn bó mới biết Trần Dần đã đi qua nhữngnăm tháng đó như thế nào
Nhưng có lẽ cái mà người ta nhắc đến nhiều nhất ở ông trong giai đoạnnày là một bản lĩnh phi thường và một niềm tin tuyệt đối vào nghệ thuật Nếukhông có một bản lĩnh đặc biệt, liệu Trần Dần có vượt qua được những biến
cố giữ dội, lớn lao này! Một hoàn cảnh sống luôn bủa vây ông ông, triệt tiêuông ngay từ trong tư tưởng Vậy mà Trần Dần vẫn sống và sáng tạo Trần Dần
sống trê 30 năm im lặng, chịu đựng sự cô đơn, cô độc Đó là con người luôn luôn có tình yêu sự sống mãnh liệt, nó ngăn không cho anh đến chỗ huỷ hoại cuộc đời còn rất trẻ của mình [67].
Với bản lĩnh phi thường, Trần Dần đã vượt qua rào cản của thời đại,chính trị, vượt qua chính mình và vượt qua cả thói quen ngại đổi mới củangười Việt, của độc giả Bản lĩnh ấy hun đúc trong ông một niềm tin mãnhliệt vào sáng tạo và nghệ thuật Dường như với Trần Dần nỗi đau của cuộcđời chỉ có thể chia sẻ trong văn chương Với ông, viết để được sống, viết làtồn tại Không bao giờ ông mất niềm tin một ngày tác phẩm được xuất bản trở
lại: Thơ là mạng sống, là lí lịch thật đời tôi Thơ tôi có 30 năm đóng chai Nó
có thể chờ (Sổ bụi, 1988) [67] Chính bản lĩnh và niềm tin này đã tạo nên sự
quyết liệt, bền bỉ trong đổi mới và sáng tạo của ông từ quan niệm đến hànhtrình sáng tạo nghệ thuật
Trang 25b Con người đầy tài năng và tham vọng
Ở Trần Dần, người ta không thể phủ nhận ông là một tài năng Tài năng
ấy được bộc lộ trong nhiều lĩnh vực khác nhau: thơ ca, tiểu thuyết, hội hoạ…Trong thơ ca, từ những bài thơ ít nhiều mang dáng dấp thơ Mới (Hồn xanh dị
kì, Chiều mưa - trước cửa) ông tiến đến chôn thơ Mới, chối bỏ duy cảm,
hướng tới duy giác, thiết lập cấu trúc đa tuyến tính, xứng đáng là thủ lĩnh thơ
ca trong bóng tối Trong văn xuôi, các tiểu thuyết của ông cũng ngày một tiếnđến phá vỡ khung tiểu thuyết truyền thống, hoài thai những bút pháp kĩ thuậthiện đại, cái mà còn quá xa lạ với các cây bút tiểu thuyết và giới phê bình vănhọc Ông sáng tác thơ, tiểu thuyết, viết nhật kí và thậm chí trong những nămtháng tham gia kháng chiến chống Pháp ông từ là người vẽ tranh minh hoạ
trên các tờ báo Sông Đà, Giải phóng Tây Bắc, Giải phóng Biên Giới…
Có thể nói, tài năng đã giúp cho Trần Dần tìm và phát hiện ra nhữngquan niệm sáng tác mới mẻ, độc đáo Tham vọng của một người khao khátcách tân sẽ giúp cho sự cách tân của ông ráo riết hơn trên con đường đi đếntận cùng của sự sáng tạo Con người đầy tham vọng Trần Dần ở cái tuổi 19,trước những đỉnh cao tưởng chừng không vượt qua của thơ Mới, đã cùngnhững người bạn đồng chí hướng cất lên bản phán quyết đầy tính chất gâyhấn: Chôn thơ Mới Lối nói quyết liệt ấy là biểu hiện của một mong muốn
mãnh liệt: phải viết khác đi, phải cách tân, phải quên những thành tựu của tiền chiến để sáng tạo nên những thành tựu mới, phải cướp được độc giả của tiền chiến… như sau này ông từng giải thích Quyết liệt hơn ông đòi chôn cả Nguyễn Du: “Với tôi, Du (Nguyễn Du), Hương (Hồ Xuân Hương), Khiêm
(Nguyễn Bỉnh Khiêm), Quát (Cao Bá Quát) hay Hàn Mặc Tử, Vũ HoàngChương là thầy nhưng học trò phải chôn thầy Thơ nay hầu như vẫn đặtnghĩa Tôi đặt thơ là chữ Con chữ làm nên nghĩa Ông đòi hỏi nhà văn phảilà: Kẻ viết? đạp đổ chân trời? xổng xích các chân mây?” [12] Từ chối những
đường viền kẻ sẵn (Nguyễn Hữu Hồng Minh), khước từ những kinh nghiệm
Trang 26truyền thống, con người đầy tài năng và tham vọng Trần Dần đã chấp nhậnmột sự dấn thân mạo hiểm, từ đó mang đến quả ngọt cho nền văn học
c Con người chịu ảnh hưởng thành tựu văn học phương Tây
Khi mà những tác phẩm của Trần Dần vượt qua thời gian đến với bạnđọc, người ta ngỡ ngàng thán phục bởi họ tìm thấy những yếu tố hiện đại màvăn học đương đại đang theo đuổi lại xuất hiện rất sớm một cách có ý thứctrong sáng tác của Trần Dần Thành công đó không thể không nhắc đến sựảnh hưởng của văn học phương Tây đối với ông - một khía cạnh nhỏ nhưnglại đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo nên một Trần Dần uyên thâm
và hiện đại Những năm tháng miệt mài và đam mê dịch các tác phẩm văn họcnước ngoài đã giúp ông có điều kiện tiếp xúc với nguồn sách ngoại văn khổng
lồ của thư viện Quốc Gia, hay nói theo cách của Lê Đạt là hình thức du học tại chỗ Lúc đó, cũng may anh em Việt Kiều gửi tặng những cuốn sách về
hoạt động 50 năm của Pháp - những năm sôi nổi nhất về hoạt động trí tuệPháp, nào là phái cấu trúc, phái phê bình mới, Roland Barthes Trần Dần
chứng tỏ một khả năng ngoại ngữ cao khi ông dịch các tác phẩm như thơ Maiacopxki, Tội ác và trừng phạt của Đoxtoiepxki, Căn cứ nguyên tử của
Laxmex, truyện ngắn và một số tiểu thuyết của Pháp Một người học trò vàoloại xuất sắc thời Pháp, tư duy sắc sảo như Trần Dần, lại thêm mấy chúc năm
trời miệt mài ngày này qua ngày khác mài đũng quần trên ghế thư viện Quốc
Gia, miệt mài đọc và tích luỹ thì hệ quả của cái sự đọc ấy không hề nhỏ Theocách này, Trần Dần sớm tiếp thu được những thành tựu của văn học thế giới,
từ lối thơ bậc thang như sự phản kháng lại với thơ truyền thống củaMaiacopxki đến những ưu tư về chữ và những kĩ thuật tự sự phương Tâytrong các tiểu thuyết của ông
1.2.1.2 Sự nghiệp văn chương
Trần Dần đến với văn chương bắt đầu bằng thơ Khi người thanh niênTrần Dần bắt đầu làm thơ, thơ Mới đã đạt đến thời kì rực rỡ với những cái tên
Trang 27làm nên diện mạo thơ ca Việt: Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Tinh huyết của Bích Khê, Thơ say của Vũ Hoàng Chương, Lửa thiêng của Huy Cận… Trong
cái hăm hở nhiệt huyết đến với thơ ca, người thanh niên Trần Dần đã cho ra đời
Chiều mưa - trước cửa (1943), Hồn xanh dị kì (1944) - những tác phẩm ít
nhiều mang hơi hưởng của thơ Mới 19 tuổi, đam mê thơ ca và nhận thấy thơMới đã đi đến thoái trào của nó, Trần Dần cùng các thi sĩ tượng trưng Trần MaiChâu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch,Vũ Hoàng Chương lập ngôn để khai mở
một dòng thơ ca khác Tạp chí Dạ Đài ra số 1 ngày 16/11/1946, đăng bản tuyên ngôn của phái Tượng Trưng do Trần Dần chấp bút Số 2 chưa kịp ra mắt
thì kháng chiến bùng nổ Đây là bước ngoặt lịch sử quyết đinh khúc rẽ của mỗi
cá nhân, Trần Dần cũng không ngoại lệ Con người thi sĩ khao khát lập ngônTrần Dần tạm nhường chỗ cho con người cách mạng làm công tác tuyêntruyền Hoà vào không khí chung của cách mạng, chứng kiến và xúc động
trước cuộc chiến, ông đã sáng tác cuốn Người người lớp lớp (1954) - cuốn tiểu
thuyết duy nhất của Việt Nam thời kì đó viết về chiến dịch Điện Biên Phủ
Sau những ngày tháng hoà nhập với người người lớp lớp trong cuộc
kháng chiến, hoà bình con người nghệ sĩ Trần Dần trở lại với ngổn ngang suytưởng Ham muốn đưa thơ ca theo hướng mới và niềm khát khao có mộtchính sách tự do cho văn nghệ đã khiến ông quyết liệt trong hội nghị bàn tròn
phê bình tập thơ Việt Bắc và sau đó bị kỉ luật trong vụ Nhân văn - Giai phẩm.
Trần Dần chính thức bị khai trừ khỏi hội nhà văn, bị đưa đi lao động cải tạo
Trong những ngày tháng đi lao động cải tạo, chịu cảnh tứ khổ: khổ lao động nặng, khổ đối xử, khổ nhớ, khổ nắng mưa bất nhất Nhưng ông đã tìm cách biến tứ khổ thành tứ khoái: khoái làm thơ, khoái thi tài liệu, khoái dự định viết, khoái nhìn nghe ngẫm ngợi và hi vọng, sửa chữa hoàn thành tác phẩm Cổng tỉnh (1959) [67].
Sau Nhân Văn, có những con người mất lửa nhiệt huyết: Họ mãi mãi
chỉ dừng lại cột mốc và chỉ còn ngoảnh lại phía sau Nhưng với Trần Dần, cột
Trang 28mốc ấy, ngược lại, đánh dấu một sự lên đường quyết liệt hơn, là thời gian
sung sức nhất cho sáng tạo Nhìn lại Niên kí, quãng thời gian (1946 - 1997),
Trần Dần đứng ngoài lề văn học nhưng lại mang đến một bảng niên kí đầy giá
trị: Đêm núm sen (tiểu thuyết - 1961), Jờ Joacx (thơ - tiểu thuyết - một bè đệm, 1963), Mùa sạch (thơ, 1964), Những ngã tư và những cột đèn (tiểu thuyết, 1964), Một ngày Cẩm Phả (tiểu thuyết, 1965), Con trắng (nhật kí - thơ, 1974), Thơ không lời (thử nghiệm thơ thị giác, 1976), Thơ không lời - mây không lời (thơ - hoạ), Bộ tam thiên thanh - 77 ngày ngày (1979), Bộ tam
36 thở dài - Tư Mã zâng sao (1980), Thơ Mini (1987)… Suốt 40 sau vụ Nhân
Văn, cuộc đời Trần Dần thưa vắng các sự kiện xã hội, ông không còn là ngườidấn thân mà trở thành một kẻ ngoài lề Nhưng con người ấy, với niềm đam
mê viết và sáng tạo không ngừng nghỉ đã liên tiếp cho ra đời các tác phẩm tạonên niên biểu của một nhà văn, thể hiện cách dấn thân của kẻ ngoài lề Từnhững ngày đầu là những tác phẩm còn mang nhiều dáng dấp của thơ Mới
như: Hồn xanh dị kì, Chiều mưa - cửa trước; đến những sáng tác trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Nhất định thắng, Trường ca Đi! Việt Bắc; và sau này là Cổng tỉnh, Mùa sạch, Jờ Joacx, Thơ Mini, Thơ không lời, Mây không lời… là bước tháo cũi chân mây, vượt qua chính mình trong sáng tạo của
Trần Dần Ông chối bỏ kiểu thơ dòng nghĩa: “Thơ nay hầu như vẫn đặt nghĩa.Tôi đặt thơ là chữ Con chữ nó làm ra nghĩa” [67] Đây là cách ông gây hấnvới lối thơ đã ngự trị, lên ngôi chính vị không chỉ trong quá khứ văn học đếnthời Trần Dần mà còn được nuôi dưỡng đến tận hôm nay Chối bỏ thơ dòngnghĩa cũng chính là chối bỏ hệ hình tư duy cũ, lấy nghĩa của từ làm cứu cánh,
mở ra một đời sống mới cho con chữ Không những trong thơ ca mà các tiểuthuyết của ông cũng thổi đến cho văn học một làn gió mới và lạ Các tiểuthuyết của ông dường như muốn phá vỡ khung tiểu thuyết truyền thống, hoàithai những bút pháp, kĩ thuật hiện đại mà thời đó vẫn còn quá xa lạ với cáccây bút tiểu thuyết và giới phê bình văn học
Trang 29Đặt những sáng tác của Trần Dần trong lát cắt đồng đại của văn học ViệtNam ta thấy một sự lệch chuẩn hoàn toàn với khung văn học và kênh tiếp nhận.Ông không hề thoả hiệp với thời đại Jờ Joacx, Mùa sạch Thơ Mini bên cạnh
núi thơ kháng chiến, Cổng tỉnh, Những ngã tư và những cột đèn bên những tiểu
thuyết Cách mạng cho ta thấy Trần Dần đã trình làng một hệ hình tư duy mới,một cách quan niệm hoàn toàn mới về thể loại Ông hướng đến một gương mặtvăn chương mới sáng tạo và lấy chữ làm trung tâm Phải chứng kiến nhữngnăm tháng Trần Dần đã đi qua ta mới thán phục, ngưỡng mộ sức viết và khảnăng sáng tạo của ông Trần Dần sống và sáng tạo chủ yếu trong tình thế:người viết thì ngồi, cái được viết ra thì nằm, mà cuộc sống mưu sinh thì không
dễ dàng gì Một tác giả không có triển vọng xuất bản những tác phẩm của mình thì chẳng có gì thúc giục anh hoàn tất nó, chẳng có gì ngăn anh ta tạm thời gạt nó sang một bên và chuyển sang làm việc khác [32, tr.430] Vậy mà
trong gần 40 năm, Trần Dần viết mà không một phản hồi, thúc giục, xuất bản.Điều này chứng tỏ sức kiên định phi thường của ông, điều mà hiếm nhà vănlàm được, ngay cả những nhà văn lớn trên thế giới (như Kafka)
Với những sáng tạo của Trần Dần, chúng ta có thể thích hoặc khôngthích những thể nghiệm tân kì đó nhưng nên nhìn nhận, trân trọng chúng như
là những sản phẩm của sự lao động nghệ thuật nghiêm túc của những người
nghệ sĩ tự rủ mình vào cửa khó, dám cưỡng ép hệ thống (Dương Tường), chống lại cái ý nghĩ cho rằng trên đời này lại có những thứ không thể: Tôi đã đốt tôi không chỉ đôi lần… cái chưa biết - cái khó - thậm chí cái bất khả - thu hút và đắm đuối tôi [67] Sự nghiệp văn chương mà ông để lại và những giá
trị của nó sẽ khiến cho cái tên Trần Dần còn được người đọc nhắc nhiều đến
và vẫn mãi còn thách thức các nhà văn, nhà thơ Việt Nam
1.2.2 Thể loại tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Trần Dần
Sinh thời Trần Dần không chỉ làm thơ mà còn viết tiểu thuyết Nếu thơ
là mảng màu chính thì văn xuôi là mảng màu mới mà Trần Dần muốn vẽ
Trang 30trong sự nghiệp văn học nghệ thuật của mình Các tiểu thuyết có đóng góp
không nhỏ làm phong phú hơn cho sự nghiệp sáng tác của ông Trong Niên kí Trần Dần, ngoài các tiểu thuyết đã được xuất bản: Người người lớp lớp (1954), Cổng tỉnh (1960), Những ngã tư và những cột đèn (viết năm 1964) còn có một số tiểu thuyết khác: Đêm núm sen (1961), Một ngày Cẩm Phả (1965) Cổng tỉnh là cuốn tiểu thuyết - thơ được sáng tác vào năm 1959 và được xuất bản năm 1994 Tác phẩm là một hiện tượng đá đẻ (Vương Trí Nhàn) được Trần Dần viết trong thời kì tứ khổ khi ông đi lao động cải tạo ở
Thái Nguyên Khoảng thời gian đặc biệt đó đã làm nên một tiểu thuyết thơ
đầy giá trị về sáng tạo nghệ thuật Khi Người người lớp lớp ra đời, Trần Dần
dường như không thoả mãn với thành tựu đầu tay về mặt tiểu thuyết của
mình: “Tôi vừa viết xong cuốn Người người lớp lớp Viết về chiến tranh ở
Điện Biên Phủ đấy Nhưng mà tôi đã chán rồi tôi thấy ít sự thực của chiếntranh trong đó quá Và vì rằng tôi thấy ít sự thực của tôi trong đấy quá Đó
chưa phải là chiến tranh và chưa phải là tôi” [28] Cổng tỉnh ra đời ít nhiều làm ông hài lòng hơn Cổng tỉnh không nằm chung toạ độ với những tác phẩm viết về kháng chiến cùng thời mà là một cung đàn lỗi nhịp [67] So với Người người lớp lớp, tiểu thuyết đầu tay của Trần Dần ta nhận thấy ở Cổng tỉnh sự
trưởng thành về tư duy tiểu thuyết với những cách tân về mặt nghệ thuật đãhiện lộ rõ nét hơn Con người Trần Dần bộc bạch nhiều hơn và đa dạng hơn
so với tiểu thuyết ban đầu Và gần đây nhất là tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn, cuốn tiểu thuyết mới ra mắt nhưng đã làm sững sờ người đọc
bởi sức sáng tạo mãnh liệt, có tính chất vượt trước thời đại của ông
Người người lớp lớp là tác phẩm văn xuôi đầu tiên của Trần Dần, là
cuốn tiểu thuyết duy nhất của văn học Việt Nam thời kì đó về Điện Biên Phủ.Tác phẩm vẫn nằm trong khung tiểu thuyết truyền thống với mô hình viết và
ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta Người người lớp lớp nổi lên
với chức năng minh hoạ Ở đó, ta nhận ra những đặc điểm tiêu biểu của dòng
Trang 31văn học Cách mạng như tính thời sự, giọng điệu anh hùng ca và thủ pháp
trùng điệp Có thể xếp Người người lớp lớp vào giai đoạn quảng trường trong
hành trình sáng tạo tiểu thuyết của Trần Dần, nơi chứa đựng những mẫu sốchung quen thuộc trong tư duy tiểu thuyết và kĩ thuật tiểu thuyết Người đọcchưa nhận thấy được nhiều những nỗ lực cách tân thể loại của Trần Dần quatiểu thuyết này Có thể có nhiều cách lí giải về vấn đề này Nhưng điều quantrọng nhất, nhìn lại hành trình sống và sáng tác của Trần Dần ta nhận ra giai
đoạn viết Người người lớp lớp là giai đoạn ông sống gần gũi và chính là một
trong số hàng chục vạn người lính đang trực tiếp chiến đấu ngoài chiếntrường, chưa có nhiều văn học chạm về tư tưởng Nhiệt huyết người lính đangthấm đẫm trong ông
Sau năm 1959 - thời điểm mà nhóm Nhân Văn bị đánh sụp hoàn toàn,Trần Dần bị đẩy ra ngoài lề của dòng văn học chính thống Giai đoạn này cóthể xem là giai đoạn bên lề không chỉ về thân phận nhà văn mà còn với cảnhững sáng tác của ông Hàng chục năm trời ông sống và sáng tác trong cảnh
người ngồi thì viết, còn cái viết được thì nằm Một hoàn cảnh sống luôn bủa
vây, triệt tiêu ông ngay từ trong tư tưởng Nhưng cũng chính hoàn cảnh đó đã
làm nên một Trần Dần mới và khác hoàn toàn so với giai đoạn viết Người người lớp lớp Người đọc nhận ra những thể nghiệm mang tính hiện đại và nỗ
lực cách tân không biết mệt mỏi trong tiểu thuyết của ông.Sự ra đời của Cổng
tỉnh và gần đây nhất là Những ngã tư và những cột đèn có thể xem là sự gây
hấn, phá vỡ khung tiểu thuyết truyền thống
Nếu đặt cuốn tiểu thuyết đầu tay Người người lớp lớp bên cạnh những
cuốn tiểu thuyết ra đời muộn hơn ta sẽ thấy rõ hành trình của Trần Dần trongvăn xuôi Đó là hành trình của con người xê dịch từ không gian quảng trườngtới không gian bên lề của hoạt động văn học Và đó cũng là hành trình giã biệtkhung tiểu thuyết truyền thống để khao khát làm mới thể loại của Trần Dần
Đi từ quảng trường đến bên lề là hành trình tiểu thuyết Trần Dần bước qua
Trang 32khoảng trời cao rộng của sử thi để đến với vũng nước nhỏ mang dấu ấn đời
tư Đó là cả một cuộc thay đổi không chỉ với bản thân Trần Dần mà ngay cảvới văn học Việt Nam Tiểu thuyết Việt Nam cần có nhiều hơn nữa nhữngcon người dám dấn thân như ông
1.2.3 Tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.2.3.1 Nhìn lại một chặng đường tiểu thuyết Việt
Trong cấu trúc thể loại của văn học hiện đại, tiểu thuyết đóng một vaitrò đặc biệt quan trọng Sẽ khó để hình dung về một nền văn học hiện đại mà
ở đó thiếu vắng những thành tựu đỉnh cao của tiểu thuyết Ngay cả khi đãchiếm một chỗ đừng trong văn chương tiểu thuyết vẫn luôn biến đổi khôngngừng Đó là thể loại duy nhất còn trẻ, còn đang hình thành và tìm những conđường đi như thể không bao giờ dừng lại dưới những hình thức cố định bấtdịch So với hành trình của tiểu thuyết trên thế giới, tiểu thuyết Việt Nam sinhsau đẻ muộn, nhưng ngay từ khi ra đời nó đã luôn nỗ lực không ngừng đểkhẳng định vị trí chủ âm trong dàn hợp xướng văn học và khát vọng hoà nhậpvới xu hướng của tiểu thuyết hiện đại
Khép lại mười thế kỉ văn học Trung đại cũng là lúc nền văn học dân tộc
muốn bứt phá để thoát khỏi hoàn toàn sự chế ngự, hiếp đáp của nền văn học
Trung Hoa Lựa chọn chữ quốc ngữ làm phương tiện, tiểu thuyết Việt bắt đầuquá trình hình thành dòng máu bản địa Giai đoạn đầu thế kỉ XX đến 1945 làgiai đoạn tiểu thuyết Việt thực sự ra đời và nhanh chóng đồng hành cùng quátrình hiện đại hóa của nền văn học dân tộc Được xếp vào lớp những cây búttiên phong cho sự ra đời tiểu thuyết quốc ngữ phải kể đến vùng đất Nam Bộ
với Hồ Biểu Chánh Sau đó là Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách - tác phẩm
được xem là một hiện tượng văn học lúc bấy giờ, một tiểu thuyết hiện đại mởđầu cho khuynh hướng lãng mạn Tiếp sức cho những bước chạy đầu tiên của
Tố Tâm là nhóm tác giả Tự Lực Văn Đoàn với các tiểu thuyết của Khái
Trang 33Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo… mang lại một sự cách tân toàn diện Nhờ sựthức tỉnh ý thức cá nhân, sự quan tâm đặc biệt đến nhu cầu giải phóng nhữngkhát vọng cá nhân, hướng vào đời sống nội tâm của con người, các nhà tiểuthuyết Tự Lực Văn Đoàn đã có những thành công trong nghệ thuật miêu tảtâm lí nhân vật Họ đã đẩy quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam lênmột bước tiến mới so với Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách Và từ đó, mộtphong trào văn học khác không kém phần phong phú cả về số lượng và chấtlượng là tiểu thuyết hiện thực phê phán Họ đã đem lại một bầu không khímới cho văn học, hướng vào phản ánh, mổ xẻ, phân tích hiện thực xã hội vớitinh thần phê phán, tập trung thể hiện các xung đột giai cấp, xung đột xã hộitrong những hoàn cảnh có tính chất điển hình, xây dựng nhân vật điển hình.Trong khuynh hướng này đã thực sự hình thành nên phong cách tác giả NgôTất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng là những phong cách tiểu thuyết đóng vaitrò lớn trong tiến trình của tiểu thuyết Việt giai đoạn này.
Nếu như hơn 30 năm đầu thế kỉ XX, tiểu thuyết phát triển mau lẹtrong công cuộc hiện đại hóa nền văn học dân tộc, thì từ sau Cách mạngtháng Tám 1945 tiểu thuyết Việt bước vào một giai đoạn đầy đau thương màrất anh hùng: kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Cũng giống như cácthể loại khác tiểu thuyết giai đoạn này tham gia phục vụ chính trị, là vũ khítinh thần góp phần vào chiến thắng của nhân dân ta nên nó mang đậmkhuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Nhìn nhận một cách kháchquan, so với chặng đầu, tiểu thuyết giai đoạn này có thể nói là một bước thụtlùi, nhất là về mặt nghệ thuật tiểu thuyết Trong giai đoạn cả dân tộc cóchung một khuôn mặt, chung một tâm hồn thì tiểu thuyết không thể không bịmặc đồng phục Không còn những cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuậthay nghệ thuật vị nhân sinh như một chất xúc tác đưa văn học về với bảnnguyên của nó, đặt nhà văn vào những trăn trở cách tân Người ta quan tâm
đề cập đến nội dụng truyền tải, hiện thực hơn là những nỗ lực cách tân làm
Trang 34mới thể loại (Mặc dù vậy, tiểu thuyết giai đoạn này đã hoàn thành xuất sắc
sứ mệnh mà lịch sử giao phó)
Tuy nhiên, khi chính trị can dự quá nhiều vào văn học, chụp mũ sángtác thì có những con người đã lui vào bóng tối để bảo nguyên những giá trị,làm nghệ thuật thực sự Tồn tại song song cùng với dòng văn học chínhthống, giai đoạn 1945 - 1975 còn có một mạch ngần văn học khác mà khi lộthiên khiến chúng ta không khỏi ngỡ ngàng, thán phục Người ta gọi mạch
ngầm này là văn học vết thương với các tác phẩm như: Một đêm đợi tàu (Đỗ Phú), Vào đời (Hà Minh Tuân), Sắp cưới (Vũ Bão), Miền hoang tưởng
(Nguyễn Xuân Khánh)… Các sáng tác của Trần Dần cũng hầu như nằm trongmạch chảy không chính thống này
Sau 1975, văn học vẫn trượt theo quán tính của văn học chiến tranh Cảdân tộc miên man với hào quang chiến thắng trong một thời gian dài Chỉ đếnkhi bảng giá trị thời chiến nhường chỗ cho những giá trị thời bình, con ngườitrở về với cuộc sống thực họ mới đủ lí trí và tỉnh táo để nhìn nhận về cuộcđời, về chính mình Một loạt các giá trị mới về mảng màu đời tư, chất đờithường xuất hiện trong tác phẩm: mất mát, khó khăn, dằn vặt, suy tư… Tiểu
thuyết bắt đầu phá rào, gây shock, chứa những hợp chất mới với Lửa từ những ngôi nhà, Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Cha và con và…, Thời gian của người (Nguyễn Khải), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh)… Và phải
đến thời điểm 1986, văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói chung mới thực sựbước vào cao trào đổi mới, có một cuộc lột xác thực sự Các tác giả đã bướcqua được những rào cản chính trị, bước qua con người cũ trong mình, từ giãchính mình để khám phá đời sống dưới góc nhìn mới, phương tiện mới Hàngloạt các tác phẩm ra đời với tinh thần nhận thức lại hiện thực, phản tỉnh hiện
thực, không thể viết như cũ được nữa: Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời (Ma Văn Kháng), Ảo ảnh trắng (Nguyễn Ngọc Tú), Vũ
Trang 35điệu của cái bô (Nguyễn Quang Thân)… Đặc biệt khi những tác phẩm có vấn
đề như Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Mùa hoa cải bên sông (Nguyễn Quang Thiều), Những thiên đường mù (Dương
Thu Hương)…ra đời đã gây shock với độc giả, gây hấn với kinh nghiệm viết
và đọc, với quan niệm văn chương truyền thống Các tác phẩm này không chỉthể hiện nhu cầu nhận thức lại hiện thực, phản tỉnh lại bảng giá trị truyền
thống mà còn gióng lên câu hỏi cho một vấn đề nóng bỏng, sinh tử: có thể viết tiểu thuyết như thế nào? Từ đó, thúc đẩy các nhà văn thiết lập nên một
bảng màu mới cho sự đổi mới về thể loại
Từ sau năm 1993, cao trào đổi mới lắng xuống Một thời gian dàikhông xuất hiện những tác phẩm đáng được coi là hiện tượng văn học, có thểgây xôn xao dư luận Năm 2002, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức hội thảo
về tiểu thuyết như một lực bẩy giúp tiểu thuyết tìm lại mình Bên cạnh nhữngcây bút thuộc thế hệ đàn anh như Nguyễn Khải, Tô Hoài, Nguyễn XuânKhánh… còn có một lực lượng các nhà văn trẻ đang nỗ lực tìm hướng đi mới
cho tiểu thuyết Việt đương đại: Ta Duy Anh (Lão khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối…); Nguyễn Bình Phương (Bả giời, Thoạt kì thuỷ, Trí nhớ suy tàn, Người đi vắng, Ngồi); Nguyễn Thị Thu Huệ (Hậu thiên đường, Cát đợi); Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn), Thuận (Made in Viet Nam, Chinatown, Pari 11-8, Vân Vy, T mất tích), Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau)… Cách tân là sinh lộ của nghệ
thuật Có thể có những đánh giá trái chiều nhau về những sáng tác của lớp trẻnhưng điều đáng trân trọng là tinh thần quyết liệt đổi mới, quyết liệt dấn thân,không thoả mãn với những gì đã có
Nhìn lại chặng đường tiểu thuyết Việt từ những năm đầu của thế kỉ
XX đến nay, ta nhận ra tiểu thuyết đã phát triển qua những giai điệu thăngtrầm, thậm chí có những bước lùi tạm thời nhưng ta cũng không thể phủnhân nỗ lực làm mới thể loại của các thế hệ người cầm bút Chính nỗ lực
Trang 36cách tân, đổi mới của họ đã góp phần từng bước làm nên diện mạo tiểuthuyết Việt ngày nay.
1.2.3.2 Những ngã tư và những cột đèn trong bức tranh tiểu thuyết Việt Nam
Những ngã tư và những cột đèn là một cuốn tiểu thuyết đến muộn của
tác giả Trần Dần Tác phẩm được viết năm 1964, nhưng phải đến năm 2011mới được xuất bản Cuốn tiểu thuyết về chiến tranh mà như Trần Dần đã viết
trong cuốn nhật ký của mình năm 1989: Những tình bạn, những tình yêu, đã
đi qua chiến tranh, đi qua hòa bình, rồi lại rơi vào chiến tranh, có còn nguyên vẹn? Và những tính cách, thói quen con người, có thể nào không thay đổi cùng hoàn cảnh? [27] Không một cảnh chiến tranh, nhưng hai chữ chiến tranh đi vào tiểu thuyết ngay từ trang một và trôi theo nhật ký như một
ám ảnh, cho đến trang cuối cùng Chiến tranh do vậy, tồn tại như một bè đệm
để con người toàn phần và cụ thể vẫn tiếp tục trong chiến tranh và mạnh hơn
chiến tranh Nếu trong thơ, Trần Dần nổi tiếng là người cách tân cả về hình thức (với lối thơ bậc thang) lẫn tư tưởng (đa diện, triết lý) thì trong văn xuôi, ông lại một lần nữa được các nhà phê bình đánh giá cao với lối viết hiện đại, với nhiều câu văn được dụng công và đẽo tạc đẹp như thơ [36]
Đến với người đọc vào những ngày cuối năm 2010, tác phẩm đã mangtới một làn sóng đủ mạnh để khuấy động không khí trầm lắng của tiểu thuyết
vào thời điểm hiện tại Một cuốn tiểu thuyết sau gần nửa thế kỷ mới được
xuất bản, nhưng đọc vẫn thấy rất mới Từ cảm hứng, cốt truyện, nhân vật, cấutrúc đến ngôn ngữ, giọng điệu… đều hoàn toàn khác lạ Xét bối cảnh tiểu
thuyết Việt trong khoảng thời gian Trần Dần viết Những ngã tư và những cột đèn, ta càng thấy Trần Dần quá hiện đại Những kĩ thuật tự sự ảnh hưởng từ
văn học hiện đại phương Tây lúc đó đã được Trần Dần sử dụng một cáchthành thạo và có ý thức trong tác phẩm: lối tự sự đa điểm, dòng ý thức, xoá bỏthời tính… Trần Dần đã làm người đọc bừng tỉnh: cái mà tiểu thuyết Việt
Trang 37đang chạy theo: những kĩ thuật tự sự phương Tây phải chăng là nỗ lực thừa?
Trong bối cảnh của tiểu thuyết Việt, Trần Dần với Những ngã tư và những cột đèn xứng đáng là người đến sớm từ tương lai.
Khi Những ngã tư và những cột đèn ra mắt độc giả, người ta lại biết
thêm một tác phẩm của quá khứ làm xạm mặt hiện tại Đặt trong dòng chảycủa tiểu thuyết Việt, tác phẩm có thể xem là một thứ quả lạ (mặc dù thưởngthức nó không hề dễ dàng) Ta nhận ra sự cách tân ráo riết, đến mức có thểnói là sự phản kháng với những quy phạm nghệ thuật đang đóng vai trò chínhthống Cuốn tiểu thuyết chứa đựng nhiều sáng tạo về ngôn ngữ Đó là ngôn
ngữ của một người luôn tâm niệm làm thơ tức là làm tiếng Việt, và khi viết
tiểu thuyết, quan niệm ấy cũng chi phối rất rõ ngòi bút tác giả
1.3 Tiểu kết chương 1
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng bậc nhất, không chỉ đối với ngườisáng tạo, mà còn đối với người tiếp nhận văn học Ngôn ngữ trong tácphẩm văn học chịu sự chi phối của phong cách nhà văn và mang đặc trưngcủa thể loại văn học Với nhận thức như vậy, ở chương này, chúng tôi đãtrình bày trên những nét lớn về thể loại tiểu thuyết, đặc điểm ngôn ngữ tiểuthuyết cùng những nét khái quát về con người và sự nghiệp văn chương của
tác giả Trần Dần cùng tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn Đây là
cơ sở quan trọng, tiền đề cho việc đi vào tìm hiểu ngôn ngữ tiểu thuyết
trong tác phẩm Những ngã tư và những cột đèn mà chúng tôi sẽ thực hiện
trong các chương sau
Trang 38Chương 2
TỪ NGỮ TRONG NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN
CỦA TRẦN DẦN
2.1 Từ ngữ trong tiểu thuyết và những hướng nghiên cứu
2.1.1 Từ ngữ trong tiểu thuyết
Mỗi loại hình nghệ thuật đều được đặc trưng bởi một chất liệu làm cơ
sở cho nghệ thuật đó Giáo trình Lí luận văn học viết: “Nhà điêu khắc tư duy
bằng khối mảng, đường nét; nhà nhạc sĩ tư duy bằng giai điệu và âm sắc củacác nhạc cụ Cũng như thế nhà văn không thể tư duy nghệ thuật ngoài các khảnăng ngôn từ” [41] Văn học là nghệ thuật ngôn từ Đây là điều hiển nhiên,không cần bàn cãi Tuy nhiên, mỗi thể loại đòi hỏi một thứ ngôn ngữ riêng,ngôn ngữ của thể loại ấy Bởi vậy, muốn hiểu được một cách sâu sắc, cặn kẽbản chất thẩm mĩ của ngôn từ trong tác phẩm văn học cũng như phong cáchngôn ngữ của nhà văn, nhất thiết phải gắn nó với thể loại Có thể áp dụngquan niệm này để xem xét mọi cấp độ ngôn ngữ trong tác phẩm văn học,trước hết là ở cấp độ từ ngữ
Như chúng ta đã biết, từ là đơn vị ngôn ngữ có sẵn, tồn tại trong hệthống ngôn ngữ, tạo nên kho từ vựng rất phong phú và đa dạng Ở mỗi người,
từ được tích lũy dần và tồn tại với tư cách một biểu hiện tiềm năng ngôn ngữ.Trong vốn từ của từng người, từ tồn tại ở trạng thái tĩnh với các tiềm năngnhất định Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật cho phép nhà văn thực hiện cátính sáng tạo trên các đơn vị ngôn ngữ, nhưng với từ cách là một đơn vị cơbản của ngôn ngữ, từ bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn.Ấn tượng của người đọc về sự sáng tạo của nhà văn trên phương diện ngônngữ cũng bắt đầu từ đơn vị này Sự đa dạng và phong phú của vốn từ sẽ giúpnhà văn tự do trong việc lựa chọn để miêu tả bức tranh cuộc sống cũng như
bộ lộ thế giới tinh thần của nhà văn Để có được ngôn ngữ nghệ thuật, bản
Trang 39thân chủ thể sáng tác phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nhằm làmcho từ ngữ mang phẩm chất thẩm mỹ, có sức biểu đạt cao Có thể nói rằng,nhà văn không sáng tạo ra ngôn ngữ nhưng trong quá trình sáng tạo nghệthuật, nhà văn đã làm cho từ ngữ bộc lộ những khả năng tiềm tàng.
Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, quan niệm về đặc trưngcủa ngôn ngữ nghệ thuật có những thay đổi nhất định tùy thuộc vào quanđiểm thẩm mỹ cùng giai đoạn, từng loại hình văn học Từ ngữ trong văn học
cổ điển mang tính qui phạm cao, sử dụng vốn từ mang tính chất khẩu ngữ làđiều tối kị Ngôn ngữ văn học hiện đại không bị ràng buộc bởi quy địnhnghiêm ngặt nên cho phép nhà văn tự do lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu
tố, phương tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đếnmức cao nhất để thực hiện mục đích thẩm mĩ cho tác phẩm
Do những qui định của thể loại, từ ngữ trong văn bản tự sự nói chung
và tiểu thuyết nói riêng có những đặc trưng riêng, và những đặc trưng này dễthấy nhất khi ta đối sánh từ ngữ trong truyện với từ ngữ trong thơ
“Từ ngữ trong thơ - xét từ góc độ ngôn ngữ học thuần túy - không phải
là thứ sản phẩm gì xa lạ Đó vẫn là những từ ngữ của đời sống, được lấy ra từcái vốn từ ngữ toàn dân Những từ ngữ ấy đã có nghĩa xác định, và đó là tấm
“giấy thông hành’’ để chúng luân chuyển, tồn tại trong các ngữ cảnh khácnhau với những người sử dụng khác nhau Nhà thơ không sản sinh ra từ mờitrước đó chưa hề có, mà chỉ sử dụng chúng bằng năng lực sáng tạo của mình
Có những trường hợp nhà thơ không hề dùng một từ nào lạ, mà câu thơ, bàithơ vẫn bị xem là “hũ nút’’, khó hiểu Cái khó hiểu không phải nằm ở nghĩa
tự vị độc lập của mỗi từ, mà ở cấu trúc ngôn từ của văn bản - một kiểu cấutrúc tạo nên những mã, cất giấu những “mật ngữ’’, thách thức cái nhìn của
“người trần mắt thịt” Xuất phát từ điều này mà nhiều người nhất trí rằng:nghĩa của từ trong thơ là một thứ nghĩa được tạo sinh bởi quan hệ chứ khôngcòn là nghĩa tròn trặn như trong từ điển” [39, tr 62, 63]
Trang 40Trong sáng tạo văn học, cách thức tổ chứ quyết định sự lựa chọn vậtliệu Từ ngữ trong thơ thường được lựa chọn dưới nhiều áp lực: cảm hứng, cátính sáng tạo, thể thơ, âm luật Thơ càng chặt chẽ về kết cấu, thi luật thì áplực càng nặng nề Về lí thuyết, mọi từ ngữ đều có thể có mặt trong thơ, nhưngthực tế, từ ngữ thơ ca nặng tính “đặc tuyển’’, được đãi lọc từ “hàng tấn quặngngôn từ’’ Cho nên, vốn từ cần cho nhà thơ không phong phú bằng vốn từ củanhà tiểu thuyết.
Khác với thơ, văn xuôi tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng có thamvọng tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lí con người trong sự sâu rộng, đa chiềuvốn có của nó Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường
Nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọ chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ,phồn tạp đến cực độ Nói như vậy không có nghĩa là ngôn ngữ tiểu thuyếtkhông cần trau chuốt, nhưng sự trau chuốt từ ngữ của một cây bút tiểu thuyếtrất khác với sự trau chuốt của một nhà thơ Đối với người viết tiểu thuyết, áplực rõ nhất là làm sao từ ngữ phải lột tả được đối tượng một cách chính xácnhất qua cái nhìn của anh ta
Trong văn xuôi, Đào Thản viết: “ngôn ngữ nghệ thuật có thể đạt tớimột độ chính xác lí tưởng về mặt miêu tả Điều này trước hết và chủ yếu đượcquyết định bởi tài nghệ của nhà văn, song cũng phải kể đến sức mạnh và tiềmnăng của phương tiện biểu đạt Không bị ràng buộc, hạn chế bởi đặc trưngphong cách, ngôn ngữ nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọiyếu tố phương tiện, huy động mọ khả năng, vốn liếng của tiếng nói đân tộcđến mức cao nhất cho mục đích thẩm mĩ của mình Văn xuôi hiện đại không
“phân biệt đối xử” đối với các phương tiện thể hiện Ở đây không có biệnpháp nào được đánh gái là tốt hay xấu, trội hơn hay kém hiệu lực hơn, mà chỉ
có thể được ưa dùng, quen dùng hơn trong những thời kì, xu hướng hoặc tácgiả nhất định” [61, tr.202]