1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội

84 348 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 8,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra vật liệu bất dục đục di truyền tế bào chất và dòng duy trì tương ứng, tạo ra nhiều dòng phục hồi để tạo ra nhiều tổ hợp lú

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP &PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

***************** *****************

LEENA SAYAKHAM

TUYỂN CHỌN TỔ HỢP LÚA LAI HAI DÒNG MỚI

VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÁC DÒNG BỐ MẸ TẠI GIA LÂM, HÀNỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP &PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

***************** *****************

LEENA SAYAKHAM

TUYỂN CHỌN TỔ HỢP LÚA LAI HAI DÒNG MỚI

VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÁC DÒNG BỐ MẸ TẠI GIA LÂM, HÀNỘI

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

MÃ SỐ: 60.62.01.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

TS TRẦN VĂN QUANG

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận án đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội 10 tháng 04 năm 2015

LEENA SAYAKHAM

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS TRẦN VĂN QUANG, đã

tận tình hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quí báu và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, tập thể cán bộ phòng Công nghệ lúa lai đã tạo điều kiện về thời gian, giúp đỡ

và động viên tinh thần để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Ban Quản lý đào tạo, Khoa Nông học, bộ môn Di truyền và chọn giống cây trồng – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã quan tâm giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Luận văn này hoàn thành còn có sự giúp đỡ của nhiều đồng nghiệp, bạn

bè, cùng với sự động viên khuyến khích của gia đình trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Tôi xin trân trọng biết ơn những tình cảm cao quy đó!

Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2015

Tác giả

LEENA SAYAKHAM

Trang 5

2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển lúa lai trên thế giới và Việt Nam 3 2.2.1 Ưu thế lai về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 18

2.2.5 Ưu thế lai về tính chống chịu với điều kiện bất thuận 20

2.3.1 Bất dục di truyền nhân mẫn cảm nhiệt độ (Thermosensitive genic

2.3.2 Bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm quang chu kỳ (PGMS) 24

3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

Trang 6

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

4.1 Kết quả đánh giá và tuyển chọn các tổ hợp lúa lai hai dòng trong vụ

4.1.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng 34 4.1.3 Đánh giá động thái sinh trưởng của các tổ hợp lai 37 4.1.4 Một số đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lúa lai 42 4.1.5 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các tổ hợp lúa lai 45 4.1.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 47 4.1.7 Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các tổ hợp lúa lai 52 4.1.8 Một số đặc điểm của các tổ hợp lai có triển vọng 55 4.2 Kết quả đánh giá đặc điểm sinh trưởng của các dòng bố mẹ tổ hợp lai

4.2.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng 58 4.2.3 Động thái tăng trưởng số lá của các dòng bố mẹ 59 4.2.4 Mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng bố mẹ trong vụ Mùa 2014 60 4.2.5 Một số đặc điểm của các dòng bố mẹ sau khi phun GA3 trong vụ

Trang 10

DANH MỤC ĐỒ THỊ

4.1 Năng suất thực thu của một số tổ hợp lai 52

4.2 Động thái tăng trưởng số lá của các tổ hợp lai 60

+

Trang 11

1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây trồng có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất,

được gieo trồng ở tất cả các châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở Châu Á - chiếm gần 90% diện tích và hơn 91% sản lượng

Việt Nam là một nước nông nghiệp với cây lúa là cây trồng chính cung cấp nguồn lương thực và xuất khẩu hàng năm Nhưng hiện nay quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đô thị hoá diễn ra rất mạnh mẽ ở tất cả các tỉnh trên toàn quốc, cùng với tốc độ gia tăng dân số nhanh đã dẫn đến diện tích trồng trọt giảm đáng kể trong đó chủ yếu là diện tích trồng lúa Vì vậy, vấn đề an ninh lương thực ngày càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết

Lúa lai là một trong những tiến bộ kỹ thuật đã được nghiên cứu và ứng dụng rất mạnh để góp phần giải quyết vấn đề lương thực cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Lúa lai được gieo trồng ở Việt Nam từ năm 1991 Hiện nay, diện tích lúa lai là hơn 700.000 ha với năng suất trung bình từ 6,3-6,7 tấn/ha, cao hơn lúa thuần từ 10-15% Việc sử dụng lúa lai đã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng lúa, tăng thu nhập cho nông dân

Mặc dù, hiệu quả kinh tế của cây lúa lai đã rõ ràng, nhưng hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu trên 70% lúa giống F1 từ Trung Quốc và Ấn Độ Điều này đã khiến cho nhiều địa phương không thể chủ động được kế hoạch sản xuất cũng như ổn định về chất lượng hạt giống Hơn nữa, do điều kiện về thời tiết khí hậu khác nhau nên các giống lúa lai nhập khẩu khi trồng trong điều kiện Việt Nam thường có sức sống kém, dễ nhiễm sâu bệnh gây thất thu mùa màng Vì vậy, chủ động được sản xuất giống lúa lai vẫn đang là bài toán đặt ra với ngành nông nghiệp và các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam

Nhiều giống lúa lai hai dòng có khả năng chống chịu tốt và có tiềm năng năng suất cao đã được các nhà khoa học Việt Nam chọn tạo thành công và đưa vào sản xuất như: Việt Lai 200, TH3-3, TH3-4, Việt Lai 24, TH3-5, TH7-2

Trang 12

Tuy nhiên, các giống lúa lai hai dòng trên chưa cung ứng đủ nhu cầu của sản xuất Do đó, việc tiếp tục chọn tạo được các tổ hợp lai triển vọng đồng thời hoàn thiện qui trình sản xuất hạt giống lai F1 là vấn đề cấp thiết Để

góp một phần giải quyết vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Tuyển chọn

tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại Gia Lâm, Hà Nội”

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được các đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh, năng suất và chất lượng của các

tổ hợp lúa lai hai dòng trong vụ Xuân năm 2014

- Tuyển chọn được tổ hợp lúa lai có năng suất cao, chất lượng khá và

có các đặc điểm nông sinh học mong muốn

- Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng của các dòng bố, mẹ và đặc điểm bất dục của dòng mẹ

Trang 13

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển lúa lai trên thế giới và Việt Nam

2.1.1 Nghiên cứu và phát triển lúa lai trên thế giới

Năm 1926, J.W.Jone bắt đầu nêu những vấn đề ưu thế lai cúa lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan Tiếp đến các nhà tạo giống trên thế giới như B.S Kadem (Ấn Độ-1937), F.B.Brone (Malaysia-1953), A.Alim (Pakistan-1957) cũng như nhiều nhà khoa học của Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Philippine, Pakistan, Malaysia, Liên Xô cũ, Ý, Hàn Quốc đều tập trung nghiên cứu, trong

số đó có Yuan L.P và cộng sự đã nghiên cứu và chọn tạo thành công lúa lai theo phương pháp “ba dòng”, đã cống hiến cho nền khoa học nông nghiệp Trung Quốc và Thế giới những thành tựu to lớn, xuất sắc trong sản xuất lúa ở thế kỷ XX

Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới sử dụng lúa lai trong sản xuất đại trà từ năm 1976, diện tich gieo cấy là 133,3 nghìn ha (Nguyễn Công Tạn

và ctv, 2002) Nghiên cứu và sản xuất lúa lai Trung Quốc đã nhận được giải thưởng đặc biệt và phát minh năm 1981 Mặc dù phát triển lúa lai thương phẩm sớm nhưng còn có nhiều nhược điểm “Ưu không sớm, sớm không ưu” nên khó mở rộng diện tích Đầu thập kỷ 80, giống lúa lai Ủy ưu 35, Ủy ưu 49 phù hợp với sản xuất trong vụ Xuân ra đời thì diện tích gieo cấy lúa lai Trung Quốc mở rộng tương đối nhanh

Qua nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra vật liệu bất dục đục di truyền tế bào chất và dòng duy trì tương ứng, tạo ra nhiều dòng phục hồi để tạo ra nhiều tổ hợp lúa lai gieo trồng phổ biến trong sản xuất Ngoài hệ thống lúa lai ba dòng vẫn giữ vai trò chủ lực trong sản xuất, Trung Quốc đã thành công đưa vào sản xuất lúa lai hai dòng cho năng suất cao hơn lúa lai ba dòng từ 5-10% Diện tích lúa lai hai dòng năm 2002 là 2,6

Trang 14

triệu ha, chiếm 18% tổng diện tích lúa lai ở Trung Quốc (Yuan L.P., 2004) Trung Quốc cũng đạt được những thành tựu trong việc tạo giống siêu lúa lai, tạo ra được hai tổ hợp siêu lúa lai Peiai 64S/E32 va Peiai 64S/9311 năng suất cao nhất đạt từ 14,8-17,1 tấn/ha

Ngày nay, Trung Quốc đã hình thành hệ thống nghiên cứu lúa lai đến tận các tỉnh, đào tạo cán bộ nghiên cứu và kỹ thuật viên đông đảo, xây dựng

hệ thống sản xuất, kiển tra, kiểm nghiệm, khảo nghiệm và chỉ đạo thâm canh lúa lai thương phẩm Hình thành một hệ thống sản xuat hạt lai F1 rất chặt chẽ

từ trung ương đến địa phương

Theo khuyến cáo của Hội đồng lúa gạo quốc tế, FAO đã hỗ trợ phát triển lúa lai trên diện rộng cho các quốc gia trồng lúa Hơn một thập kỷ qua, FAO đã tiến hành xây dựng và hỗ trợ kỹ thuật để giúp đỡ các chương trình lúa lai của nước trên thế giới Như tại Myanmar là dự án FAO/TCP/MYA/6612 thời gian từ 3/1997-3/1999 với ngân sách 221.000 USD; Ấn Độ là dự án UNDP/IND/91/008 và IND/98/140 thời gian từ 1991-

2002 ngân sách 6.550.000USD; dự án FAO/TCP/BGD/6613 tại Bangladesh thời gian từ 5/1997 - 4/1999 ngân sách 201.000 USD (Dat Tran Van, 2004; Dương Văn Chín, 2007)

Theo Ma Q.H và Yuan L.P (2003), 50% diện tích trồng lúa lai đã góp 60% sản lượng lúa của Trung Quốc, trong khi 50% diện tích lúa thuần chỉ đóng góp 40% sản lượng Trồng lúa lai làm tăng sản lượng mỗi năm là 22,5 triệu tấn, tạo điều kiện để Trung Quốc giảm 6 triệu ha trồng lúa mỗi năm, hiện nay chỉ còn 27 triệu ha lúa (Virmani S.S., 2004)

Năm 1973, Shiming Song ở trung tâm lúa lai Hồ Bắc phát hiện được dòng bất dục mẫn cảm quang chu kì (HPGMS) từ giống Nông ken 58s (Trần Duy Quý, 1994; Yin Hua Qui, 1993; Zhou et al, 2000) Sự ra đời của lúa lai hai dòng đã mở ra một hướng đi mới trong lai tạo đó là lai xa giữa các loài phụ để tạo ra các giống siêu lúa lai

Trang 15

Năm 1991, các nhà khoa học Nhật Bản (Marnyagma et al, 1991) đã áp dụng phương pháp gây đột biến nhân tạo để tạo ra được dòng bất dục đực mẫn cảm nhiệt độ (TGMS), Norin PL12

Bằng phương pháp lai chuyển gen các nhà chọn giống lúa lai Trung Quốc đã tạo được các dòng EGMS mới từ nguồn Nông ken 58S Những dòng PTGMS mới này (N504S, 31111S, WD1S, 7001S, Peiai 64S…) có những đặc tính nông sinh học mới mà Nong ken 58S không có Ngoài các dòng EGMS phát triển từ nguồn Nông ken 58S còn có các dòng 5460S, AnnongS-1 được

chọn tạo do lai giữa Indica và Indica; dòng HennongS-1 do lai xa giữa Indica

và lúa dại; dòng Xinguang do lai giữa Indica và Japonica Các tác giả Zeng

và Zhang khi xử lý dòng Peiai 64S ở các mức nhiệt độ khác nhau và chọn lọc qua 10 thế hệ đã chọn được các dòng đồng nguồn từ Peiai 64S, nhưng khác nhau về ngưỡng nhiệt độ chuyển đổi tính dục: P2364S, P2464S, P2664S, P2864S (Trích theo Đặng Văn Hùng, 2007)

Chương trình tạo giống “siêu lúa lai” gồm hai giai đoạn, có sự tham gia của 20 cơ quan nghiên cứu nông nghiệp từ 1996, giai đoạn 1 đã tạo siêu lúa lai đạt năng suất 12 tấn/ha vào 2005, ở diện tích thí nghiệm các giống siêu lúa lai đạt tới 19,5 tấn/ha (Kim 23A/Q661) (Yuan L.P., 2002)

Chương trình lai xa giữa các loài phụ Indica/Japonica bắt đầu từ năm

1987 nhờ sự phát hiện và sử dụng gen tương hợp rộng mở ra tiềm năng năng suất cao cho các giống lúa lai hai dòng, năng suất của các tổ hợp lai xa lên tới hơn 10 tấn/ha trên diện tích đại trà, cao nhất có thể đạt 14,8-17,1 tấn/ha ở các tổ hợp Peiai 64S/E32, Peiai 64S/9311 Năm 1992, diện tích gieo trồng lúa lai hai dòng ở Trung Quốc là 15.000 ha với năng suất 9 -10 tấn/ha, năng suất cao nhất

có thể đạt 17 tấn/ha Đến năm 1997 đã có 640.000 ha năng suất trung bình cao hơn lúa lai ba dòng 5 - 15% Hầu hết các tổ hợp lai hai dòng đều có năng suất cao và phẩm chất tốt hơn so với các tổ hợp lai ba dòng

Trang 16

Vào năm 2000, Trung Quốc trồng 240.000 ha siêu lúa lai và năng suất bình quân là 9,6 tấn/ha (Trần văn Đạt, 2005) Hiện nay, Trung Quốc đã có hàng chục giống lúa lai đạt năng suất cao và siêu cao trồng trên diện tích rộng, năng suất tăng 10% so với giống lúa lai hiện có Khi đạt được năng suất

12 tấn/ha ở giai đoạn 2, siêu lúa lai sẽ có năng suất trung bình cao hơn năng suất của lúa thuần là 2,2 tấn/ha Nếu siêu lúa lai được gieo trồng trên 13 triệu

ha thì sản lượng sẽ tăng thêm 30 triệu tấn/năm so với trồng lúa thuần

Dựa trên những thành tựu đã đạt được và tiềm năng năng suất của lúa, Trung Quốc đã xây dựng kế hoạch giai đoạn 4 cho chọn giống lúa lai siêu cao sản với năng suất 15,0 tấn/ha/vụ ở qui mô lớn vào năm 2020 Theo Bộ Nông nghiệp Trung Quốc chương trình này được khởi động từ tháng 4 năm 2013 và giống lúa lai đầu tiên được thử nghiệm là Y Liangyou 900, trồng trong vụ mùa đạt năng suất 14,8 tấn/ha tại huyện Long Hải tỉnh Hồ Nam Với kết quả ban đầu như vậy, Trung Quốc có thể đưa năng suất siêu lúa lên 15,0 tấn/ha/vụ vào năm 2015 (Yuan L.P., 2014)

Theo lý thuyết, cây lúa có thể chuyển đổi 5% bức xạ mặt trời thành chất hữu cơ nên chỉ cần sử dụng hiệu quả 2,5% thì năng suất lúa có thể đạt 22,5 tấn/ha Thực nghiệm cho thấy các giống lúa có chiều cao 1,3m có thể đạt được năng suất 15-16 tấn/ha, với kiểu cây cao khoảng 1,5m có thể đạt năng suất 17-18 tấn/ha Do vậy để đạt được năng suất 18-20 tấn/ha thì chiều cao cây của các giống siêu lúa lai phải có chiều cao từ 1,8-2,0m Theo Yuan L.P (2014) để đạt được điều đó thì những giống siêu lúa lai có kiểu hình đẹp, đẻ nhánh gọn, khỏe, tập trung Chính vì thế, cần giải quyết vấn đề đổ ngã của siêu lúa lai bằng việc lai khác loài để có bộ rễ mạnh khỏe và lai với các nguồn gen có cổ bông to, thân đặc, đốt ngắn, các đốt ở dưới to

Theo FU Jing et al (2012), từ năm 1996, Trung Quốc đã tạo ra giống lúa lai siêu cao sản bằng việc lai khác loài phụ với kiểu cây lý tưởng Đến nay

đã có hơn 80 giống lúa lai siêu cao sản được trồng ngoài sản xuất, trong số đó

Trang 17

có những giống năng suất đạt 12-21 tấn/ha Lý do chính để các giống lúa lai này đạt năng suất cao là: số hạt/bông và kích thước bông tăng; chỉ số diện tích

lá tăng, thời gian lá xanh dài, khả năng quang hợp cao hơn, chống đỗ tốt hơn, tích lũy chất khô ở giai đoạn trước trỗ cao hơn, vận chuyển carbohydrat từ thân lá vào hạt mạnh hơn, bộ rễ lớn hơn và hoạt động hút dinh dưỡng của rễ khỏe hơn Tuy nhiên, có hai vấn đề chính đối với lúa lai siêu cao sản là các hoa nở sau không vào chắc được và tỷ lệ đậu hạt thấp và không ổn định Hướng nghiên cứu lúa lai “một dòng” là mục tiêu cuối cùng rất quan trọng trong công tác chọn giống lúa lai ở Trung Quốc với ý tưởng sử dụng thể

vô phối (Apomixis) và cố định ưu thế lai để sản xuất “hạt lai thuần” (True – bred hybrid rice) (Yuan L.P., 1997) Con đường tốt nhất để phát triển giống lai xa thuần chính là sử dụng thể vô phối của lúa đa phôi Các nhà khoa học Trung Quốc đã đưa ra biện pháp sử dụng lúa chét để cố định ưu thế lai (Yuan L.P và Xi Q.F., 1995)

Lúa lai “một dòng” còn được Trung Quốc và một số nước như Mỹ, Nhật Bản,… nghiên cứu theo hướng chuyển các gen Apomixis từ cỏ dại sang cây lúa, tạo ra giống đa phôi kết hợp với chọn giống truyền thống là giải pháp hiệu quả để tạo ra giống lúa lai “một dòng” (Nguyễn Công Tạn và cộng sự, 2002) Vấn đề này chưa có kết quả ứng dụng cụ thể, tuy nhiên có nhiều đề tài nghiên cứu quan trọng đang được tiến hành như: gây tạo các dòng bất dục đực

đa phôi với tỷ lệ phôi vô phối cao để sản xuất hạt vô phối, xác định các gen kiểm soát tính trạng vô phối, phương pháp phân lập vô phối,… đây là chiến lược phát triển bền vững có cơ sở khoa học và giá trị thực tiễn cao

Trung Quốc là nước mở đường và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong quá trình nghiên cứu và phát triển lúa lai Ngoài Trung Quốc có 17 nước nghiên cứu và sản xuất lúa lai như: Ấn Độ, Việt Nam, Philippine, Indonesia, Malaysia, Mỹ, Hàn Quốc, Triều Tiên,…Tuy nhiên, phát triển mạnh nhất vẫn

là Trung Quốc, sau đó đến Việt Nam và Ấn Độ Tổng diện tích lúa lai toàn

Trang 18

thế giới chiếm khoảng 10% tổng diện tích trồng lúa và chiếm khoảng 20% tổng sản lượng lúa Lúa lai đã mở ra hướng phát triển mới để nâng cao năng suất và sản lượng, góp phần giữ vững an ninh lương thực trên phạm vi toàn thế giới Ngày nay, lúa lai là một giải pháp kỹ thuật đẩy mạnh tăng năng suất, tăng thu nhập cho nông dân (Carnahan H.L., 1972)

2.1.2 Nghiên cứu và phát triển lúa lai tại Việt Nam

Việt Nam bắt đầu nghiên cứu lúa ưu thế lai vao năm 1983 tại Viện khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp, Viện di truyền Nông Nghiệp, Viện lúa Đồng bằng sông cứu long, với sự hỗ trợ của IRRI, FAO và các đề tại nghiên cứu cấp quốc gia Các chương trình này bắt đầu thực hiện đầu tiên tại Viên lúa ĐBSCL (Nguyễn Thị Trâm, 2001; Dương Văn Chín, 2007)

Theo Nguyễn Trí Hoàn (2007), trải qua 16 năm nghiên cứu và phát triển từ 1991-2007, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc: 77 dòng TGMS được thu thập và nhập nội từ Trung Quốc, IRRI để nghiên cứu, đánh giá trong điều kiện sinh thái của Việt Nạm như là BoA,IR58025A và II32A đã được chọn thuần cho sử dụng trong chọn giống lúa lai mới cũng như sử dụng trong sản xuất hạt giống Nhiều dòng CMS được lai tạo thông qua lai liên tục các dòng CMS với những dòng duy trì mới dược chọn tạo

Theo Nguyễn Thị Trâm (2007), kết quả chọn tạo giống lúa lai của Viện sinh học Nông Nghiệp: Chọn được các dòng TGMS có ngưỡn chuyển đổi tính dục ổn định, nhạy cảm GA3, nhận phấn tốt, nhân dòng và sản xuất hạt lai có năng suất cao Chọn được dòng PGMS, góp phần đa dạng nguồn vật liệu để phát triển lúa lai hai dòng Đưa ra sản xuất rộng tổ hợp lai TH3-3 có năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn phù hợp với cơ cấu 2 vụ lúa + 1-2 vụ rau mùa, được nông dân chấp nhận Năng suất hạt lai khá cao Sản lượng sản xuất hạt lai trong 4 năm đạt 1.522 tấn hạt F1 Một số tổ hợp lai mới đang được mở rộng khá nhanh là TH3-4, TH3-5, TH7-2

Trang 19

Theo Hà Văn Nhân (2007), một số kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai hai dòng tại Viện cây lương thực: nhiều dòng TGMS pù hợp với điều kiện Việt Nam đã được tạo ra bằng các phương phap nhập nội, lai kết hợp nuôi cấy bao phấn, gây đột biến Các nghiên cứu khác như khác như khả năngkết hợp, khả năng giao phấn, khả năng chống chịu sâu bệnh, kỹ thuật sản xuất hạt lai và nhân dòng bất dục cũng đã được thực hiện Một số tổ hợp lai đã được công nhận tạm thời hoặc chín thức

Nguồn vật liệu để nghiên cứu chủ yếu nhập từ Viện Nghiên cứu lúa quốc tế-IRRI Đến năm 1990, lúa lai F1 được nhập nội từ Trung Quốc để gieo trồng ở một số xã miền núi đã có năng suất rất cao Năm 1994, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định thành lập Trung tâm Nghiên cứu lúa lai thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam thì công tác nghiên cứu lúa lai được đinh hướng rõ ràng Các dòng bất dục đực tế bào chất, dòng duy trì và dòng phục hồi nhập nội từ Trung Quốc và IRRI đã được đánh giá đầy đủ và nhiều thực nghiệm sản xuất hạt lai F1 được triển khai ở các địa phương Từ đó diện tích lúa lai được tăng lên nhanh chóng: từ 10 ha năm 1990 lên 100 ha năm 1991, đến 2003 đạt 600.000 ha, năm 2004 đạt 650.000 ha (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010)

Theo Cục Trồng trọt (2012), thực tiễn phát triển lúa lai hơn trong những năm qua cho thấy chủ trương đẩy mạnh phát triển lúa lai ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, góp phần tăng năng suất lúa, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đặc biệt các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB) và Bắc trung bộ (BTB); lúa lai sinh trưởng phát triển khỏe, chịu thâm canh, có tiềm năng năng suất cao, khả năng thích ứng rộng, gieo trồng được nhiều vùng sinh thái từ đồng bằng đến trung du miền núi Gần đây chất lượng của các giống lúa lai đã được cải thiện đáng kể, nhiều tổ hợp lai có chất lượng gạo tốt được phát triển vào sản xuất

Trang 20

a Phát triển lúa lai thương phẩm

Việt Nam ứng dụng thành tựu nghiên cứu và phát triển lúa lai của Trung Quốc từ năm 1991 Chương trình nghiên cứu phát triển lúa lai được Chính phủ đầu tư và đã thu được nhiều thành tựu đáng khích lệ Diện tích gieo cấy lúa lai thương phẩm tăng liên tục từ 100 ha (năm 1991), lên 600 ngàn ha (2003), năm 2009 đạt trên 710 ngàn ha và Việt Nam trở thành quốc gia có diện tích lúa lai lớn thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ Năm

2011 diện tích lúa lai có giảm nhưng vẫn đạt 595 nghìn ha

So với diện tích lúa cả nước, lúa lai chỉ chiếm 12-15%, tuy nhiên lúa lai đóng vai trò quan trọng ở phía Bắc với diện tích chiếm 32-33% trong vụ đông xuân và khoảng 17-20% trong vụ Hè Thu, vụ Mùa, đặc biệt ở các tỉnh TDMNPB, BTB Các tỉnh phía Bắc có diện tích lúa lai lớn trong vụ đông xuân

là Thanh Hóa 57-60% diện tích, Nghệ An 72-73%, Lào Cai 80%, Tuyên Quang 60-70%, Yên Bái 60-65% và Phú Thọ khoảng 50%

Hiện nay lúa lai không những phát triển ở các tỉnh phía Bắc mà còn được mở rộng vào các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) và Tây Nguyên (TN) và bước đầu vào Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), chủ yếu trong vụ đông xuân (ĐX) Vụ ĐX 2010, diện tích lúa lai tại DHNTB là 14.600 ha (8,4%), TN (4.400 ha (6%), ĐBSCL: 6000 ha (0,3%);tương ứng vụ đông xuân 2011 là 8.445 ha (4,8%), 6.728 ha (9%), 9.550 ha (0,6%) Tỉnh có diện tích lúa lai lớn là Quảng Nam 12-16%, Bình Định 7-15%, Đắc Lắc 6-14%, Đắc nông 30-45%, Cà Mau 10%

b Nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai trong nước

Trong giai đoạn 2001-2012, công tác chọn tạo lúa lai của Việt Nam đã được thúc đẩy mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu đáng kể; tỷ trọng lúa lai thương hiệu Việt Nam đã tăng lên rõ rệt, số giống được công nhận chính thức chiếm 28% trong tổng số các giống được công nhận Các cơ quan nghiên cứu

và phát triển lúa lai trong nước đã tập trung vào việc chọn tạo các dòng bất dục

Trang 21

và các tổ hợp lúa lai thích hợp với điều kiện sản xuất tại Việt Nam Đây là một hướng quan trọng nhằm ổn định khả năng phát triển lúa lai của Việt Nam Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống bố mẹ và tổ hợp lai mới trong thời gian qua cụ thể như sau:

+ Đã chọn tạo và tuyển chọn được 26 dòng bất dục (CMS, TGMS), 10 dòng duy trì, nhiều dòng phục hồi, đặc biệt các nhà chọn tạo giống lúa lai trong nước đã chọn tạo được một số dòng TGMS (dòng bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm với nhiêt độ) thích hợp với điều kiện Việt Nam, có tính bất dục

ổn định, nhận phấn ngoài rất tốt; một số dòng bố có khả năng kháng bệnh bạc

lá tốt, khả năng kết hợp và cho ưu thế lai cao

+ Đã lai tạo, đánh giá, đưa vào khảo nghiệm nhiều tổ hợp lai có triển vọng và phát triển vào sản xuất Với lúa lai ba dòng có 8 giống được công nhận chính thức: HYT57, HYT83, HYT100, Nam ưu 603, Nam ưu 604, Bác

ưu 903KBL, PAC807, LC25, Thanh ưu 3 và các giống được công nhận sản xuất thử: HYT 92, CT16

Với lúa lai hai dòng có 10 giống được công nhận chính thức: VL20, VL24, TH3-3, TH3-4, TH3-5, HC1, HYT103, HYT102, TH7-2, LC212 và 6 giống được công nhận sản xuất thử, LHD6, TH5-1, TH3-7, Việt Lai 50, LC270, TH8-3, ngoài ra còn nhiều tổ hợp lúa lai đang khảo nghiệm, có triển vọng mở rộng sản xuất

Nhiều giống lúa lai có thời gian sinh trưởng ngắn, tiềm năng năng suất cao, chất lượng khá, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận phù hợp cho cơ cấu 2 lúa 1 màu được phát triển mạnh vào sản xuất như HYT100, Việt lai 20, Việt lai 24, TH3-3, TH3-4, TH3-5, TH7-2, CT16, LC25, LC212

Một số đơn vị nghiên cứu lúa lai đã tiến hành chọn tạo các tổ hợp lai có khả năng chống chịu với sâu bệnh đặc biệt với bệnh bạc lá, một bệnh nguy hiểm đối với lúa lai trong vụ mùa ở Việt Nam Một số tổ hợp lúa lai kháng bạc

Trang 22

lá có chứa các gen Xa21, Xa7, kháng mạnh và ổn định với nhiều chủng nòi vi khuẩn bạc lá của miền Bắc đang được phát triển mạnh vào sản xuất như Bac ưu

903 KBL, Việt lai 24

Tuy nhiên trong những năm qua, mặc dù nhiều giống lúa lai trong nước được công nhận, nhưng thực tế đa số không phải là giống chủ lực, chưa cạnh tranh được được giống nhập nội về năng suất và độ thuần; diện tích lúa lai đại trà được sản xuất bằng các giống chọn tạo trong nước còn quá ít Chỉ có một

số ít giống như Việt Lai 20, Việt Lai 24, TH3-3, TH3-4, Bac ưu 903 KBL là được nhiều địa phương phát triển vào sản xuất do có ưu điểm dễ sản xuất hạt lai, thích hợp vụ mùa, hè thu, né tránh được sâu bệnh

Ngoài ra các đơn vị, công ty giống cây trồng trong và ngoài nước đã nhập nội, khảo nghiệm và phát triển vào sản xuất nhiều tổ hợp lai mới để đánh giá đặc điểm nông học, năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận Nhiều tổ hợp lúa lai 2 dòng, 3 dòng triển vọng đã được phát triển vào sản xuất như Nhị ưu 725, Nhị ưu 986, Phú ưu

978, Phú ưu số 2, Thục hưng 6, Khải Phong 1, Nhị ưu 86B, N.ưu 69, Nhị ưu

số 7, Nghi Hương 2308, VQ14, B-Te1

c Nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt giống lúa lai F1

Việc Nghiên cứu sản xuất hạt lai F1 và nhân dòng bố mẹ đã đạt được nhiều kết quả tốt và các quy trình đã được áp dụng rộng rãi vào sản xuất Qua gần 20 năm triển khai thực tế, Việt Nam đã tiếp thu và áp dụng thành công kỹ thuật nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt lai F1 một số tổ hợp lai chính Hàng năm diện tích, năng suất nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt lai F1 đã tăng lên đáng kể

Vùng nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt lai F1 đã được xác định, mở rộng vào các nơi có điều kiện thuận lợi như một số tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh miền núi phía Bắc

Trang 23

- Nhân dòng bố mẹ

+ Lúa lai ba dòng: đã nghiên cứu hoàn thiện qui trình duy trì dòng A, B,

R trên cơ sở ứng dụng có cải tiến phương pháp “ba vườn bốn bước” của Trung Quốc Từ những qui trình được hoàn thiện, đã duy trì được độ thuần của các dòng BoA/B, II-32A/B, IR58025A/B và các dòng R tương ứng Đồng thời đã hình thành một số vùng nhân dòng bố mẹ cung cấp cho sản xuất F1 như vùng Ba Vì, Lâm Hà, Cờ Đỏ

+ Lúa lai hai dòng: Đã nghiên cứu hoàn thiện qui trình nhân dòng TGMS trong vụ xuân ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, vụ mùa ở vùng núi có độ cao > 950 m so với mức nước biển Từ kết quả nghiên cứu trên đã đề xuất cho xây dựng khu nhân dòng TGMS tại cao nguyên Bắc Hà- Lào Cai, Mộc Châu, Yên Châu- Sơn La, tạo thế chủ động về số lượng và chất lượng hạt dòng mẹ cho sản xuất hạt lai F1 hệ hai dòng

Các đơn vị đã triển khai nhân dòng bố mẹ là Trung tâm Nghiên cứu và phát triển lúa lai -Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Công ty Cổ phần giống cây trồng trung ương, Công ty

Cổ phần giống cây trồng miền Nam, Công ty Cổ phần nông nghiệp kỹ thuật cao Hải Phòng, Trung tâm Giống nông lâm nghiệp Lào Cai, Trung tâm ƯDKHKT giống cây trồng Thanh Hóa

Về chất lượng dòng bố mẹ: Nhìn chung chất lượng dòng bố mẹ của các

tổ hợp lai phát triển trong sản xuất tại các tỉnh phía Bắc, Nam Trung bộ và Tây Nguyên là đảm bảo, tuy nhiên do một số yếu tố khách quan về điều kiện thời tiết, điều kiện cách ly cũng có ảnh hưởng tới độ thuần, độ ổn định của các dòng bố mẹ và các tổ hợp lai

- Sản xuất hạt lai F1: Sản xuất hạt lai F1 thực hiện chủ yếu trong vụ đông xuân tại một số tỉnh miền Bắc, DHNTB và TN (Quảng Nam, Đắk Lắk) với các tổ hợp lúa lai 3 dòng nhập nội từ Trung Quốc thích ứng với điều kiện Việt Nam, đã được công nhận giống cây trồng mới (Sán ưu 63, Sán ưu quế

Trang 24

99, Bắc ưu 64, Bác ưu 903, Bác ưu 253, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838), nhập hạt A,

R để sản xuất F1 hoặc A, B, R để nhân rồi sau đó sản xuất F1 Hiện các đơn

vị sản xuất hạt lai F1 trong nước đang tập trung vào sản xuất các tổ hợp lai: Nhị ưu 838, HYT100, CT16, Băc ưu 253, Bắc ưu 903 KBL, LC25, BiO404 Diện tích sản xuất hạt lai F1 tăng trên 1.000 ha từ năm 2001- 2004, làm cho tỷ lệ sử dụng hạt lai F1 sản xuất trong nước tăng trên 20%, năm 2002 đạt cao nhất là 30,28%, nhưng sau đó lại giảm vì chất lượng hạt giống sản xuất trong nước không bằng hạt nhập nội, năng suất sản xuất hạt F1 không cao vì thời tiết biến đổi thất thường, hạt F1 sản xuất ra không tiêu thụ được, các doanh nghiệp chưa tích cực tham gia sản xuất vì vậy diện tích sản xuất giảm đi

Từ năm 2005 đến nay, sau khi Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận một

số tổ hợp lai mới do các nhà khoa học Việt Nam lai tạo, các dòng bố mẹ được chọn tạo, duy trì trong nước nên diện tích sản xuất hạt lai F1 có chiều hướng tăng dần, có xu hướng mở thêm trong vụ Mùa

Vụ và vùng sản xuất hạt giống lúa lai F1 được nghiên cứu, xác định tương đối hợp lý để đảm bảo năng suất và chất lượng hạt lai cao, cụ thể là:

- Các tổ hợp lúa lai ba dòng sản xuất ở vụ Đông xuân tại các tỉnh Nam

bộ, Tây Nguyên (Đắc Lăk, Kon tum), Duyên hải miền Trung (Quảng Nam), ở phía Bắc vụ Đông xuân chỉ nên chọn một số vùng thuận lợi như Lào Cai, Yên Bái, Nam Định để sản xuất, không nên mở rộng diện tích

- Các tổ hợp lai hai dòng chọn tạo trong nước có dòng mẹ là TGMS, ở miền Bắc sản xuất F1 trong vụ mùa trung, lúa trỗ từ 5-25/9 là phù hợp, năng suất hạt lai F1 có thể đạt hơn 2,5 tấn/ha Tại Quảng Nam và một số tỉnh Tây nguyên có thể sản xuất hạt F1 hai dòng ở vụ xuân muộn cho lúa trỗ từ 15-25/4, có thể đạt năng suất cao > 35 tạ/ha Tuy nhiên do biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến bất thường nên việc xác định thời vụ sản xuất hạt lai F1 còn gặp nhiều khó khăn

Trang 25

Sản xuất hạt lai F1 giai đoạn 2005-2009 tập trung chủ yếu vào các giống lúa lai chọn tạo trong nước Một số tổ hợp lai mới được chuyển nhượng bản quyền nên các doanh nghiệp tổ chức hạt giống nhiều hơn, chất lượng được chú ý đúng mức hơn đã góp phần mở rộng sản xuất, điển hình như Công

ty TNHH Cường Tân với giống lúa lai hai dòng TH3-3, Công ty CP giống cây trồng TW với giống TH3-4, Công ty CP kỹ thuật cao Hải phòng với giống VL20, HYT100 Các công ty đã chủ động liên kết với nông dân ở các vùng có điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất, công tác quản lý sản xuất giống của các công ty được chú ý đúng mức làm cho giống sản xuất trong nước đạt năng suất khá và có hiệu quả kinh tế cao Năm 2007 diện tích sản xuất hạt lai F1 đạt 1.900 ha, năng suất trung bình đạt 2,0 tấn /ha, sản lượng đạt gần 4000 tấn hạt lai F1

- Về kỹ thuật sản xuất hạt F1 nhiều vùng sản xuất có kỹ thuật thành thạo do: + Quy trình nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt F1 được bổ sung hoàn thiện nên năng suất hạt lai tăng, giá thành hạ, có khả năng cạnh tranh với giống nhập nội

+ Xu hướng xã hội hóa trong nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất hạt lai bắt đầu xuất hiện, cụ thể là trong 3- 4 năm gần đây, bên cạnh các đơn vị sự nghiệp khoa học kỹ thuật của Trung ương và của tỉnh, các Doanh nghiệp giống thuộc các thành phần kinh tế ngày càng quan tâm đến nghiên cứu chọn tạo và phát triển sản xuất hạt giống lúa lai, xu hướng tiến bộ này cần được khuyến khích vì có thể huy động được nhiều nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển lúa lai tại Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện đa dạng hóa cơ cấu giống lúa lai cho các vùng sinh thái khác nhau tạo động lực cạnh tranh, hạn chế tình trạng độc quyền trong thị trường hạt giống

Trang 26

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng hạt F1 sản xuất

tại Việt Nam thời kỳ 2011-2012

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Lượng hạt F1 nhập khẩu (tấn)

Tỷ lệ hạt F1 SX trong nước (%)

d Về cơ cấu giống lúa lai:

Cơ cấu giống lúa lai ngày càng đa dạng và phong phú đã đáp ứng được yêu cầu mở rộng diện tích lúa lai ở nhiều vùng sinh thái, với các điều kiện khí hậu và tập quán canh tác khác nhau Nhiều giống lúa lai có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận được công nhận Nông dân có thể lựa chọn các giống lúa lai phù hợp để phát triển vào sản xuất

Đến nay đã có 64 giống lúa lai được công nhận chính thức, trong đó có các giống do các đơn vị trong nước chọn tạo: VL20, VL24, TH3-3, TH3-4, TH3-5, TH7-2, HYT83, HYT100, HYT102, HYT103, HC1, Nam ưu 603, Nam

ưu 604, Thanh ưu 3, LC25, LC212, Bắc ưu 903KBL; số còn lại của trên 30 công

ty nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó chủ yếu là các công ty

Trang 27

Trung Quốc: Nhị ưu 838, D.ưu 527, Nhị ưu 63, Khải Phong số 1, Q ưu số 1, Thục Hưng 6, CNR36, Nhị ưu 86B, N.ưu 69, Nhị ưu số 7, Nghi hương 2308, Phú ưu số 1, Phú ưu số 4, D ưu 725, D ưu 6511, Nhị ưu 986

Trong vụ Đông Xuân hầu hết các giống lúa lai có thể gieo trồng thích hợp, an toàn và cho năng suất cao; vụ mùa sớm, hè thu: các giống lúa lai đã được khẳng định thích hợp trong vụ mùa ở các tỉnh phía Bắc và DHNTB với

ưu điểm thời gian sinh trưởng ngắn (90-100 ngày), năng suất cao, ít bị nhiễm bạc lá, thích hợp trong cơ cấu xuân muộn-mùa sớm - cây vụ đông như: TH3-

3, TH3-4, TH3-5, VL20, VL24, HC1, HYT102, HYT103, (giống chọn tạo trong nước), Bồi tạp sơn thanh, Bồi tạp 49, Q ưu số 1, Q ưu số 6 (giống nhập nội)

Trà mùa trung trên đất vàn thấp, trũng 2 vụ lúa: Các tổ hợp lúa lai 3 dòng phản ứng ánh sáng như Băc ưu 253, Băc ưu 903, Băc ưu 64 đã phát huy được hiệu quả trên chân đất vàn trũng 2 vụ lúa ở các tỉnh phía Bắc (năng suất gấp 2 lần so với các giống Mộc tuyền, Bao thai ) Hiện nay, một số tổ hợp lúa lai kháng bạc lá (Bác ưu 903 KBL, Bác ưu 025, BTe-1, Hoa ưu 108) đang được mở rộng vào sản xuất thay thế dần các tổ hợp lai cũ nhiễm nặng bệnh bạc lá Năng suất: Tổng kết nhiều năm cho thấy năng suất lúa lai cao hơn lúa thuần từ 10-20% trong cùng điều kiện canh tác Năng suất trung bình đạt 6,5 tấn/ha (lúa thuần là 5,27 tấn/ha) Nhiều diện tích lúa lai đạt 9-10 tấn/ha, nơi cao nhất đã đạt 11-14 tấn/ha

e Về tốc độ tăng năng suất

Nhiều tỉnh có diện tích lúa lai cao đều là những tỉnh có năng suất lúa tăng nhanh Đặc biệt là 2 tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá nhờ đưa mạnh lúa lai, năng suất lúa năm 2004 so với năm 1992 đã tăng gần 2 lần, góp phần đưa bình quân lương thực/đầu người của Thanh Hoá đạt 420 kg/người và Nghệ

An 360 kg/người, đảm bảo an ninh lương thực của tỉnh Nam định mặc dù có

4 huyện điều kiện sản xuất khó khăn, năng suất luôn luôn thấp nhưng nhờ đẩy

Trang 28

mạnh gieo cấy lúa lai nên năng suất đã tăng trên 2 tấn/ha đuổi gần kịp với năng suất của Thái Bình, tỉnh có trình độ thâm canh cao nhất cả nước

Sản lượng lúa của các tỉnh phía Bắc tăng lên nhờ mở rộng diện tích gieo cấy lúa lai, diện tích lúa lai năm 2009 đạt trên 700.000 ha, sản lượng đạt trên 4,55 triệu tấn thóc, chiếm 11,4% tổng sản lượng lương thực

2.2 Sự biểu hiện của ưu thế lai ở lúa

Có nhiều công trình nghiên cứu xác nhận sự xuất hiện ưu thế lai trên các cơ quan sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, sự biểu hiện

ấy có thể được quan sát ở các đặc tính hình thái, đặc tính sinh lý, hóa sinh, năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng, chống chịu,… Ưu thế lai biểu hiện ngay từ khi hạt lúa bắt đầu nảy mầm đến khi hoàn thành quá trình sinh trưởng và phát triển của cây (Nguyễn Hồng Minh, 1999)

Kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học Trung Quốc cho thấy con lai có năng suất cao hơn bố mẹ từ 21-70% khi gieo cấy trên diện tích rộng và hơn hẳn các giống lúa lùn cải tiến tốt nhất từ 20-30% (Trần Duy Quý, 1994)

Ưu thế lai trung bình (Hm) về năng suất là 73%, ưu thế lai thực (Hb) là 57%

và ưu thế lai chuẩn (Hs) là 34% Ở mùa mưa, ưu thế lai chuẩn là 22%, thấp hơn mùa khô (Virmani S.S và cộng sự 1982, 1994) Thông báo của Yuan L.P (1995) cho biết khảo sát trên 29 tổ hợp lai thấy có 28 tổ hợp có ưu thế thực với giá trị dương ở tính trạng năng suất (chiếm 96,5%), trong đó có 18 tổ hợp có năng suất vượt trội đáng tin cậy Yuan L.P cũng chỉ ra một số tổ hợp

lai giữa các giống trong cùng loài phụ Japonica đạt 15,7 tấn/ ha/vụ (Yuan

L.P., 1995) Các yếu tố cấu thành năng suất biểu hiện ưu thế lai cao rõ rệt, trong đó nhiều tổ hợp có ưu thế lai cao ở chỉ tiêu số bông/khóm Ưu thế lai về

số hạt trung bình của bông cao hơn các giống lúa thường, có khối lượng hạt nặng và tỷ lệ chắc cao (Chang et al, 1971; Virmani S.S et al, 1982) Sự biểu hiện ưu thế lai cao về năng suất là do một hoặc nhiều yếu tố cấu thành năng

Trang 29

suất có giá trị ưu thế lai cao tạo nên (Chang W.L et al, 1971, Virmani S.S et

al, 1982) Ở Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho rằng năng suất bình quân của lúa lai ở các tỉnh Miền Bắc phổ biến ở mức 7-8 tấn/ha/vụ, năng suất cao nhất đạt 12-14 tấn/ha ở Điện Biên, Lai Châu Vì vậy cần đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật lúa lai vào sản xuất rộng và tiếp tục khẳng định các vùng sinh thái phù hợp nhất (Nguyễn Công Tạn, 2002)

Xu and Wang (1980) cho rằng ưu thế lai về thời gian sinh trưởng dài hơn những giống R sinh trưởng dài nhất Ponnuthurai et al (1984) ghi nhận rằng thời gian sinh trưởng của con lai tương đương hoặc ngắn hơn dòng bố phục hồi hữu dục (R)

Kết quả nghiên cứu của Lin S.C và Yuan L.P (1980) cho rằng hệ thống rễ của lúa lai hoạt động mạnh hơn và khỏe hơn các giống lúa thường Một số tác giả khác nghiên cứu và chứng minh có sự tồn tại ưu thế lai về số

rễ, độ mập của rễ, trọng lượng khô, độ dài của rễ, số mạch dẫn, số lượng lông hút và hoạt động của bộ rễ khi hút dinh dưỡng từ đất vào cây Hệ rễ lúa lai hoạt động mạnh ngay từ khi cây lúa bắt đầu nảy mầm, đẻ nhánh đến khi lúa chín, vì vậy người ta đã nghiên cứu lợi thế này để làm lúa chét trên ruộng trồng lúa lai thương phẩm (Yuan L.P., 1995) Nhiều nghiên cứu khác cũng đã

đề cập đến sự phát triển và hoạt động mạnh của hệ rễ lúa lai (Akitas, 1998; Anandakumas C.R.; Ekanayake I.J và cộng sự, 1986) Chính vì ưu thế phát triển của hệ rễ như trên mà lúa lai có khả năng thích ứng rộng với điều kiện bất thuận như: ngập úng, hạn,… (Ekanayake I.J và cộng sự, 1986; Sing S.P.,

1978 và Virmani S.S., 1982, Chauhan J.S.)

2.2.4 Ưu thế lai về chiều cao cây

Chiều cao cây là một tính trạng số lượng do đa gen kiểm soát vì vậy trong con lai chiều cao cây thường biểu hiện hiệu ứng cộng Nhiều công trình nghiên

Trang 30

cứu công bố rằng ưu thế lai chiều cao cây ở lúa thường biểu hiện hiệu ứng dương với giá trị thấp hoặc hiệu ứng trung gian (hiệu ứng cộng) Tùy từng tổ hợp mà chiều cao cây của con lai F1 có lúc biểu hiện ưu thế lai âm, có lúc biểu hiện ưu thế lai dương, có lúc lại nằm trung gian giữa bố và mẹ (Singh S.P and Singh H.G., 1978) Vì chiều cao cây có tương quan nghịch với tính chống đổ (Chang T.T., 1967) nên ưu thế lai dương về chiều cao cây không thích hợp với

kỹ thuật thâm canh cao Trong chọn giống cần tạo ra giống lúa lai dạng bán lùn chống đổ tốt, nên phải chọn các dòng bố mẹ bán lùn

Con lai F1 có ưu thế lai cao về sức chịu lạnh ở thời kỳ mạ (Kaw R.N and Khush G.S., 1985) Ưu thế lai về sức chịu lạnh của con lai F1 có giá trị dương ở giai đoạn mạ nhưng có giá trị âm ở giai đoạn chín sáp (Ekanayake I.J et al, 1986) Nếu so với lúa thuần thì con lai F1 mẫn cảm hơn với điều kiện bất thuận ở giai đoạn trỗ, đặc biệt là nhiệt độ thấp Một số công trình nghiên cứu cho biết: lúa lai có xu thế vượt trội về tính chịu mặn, chịu chua và chịu hạn (Chauhan J.C et al, 1983) Lúa lai có xu thế vượt trội về khả năng tái sinh chồi và khả năng chịu nước sâu (Singh S.P, 1978) Lúa lai có khả năng chống chịu một số loại sâu bệnh như: rầy nâu, bạc lá và thích ứng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau (Lin S.C and Yuan L.P., 1980) Ở Việt Nam, một số tác giả đã công bố các giống lúa lai có ưu thế về tính chống đổ, chống rét ở giai đoạn mạ tốt, kháng được bệnh đạo ôn, khô vằn ở mức trung bình, khả năng thích ứng rộng (Nguyễn Công Tạn và cộng sự, 2002) Đồng thời các nhà chọn giống còn tạo được giống kháng bạc lá cao như Việt Lai 24, chịu nóng, chịu chua mặn, chịu đất xấu khá hoặc một số giống lúa lai hai dòng mới

có tính thích ứng rộng như TH3-3, TH3-4 (Nguyễn Thị Trâm, 2005)

Trang 31

2.2.6 Chất lượng gạo lúa lai

Theo nghiên cứu của các chuyên gia về di truyền ứng dụng thì mùi thơm của gạo do 1 hoặc nhiều gen lặn kiểm soát mà không có ảnh hưởng của

tế bào chất vì vậy khi lai dòng A thơm với dòng R không thơm thì hạt lai không thơm nhưng nếu trồng cây lai và thu hạt thương phẩm F2 (để ăn) thì thu được tỷ lệ 15:1 không thơm Tổng kết chung cho thấy:

+ Nếu A thơm lai với R thơm với cùng alen thơm, hạt lai F1, F2 thơm + Nếu A thơm lai với R không thơm thì F1 không thơm, 25% F2 thơm + Nếu tính thơm do 1 gen kiểm soát có 25% hạt F2 thơm (Trần Văn Đạt, 2005)

Độ đục của gạo nếp do 1 cặp gen trội (Waxy) điều khiển ký hiệu là WxWx Hoạt động của alen Wx không bị ảnh hưởng do thay đổi hàm lượng amilose của cây bố, nhưng bị ảnh hưởng bởi số lượng alen Wx số 1 quá thừa thãi so với liều lượng gen Wx số 2 và số 3 (Heu và Park, 1976; trích theo Vũ Bình Hải, 2002; Juliano B.O., 1930, 1985, 1993)

Theo tổng kết của Nguyễn Thị Trâm (2000), gạo lúa lai sử dụng làm lương thực là lô hạt F2 đang phân ly nên hình dạng và cấu trúc nội nhũ khác nhau nhiều Hàm lượng dinh dưỡng, tinh bột, protein, các axit amin cũng khác nhau Nếu khi chọn bố mẹ lai mà một dòng có amilose thấp (ví dụ 12%) Dòng kia có amylose cao (28%), hạt lai F1 đồng nhất có thể có hàm lượng amylose trung bình (20 - 22%), khi phân tích hỗn hợp hạt F2 cũng có thể cho hàm lượng amilose trung bình tương tự (20 - 22%), nhưng nếu phân tích từng

cá thể F2 có thể được một dãy phân ly liên tục từ cây có amilose rất thấp ≤ 12% đến rất cao ≥ 28% Các hạt gạo mềm đến trung bình-cứng-rất cứng này hỗn hợp lại để nấu sẽ có chất lượng cơm rất kém (ăn cảm thấy sậm sựt) Vì vậy, để tránh hiện tượng này người ta cần cải tạo các dòng bố mẹ sao cho giá trị hàm lượng amylose tương đương nhau

Đối với tính trạng khác như chiều dài, chiều rộng hạt, màu sắc nội nhũ,

Trang 32

độ bạc bụng của hạt cũng cần cải tạo bố mẹ theo phương hướng nêu trên, Vũ Bình Hải (2002) lai các dòng bố mẹ có chiều dài hạt khác nhau đã phát hiện được một số dòng bố như R101, Jasmin cho con lai có hiệu ứng di truyền cộng về chiều dài hạt trên 7mm, đồng thời nhận xét rằng các dòng mẹ T29S

và T1S-96 có hàm lượng amilose trung bình khi lai với các dòng bố có hàm lượng amilose cao, trung bình, thấp đều cho con lai có hàm lượng amilose trung bình biểu hiện hiệu ứng di truyền cộng

Theo Kumar and Khush (1986) nội nhũ của hạt gạo có 3n trong đó 2n từ

mẹ và 1n từ bố Vì có sự khác nhau như vậy, nên xảy ra hiệu ứng tích luỹ về lượng của amilose Hàm lượng amilose của con lai F1 gia tăng theo sự gia tăng

số gen của bố (mẹ) có hàm lượng amilose cao hơn, mặc dù sự gia tăng này không phải lúc nào cũng tuyến tính Phân tích từng hạt riêng biệt ở F2 người ta thấy rằng hàm lượng amilose tuỳ thuộc vào sự tích luỹ của gen điều khiển hàm lượng amilose trung bình và cao, các tác giả này kết luận: sự xuất hiện của một vài cá thể có hàm lượng amilose cao hơn hoặc thấp hơn bố mẹ có amilose rất cao hoặc rất thấp, cho thấy vai trò quan trọng của các đa gen phụ bổ sung (Khush G.S., 1979)

2.3 Hệ thống lúa lai hai dòng

2.3.1 Bất dục di truyền nhân mẫn cảm nhiệt độ (Thermosensitive genic male sterility - TGMS)

Gen kiểm soát tính bất dục nằm trong nhân tế bào là cặp gen lặn, kí

hiệu là tms Gen tms hoạt động với hai chức năng là điều khiển sự hình thành

hạt phấn hữu dục, tự kết hạt khi gặp nhiệt độ thấp dưới ngưỡng chuyển đổi tính dục và hình thành hạt phấn bất dục khi gặp nhiệt độ cao trên ngưỡng chuyển đổi tính dục (Nguyễn Văn Đồng, 1999)

Thời kì mẫn cảm diễn ra 18-10 ngày trước khi lúa trỗ tương ứng với giai đoạn phân hóa đòng từ bước 5 đến cuối bước 6 là thời kì hình thành tế bào mẹ hạt phấn đến khi kết thúc phân bào giảm nhiễm (Cheng S.H.,2000)

Trang 33

Trong thời kì mẫn cảm của các dòng TGMS mà nhiệt độ đang cao lại thấp xuống dưới ngưỡng tới hạn gây bất dục từ 2 đến 4 ngày liên tục thì sẽ tạo ra phấn hữu dục với một tỷ lệ nhất định, đủ để sinh ra tự thụ phấn

Dòng TGMS có kiểu hình giống như lúa thường, khi lúa trổ ở điều kiện bất dục thì nghẹn đòng từ 1/4-1/2 chiều dài bông, vòi nhụy dài, đầu nhụy to phân ra nhiều nhánh, tỷ lệ vòi nhụy vươn ra ngoài vỏ trấu cao hơn các dòng CMS, khi trỗ ở điều kiện hữu dục thì cổ bông thoát khỏi bẹ lá đòng, vòi nhuỵ ngắn lại nên tỷ lệ thò vòi nhuỵ bên ngoài vỏ trấu ngắn hơn, đây là những tính trạng tốt cần nghiên cứu để sử dụng trong sản xuất hạt lai F1 (Trần Văn Quang, 2008)

Các dòng TGMS được chọn tạo và sử dụng trong nghiên cứu phát triển lúa lai thường có ngưỡng chuyển đổi tính dục từ 23,5-26,50C Các dòng có ngưỡng chuyển đổi tính dục cao sẽ rất khó sử dụng ở Việt Nam do khi sản xuất hạt lai có nhiều ngày có thể nhiệt độ sẽ hạ thấp xuống dưới ngưỡng làm xuất hiện hạt hữu dục dẫn đến tự thụ Vì vậy, điều quan trọng nhất để một dòng TGMS sử dụng có hiệu quả là nhiệt độ gây bất dục phải khá thấp và sự chuyển hóa từ bất dục sang hữu dục và ngược lại phải triệt để Các dòng được chọn ở nước ta có giới giới hạn chuyển đổi tính dục an toàn là 240C, có nghĩa

là trong điều kiện nhiệt độ từ 19-240C dòng TGMS sẽ hữu dục, nếu nhiệt độ lớn hơn 240C thì dòng TGMS sẽ bất dục hoàn toàn Các dòng TGMS thuộc nhóm này là dòng T1S-96, 103S, T25S, T29S và VN01 (Nguyễn Trí Hoàn và

cs, 2007)

Theo Nguyễn Văn Hoan (2003), miền Bắc Việt Nam có 2 mùa lúa trong đó có thời vụ có thể bố trí nhân dòng và có thời vụ để bố trí hạt lai F1 Khi bố trí gieo cấy phải tính toán sao cho ở vụ Xuân thời kỳ mẫn cảm xảy ra

từ 10/3-30/3, ở vụ Mùa từ 15/10-20/11 Trong giai đoạn này, dòng TGMS phân hóa thì sẽ trỗ bông vào thời kì tương đối thuận lợi, trong đó giai đoạn từ ngày 10/3 đến 30/3 là thuận lợi và chắc chắn hơn

Trang 34

Nguyễn Thị Trâm (2005) cho rằng, trong điều kiện Miền bắc Việt Nam chỉ nên sử dụng các dòng TGMS để sản xuất hạt lai ở vụ Mùa vì vụ Mùa luôn

có nhiệt cao, ổn định nên rất dễ bố trí tuy nhiên vụ mùa lại hay gặp mưa bão Sản xuất trong vụ Mùa phải bố trí thời vụ sao cho lúa trỗ từ 28/8 đến 10/9 là phù hợp Nếu điều khiển trỗ muộn hơn 10/9 có thể gặp một số ngày lạnh sẽ làm cho dòng mẹ tự thụ, ảnh hưởng đến chất lượng của lô hạt giống

2.3.2 Bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm quang chu kỳ (PGMS)

Tính bất dục của dòng PGMS được kiểm soát bởi cặp gen lặn nằm

trong nhân tế bào (pms) Gen này hoạt động với hai chức năng: gây bất dục

khi pha sáng trong ngày dài và có khả năng hình thành hạt phấn hữu dục khi pha sáng ngắn Giai đoạn mẫn cảm quang chu kỳ chỉ xảy ra khi dòng bất dục phân chia giảm nhiễm tế bào mẹ hạt phấn tương ứng với bước 4 đến bước 6 của phân hóa đòng, còn các giai đoạn khác thì sự thay đổi quang chu kỳ không gây ảnh hưởng đến gen kiểm soát tính bất dục đực (Nguyễn Thị Trâm, 2006; Jiang S., 2000)

Thời gian pha sáng dài hay ngắn là yếu tố chính gây nên sự bất dục hay hữu dục của hạt phấn, pha sáng chỉ được tính khi cường độ ánh sáng đạt ít nhất 50lux, giới hạn nhiệt độ cảm quang của các dòng khác nhau Nhiệt độ đóng vai trò rất quan trọng trong thời kỳ mẫn cảm của dòng PGMS, trong một giới hạn nhiệt độ nhất định thì độ dài ngày có thể không hiệu quả đối với quá trình chuyển hóa tính dục của dòng PGMS (Lu X.G., 1994)

Một số kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc cho rằng gen mẫn cảm quang chu kì có bản chất di truyền giống như gen mẫn cảm nhiệt độ (Trích theo Nguyễn Công Tạn và cộng sự, 2002)

Mou T.M (2000) và một số tác giả khác công bố: dòng PGMS bất dục hoàn toàn trong điều kiện tổ hợp ngày dài cùng với nhiệt độ cao và có phấn hữu dục trong điều kiện ngày ngắn cùng với nhiệt độ thấp Sự thay đổi tính

Trang 35

dục ở dòng PGMS được mô tả bằng giá trị của hiệu lực ảnh hưởng P (Photoperiodic sensitive) và ảnh hưởng tương tác P x T ở mức độ tin cậy 95% Hiệu lực ảnh hưởng của T (Thermo sensitive) thì không có ý nghĩa ở cả

độ tin 95% và 99% Do những đặc điểm như vậy mà PGMS thường bất dục hoàn toàn ở mùa hè có ngày dài và nhiệt độ cao, hữu dục ở mùa thu có ngày ngắn và nhiệt độ thấp Tuy nhiên, trong điều kiện ngày dài và nhiệt độ thấp hoặc nhiệt độ cao và ngày ngắn có thể xảy ra hiện tượng hữu dục từng phần Các dòng PGMS phù hợp với sản xuất lúa lai ở các tỉnh vùng núi phía Bắc và Trung của Trung Quốc Giai đoạn mẫn cảm của PGMS xảy ra vào bước phát triển thứ 3 đến thứ 5 của dòng, tức là khoảng 15-25 ngày trước trỗ (Cheng S.H., 2000; Mou T.M., 2000; Yuan L.P., 1997)

Các nhà chọn giống Trung Quốc đã tìm ra được nhiều dòng PGMS: W1654S, 2877S, 9802S, 7001S, W9451S (Mou, et al, 1997; Deng X.J., 1997) Tuy nhiên, các dòng này chưa được sử dụng rộng rãi vì tiềm năng ưu thế lai

chưa vượt trội so với các giống lúa Japonica và ngưỡng chuyển đổi tính dục

13 giờ 45 phút là tương đối cao, khó sử dụng ở các vùng có vĩ độ thấp hơn

Trang 36

3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

- Gồm 15 tổ hợp lúa lai hai dòng mới và giống đối chứng là TH3-3 do Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng – Học viện Nông nghiệp Việt Nam lai tạo và chọn lọc được bố trí trong thí nghiệm so sánh ở vụ Xuân 2014 Danh sách các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm:

1 T165M13/NN1 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

2 Đ21/RA27 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

3 T11S/R28 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

4 T12S/R28 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

5 T11S/R7 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

6 T12S/R7 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

7 T10S/R15 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

8 T11S/R15 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

9 T12S/R15 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

10 T1S-96BB/R15 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

11 T1S-96BB/R7 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

12 TH3-7 (T1S-96/R7) Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

13 T10S/R19 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

14 T11S/R19 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

15 T12S/R19 Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

16 TH3-3 (đ/c) Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng

Trang 37

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Khu thí nghiệm của Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng-Học viện Nông nghiệp Việt Nam

- Thời gian: 02 vụ

+ Vụ Xuân năm 2014 (Từ tháng 01/2014 đến tháng 06/2014)

+ Vụ Mùa năm 2014 (Từ tháng 06/2014 đến tháng 10/2014)

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh, năng suất và chất lượng của các tổ hợp lai

- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm tính dục của các dòng bố

mẹ tổ hợp lúa lai hai dòng có triển vọng

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Thí nghiệm 1: Tuyển chọn một số tổ hợp lúa lai hai dòng có triển vọng tại Gia Lâm- Hà Nội

a Bố trí thí nghiệm

- Bố trí thí nghiệm theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, với 03 nhắc lại, có 01 đối chứng

- Mật độ cấy 40 khóm/m2, diện tích ô là 10m2, cấy 1 dảnh/ khóm

- Kỹ thuật canh tác: bón pân với lượng: 120N + P2O5 +100 K2O

Cách bón: + Bón lót: phân bón P2O5 + 40% N + 40 K2O

+ Bón thúc lần 1 (Sau cấy 10 ngày) 40% N + 20% K2O

+ Bón thúc lần 2 (trước khi trổ 20 ngày) 20% N + 40% K2O

Trang 38

b Chỉ tiêu theo dõi

* Giai đoạn mạ: Theo dõi các đặc điểm hình thái, nông sinh học của cây mạ

+ Tuổi mạ: Thời gian từ gieo đến khi nhổ đem cấy (ngày)

+ Chiều cao cây mạ: Đo từ gốc đến đỉnh lá cao nhất (cm)

+ Số lá mạ: Số lá mạ từ gieo đến khi nhổ đem cấy, theo dõi 7 ngày trên lần + Số nhánh đẻ: Đếm tổng số dảnh ở giai đoạn nhổ đem cấy

+Theo dõi màu sắc lá mạ: Theo dõi theo thang điểm

* Giai đoạn lúa

- Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng

+ Thời gian từ gieo đến đẻ nhánh

+ Thời gian từ gieo đến trỗ: Cá thể, quần thể

+ Thời gian nở hoa

+ Thời gian từ trỗ đến thu hoạch

+ Thời gian sinh trưởng: từ gieo tới thu hoạch

- Đặc điểm nông sinh học

+ Chiều cao cây cuối cùng: Đo từ mặt đất đến đầu mút cổ bông không kể râu + Chiều dài lá đòng: Đo từ tai lá đến mút lá

+ Chiều rộng lá đòng: Đo nơi rộng nhất của phiến lá

+ Chiều dài cổ bông

+ Chiều dài bông: Từ đốt có gié đến đầu mút bông không kể râu

- Mức độ nhiễm sâu bệnh: Theo dõi tình hình nhiễm sâu bệnh ở các thời kỳ

để biết được mức độ gây hại của bệnh Từ đó đưa ra phương pháp phòng trừ thích hợp

Trang 39

- Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

+ Năng suất lý thuyết

+ Năng suất thực thu: thu bông ở 10 khóm/ dòng, tách hạt, phơi đến khi đạt

độ ẩm 13% thì đem cân và tính năng suất thu được/ ha

- Thí nghiệm được thực hiện vào vụ Mùa 2014

- Bố trí gieo cấy dòng bố mẹ như sau:

Trang 40

+ Dòng bố R7 (bố 1) gieo ngày 20/6/2014

+ Dòng bố R7 (bố 2) gieo ngày 25/6/2014

+ Dòng mẹ 11S gieo ngày 3/7/2014

+ Cấy các dòng bố mẹ 2 ruộng khác nhau

+ Mỗi dòng bố mẹ gieo và cấy 20m2

+ theo dõi 10 khóm / dòng

+ Lượng GA3 có phun: 200g/ha, không phun: 0g/ha

+ Thí nghiệm theo dõi sức sống của vòi nhụy,

Cách làm: Chọn 30 bông lúa, cắt toàn bộ hạt đã nở và hạt chưa nở hoa, chỉ chọn nhụy hoa nở đúng ngày cắt

+ Bao cách ly toàn bộ các bông được cắt:

- Ngày 1: rũ phấn cho 3 bông

- Ngày 2: rũ phấn cho 3 bông

- Ngày 3: rũ phấn cho 3 bông dến

- Ngày 10: rũ phấn cho 3 bông

+ Theo dõi tỷ lệ đậu hạt trên các bông được rũ phấn

- Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng:

+ Thời gian từ gieo đến cấy

+ Thời gian từ cấy đến trỗ

+ Thời gian trỗ

+ Thời gian sinh trưởng

- Đặc điểm nông sinh học:

Ngày đăng: 19/09/2015, 17:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng hạt F1 sản xuất - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng hạt F1 sản xuất (Trang 26)
Bảng 4.6. Một số đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lúa lai trong vụ - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Bảng 4.6. Một số đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lúa lai trong vụ (Trang 54)
Bảng 4.8. Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lúa lai trong vụ - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Bảng 4.8. Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lúa lai trong vụ (Trang 58)
Bảng 4.9. Năng suất của các tổ hợp lúa lai trong vụ Xuân 2014 - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Bảng 4.9. Năng suất của các tổ hợp lúa lai trong vụ Xuân 2014 (Trang 60)
Đồ thị 4.1. Năng suất thực thu của một số tổ hợp lai - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
th ị 4.1. Năng suất thực thu của một số tổ hợp lai (Trang 62)
Bảng 4.10. Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các tổ hợp lúa lai trong vụ - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Bảng 4.10. Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các tổ hợp lúa lai trong vụ (Trang 63)
Bảng 4.11. Một số đặc điểm của các tổ hợp lúa lai hai dòng có triển vọng - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Bảng 4.11. Một số đặc điểm của các tổ hợp lúa lai hai dòng có triển vọng (Trang 66)
Đồ thị 4.2. Động thái tăng trưởng số lá của các tổ hợp lai. - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
th ị 4.2. Động thái tăng trưởng số lá của các tổ hợp lai (Trang 70)
Bảng 4.15. Mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng bố mẹ trong vụ Mùa 2014 - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Bảng 4.15. Mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng bố mẹ trong vụ Mùa 2014 (Trang 71)
Hình 1. Gieo mạ các tổ hợp lai trong vụ Mùa 2014 - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Hình 1. Gieo mạ các tổ hợp lai trong vụ Mùa 2014 (Trang 82)
Hình 2. Mạ của các tổ hợp lai được gieo trong vụ Mùa 2014 - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Hình 2. Mạ của các tổ hợp lai được gieo trong vụ Mùa 2014 (Trang 82)
Hình 3. Ruộng sản xuất thử hạt lai F1 của tổ hợp lai TH3-7 - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Hình 3. Ruộng sản xuất thử hạt lai F1 của tổ hợp lai TH3-7 (Trang 83)
Hình 4. Tổ hợp lại T11S/R7 bị nhiễm bệnh khô vằn - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Hình 4. Tổ hợp lại T11S/R7 bị nhiễm bệnh khô vằn (Trang 83)
Hình 5. Đo chiều cao cây mạ dòng bố 2 của dòng R7 - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Hình 5. Đo chiều cao cây mạ dòng bố 2 của dòng R7 (Trang 84)
Hình 6. Ruộng sản xuất thử hạt lai F1 tổ hợp lai T10S/R15, 7 ngày sau cấy - tuyển chọn tổ hợp lúa lai hai dòng mới và đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng bố mẹ tại gia lâm, hànội
Hình 6. Ruộng sản xuất thử hạt lai F1 tổ hợp lai T10S/R15, 7 ngày sau cấy (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w