1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu nâng cao hiệu quả thu nhận hạt lai và đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số dòng chè lai triển vọng tại phú hộ phú thọ

106 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tình hình sâu bệnh hại của một số dòng chè lai tạo .... Nghiên cứu đặc điểm, kích thước búp, khả năng sinh trưởng búp c

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Cương

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hải Bằng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Nguyễn Văn Cương – Học viện nông nghiệp Việt Nam là người đã định hướng đề tài và trực tiếp chỉ bảo tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể thầy cô giáo Bộ môn Di truyền và chọn giống cây trồng – Khoa Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè

và các anh chị Bộ môn chọn tạo giống – Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè – Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện

đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên tôi khích

lệ để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hải Bằng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Yêu cầu của đề tài 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4

2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 5

2.2 Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố cây chè 5

2.2.1 Nguồn gốc cây chè 5

2.2.2 Phân loại cây chè 7

2.2.3 Sự phân bố của cây chè 8

2.3 Một số kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài 9

2.3.1 Kết quả nghiên cứu ở nước ngoài 9

2.3.2 Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam 15

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Địa điểm nghiên cứu 28

3.2 Thời gian nghiên cứu 28

Trang 5

3.3 Vật liệu nghiên cứu 28

3.4 Nội dung nghiên cứu 29

3.5 Phương pháp nghiên cứu 29

3.5.1 Thiết kế thí nghiệm 31

3.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 32

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 35

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 365

4.1 Đặc điểm một số giống chè bố mẹ, ảnh hưởng của thời điểm thụ phấn đến tỷ lệ đậu quả của các cặp bố mẹ 36

4.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, năng suất của một số giống chè 36

4.1.2 Đặc điểm nở hoa của một số giống chè 38

4.1.3 Đặc điểm cấu tạo hoa của một số giống chè 40

4.1.4 Nghiên cứu tính hữu dục, bất dục của một số giống chè 40

4.1.5 Tỷ lệ đậu quả của các cặp lai 44

4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tình hình sâu bệnh hại của một số dòng chè lai tạo 45

4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, kích thước lá của một số dòng chè lai tạo 45

4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm, kích thước búp, khả năng sinh trưởng búp của một số dòng chè lai tạo 48

4.2.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái thân cành, khả năng sinh trưởng thân cành của các dòng chè 54

4.2.4 Đánh giá sơ bộ mức độ sâu hại của các dòng chè nghiên cứu 57

4.2.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng chè nghiên cứu 59

4.2.6 Tỷ lệ búp mù xòe của các dòng chè nghiên cứu 61

4.2.7 Thành phần cơ giới của các dòng chè nghiên cứu 62

4.2.8 Thành phần sinh hóa của các dòng chè nghiên cứu 63

4.2.9 Đánh giá bằng phương pháp thử nếm cảm quan chất lượng chè xanh, chè Olong của các dòng chè 68

Phần 5 Kết luận và đề nghị 73

5.1 Kết luận 73

5.2 Đề nghị 73

Tài liệu tham khảo 74

Trang 6

Phụ lục 79

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Đặc điểm sinh trưởng thân cành của một số giống chè 36

Bảng 4.2 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số giống chè 37

Bảng 4.3 Đặc điểm nở hoa của một số giống chè 40

Bảng 4.4 Đặc điểm cấu tạo hoa của một số giống chè 41

Bảng 4.5 Tỷ lệ hạt phấn hữu dục, bất dục của các giống chè sử dụng làm bố 43

Bảng 4.6 Tỷ lệ đậu quả của các cặp lai 44

Bảng 4.7 Đặc điểm hình thái lá của các dòng chè nghiên cứu 46

Bảng 4.8 Đặc điểm lá của các dòng chè nghiên cứu 47

Bảng 4.9 Đặc điểm hình thái búp của các dòng chè nghiên cứu 48

Bảng 4.10 Đặc điểm kích thước búp của các dòng chè nghiên cứu 49

Bảng 4.11 Đợt sinh trưởng và thời gian sinh trưởng của các dòng chè nghiên cứu 51

Bảng 4.12 Động thái tăng trưởng chiều dài búp của các dòng chè nghiên cứu 50

Bảng 4.13 Thời gian hình thành lá của các dòng chè nghiên cứu 53

Bảng 4.14 Đặc điểm hình thái thân cành của các dòng chè nghiên cứu 55

Bảng 4.15 Đặc điểm sinh trưởng thân cành của các dòng chè nghiên cứu 56

Bảng 4.16 Một số loại sâu và bệnh hại chính trên các dòng chè nghiên cứu 58

Bảng 4.17 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng chè nghiên cứu 60

Bảng 4.18 Tỷ lệ búp mù xòe của các dòng, giống chè nghiên cứu 61

Bảng 4.19 Thành phần cơ giới búp chè tôm 3 lá của các dòng chè nghiên cứu 63

Bảng 4.20 Thành phần sinh hóa của các dòng chè nghiên cứu 65

Bảng 4.21 Kết quả thử nếm cảm quan chất lượng chè xanh của các dòng chè 69

Bảng 4.22 Kết quả thử nếm cảm quan chất lượng chè olong của các dòng chè 71

DANH MỤC HÌNH Hình 4.1 Động thái tăng trưởng chiều dài búp chè 52

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Đỗ Thị Hải Bằng

Tên luận văn: Nghiên cứu nâng cao hiệu quả thu nhận hạt lai và đánh giá đặc điểm

nông sinh học của một số dòng chè lai triển vọng tại Phú Hộ - Phú Thọ

Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 60.62.01.10

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Xác định thời điểm thụ phấn tốt nhất nâng cao hiệu quả thu nhận hạt lai

Đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số dòng chè laitriển vọng để chọn ra dòng chè có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp để chế biến chè chất lượng cao

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lai: Lai đơn, khử đực, thụ phấn bằng tay Tiến hành 3 tổ hợp lai trên một số giống chè tuổi 7 với 4 thời điểm thụ phấn

Thí nghiệm so sánh một số dòng chè tuổi 5 được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), nhắc lại 3 lần

Kết quả chính và kết luận

Thụ phấn trên nụ bộp sắp nở vào buổi sáng cùng ngày với khử đực (CT1) cho

tỷ lệ đậu quả cao nhất đạt 21,7 – 30,0% Tỷ lệ đậu quả sau khử đực 2 ngày (CT4) thấp nhất đạt 1,7 – 3,3%.Thụ phấn càng xa với thời điểm khử đực nghiên cứu tỷ lệ đậu quả càng giảm

Dòng 212 có khả năng sinh trưởng và cho năng suất cao nhất đạt 8,85 tấn/ha cao hơn giống LDP1 đối chứng Dòng 217 cho năng suất thấp nhất đạt 5,83 tấn/ha Các dòng chè nghiên cứu ít bị sâu bệnh hại

Các dòng chè nghiên cứu đều có hàm lượng axit amin và đường trên 2,5% Hàm lượng tanin của các dòng chè đều dưới 30% thấp hơn giống LDP1 đ/c

Các dòng chè nghiên cứu đều có chất lượng chè xanh đạt loại khá và điểm thử nếm cao hơn giống LDP1 đối chứng, đặc biệt là có hương thơm đặc trưng hơn hẳn giống LDP1 đối chứng Dòng 248 có điểm thử nếm chè xanh cao nhất đạt 17,85 điểm; sau đó đến dòng 209, 217 Dòng 209, 217, 248 có khả năng chế biến chè xanh và chè olong chất lượng cao Dòng 212 và 214 có khả năng chế biến chè đen

Trang 10

Từ khóa: thời điểm thụ phấn, chè lai, năng suất, chất lượng

Trang 11

THESIS ABSTRACT Author: Do Thi Hai Bang

Title of the thesis: “Advanced research for effective acquisition of hybrid seeds and

evaluation of agricultural biological characteristics of some potentially promising lines

of hybrid tea at Phu Ho - Phu Tho“

Sector: Crop Science Code: 60.62.01.10

Education organization: Vietnam National University of Agriculture

Objectives

Determining the best time of pollination of the hybrid tea seeds for higher quality Assessing the agricultural and biological characteristics of some potentially promising lines of hybrid tea in order to pick out the teas with the greatest yield capacity and quality used to produce high quality tea

The main results and conclusions

Results is pollination on flower-buds about to bloom carried out in the morning

on the same day of emasculation (CT1) brought the highest fruiting rate reached 21,7 - 30,0% The fruiting rate after 2 days of emasculation (CT4) was the lowest 1,7 – 3,3% The later the pollination is taken place, the lower the fruiting rate is

Tea line 212 had the highest growth capacity and produced the highest yield of 8.85 ton/ha that was higher than its reference variety LDP1 Line 217 produced the lowest yield of 5.83 ton/ha The studied lines resisted pests well.All of them had amino acid and sugar content above 2.5% Their tannin content was under 30% lower than that

of LDP1.All the studied tea lines provided good quality tea and had higher marks than LDP1 when being tasted, especially have unique smell with in its favor The lines 248 had the highest mark of 17.85 and ranked right before 209, 217 The lines 209, 217, 248

Trang 12

can be processed green tea and oolong high quality.The lines 212 and 214 can be processed black tea

Keywords: time of pollination, hybrid tea, yield, quality.

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây chè (Camellia Sinensis (L)O.Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm, có

nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm Tuy nhiên nhờ những đặc tính hữu ích và

có giá trị lớn đối với con người mà cây chè đã trở thành cây trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển Sản xuất chè Việt Nam có nhiều lợi thế như đa dạng và phong phú về nguồn giống, đất đai, khí hậu phù hợp, có nhiều mô hình năng suất cao, nhiều vùng chè có chất lượng cao như Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng) Cây chè có khả năng sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện đặc thù của vùng đất dốc, đem lại nguồn thu nhập quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo và dần tiến tới làm giàu cho nhân dân trong vùng Cây chè còn có vai trò to lớn trong việc phủ xanh đất trống, đồinúi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái.Chè Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới và đem lại một nguồn kim ngạch xuất khẩu đáng kể Thị trường trong nước cũng đòi hỏi sản phẩm chè chất lượng cao với các mặt hàng đa dạng.Tuy nhiên sản xuất chè của Việt Nam còn kém hiệu quả, giá chè xuất khẩu còn thấp, giá bán bình quân sản phẩm chè của Việt Nam chỉ bằng 70% giá bán bình quân của sản phẩm chè thế giới Nguyên nhân cơ bản là do sản phẩm chè của ta kém

đa dạng về mặt hàng và chất lượng chưa cao

Trong những năm qua, nước ta dù có nhiều kết quả đáng kể trong công tác chọn tạo giống chè nhưng chưa có nhiều giống chè chất lượng cao cho nên thương hiệu chè hảo hạng được đánh giá ở mức khiêm tốn Một số giống nhập nội có chất lượng tốt nhưng sinh trưởng yếu sâu bệnh nhiều phát triển kém Vì vậy công tác chọn tạo giống trong nước đóng vai trò quan trọng tạo ra những giống chè có chất lượng nổi trội để chế biến các sản phẩm chè chất lượng cao.Phương pháp lai hữu tính, xử lý đột biến trong nước đã tạo ra những thành tựu đáng kể trong đó phương pháp lai hữu tính là phương pháp chủ động nhất để tạo ra giống mới Vì chè là cây giao phấn nên các cá thể trong quần thể luôn ở trạng thái dị hợp tử.Dựa vàođặc điểm sinh vật học của các giống chè nhập nộivà các giống chè địa phươngcó nguồn gen quý tiến hànhlai cưỡng bức nhằm tạo ra các con lai vượt trội hơn bố mẹ về năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu

Trang 14

Sự thành công của chọn giống phụ thuộc vào số lượng, chất lượng của vật liệu khởi đầu Vì vậy các cơ quan chọn giống coi công tác vật liệu khởi đầu là hàng đầu Bằng phương pháp lai hữu tính, Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã có 1 số thành tựu như tạo ra các giống chè LDP1, LDP2, PH8, PH9 có năng suất caocùng với một số dòng chè có triển vọng đang trong quá trình khảo nghiệm Tuy nhiên, phương pháp lai hữu tính cưỡng bức tốn rất nhiều công sức mà tỷ lệ đậu quả lại không cao nên số lượng vật liệu khởi đầu phục vụ công tác chọn tạo giống còn ít.Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2012) cho thấy tỷ lệ đậu quả của các tổ hợp lai rất thấp, trung bình chỉ đậu được 19,39% Tỷ lệ đậu quả phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh, đặc điểm của từng giống chè, sự kết hợp của các giống chè bố mẹ và thời điểm khử đực Khử đực trên nụ hoa còn non cho tỷ lệ đậu quả thấp hơn khi thụ phấn

trên nụ hoa sắp nở Trên cơ sở đó chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả thu nhận hạt lai và đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số dòng chè lai triển vọng tại Phú Hộ - Phú Thọ”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định thời điểm thụ phấn tốt nhất nâng cao hiệu quả thu nhận hạt lai

- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số dòng chè lai triển vọng để

chọn ra dòng chè có năng suất cao chất lượng tốt thích hợp để chế biến chè chất lượng cao

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển, cấu tạo hoa, thời điểm

nở hoa của các giống bố mẹ và thời điểm thụ phấn ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả

- Đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng, sâu bệnh hại chính của một số dòng chè lai

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu trên một số giống chè tuổi 7 và một số dòng chè lai triển vọng tuổi 5 ở Phú Hộ - Phú Thọ

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ thu thập được các thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chọn tạo các dòng, giống chè mới có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt

Trang 15

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định thời điểm thụ phấn tốt nhất tăng tỷ lệ đậu quả giúp tạo ra vật liệu khởi đầu phong phú

- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số dòng chè lai mới ở Phú

Thọ sẽ xác định được dòng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt thích hợp cho sản xuất chè chất lượng cao góp phần đa dạng hóa sản phẩm chè của Phú Thọ nói riêng và Việt Nam nói chung

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Chè là loại cây giao phấn, tỷ lệ giao phấn lên đến 95% nên nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ đồng đều của cây con rất thấp, cây con không giống cây mẹ về các đặc điểm hình thái, các tính trạng về năng suất và chất lượng Đây là đặc điểm có

ý nghĩa lớn về tính đa dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn tạo giống, đồng thời là điều chúng ta cần lưu ý trong sản xuất đặc biệt là trong việc nhân giống Cây chè từ khi tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa

ra sản xuất cần có thời gian dài Do đó các nghiên cứu chè là sự kế thừa và phát triển nối tiếp nhau, từ lựa chọn các cá thể tốt đến đánh giá khảo nghiệm về năng suất chất lượng và quy trình trồng trọt chế biến không thể tách rời mà phải liên hoàn và kế tiếp nhau Để chọn lọc các giống chè mới, các nước áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây đột biến Trong đó phương pháp lai hữu tính và chọn lọc cá thể được chú ý và có nhiều thành công nhất (Vũ Thị Thư và cs., 2001).Tuy nhiên

tỷ lệ đậu quả đạt được còn thấp Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Phương (2012) khử đực và thụ phấn lúc nụ hoa sắp nở cho tỷ lệ đậu quả cao hơn

so với khử đực lúc nụ còn non Nếu có điều kiện thì thụ phấn cho hoa ngay là tốt nhất, còn có thể thụ phấn cho hoa sau khi khử đực 2 ngày

Chè là cây lâu năm, có chu kỳ sống rất dài có thể đạt 100 năm hoặc lâu hơn, chia làm 2 chu kỳ phát triển là: chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ

- Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống cây chè, tính từ khi noãn được thụ tinh bắt đầu phân chia đến khi cây chè chết Theo tác giả Trang Văn Phương (1960) và Nguyễn Ngọc Kính (1979) đã chia chu kỳ phát triển lớn của cây chè làm 5 giai đoạn: giai đoạn phôi thai, giai đoạn cây con, giai đoạn cây non, giai đoạn chè lớn, giai đoạn chè già cỗi

- Chu kỳ phát triển nhỏ (hàng năm) gồm 2 giai đoạn là sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng Trong giai đoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triển hình thành búp, lá non và những đợt búp chè mới; các mầm sinh thực phát triển hình thành nụ, hoa và quả Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởng sinh thực phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điều kiện ngoại cảnh, trình

độ quản lý chăm sóc Giai đoạn sinh trưởng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào

Trang 17

điều kiện khí hậu, thời tiết mỗi vùng Trong giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng các

bộ phận trên mặt đất không xuất hiện các lá non mới, song bộ rễ của cây chè lại sinh trưởng để tạo nên các rễ non mới Trong điều kiện ở Phú Hộ, cây chè thường bắt đầu sinh trưởng từ tháng 2 đến tháng 11 và tạm ngừng sinh trưởng từ tháng 12 đến tháng 2 hàng năm

2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm là mục tiêu đầu tiên của tất cả các loại cây trồng nói chung và đối với cây chè nói riêng Đặc biệt, khi nhu cầu thị hiếu của con người ngày càng tăng cao thì chất lượng chè là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường Hiện nay, ngành chè nước ta đang gặp phải rất nhiều khó khăn: năng suất thấp hơn chè thế giới, chất lượng còn hạn chế dẫn đến giá trị thấp, thiếu những sản phẩm chất lượng chủ đạo Để tạo nên chất lượng chè thành phẩm, yếu tố giống quyết định đến 50%, còn yếu tố độ cao, chăm sóc quyết định 30%, yếu tố công nghệ chế biến, thiết bị chỉ chiếm 20% (Nguyễn Hữu Khải, 2005)

Chè olong là sản phẩm độc đáo, được sản xuất theo công nghệ và thiết bị Đài Loan, chủ yếu sản xuất với các giống và công nghệ thích hợp ở vùng cao và các vùng có lợi thế, có giá trị kinh tế cao, được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo và một số nước Đông Nam Á Trong những năm gần đây, chè Olong đang dần xâm nhập vào thị trường các nước Âu Mỹ,… và là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị

Trong thực tế sản xuất hiện nay, các giống chè trong nước chủ yếu phù hợp với chế biến sản phẩm chè đen, các giống phục vụ cho chế biến chè xanh đặc biệt là chè xanh chất lượng cao và chè olong còn rất hạn chế Trong những năm 2000 - 2005, nhằm khắc phục tình trạng thiếu giống chè chất lượng cao, được sự chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và PTNT, công tác chọn tạo giống chè được đẩy mạnh, đồng thời vừa chọn tạo giống chè trong nước, vừa tăng cường việc nhập nội giống từ nước ngoài Cần nhanh chóng chọn tạo

ra nhiều giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, phù hợp cho chế biến chè olong để mở rộng diện tích, thay thế dần các giống chè cũ năng suất, chất lượng thấp ở Việt Nam

2.2 NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ SỰ PHÂN BỐ CÂY CHÈ

2.2.1 Nguồn gốc cây chè

Theo hai nhà thực vật học Condolk và Vavilov trên thế giới có8 Trung tâm

Trang 18

chính phát sinh và phát triển cây trồng, trong đó có 5 Trung tâm ở châu Á, 2 Trung tâm ở châu Mỹ và 1 Trung tâm ở châu Phi Cây chè có nguồn gốc từ châu Á

Một số quan điểm khác nhau về nguồn gốc của cây chè dựa trên những cơ

sở lịch sử, khảo cổ hay thực vật học có thể kể đến sau đây:

- Cây chè có nguồn gốc từ Vân Nam, Trung Quốc: Các nhà khoa học Trung Quốc như Su - Chen - Pen, Jao- Dinh cho rằng: Đầu tiên cây chè được mọc từ Vân Nam sau đó hạt được di chuyển theo các dòng sông đến các nước khác và từ đó lan ra cả vùng rộng lớn (Lê Tất Khương, 1997)

- Dựa trên cơ sở khoa học “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilov (1920) thì cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc, nó được phân bố ở các khu vực phía Đông và phía Nam, Phía Đông – Nam theo cao nguyên Tây Tạng

- Robert Bruce cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Assam của Ấn Độ: Năm 1823 Robert Bruce đã phát hiện được những cây chè hoang dại, lá to hoàn toàn khác với cây chè Trung Quốc và ở tất cả những nơi theo các tuyến đường giữa Trung Quốc và Ấn Độ Từ đó ông cho rằng Ấn Độ là nơi nguyên sản của cây chè (Nguyễn Ngọc Kính, 1979)

- Djemukhadze(1982) đưa ra quan điểm: cây chè có nguồn gốc Việt Nam

Từ năm 1962 đến năm 1976, ông đã tiến hành điều tra cây chè mọc tại Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lào Cai, Tam Đảo và tiến hành phân tích thành phần sinh hoá để so sánh với loại chè thường được trồng trọt, từ đó tìm ra sự tiến hoá của cây chè làm

cơ sở xác định nguồn gốc Ông thấy rằng những cây chè hoang dại chủ yếu tổng hợp catechin đơn giản, cây chè tiến hoá tổng hợp catechin phức tạp Cây chè ở Việt Nam chủ yếu tổng hợp (-) epicathechin và (-) epigalocathechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechin), trong khi đó chè ở Tứ Xuyên và Quý Châu, Trung Quốc chỉ chiếm 18 – 20% Từ đó ông cho rằng nguồn gốc cây chè chính

là Việt Nam

Thực tế hiện nay, phần đông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè là cả một vùng từ Assam, Ấn Độ sang Miến Điện, Vân Nam – Trung Quốc, Bắc Việt Nam, Thái Lan Từ đó chia ra làm hai nhánh, một đi xuống phía Nam, và một đi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam – Trung Quốc Điều kiện khí hậu ở đây rất lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm (Nguyễn Ngọc Kính, 1979; Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Toàn, 1994)

Trang 19

2.2.2 Phân loại cây chè

Các nhà khoa học đều cho rằng, việc phân loại giống chủ yếu dựa vào các đặc điểm dinh dưỡng quan trọng như: tỷ lệ chiều dài và chiều rộng lá; góc đính lá; chiều dài cuống lá; kích thước lá; chiều dài đốt cành; thế lá, cấu trúc hình thái

lá, màu sắc lá v.v Nhưng do các đặc điểm dinh dưỡng cây chè không ổn định vì thế nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu dinh dưỡng không thể chia ra được những nhóm riêng rẽ và chuẩn xác, do đó đặc điểm sinh thực đã được nhiều tác giả đề xuất trong phân loại Đối với cây chè, bộ phận sinh thực ổn định hơn, trong đó hoa chè được xem là đặc điểm phân loại chủ yếu, các chỉ tiêu được xem xét gồm: cuống hoa, đài hoa, tràng hoa, nhị hoa, nhụy hoa và tua đầu nhụy v.v

Theo Cohen Stuart (1916) phân loại cây chè thuộc ngành hạt kín

(Angiospermae), lớp hai lá mầm (Dicotyledonae), bộ chè (Theales), họ chè (Theaceae), chi chè (Camellia), loài chè (Camellia sinensis) và tên khoa học là

Camellia sinensis (L) O Kuntze

Theo tác giả Ngô Phúc Liên (2006) đã dựa vào đặc điểm hoa chè, tập quán thân cành và lông của cành lá non để phân biệt các loài chè như sau:

+ Loài Camellia tachangensis(Đại xưởng trà) có hoa to hoặc rất to, số

cánh hoa trên 10, cánh hoa xếp xít nhau, cánh hoa dày, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy không lông, đầu nhụy chia 5 hoặc 6, thân gỗ lớn hoặc nhỏ, cành chè non không lông, búp tôm không lông, kích thước lá chè to hoặc rất to,

vỏ quả dày 3 – 5 mm Loài này không làm đồ uống, phân bố ở vùng phía Đông Vân Nam, Tây Bắc Quảng Tây và Tây Nam Quý Châu của Trung Quốc

+ Loài Camellia taliensis(Đại lý trà) có hoa to hoặc rất to, số cánh hoa

10 – 13, cánh hoa xếp lên nhau, cánh hoa dày, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy có lông, đầu nhụy chia 5 hoặc 4, thân gỗ lớn hoặc nhỏ, cành chè non không lông, búp tôm không lông hoặc ít, kích thước lá chè to hoặc rất

to, vỏ quả dày 2 – 3 mm Loài này uống không ngon, phân bố ở vùng phía Nam Vân Nam của Trung Quốc

+ Loài Camellia carassicoluma (Hậu trục trà) có hoa to hoặc rất to, số

cánh hoa trên 10, cánh hoa xếp xít nhau, cánh hoa dày, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy có lông, đầu nhụy chia 5 hoặc 4, thân gỗ nhỏ, cành chè non không lông, búp tôm có lông, kích thước lá chè to hoặc rất to, vỏ quả dày 5 – 12

mm và trục quả to Loài này uống không ngon, phân bố ở vùng phía Nam Vân Nam của Trung Quốc, phía Bắc Việt Nam, thượng lưu sông Hồng

Trang 20

+ Loài Camellia gymnogyma (Thốc phòng trà) có hoa to trung bình, số

cánh hoa 6 – 8, cánh hoa không xếp lên nhau, cánh hoa dày trung bình, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy không lông, đầu nhụy chia 3 hoặc 4, thân gỗ nhỏ hoặc thân bụi, cành chè non không lông, búp tôm ít lông, kích thước lá chè

to hoặc trung bình, vỏ quả dày 2 – 4 mm Loài này uống đạt, phân bố ở vùng phía Tây Bắc Quý Châu, Đông Bắc Vân Nam, Nam Tứ Xuyên, Nam Vân Nam của Trung Quốc

+ Loài Camellia sinensis (trà) có hoa to trung bình hoặc nhỏ, số cánh hoa 6

– 7, cánh hoa không xếp lên nhau, cánh hoa mỏng, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy có lông, đầu nhụy chia 3, thân gỗ nhỏ hoặc thân bụi, cành chè non không hoặc có lông, búp tôm có lông, kích thước lá chè to hoặc trung bình, vỏ quả dày 1 – 2 mm Loài này uống tốt, phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Miến Điện, Lào và Đài Loan

Cũng theo Cohen Stuart (1916) loài chè (Camellia sinensis) được chia ra 4 thứ (Camellia sinensis var.) bao gồm:

- Thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var bohea)

- Thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla)

- Thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var assamica)

- Thứ chè Shan (Camellia sinensis var shan)

Ngoài bốn thứ chè trên, Việt Nam còn có rất nhiều dạng chè trung gian giữa chè Trung Quốc lá to và chè Trung Quốc lá nhỏ, Trung Quốc lá to với chè Shan…Các giống chè lai đã tỏ rõ ưu thế trong sản xuất vì chúng được tích hợp bởi nhiều gen quý của cả bố lẫn mẹ và ngược lại đã khắc phục được những nhược điểm vốn có của giống bố, mẹ

2.2.3 Sự phân bố của cây chè

Điều kiện tự nhiên là yếu tố quan trọng quyết định sự phân bố của cây chè Nhiều công trình nghiên cứu trước đây đã kết luận: Vùng khí hậu nhiệt đới

và á nhiệt đới đều thích hợp cho sự phát triển của cây chè

Hiện nay cây chè phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á như Trung Quốc,

Ấn Độ, Srilanka, Indonesia và Việt Nam Đây là những nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm Tuy nhiên do sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay cây chè có thể được trồng ở hầu hết khắp các châu lục trên thế giới, từ 420 vĩ Bắc (XoChi – Liên Xô cũ) đến 270 vĩ Nam (Coriente – Achentina) Nhưng trong đó sản xuất

Trang 21

chè chủ yếu vẫn tập trung ở các nước châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Sirilanca, Indonexia, Việt Nam…và các nước châu Phi: Kênia, Malawi, Tanzania

Các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đều khẳng định rằng: Cây chè trồng ở những độ cao khác nhau có sự khác biệt giữa các giống và khác biệt về chất lượng chè Những giống chè sinh trưởng tốt ở nơi có độ cao lớn so với mực nước biển, đều có chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm tốt hơn những giống chè được trồng ở vùng thấp (Lê Tất Khương, 1997; Chu Xuân Ái, 1998) Những vùng chè nổi tiếng trên thế giới như Hồng Sơn (An Huy - Trung Quốc), Sư Tử Phong (Triết Giang - Trung Quốc), Daejilinh (Ấn Độ) đều nằm ở

độ cao lớn so với mực nước biển (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000), (Nicholas, 1988)

Ở Việt Nam, sự phân bố các giống chè ở những độ cao khác nhau có sự khác nhau rất rõ: Những vùng núi cao trên 500m so với mực nước biển, có điều kiện khí hậu phù hợp với yêu cầu sinh thái của các giống chè Shan (như Shan Chất Tiền, Shan Tham Vè, Shan Ba Vì, Shan Lũng Phìn…), một số giống chè có chất lượng tốt, đặc biệt là khi chế biến chè xanh

Những vùng chè nổi tiếng như: Hoàng Su Phì, Vị Xuyên (Hà Giang), Tà Xùa (Sơn La), Suối Giàng (Yên Bái), Mộc Châu (Sơn La), Tủa Chùa (Lai Châu), Bằng Phúc (Bắc Kạn), Bảo Lộc (Lâm Đồng), Mẫu Sơn (Lạng Sơn) đều nằm ở độ cao lớn hơn so với mực nước biển trên 500m, được trồng chủ yếu là các giống chè Shan và các giống chè thuộc biến chủng Trung Quốc lá nhỏ có chất lượng cao như: Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Thiết Quan Âm, Olong lá to,…

Các tỉnh Trung du như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang nơi có độ cao so với mực nước biển dưới 500m, là nơi tập trung của các giống thuộc thứ chè Trung Quốc lá to, chè Assamica (Ấn Độ) như: Giống Chè Trung Du, giống PH1, PH11, LDP1, LDP2, PH8, PH9 và các giống chè lai khác

2.3 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.3.1 Kết quả nghiên cứu ở nước ngoài

2.3.1.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống

Thế giới coi công tác chọn tạo giống chè là nhiệm vụ quan trọng nhất để tạo ra các sản phẩm mới, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Mục tiêu của chọn

Trang 22

giống chè ngày nay không chỉ đơn thuần là tạo ra các giống có năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận của môi trường mà các giống chè chọn tạo mới phải có chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao, an toàn, làm nguyên liệu, để chế biến ra các loại sản phẩm chè có chất lượng cao thoả mãn yêu cầu người tiêu dùng

Để chọn tạo các giống chè mới, các nước cũng áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây đột biến, công nghệ sinh học, trong đó phương pháp lai hữu tính được chú ý và có nhiều thành công Từ các biến dị thu được do lai hữu tính, tiến hành chọn lọc cá thể để thu được những cây đầu dòng có các đặc điểm khác biệt

Từ những cây đầu dòng đó được nhân vô tính và đánh giá/khảo nghiệm tính thích nghi ở các môi trường sinh thái khác nhau, ổn định về năng suất, tính chống chịu, , nếu kết quả khảo nghiệm tốt thì được công nhận giống, phổ biến giống

- Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới Nghiên cứu sử dụng giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc quan tâm từ rất sớm Ngay từ đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt ở Vũ Di Sơn Các giống chè Thuỷ Tiên (1821 - 1850), Đại Bạch Trà (1850), Thiết Quan Âm đã

có từ hơn 200 năm về trước đều là những giống chè chiết cành (Nguyễn Văn Toàn, 1994) Sở Nghiên cứu chè Tứ Xuyên Trung Quốc (1960) lai hoa thụ phấn nhân tạo, đã bồi dục thành hai giống chè Thuộc Vĩnh số 1 và số 2 được công nhận là giống chè quốc gia Tại trại thí nghiệm chè Bình Châu (Đài Loan) năm 1916 đã thu được kết quả trong lai tạo giống chè “Thanh Tâm Đại Hữu” và “Hoàng Cam Chung” thông qua chiết cành gốc đã thu được 13 dòng chè vô tính Ngoài những giống nổi tiếng từ lâu đời, Trung Quốc hiện có nhiều giống chè cho năng suất cao, chất lượng rất tốt cho cả chế biến chè xanh và chè đen như: Phúc Vân 6 (1957 - 1971), Hoa Nhật Kim, Hùng Đỉnh Bạch (Phúc Kiến), Long Vân 2000 (Triết Giang), các giống chè có chất lượng nổi tiếng như Đại Bạch Trà, Thiết Quan Âm, Long Tỉnh… Đến năm 1996, Trung Quốc đã có 50 giống chè tốt được đưa vào sản suất Sở Nghiên cứu chè Hồ Nam, Trung Quốc từ năm 1975 trở lại đây, đã tiến hành 525 tổ hợp lai tạo thụ phấn nhân tạo và thu được một số giống chè mới có triển vọng (Trịnh Khởi Khôn và Trang Tuyết Phong, 1997; Nguyễn Thị Minh Phương và cs., 2006, 2007, 2008) Tính đến năm 2006, Trung quốc có 229 giống chè đã qua kiểm tra và đánh giá Hiện nay có 97 giống chè quốc gia, 196 giống chè

vô tính Giống chè vô tính ở cấp độ địa phương là 1 giống Dựa vào tính thích nghi

Trang 23

các giống chè được phân thành các giống sau: thích hợp cho chế biến chè đen (>23 giống), thích hợp cho chế biến chè xanh (67 giống), thích hợp cho chế biến chè olong (35 giống) và thích hợp cho cả chế biến chè xanh và chè đen (71 giống) Hiện nay, công tác giống chè ở Trung Quốc được đặc biệt quan tâm, chủ yếu chọn giống chè theo hướng chất lượng cao để tạo ra những sản phẩm chè đặc biệt, nổi tiếng trong nước và thế giới (Chen, 1995)

Ngày nay trong chọn tạo giống chè Trung Quốc đã sử dụng các phương pháp: nhập nội giống, chọn lọc cá thể, đặc biệt phương pháp lai hữu tính đã được

áp dụng rộng rãi và thu được nhiều thành tựu.Theo Guo Jichun (2005), chọn giống theo hướng làm thay đổi chất lượng chủ yếu là bằng phương pháp lai tạo

Tác giả Li et al (2005), khi lai xa giữa 2 giống chè Yunnan Daye có hàm lượng

axit amin tự do là 2,67 với Tucheng Baimao có hàm lượng axit amin 2,38%, thế

hệ con lai thu được có hàm lượng axit amin 3,02% Như vậy tiến hành lai xa, con lai cũng có thể cho hàm lượng axit amin cao hơn bố mẹ ban đầu

- Nhật Bản là nước đầu tiên nhập giống chè từ Trung Quốc Bắt đầu từ những năm 1952, Nhật Bản đã xây dựng chế độ đăng ký các giống chè tốt, các

Sở Nông lâm các tỉnh đã đăng ký 33 giống tốt, trong đó chủ lực là giống Yabukita Công tác chọn dòng cũng được đặc biệt chú ý, nhiều giống chè mới

đã được đưa vào sản xuất như: Merioku, Saemidori, Asanoka, Asatsuyu, Yutaka midori và đặc biệt đã chọn được giống Yabukita có chất lượng chè xanh rất tốt hiện nay giống này đã chiếm 70% diện tích chè ở Nhật Bản (Wight, 1959;Lê Tất Khương và Hoàng Văn Chung, 1999)

Hiện nay, Nhật Bản có 52 giống quốc gia, trong đó có 10 giống phù hợp cho chế biến chè đen và 42 giống phù hợp cho chế biến chè xanh Tỷ lệ giống mới chiếm 91% trong cơ cấu giống chè của cả nước (Pr Dong Lijuan, 2008) Nhật Bản cũng đã thành lai thành công 2 giống chè Assam với giống chè Nhật Bản tạo nên cơ sở ổn định cho việc tuyển chọn bồi dục thành một loạt giống mới

- Ở Nga (Liên Xô cũ) là một nước sản xuất và tiêu thụ chè lớn trên thế giới Giống chè chủ yếu là hạt chè nhập từ Kỳ Môn – Trung Quốc Ngoài ra họ còn nhập giống của Ấn Độ và SriLanca Năm 1927 – 1928 đã trồng được các giống chè chọn lọc lai tạo như giống Quốc gia số 1 và số 2 cho năng suất cao hơn đại trà 25 - 40 %, phẩm chất tốt Năm 1970 – 1971 họ bắt đầu trồng giống chè Kônkhitđa-1 dòng vô tính giâm cành, có phẩm chất tốt và có năng suất cao hơn đại trà 50 - 60%

Trang 24

- Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ và Đỗ Thị Kim Oanh (2011) từ những năm

50 của thế kỷ 20, Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt, trong đó có 102 giống chè được nhân bằng phương pháp vô tính Đến năm 2003,

Ấn Độ đã có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt chủ yếu là giống chè Assamica được chọn lọc bằng phương pháp chọn lọc cá thể

Bằng phương pháp công nghệ sinh học năm 1990 Ấn Độ đã chọn ra dòng tam bội TV29 có tiềm năng cho năng suất cao

Bằng phương pháp chọn lọc cá thể tại Tocklai đã chọn ra các giống TV1, TV23 có năng suất và chất lượng khá

Phương pháp lai hữu tính được Ấn Độ rất quan tâm đã chọn ra giống VTA

54 có năng suất và chất lượng khá Từ cặp lai TV1/19,31,14 tại Tocklai đã chọn

ra giống TS449 có năng suất cao, chất lượng khá có khả năng chịu hạn tốt Cũng bằng phương pháp lai hữu tính đã chọn ra các giống TS450; TS462, TS463, TS464, TS491 và TS520 đều là các giống sinh trưởng khoẻ có khả năng chịu hạn rất tốt (Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997)

Ở Ấn Độ hiện nay ngoài áp dụng phương pháp lai hữu tính, chọn lọc các giống chè mới còn áp dụng kỹ thuật “Vườn sản xuất giống gốc” (the seed bari)

Họ thường trồng một số giống chè có năng suất, chất lượng cao theo tỷ lệ đã thiết

kế trước với tỷ lệ 1 : 4(1 cây làm bố không lấy hạt, 4 cây lấy hạt trồng theo ô vuông) trong một khu vực để các giống chè tự giao phấn với nhau (Nguyễn Thị Minh Phương và cs., 2006)

Công tác chọn dòng trên thứ chè Assamica cũng được Ấn Độ đẩy mạnh, trong đó đã chú trọng chọn ra những giống chè thích nghi cho những vùng có độ cao, độ ẩm khác nhau

- Srilanca: Năm 1958 bắt đầu trồng 40 dòng chè mới Sêri chọn lọc 2020 (phổ biến các giống như: TRI 2023, TRI 2025, TRI 2026, TRI 2043…), có năng suất cao, chất lượng tốt tác giả Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Toàn (1994) Sau đó

là Sêri 3013 đến 3020, ngoài ra còn sử dụng chè hạt lai giữa 2023/2026 theo

Nguyễn Văn Toàn (1994); Pau et al (1997); Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Kim

Phong (1997) Từ những năm 1960 trở lại đây đã chọn ra các dòng chè triển vọng như TRI14, DT, DN, DP và DV (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000)

- Grudia bắt đầu chọn giống từ năm 1943, từ đó lần lượt chọn ra các giống chè Grudia số 1 đến số 20, trong đó giống Grudia số 1 và số 2 cho năng suất cao

Trang 25

hơn Đại Bạch Trà 25 – 40% tác giả Nguyễn Văn Toàn(1994) Đặc biệt các giống chè có khả năng chịu rét tốt trong điều kiện -80C đến -15oC có khả năng qua đông an toàn

2.3.1.2 Nghiên cứu đặc tính sinh vật học của cây chè

Các đặc điểm hình thái của cây chè (thân, lá, búp), đặc tính sinh trưởng của cây chè, thời gian sinh trưởng (bắt đầu, kết thúc sinh trưởng búp …), số đợt sinh trưởng búp/năm… có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất và chất lượng chè nguyên liệu Do vậy nghiên cứu đặc tính sinh vật học cây chè nhằm tuyển chọn giống chè tốt luôn được các nhà chọn giống trên thế giới quan tâm

Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, các tác giảSquire (1979); Tan ton (1982)đã đưa ra giá trị trung bình là 47,5 ngày tuy nhiên số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30 – 42 ngày vào mùa hè và 70 – 160 ngày vào mùa đông

Viện sĩ Bakhơtadze (1948) khi nghiên cứu kích thước lá chè đã đi đến kết luận: kích thước lá chè biến động theo giống chè và tuổi của cây chè, trong đó những giống chè Ấn Độ thường có kích thước lá lớn nhất và kích thước lá của những giống chè Nhật Bản thường nhỏ nhất Và khi nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năng suất đã đề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: Màu sắc, kích thước lá, cấu tạo giải phẫu lá

Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa màu sắc lá với chất lượng chè tác giả kết luận: Dạng lá chè có màu vàng là đặc trưng và tương quan có lợi cho các chỉ tiêu sinh hóa, nó khác với màu sắc khác ở chỗ có sự khác nhau về hàm lượng Chlorophyll, Tanin và một số chỉ tiêu khác Dạng lá có màu cà phê sáng đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu về sinh lý

Nghiên cứu về quan hệ giữa lá chè với năng suất chất lượng chè Bakhơtadze(1971) cho rằng: Góc lá tối ưu cho quang hợp của cây chè là 450, lá chè màu vàng là đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh hóa búp chè Nghiên cứu tương quan giữa số búp/tán và năng suất búp của nương chè tác giả đưa ra kết luận: tương quan giữa số lượng búp và năng suất chè là 0,956 ± 0,064

Mật độ búp và khối lượng búp là nhân tố quan trọng tạo nên sản lượng chè Tác giả Tanton (1981a); Tanton Kumar Mondal (2004) cũng chỉ ra nhân tố quan trọng nhất là mật độ búp đóng góp tới 89%, còn khối lượng búp chỉ đóng góp 11%

Trang 26

Bakhơtadze, khi nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè cho rằng sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, ở những vùng có mùa đông

rõ rệt búp chè sẽ ngừng sinh trưởng vào mùa đông và cây chè được phục hồi vào thời kỳ có nhiệt độ không khí ấm lên, ngược lại những nước nhiệt đới (quần đảo Gjava) Srilanka hay Nam Ấn Độ có điều kiện thời tiết thuận lợi đặc biệt là nhiệt

độ ôn hòa, búp chè sinh trưởng liên tục cây chè cho thu hoạch quanh năm

Nghiên cứu sinh trưởng búp chè Djemukhate (1982) chỉ ra rằng: Trong điều kiện để giống hay không đốn các mầm chè được phân hóa trong vụ Thu, vụ Đông và hình thành búp trong vụ Xuân Ở những nương chè có đốn sự phân hóa mầm chè chủ yếu diễn ra ở vụ Xuân

Từ các nghiên cứu trên cho thấy mỗi giống chè có những đặc điểm hình thái lá, búp, thân, cành khác nhau, các tính trạng đặc trưng của chúng có liên quan mật thiết tới năng suất và chất lượng chè Đây là cơ sở quan trọng giúp cho các nhà chọn giống có định hướng để chọn ra các giống chè có năng suất và chất lượng đáp ứng mục tiêu sản phẩm, vì thế có thể rút ngắn được thời gian chọn tạo các giống chè

2.3.1.3 Nghiên cứu đặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè

Búp chè là nguyên liệu để chế biến chè, nó gồm 2 đặc tính: Đặc tính bên ngoài là thành phần cơ giới búp và đặc tính bên trong là nội chất được phản ánh bằng các chỉ tiêu hóa học chủ yếu như: chất hòa tan, tanin, đường, axít amin và một số chất khác

- Thành phần cơ giới búp phụ thuộc vào mùa vụ, giống, kỹ thuật hái:

Để đánh giá chất lượng nguyên liệu tươi nhiều nước sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ

lá già và lá bánh tẻ Nếu tỷ lệ lá già và lá bánh tẻ càng cao thì chất lượng nguyên liệu chè càng giảm

Ở Trung Quốc, Ấn Độ và Srilanka, dùng số lá nhiều hay ít đế xác định độ non già và cũng thông qua đó mà đánh giá chất lượng nguyên liệu chè (Trạm Nghiên cứu cây Á nhiệt đới, 2006)

- Để đánh giá chất lượng búp chè, người ta chủ yếu quan tâm đến hàm lượng các chất tanin, catechine, chất hòa tan, axit amin, đường Trong đó, các hợp chất tanin, axit amin và đường có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng chè xanh và chè oolong Theo các tác giả Bacutrava (1958) và Djemukhadze (1976) hương và vị đặc trưng của chè được hình thành bởi tác dụng chủ yếu của tanin và

Trang 27

các sản phẩm oxy hoá của chúng Hàm lượng tanin trong chè phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như giống chè, độ cao địa hình, chế độ canh tác, thời vụ thu hoạch, độ non già của búp chè

Tại Nhật Bản, theo Katsuyuki (2008), các nhà chọn giống chè khi chọn giống chỉ duy nhất theo hướng chế biến chè xanh Chỉ tiêu quan trọng nhất khi chọn ra giống chè tốt là có hàm lượng axit amin càng cao càng tốt, các giống chè Nhật Bản phổ biến có hàm lượng axit amin từ 2,5 - 3%

Các giống chè khác nhau có hàm lượng đường hòa tan cũng khác nhau, theo Kharebava (1969) cho biết trong búp giống chè Grudia có hàm lượng đường hoà tan trung bình đạt từ 2,5 - 3% khối lượng chất khô Hàm lượng đường hòa tan còn phụ thuộc vào độ non già của búp, thời vụ thu hoạch khác nhau

Tác giả Guo Jichun (2005), Trung Quốc khi nghiên cứu trên 50 giống chè Olong An Khê và Vũ Di (Trung Quốc) đã cho thấy rằng hầu hết chúng là cây thân bụi, lá trung bình, bật búp trung bình và muộn Cây có lá màu xanh tía và búp non có màu đỏ tía Khi tiến hành quan sát trên 55 giống chè Olong từ Phúc Kiến, kết quả cho thấy 78% là cây thân bụi, 93% là giống có lá cỡ trung bình, 44% là giống bật búp trung bình và 31 % là giống bật búp muộn (25% là giống bật búp sớm, trong đó chủ yếu là các cây mới trồng) Các giống có cành non (lá

và búp non) mầu xanh vàng, xanh tía, đỏ tía là 84%; cành non có lông tuyết rải rác là 95% Cành non có màu xanh vàng, xanh tía, đỏ tía và có lông tuyết là những đặc điểm nông học chính của giống chè Olong

Các tác giả đều cho rằng: Các mẫu chè có hương thơm mạnh có liên quan nhiều đến chất lượng búp non và màu sắc của lá tươi Những giống Olong có hương đậm luôn có đặc điểm là cành non màu đỏ tía hoặc xanh tía, vàng xanh, điều này có thể có liên quan đến hàm lượng một số chất trong chè Một số nhà chọn giống đã để xuất rằng có thể coi màu sắc của cành non như một chỉ tiêu để tuyển chọn giống chè Olong

2.3.2 Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam

2.3.2.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống

Công tác nghiên cứu, thu thập giống chè ở nước ta được tiến hành từ những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau Đến nay công tác nghiên cứu giống của nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định

Trang 28

* Hiện trạng tập đoàn giống chè ở Việt Nam

Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, đã lưu giữ tập đoàn gồm 193 giống chè có nguồn gốc từ trong nước và nhập nội từ nước ngoài Trong đó, phân theo nguồn gốc có: 76 giống địa phương và chọn tạo tại Việt Nam (chiếm 39,38%); 117 giống nhập nội (chiếm 60,62%) Phân theo hình thái

có: thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea): 71 giống , thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var Macrophylla): 42 giống, thứ chè Ấn Độ (Camellia sinensis var Assamica): 38 giống, chè Shan (Camellia sinensis var

Shan): 42 giống

So với trước năm 2000, tập đoàn giống chè được thu thập bảo quản để khai thác tăng thêm 71 giống (tăng 58,2% so tổng số giống bảo quản) Các giống chè này đang là nguồn vật liệu quan trọng phục vụ cho công tác chọn tạo giống chè mới chất lượng cao ở Việt Nam (Nguyễn Hữu La và Đỗ Văn Ngọc, 2002)

* Các kết quả chọn tạo giống mới

Để tạo được giống mới có nhiều phương pháp khác nhau:

+ Nhập nội giống, nghiên cứu khả năng thích ứng của tập đoàn giống chè nhập nội

+ Chọn lọc cá thể

+ Chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính

+ Chọn tạo giống bằng phương pháp đột biến

+ Chọn tạo giống bằng phương pháp công nghệ sinh học

Mỗi một phương pháp ở từng giai đoạn có các thành tựu nghiên cứu xác định

Điều tra thu thập và nhập nội giống: Thời kỳ năm 1918 - 1935, người Pháp

tiến hành thu thập các giống chè của Ấn Độ, Trung Quốc, Miến Điện, Lào và một số vùng trong nước như Hà Giang, Lào Cai, Ba Vì, Phú Thọ… Đến năm

1939 đưa vào hệ thống vườn tập đoàn gồm 23 giống, trong đó giống địa phương

13 giống và giống nhập nội là 10 giống

Giai đoạn năm 1959- 1990 là thời kỳ chủ yếu chỉnh lí và lai tạo giống, trao đổi giống với nước ngoài Tổng số thu thập gồm 37 giống, trong đó nguồn gốc địa phương 4 giống, nguồn nhập nội gồm 16 giống và nguồn chọn tạo được 17 giống, các giống chè mới chọn lọc như PH1, 1A, TRI777, TH3

Trang 29

Giai đoạn năm 1994- 1997, xúc tiến mạnh công tác thu thập, kết quả đã bổ sung được 34 giống Trong đó giống địa phương 4 giống, chọn lọc 5 giống, nhập nội

25 giống Sử dụng các giống Kim Tuyên, Thuý Ngọc, OLong Thanh Tâm phục vụ cho công tác lai tạo chọn giống (Đỗ Ngọc Quỹ và Đỗ Thị Kim Oanh, 2011)

Trong những năm 2000 – 2005, khắc phục tình trạng thiếu các giống chè chất lượng cao, chính phủ đã chỉ đạo các Bộ ngành, song song với chọn tạo giống chè trong nước, cần đẩy mạnh công tác nhập nội giống từ nước ngoài Từ năm

2000 – 2005, bằng nhiều con đường khác nhau chúng ta đã nhập khoảng 30 giống chè từ các nước trồng chè trong khu vực Sau khi nhập giống công tác khảo nghiệm cũng được đẩy mạnh nhanh chóng tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè - Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc Đến năm 2003, Hội đồng khoa học bộ nông nghiệp và PTNT đã công nhận tạm thời 07 giống nhập nội, đó là các giống Hùng Đỉnh Bạch, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Bát Tiên và PT95 các giống này bước đầu tỏ ra phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam Các giống khác sinh trưởng yếu và sâu bệnh nhiều Một số giống sinh trưởng khỏe, xong chất lượng lại không cao Trong số

07 giống chè nhập nội được công nhận tạm thời năm 2003, đến nay có 03 giống

đã được công nhận chính thức đó là Kim Tuyên, Thúy Ngọc và Phúc Vân Tiên

04 giống còn lại sinh trưởng yếu và sâu bệnh phát triển nhiều 03 giống chè nhập nội Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Phúc Vân Tiên chúng có ưu điểm là cho chất lượng chè xanh và chè olong vào loại khá đến tốt trong điều kiện khí hậu miền Bắc Tuy nhiên so với giống chè của Việt Nam thì chúng sinh trưởng yếu hơn Mặt khác, trong điều kiện vùng thấp chúng chỉ cho chất lượng tốt vào vụ Đông Xuân, còn vụ Hè Thu thì chúng chưa thể hiện ưu thế nhiều so với các giống chè Việt Nam (Đỗ Văn Ngọc và cs., 2005) Đến năm 2003, Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận tạm thời 7 giống nhập nội, đó là các giống Hùng Đỉnh Bạch, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Bát Tiên và PT95 (Đỗ Văn Ngọc và cs., 2009)

Có một số giống nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan theo lý lịch

là giống có hàm lượng axit amin và chất lượng cao (Lâm Mộc Liên, 2006; Đỗ Văn Ngọc, 2006; Đỗ Văn Ngọc và Trịnh Văn Loan, 2008).Kết quả đánh giá ở Việt Nam cũng cho chất lượng rất cao như: Thiết Bảo Trà, Long Vân 2000 (Trung Quốc); Olong Thanh Tâm, Tứ Quý Xuân (Đài Loan) và Kanaya Midory, Meryoku (Nhật Bản) Song sinh trưởng của các giống chè này ở miền Bắc rất yếu, tỷ lệ chết nhiều (Đỗ Văn Ngọc và cs., 2009)

Trang 30

Trong quá trình khảo nghiệm tập đoàn các giống nhập nội có nguồn gốc Trung Quốc, có một số cá thể có đặc điểm hình thái khác lạ so với những giống

đã được mô tả trong hồ sơ nhận giống và được đặt tên dòng chè số 1 Qua quá trình nghiên cứu đánh giá dòng chè số 1 thấy có một số đặc điểm quý về chất lượng Năm 2004 chúng tôi đã tiến hành trồng khảo nghiệm so sánh giống tại gò Cọc Rào - Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè Năm 2009 Dòng chè số 1 được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống sản xuất thử, được đặt tên là PH10 và được công nhận giống Quốc gia năm 2014

Giai đoạn 2006 – 2010, thông qua dự án “Phát triển giống chè chất lượng cao giai đoạn 2006 – 2010”, năm 2007 Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè

đã nhập nội 6 giống trong đó có 3 giống có nguồn gốc Trung Quốc: VN1,VN2,VN3; 3 giống có nguồn gốc Ấn Độ: TB1, TB2, TB3 Qua quá trình khảo nghiệm dòng TB1 có nhiều đắc điểm vượt trội về năng suất và chất lượng đạt loại khá thích hợp cho chế biến chè đen Năm 2009, TB1 được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận giống sản xuất thử và được đặt tên là PH11 Năm 2013, PH11 đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận giống Quốc Gia

Công tác thu thập nguồn quỹ gen giống chè cũng được đẩy mạnh, bổ sung mới 42 giống chè đưa tổng số giống trong tập đoàn là 193 giống chè (giai đoạn

2005 chỉ có 151 giống)

Phương pháp chọn lọc cá thể: Bằng phương pháp chọn lọc các thể các tác

giả Nguyễn Văn Niệm và Trần Thanh (1959 – 1972) đã chọn được các dòng chè PH1, 1A từ quần thể Manipuar lá đậm ở Phú Hộ Hiện nay giống chè PH1 là giống cho tiềm năng cho năng suất cao nhất, thích hợp cho chế biến chè đen Trong những năm 1976 – 1990 các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm và Trần Thị Lư đã chọn ra từ tập đoàn giống chè ở Phú Hộ và tập đoàn giống nhập nội từ Srilanka các giống chè TH3, TRI 777và ở thời điểm đó giống chè TRI 777 được đánh giá cao, phát triển mạnh mẽ ở vùng chè Thái Nguyên (Nguyễn Xuân

An, 2006) Năm 1962 tại Bảo Lộc đã chọn ra 2 giống chè TB11 và TB14 có năng suất cao, chất lượng tốt từ 17 cây chè Shan Trấn Ninh Năm 1997, Trung tâm nghiên cứu thí nghiệm chè Lâm Đồng đã chọn, phổ biến vào sản xuất giống chè

LĐ97, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, ít kén đất

và chịu thâm canh

Trang 31

Từ năm 2006 đến nay, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển chè – Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã nghiên cứu và thông qua hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT 10 giống chè mới, trong đó có 7 giống chè mới quốc gia là giống LDP2, Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Phúc Vân Tiên, PH8, PH10, PH11 và 3 giống chè công nhận tạm thời cho sản xuất thử là giống PH9, PH12, PH14 Nâng tỷ lệ giống chè mới trong sản xuất là trên 60% diện tích chè trên cả nước Trong đó: Nhóm giống sản xuất nguyên liệu cho chế biến chè Olong có các giống Kim Tuyên, Thúy Ngọc; nhóm giống cho chế biến chè xanh

có các giống Phúc Vân Tiên, PH8 và PH10

Tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính: Quá trình chọn tạo giống

theo phương pháp lai thực hiện theo các bước: chọn tạo, so sánh giống, khảo nghiệm, đưa ra sản xuất Năm 1980, Viện nghiên cứu chè (nay là Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) đã chọn ra 7 cặp bố mẹ, trong đó có cặp Đại Bạch Trà x PH1 đã tạo ra được 2 dòng LDP1 và LDP2 (F1) qua phương pháp chọn lọc cá thể được công nhận là giống Chè LDP1 và LDP2 đang được phát triển mạnh mẽ ở các vùng chè Trung du phía Bắc Việt Nam

Năm 1998, cũng bằng phương pháp lai tạoTrung tâm Nghiên cứu và phát triển chè – Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã chọn ra được 36

cá thể đưa vào giám định, năm 2002 chọn được 10 cá thể nổi trội hơn là dòng số

8, số 9, số 10, số 13, số 14, số 15, số 17,số 26,số 32 vàsố 36, sau 6 nămgiám định dòng số 8, số 9 là 2 dòng sinh trưởng khoẻ, năng suất cao chất lượng tốt cho chế biến chè xanh và chè Olong, khả năng kháng sâu bệnh tốt, được Bộ Nông nghiệp

và PTNT công nhận là giống sản xuất thử năm 2009 Hai giống này được đánh giá là có năng suất cao và chế biến chè xanh, chè đen có chất lượng tốt Giống PH8 được công nhận giống quốc gia năm 2015

Từ năm 2001 – 2015 cũng bằng phương pháp lai hữu tính Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè đã tạo ra rất nhiều cá thể qua đánh giá cũng chọn được nhiều dòng chè có năng suất cao chất lượng tốt đang tiếp tục đánh giá

Kỹ thuật lai giống chè tương đối đơn giản vì hoa chè có kích thước lớn (4 – 7 cm), chỉ nhụy dài 0,4 – 1,5 cm) Đại đa số các giống có vòi nhụy cao hơn chỉ nhị, đầu vòi nhụy có xẻ rãnh mở ra ngoài, những đặc điểm này đều rất thuận lợi cho thao tác lai cưỡng bức bằng tay Mỗi cây chè thường có khoảng 300 – 350 hoa Ở Việt Nam các giống chè thường có hoa vào tháng 10, 11, 12 vì thế đa số các cặp lai đều có thể tiến hành mà không cần phải bảo quản hạt phấn Trường

Trang 32

hợp trong các cặp bố mẹ chúng ta đã lựa chọn không có cùng thời gian nở hoa thì hạt phấn cần đưa bảo quản trong điều kiện ẩm độ 25 – 30% nhiệt độ bình thường của không khí (Trong điều kiện ở Phú Hộ bảo quản được 40 ngày)

Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2012) nghiên cứu cấu tạo hoa và tập tính nở hoa của các giống chè kết luận: Các giống thuộc thứ chè Shan, tất cả các giống chè đều nở hoa rộ vào trung tuần tháng 10 kéo dài đến hết tháng 1 năm sau, vì vậy tiến hành lai hoa vào thời kỳ này sẽ không phải qua công đoạn bảo quản hạt phấn Hạt phấn thu ngay sau khi hoa mới nở có tỷ lệ nảy mầm cao nhất, các hạt phấn bảo toàn được sức sống trong 5 ngày ở điều kiện nhiệt độ 5 – 100C

và 3 ngày ở điều kiện nhiệt độ phòng Quy trình kỹ thuật lai hoa chè thụ phấn trên nụ hoa có màu trắng xanh sắp nở (đường kính 0,8 – 1,2 cm),thời điểm khử đực từ 2 – 4 giờ chiều; thời điểm lấy phấn cùng thời điểm với lúc khử đực, ngắt các hoa sắp nở (cánh hoa chưa mở) đem về bảo quản, sáng hôm sau rũ lấy hạt phấn, thời điểm thụ phấn từ 8 – 11 giờ sáng Các giống chè nghiên cứu có tỷ lệ hạt phấn hữu dục đạt 100% Quá trình nghiên cứu nhiều năm cho thấy vòi nhụy hoa chè thường thành thục trước khi hoa nở khoảng 2 ngày Khi vòi nhụy đã thành thục nhưng chưa được thụ phấn ngay thì vòi nhụy còn kéo dài sức sống thêm vài ba ngày tới.Vì vậy khử đực xong thụ phấn ngay là tốt nhất, nếu không

có điều kiện thụ phấn ngay (chưa có hạt phấn) thì cũng không nên thụ phấn sau khử đực quá 2 ngày.Kết quả nghiên cứu nhiều năm cho thấy tỷ lệ đậu quả của các tổ hợp lai rất thấp, phụ thuộc vào từng tổ hợp lai, trung bình chỉ đậu được 37,42% Từ khi đậu quả đến khi chín do tác động của điều kiện ngoại cảnh và phụ thuộc vào đặc điểm của giống cho nên một số quả bị teo, rụng đi vì vậy tỷ lệ quả thu được so với số hoa lai chỉ đạt 16,7% Thời gian thu quả ở vùng Trung Du thường từ 15/9 – 15/10, miền núi thu muộn hơn 15 ngày

Nhìn chung các cách lai hữu tính của cây trồng có thể áp dụng được cho lai chè, nhưng để phù hợp với cây chè người ta thường dùng các phương pháp sau đây:

- Lai đơn giản: (AxB) (giống viết trước là mẹ) Thực hiện một phép lai, rất đơn giản và không mất nhiều thời gian, là cách phổ biến nhất trong việc tạo giống mới bằng phương pháp lai tạo Khi các đặc điểm của cây bố, mẹ phù hợp với các yêu cầu về lai giống, các đặc điểm có lợi và bất lợi của nó có thể bổ sung được cho nhau chúng ta có thể sử dụng phương pháp lai đơn Nên chọn những cây có nhiều đặc điểm tốt làm mẹ

Trang 33

- Lai thuận nghịch: (AxB), (BxA)

- Lai Dialen (luân giao): Đem các dòng định thử lai luân phiên trực tiếp với nhau: (AxB)(CxB)(DxB)

- Lai chu kỳ: (AxA)(AxB)(AxC)

Khi chọn cây bố mẹ cần lưu ý những yếu tố sau đây:

- Thường chọn cây bố mẹ khác, biến chủng thường khác nhau về yếu tố sinh thái, chè Shan thích ứng với vùng cao, chè Trung Du vùng thấp, chè Ấn Độ

ưa nóng ẩm (nhiệt đới) Khi chọn cây bố mẹ khác biến chủng, con lai sẽ có khả năng thích ứng cao với môi trường mới

- Khi chọn cây bố mẹ cần lưu ý tới các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng và tính chống chịu để bổ sung cho nhau những đặc tính trội Ví dụ như cặp PH1 x Đại Bạch Trà (ĐBT): Giống PH1 có năng suất cao Cặp lai này bố và mẹ

đã bổ sung cho nhau và con lai giữa chúng là LDP1 và LDP2 đã nhận được ở bố

mẹ những đặc tính trội đó

* Kỹ thuật lựa chọn thế hệ lai

- Các hạt lai thu hoạch và gieo trồng riêng theo tổ hợp lai, theo dõi sinh trưởng các chỉ tiêu nông học và thu hoạch sản lượng riêng từng cây ở thế hệ F1 Những cây chè tốt nhất được lựa chọn và đem nhân thành dòng có triển vọng, giám định so sánh với giống tiêu chuẩn và cây bố mẹ Trong quá trình lựa chọn cây lai, cần nâng cao dần tiêu chuẩn ở những năm sau, nghĩa là ngày càng lựa chọn các dòng lai có ưu điểm, những tính trội mong muốn của bố mẹ vẫn chưa hoàn thiện, có thể tiến hành lai trở lại (lai tích lũy) có nghĩa là đem dòng có triển vọng ở F1 đem lai với bố hoặc mẹ

Chọn giống bằng phương pháp gây đột biến: Ở Việt Nam chọn tạo giống

cây trồng bằng phương pháp gây đột biến đã được hình thành từ những năm

1960 Tuy nhiên phải đến năm 1980 việc nghiên cứu chọn giống cây trồng bằng phương pháp đột biến thực nghiệm mới phát triển đồng bộ và có hệ thống Năm

1990 tác giả Lê Mệnh và cộng sự đã tiến hành xử lý bức xạ gamma lên hạt chè giống PH1 và TRI777 Từ tập đoàn các cá thể được xử lý bức xạ gamma đã tuyển chọn được 5 cá thể bắt nguồn từ giống PH1 và 5 cá thể bắt nguồn từ giống TRI777 (Đỗ Văn Ngọc, 2005; Nguyễn Văn Toàn và cs., 2011) Sau khi tiến hành khảo nghiệm, Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã chọn được dòng chè đột biến TRI777 5.0 có năng suất cao, chất lượng khá được công nhận

Trang 34

giống sản xuất thử năm 2014.Ngoài ra các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè – Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc còn sử dụng Conxisin xử lý trên mầm chè giống PH1, trong thời gian 24 – 48h với nồng

độ 0.2%, cũng đã thu được kết quả bước đầu

Năm 2009 - 2012 tác giả Nguyễn Văn Toàn và cộng sự tiến hành xử lý tia gamma nguồn Co60, và tác nhân hoá học (Ethyl methansulfonate) lên hạt chè đang nảy mầm, chưa nảy mầm và hom chè của các giống chè Shan, Phúc Vân Tiên, Trung Du và Kim Tuyên kết quả đã thu được nhiều biến dị có giá trị về năng suất, chất lượng và hình thái Đặc biệt dưới tác động của tia gamma đã tạo nên những cá thể đột biến có màu sắc cánh hoa thay đổi từ màu trắng chuyển thành màu phớt hồng Đã chọn được 100 cá thể có nhiều đặc điểm quý về năng suất và chất lượng Năm 2014 Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè tiếp tục phối hợp với Viện di truyền tiến hành xử lý tia gamma nguồn Co60, và tác nhân hoá học (Ethyl methansulfonate) lên hạt chè đang nảy mầm, chưa nảy mầm trên các giống Kim Tuyên, Hương Bắc Sơn, VN1, Vân Sương, đến nay đang trong quá trình chọn lọc cá thể

Chọn tạo giống chè bằng công nghệ sinh học: Từ năm 2008, bằng kỹ

thuật nuôi cấy mô, viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã chọn tạo được chín dòng chè lai cứu phôi triển vọng: CNS-1, CNS-2, CNS-3, CNS-4, CNS-5, CNS-6, CNS-7, CNS-8 và CNS-9 Các dòng chè này được tạo ra từ các cặp bố mẹ có khoảng cách di truyền xa nhau và được chọn lọc từ các cá thể ở giai đoạn nuôi cấy mô và giai đoạn vườn ươm khi cây chè con được một năm tuổi Qua theo dõi, đánh giá, các dòng chè này thường sinh trưởng khỏe, phân cành nhiều, tán rộng, có tiềm năng cho năng suất cao Từ chín dòng vật liệu nghiên cứu, bước đầu, các nhà khoa học đã tuyển chọn được bốn dòng chè lai cứu phôi

có ưu thế lai vượt trội về khả năng thích nghi, sức sinh trưởng, phát triển gồm: CNS-1, CNS-3, CNS-6, CNS-8 (Cao Thị Huyền và cs., 2012) Hiện nay, các dòng chè này đã được trồng khảo nghiệm tại Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền

núi phía Bắc (Phú Thọ), Yên Bái

2.3.2.2 Nghiên cứu về đặc tính sinh vật học

Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979), trong điều kiện tự nhiên hàng năm cây chè có từ 3 – 5 đợt sinh trưởng trong một năm gọi là sinh trưởng tự nhiên Trong điều kiện có chăm sóc và thu hái liên tục, một năm cây chè sẽ có từ 6 – 7 đợt sinh trưởng gọi là đợt sinh trưởng trong điều kiện có đốn hái Thời gian hình thành

Trang 35

một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây, đất đai, khí hậu

và điều kiện canh tác Nghiên cứu thời gian sinh trưởng 1 đợt búp trên giống chè Trung du tại Phú Hộ, tác giả Nguyễn Phong Thái kết luận: thời gian sinh trưởng đợt búp dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, vụ Xuân búp chè có thời gian sinh trưởng dài nhất và ngắn nhất là vụ Hè

Nghiên cứu về số đợt sinh trưởng của các giống chè trong điều kiện có đốn hái và điều kiện tự nhiên tác giả Lê Tất Khương và Hoàng Văn Chung (1999) cho rằng: Tùy điều kiện tự nhiên mà các giống chè sinh trưởng khác nhau, nhưng giữa các giống ít có sự sai khác về số đợt sinh trưởng, số đợt sinh trưởng

tự nhiên của các giống biến động từ 3,4 – 3,6 đợt/năm Tuy nhiên, trong điều kiện có đốn, hái ở các giống có sự sai khác đáng kể về số đợt sinh trưởng, biến động từ 5,5 – 6,2 đợt/năm tùy thuộc vào điều kiện và phương thức thu hái

Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của các giống chè nhập nội tại Thái Nguyên tác giả Lê Tất Khương (2006) cho biết: Trong điều kiện không đốn hái,

7 giống có số đợt sinh trưởng cao hơn đối chứng (Trung Du) từ 0,1 – 0,4 đợt (cao nhất là giống PT95 4,2 đợt), 2 giống có số đợt sinh trưởng cao hơn đối chứng (giống Trung Du), thấp nhất là giống Hoa Nhật Kim: 3,6 đợt

Khi theo dõi một số giống chè nhập nội trồng tại Phú Hộ, Phú Thọ tác giả Hoàng Minh Tuấn (2004) kết luận: Nhìn chung các giống chè trong thí nghiệm đều sinh trưởng mạnh từ giữa tháng 3 hàng năm Trong đó giống Long Vân 2000

là giống sinh trưởng nhanh và sớm kết thúc đợt sinh trưởng

Nguyễn Văn Tạo và cs (2004) khi nghiên cứu đặc điểm sinh học của cành chè PH1 sinh trưởng tự nhiên cho rằng hàng năm đợt sinh trưởng đầu tiên mầm xuất hiện vào ngày 19/1 và kết thúc vào cuối tháng 3 Đợt sinh trưởng 1 và 5 do điều kiện thời tiết khô lạnh nên kéo dài từ 79 và 61 ngày

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh trưởng búp chè với sản lượng chè theo tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994): sản lượng búp chè do 2 yếu tố số lượng búp trên cây và khối lượng búp quyết định, trong đó số lượng búp/cây có tương quan chặt hơn đối với sản lượng, đây là yếu tố rất nhạy cảm có thể thay đổi theo những điều kiện canh tác và các biện pháp kỹ thuật Còn khối lượng búp có tương quan thuận không chặt với sản lượng, đây là yếu tố ổn định và nó do đặc điểm của giống quyết định, vì thế số búp trên cây có ý nghĩa rất lớn đối với sản lượng của cây chè

Trang 36

Nghiên cứu về mối tương quan giữa năng suất chè với một số chỉ tiêu sinh học tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002) kết luận: Năng suất của các giống chè tương quan thuận, chặt với số lượng búp (r = 0,8901) và hệ số diện tích lá (r = 0,7128), tương quan thuận nhưng không chặt với khối lượng búp (r = 0,1022) và diện tích (r = 0.1009)

Cây chè sau khi trồng tuỳ điều kiện sinh trưởng mà có khả năng ra hoa đậu quả khác nhau Nếu cây trồng bằng hạt thường sau 2 năm sẽ có hoa và quả lần thứ nhất, cây trồng bằng cành giâm sẽ cho quả sớm hơn

Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) hoa chè là loại hoa lưỡng tính, đài hoa có 5-7 cánh Trong một hoa có rất nhiều nhị đực từ 200-400, noãn sào thượng có 3-4

ô Phương thức thụ phấn của cây chè chủ yếu là thụ phấn khác hoa, tự thụ phấn chỉ đạt 2-3% Khả năng ra nụ, ra hoa của cây chè thường rất lớn nhưng tỷ lệ đậu quả lại rất thấp khoảng 12%

Khi nghiên cứu số lượng nụ, hoa và khả năng đậu quả của các giống chè trong điều kiện Thái Nguyên, tác giả Lê Tất Khương cho rằng: Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên cây chè ra nhiều nụ hoa hơn so với trong điều kiện có đốn, hái Các giống chè thuộc biến chủng Assam, Shan có số nụ hoa ít hơn so với các giống thuộc biến chủng Trung Quốc lá to Theo tác giả các giống chọn lọc có nguồn gốc thuộc biến chủng Shan, Assam có thời gian nở hoa chậm hơn giống Trung du (thuộc biến chủng Trung Quốc lá to) từ 10 - 25 ngày và có quả chè chín muộn hơn giống Trung du từ 5 - 10 ngày

Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2012) các giống thuộc thứ chè Trung quốc lá nhỏ có thời gian xuất hiện nụ sớm hơn các giống thuộc thứ chè Shan, tất cả các giống chè đều nở hoa rộ vào trung tuần tháng 10 kéo dài đến hết tháng 1 năm sau

Theo TrầnThanhvà cs (1984): Khi nghiên cứu về khả năng đậu quả của giống chè 1A đã kết luận: Đặc điểm cây chè là cây giao phấn, ở giống chè 1A các

bộ phận của hoa đều lớn và phát triển, riêng nhụy bị thoái hoá và độ dài chỉ bằng 1/3 so với giống PH1 và giống Trung Du, đầu nhụy chỉ có 2 nhánh vì vậy hạt phấn của các cây khác không vào được hoa của 1A, kể cả đem hạt phấn thụ lên

nó cũng không đậu quả Trong khi đó hoa của giống PH1 rất phát triển nhụy dài, nhị dài, hoa to, cánh hoa nhiều, đầu nhụy phân 3, có hoa phân 4 nên khả năng sinh sản hữu tính rất mạnh, tỷ lệ đậu quả cao

Trang 37

Đặc điểm hình thái thân cành là những tính trạng quan trọng đặc trưng cho giống, phản ánh sức sinh trưởng của cây và có liên quan đến khả năng cho năng suất Căn cứ vào phân cành cấp 1 mà người ta chia thân chè ra 3 loại: thân gỗ, thân bán gỗ và thân bụi Thân gỗ là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao; thân bụi là dạng cây không có thân chính rõ rệt, tán cây rộng, thấp, phân cành nhiều, vị trí phân cành cấp 1 gần sát cổ rễ; thân bán gỗ là loại hình trung gian giữa thân gỗ và thân bụi có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao Các tác giả Nguyễn Văn Niệm và Lê Sĩ Thức (1994); Trần Thanh và cs (1984) cho rằng đặc điểm phân cành của cây chè là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cho năng suất của giống Những giống chè có độ cao phân cành thấp, số cành cấp 1 nhiều, cành lớn sẽ có bộ khung tán to, khoẻ, có khả năng cho năng suất cao

Vũ Công Quỳ (1982) khi nghiên cứu tương quan hình thái, năng suất ở một

số biến chủng chè kết luận: Đặc điểm hình thái của những giống chè năng suất cao: Lá có khối lượng lớn, mỏng, nhiều búp góc độ phân cành cấp 1 lớn, mô dậu kém phát triển, tán rộng

Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của tập đoàn giống chè tại Phú Hộ thời kỳ kiến thiết cơ bản tác giả Nguyễn Hữu La (1999) đã khẳng định, chiều cao cây có tương quan thuận rất chặt với chiều rộng tán chè (r = 0,72± 0,09) và số cành cấp 1(r = 0,75± 0,090, tương quan chặt với diện tích lá (r=0,58±0,11), nhưng không có mối tương quan thuận với chiều dài đốt cành, trọng lượng búp

và mật độ búp

Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm hình thái, điều kiện ngoại cảnh với năng suất chè, Chu Xuân Ái (1998) cho rằng: Năng suất chè có mối tương quan thuận chặt với mật độ búp (r=0,8564) và diện tích lá (r=0,7752), những giống có mật độ búp cao, diện tích lá lớn cho năng suất cao Giống có chiều rộng

lá (r= 0,7542) lớn có năng suất cao hơn là có chiều dài lá lớn

Nghiên cứu về quan hệ giữa bộ rễ và tán cây chè Nguyễn Đình Vinh (2002) dẫn theo Varonsop cho rằng: Vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 rễ bắt đầu sinh trưởng, và chỉ sau khi hình thành nên một đợt sinh trưởng rễ nhất định, thì

bộ phận trên mặt đất mới bắt đầu sinh trưởng Về mùa Thu sau khi kết thúc đợt sinh trưởng của phần trên mặt đất, bộ rễ chè mới bắt đầu sinh trưởng Sinh trưởng của bộ rễ mạnh hay yếu ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng búp chè vụ Xuân năm sau

Trang 38

Như vậy trong sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm phân cành của từng giống mà bố trí mật độ và khoảng cách trồng thích hợp tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt Căn cứ vào mối tương quan giữa khả năng phân cành với năng suất và chất lượng các giống chè sẽ giúp cho những nhà chọn tạo giống

có những nhận xét bước đầu về khả năng cho năng suất của các con lai Các biện pháp kỹ thuật như đốn hàng năm làm tăng khả năng phân cành của cây chè sẽ thúc đẩy việc tăng năng suất nương chè một cách đáng kể Với những đặc điểm sinh trưởng thân cành cũng như sinh trưởng của bộ rễ chúng ta quyết định thời điểm bón phân để có hiệu quả

Nguyễn Đình Nghĩa (1961) khi theo dõi về màu sắc lá của các giống chè đã rút ra kết luận: Những cây chè có sản lượng cao thường là những cây lá xanh đậm, bóng láng, dầy

Theo Nguyễn Văn Toàn (1994) đặc điểm giống chè có năng suất cao ít nhất phải có hệ số diện tích lá lớn (tạo ra số búp nhiều) và kích thước lá lớn (có khối lượng búp lớn)

Nghiên cứu hệ số diện tích lá và quan hệ giữa hệ số diện tích lá với năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất tác giả Đỗ Văn Ngọc và cs (2009) cho biết: Hệ số diện tích lá có tương quan thuận với tổng số búp/tán chè (r=0,69 - 0,57)

Có thể nói, công tác nghiên cứu chọn tạo giống chè ở nước ta đã được quan tâm từ rất lâu và đến nay đã đạt được kết quả đáng mừng Tuy nhiên số lượng giống mới được tạo ra so với một số nước trồng chè chính vẫn còn thấp hơn rất nhiều Bên cạnh đó giống chè tạo ra nguyên liệu chế biến được các sản phẩm chất lượng cao còn hạn chế Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu giống của nước ta cần kết hợp các phương pháp truyền thống với các phương pháp hiện đại, bên cạnh đó cần tăng cường nhập nội giống để cải thiện cơ cấu giống cây trồng đồng thời tăng nguồn vật liệu khởi đầu phục vụ cho công tác chọn tạo giống mới

2.3.2.3 Nghiên cứu đặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè

Sản phẩm chè xanh, chè Olong là những mặt hàng đòi hỏi nguyên liệu chế biến ra nó có những đặc tính riêng biệt Như chè xanh yêu cầu nguyên liệu búp non, trọng lượng búp nhỏ, tỷ lệ cuống thấp, có hàm lượng tanin vừa phải dưới 30% chất khô, khi chế biến sẽ cho sản phẩm chè xanh có chất lượng cao

Đối với chè Olong tính chất nguyên liệu lại càng đòi hỏi khắt khe hơn,

Trang 39

búp chè có tính chất lý hóa khác nhau: lá phải dai, dày có độ chín trưởng thành, thành phần hóa học cũng giống như nguyên liệu để chế biến chè xanh, có nghĩa

là hàm lượng tanin vừa phải, hàm lượng đường, axit amin cao, đặc biệt là có hương thơm và bền hương Nguyên liệu khi chế biến sẽ cho sản phẩm chè Olong

có chất lượng cao, hương thơm đặc trưng, khi pha chè chẳng những thể hiện hương trong bã mà có hương thơm bền trong nước pha

Ở Việt Nam thu hái chè chủ yếu bằng tay, năng suất thấp, nhưng chất lượng nguyên liệu khá hơn so với hái chè bằng máy Khi hái chè bằng tay tỷ lệ búp chè loại A + B chiếm 50-60% trong tổng khối lượng nguyên liệu, hiện nay

do điều kiện đáp ứng nhu cầu lao động, việc hái bằng máy đã ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các cơ sở sản xuất chè

Tác giả Vũ Thị Thư và cs (2001) cho rằng, hàm lượng axit amin trong lá chè phụ thuộc vào giống và điều kiện canh tác, chúng đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất cũng như tham gia tạo thành chất lượng của chè thành phẩm

Kết quả phân tích của phòng thí nghiệm Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nhiệp miền núi phía Bắc (Nguyễn Thị Minh Phương và cs 2006 , 2007, 2008) trên các giống nhập nội từ Trung Quốc, Đài Loan thấy đa phần các giống

có chất lượng chè xanh và chè Olong tốt có hàm lượng axit amin > 2,5%, đường hoà tan >3 %

Trang 40

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊNCỨU

Các thí nghiệm được bố trí tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè – Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc - Tỉnh Phú Thọ

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Trung Du: Nguồn gốc Phú Thọ - Việt Nam

-TRI777: Nguồn gốc Srilanka

* Các dòng chè lai F1:

- Dòng 209: Được tạo ra từ tổ hợp lai giữa Kim Tuyên/TRI777

- Dòng 212: Được tạo ra từ tổ hợp lai giữa Kim Tuyên/Trung Du

- Dòng 214: Được tạo ra từ tổ hợp lai giữa Kim Tuyên/Trung Du

- Dòng 217: Được tạo ra từ tổ hợp lai giữa Kim Tuyên/Trung Du

- Dòng 248: Được tạo ra từ tổ hợp lai giữa Okumidori/Trung Du

-Đối chứng: Giống LDP1 (Đại Bạch Trà/PH1) được công nhận giống

quốc gia năm 2003

Ngày đăng: 18/11/2018, 13:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w