Thắ nghiệm 1: Nghiên cứu ựặc ựiểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng búp của các dòng chè chọn lọc 34 2.3.2.. Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Th
Trang 1Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
1.3 Diện tích, sản lượng và cơ cấu giống chè những năm gần ñây 8 1.3.1 Diện tích và sản lượng chè thế giới và Việt Nam 8 1.3.2 Hiện trạng cơ cấu giống chè ở Việt Nam hiện nay 10 1.4 Các nghiên cứu cây chè trong và ngoài nước 13
2.1 Vật liệu, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 30
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
2.3.1 Thắ nghiệm 1: Nghiên cứu ựặc ựiểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng búp của các dòng chè chọn lọc 34 2.3.2 Thắ nghiệm 2: Nghiên cứu khả năng giâm cành của các dòng chè
3.1 đặc ựiểm hình thái của các dòng chè nghiên cứu 41 3.1.1 đặc ựiểm hình thái lá của các dòng chè chọn lọc 41 3.1.2 đặc ựiểm hình thái, kắch thước búp của các dòng chè chọn lọc 44 3.1.3 đặc ựiểm hình thái cấu tạo hoa của các dòng chè chọn lọc có triển vọng 46 3.2 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của các dòng chè chọn lọc 48 3.2.1 Khả năng sinh trưởng của các dòng chè chọn lọc 48 3.2.2 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng búp của các dòng chọn lọc 49 3.3 đánh giá mức ựộ nhiễm sâu bệnh hại của các dòng chè chọn loc 52 3.4 đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng chè
3.5 đánh giá về chất lượng của các dòng chè chọn lọc 57 3.6 Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số dòng chè chọn lọc 68 3.6.1 đánh giá năng suất và chất lượng của chè hom giống trong vụ
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
DANH MỤC BẢNG
1.1 Diện tắch, sản lượng, năng suất chè trên thế giới và Việt Nam 9 3.1 đặc ựiểm hình thái lá của các dòng chè chọn lọc có triển vọng 41 3.2 đặc ựiểm kắch thước, hình thái lá các dòng chè nghiên cứu 43 3.3 đặc ựiểm hình thái, kắch thước búp của các dòng chè 45
3.5 Khả năng sinh trưởng thân cành của các dòng chè chọn lọc (Tuổi 4) 48 3.6 động thái tăng trưởng chiều dài búp của các dòng chè nghiên cứu (Vụ
3.7 Một số loài sâu bệnh gây hại chắnh trên các dòng chè nghiên cứu 52 3.8 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các dòng chè (Tuổi 4) 55 3.9 Thành phần cơ giới búp chè tôm 3 lá của các dòng chè nghiên cứu 57 3.10 Kết quả phân tắch sinh hóa búp của các dòng chè chọn lọc 58 3.11 đánh giá chất lượng chè xanh bằng phương pháp thử nếm cảm quan 62 3.12 đánh giá chất lượng chè ựen bằng phương pháp thử nếm cảm quan 66 3.13 đánh giá năng suất hom giống vụ đông Xuân của các dòng chè chọn
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC HÌNH
3.1 ðộng thái tăng trưởng chiều dài búp của các dòng chè nghiên cứu 51 3.2 Tỷ lệ ra mô sẹo của các dòng, giống chè trong nghiên cứu 72 3.3 Tỷ lệ ra rễ của các dòng, giống chè trong nghiên cứu 73
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ðẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cây chè (Camellia sinensis O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày có nhiệm
kì kinh tế dài, một lần trồng cho thu hoạch nhiều năm từ 20-30 năm, thậm chí 60-70 năm tùy theo ñiều kiện sinh thái và chăm sóc Theo Mai Phương (2015), cả nước hiện có trên 131 nghìn ha chè, trong ñó diện tích chè kinh doanh là 115 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở các tỉnh trung du miền núi, Tây Nguyên, ñặc biệt là vùng trung
du miền núi phía Bắc, Lâm ðồng Thời gian qua, sau khi nhà nước có hàng loạt chính sách ñể phát triển các loại cây trồng nâng cao ñời sống cho ñồng bào các dân tộc vùng trung du miền núi, Tây Nguyên thì cây chè ngày càng khẳng ñịnh ñược vị thế xứng ñáng của nó trong phát triển kinh tế vùng
Cây chè có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong ñiều kiện ñặc thù của vùng ñất dốc, ñem lại nguồn thu nhập quan trọng góp phần xoá ñói giảm nghèo và dần tiến tới làm giàu cho nhân dân trong vùng Phát triển cây chè tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao ñộng, góp phần ñiều hoà sự phân bố dân cư miền núi, ổn ñịnh ñịnh canh ñịnh cư cho ñồng bào các dân tộc ít người ðồng thời cây chè còn có vai trò to lớn trong việc che phủ ñất trống, ñồi núi trọc và bảo vệ môi trường sinh thái, một trong những vấn ñề ñang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội
Với những tiềm năng sẵn có, ña dạng và phong phú về nguồn giống, ñất ñai, khí hậu phù hợp và nhiều vùng chè có chất lượng cao như Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm ðồng) Trong những năm gần ñây cây chè Việt Nam ñã phát triển theo hướng tăng dần cả về diện tích và sản lượng, tuy vậy ngành chè của chúng ta cũng ñang phải ñối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Mặc dù ñứng thứ 5 thế giới về diện tích và sản lượng song giá trị xuất khẩu so với thị trường thế giới chưa cao chỉ bằng 70% giá bình quân của thế giới
Có nhiều nguyên nhân gây nên thực trạng ñó, một trong những nguyên nhân cơ bản là chúng ta chưa có ñủ giống tốt, ñặc biệt là giống có chất lượng cao phục vụ cho sản xuất Mặc dù hiện nay Việt Nam có bộ giống chè khá ña dạng và phong phú tuy
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
nhiên giống chè ựược trồng nhiều vẫn là giống Trung Du truyền thống chất lượng và năng suất thấp, các giống chè có chất lượng và năng suất cao mới chỉ chiếm khoảng 10% diện tắch Những năm gần ựây, chúng ta ựã nhập nhiều giống từ Trung Quốc, đài Loan và Nhật Bản vào Việt Nam Song những giống cho chất lượng cao, ựa phần là sinh trưởng yếu và sâu bệnh nhiều, không thể phát triển ựược Có một số giống nhập nội phát triển ựược như Kim Tuyên, Thuý Ngọc và Phúc Vân Tiên, nhưng những giống này chưa phải là các giống tốt nhất của nước nguyên sản
Chắnh vì những lý do trên mà nhiệm vụ trọng tâm của các nhà nghiên cứu về chè là chọn tạo giống mới có năng suất cao và chất lượng tốt để cải thiện chất lượng chè ở Việt Nam, nhằm ựa dạng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường chè thế giới ựòi hỏi phải tiến hành ựồng bộ các biện pháp từ chọn tạo giống ựến thâm canh, chế biến và thị trường ựể trong thời gian tới có thể chọn tạo ựược các giống chè với chất lượng cao nổi trội so với các giống chè cũ và làm phong phú hơn cho sản phẩm chè Việt Nam Trong những năm gần ựây, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phắa Bắc ựã tiến hành nhiều các phương pháp chọn tạo giống chè gồm: Chọn lọc cá thể; lai hữu tắnh; gây ựột biến và công nghệ nhân giống vô tắnh Trong ựó, phương pháp lai hữu tắnh và phương pháp gây ựột biến các giống chè ựược coi là mũi nhọn trong công tác chọn tạo giống chè hiện nay Xuất phát từ
thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện ựề tài: Ộđánh giá ựặc ựiểm nông sinh học của một số dòng chè chọn lọc có triển vọng tại Phú Hộ, Phú ThọỢ
2 Mục ựắch, yêu cầu của ựề tài
2.1 Mục ựắch của ựề tài
Nghiên cứu các ựặc ựiểm hình thái, khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng và khả năng giâm cành của các dòng chè chọn lọc có triển vọng ựể tìm ra dòng chè có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng giâm cành tốt, thắch hợp với ựiều kiện sinh thái tại vùng Trung du - Phú Thọ
2.2 Yêu cầu
- đánh giá ựược các ựặc ựiểm hình thái thực vật học, khả năng sinh trưởng phát triển và chống chịu sâu bệnh của các dòng chè chọn lọc
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
- đánh giá ựược năng suất và chất lượng của các dòng chè chọn lọc có triển vọng ở tuổi 4
- đánh giá khả năng nhân giống bằng phương pháp giâm cành của một số dòng chè có triển vọng
2.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ựề tài
2.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ thu thập ựược các thông tin cần thiết ựể làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chọn lọc các dòng, giống chè mới có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt
Kết quả của ựề tài sẽ có giá trị bổ sung tư liệu nghiên cứu về các dòng, giống chè, góp phần hoàn thiện quy trình các biện pháp nhân giống, cụ thể là giâm hom chè trước khi ựưa ra sản xuất
2.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu ựặc ựiểm nông sinh học, khả năng chống chịu, năng suất và chất lượng của một số dòng chè mới lai tạo trong ựiều kiện Phú Thọ sẽ xác ựịnh ựược dòng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, thắch hợp cho sản xuất chè chất lượng cao, góp phần ựa dạng hóa sản phẩm chè của Phú Thọ nói riêng và của Việt Nam nói chung
Các kết quả của ựề tài sẽ giúp cho người sản xuất nhân nhanh và trồng các giống chè mới, tạo ra những nương chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của ñề tài
Chè là loại cây giao phấn, nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ ñồng ñều của cây con rất thấp, có tới 95% cây con không giống cây mẹ về các ñặc ñiểm hình thái, các tính trạng về năng suất và chất lượng ðây là ñặc ñiểm có ý nghĩa lớn về tính ña dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi ñầu trong công tác chọn tạo giống, ñồng thời là ñiều chúng ta cần lưu ý trong sản xuất ñặc biệt là trong việc nhân giống Cây chè từ khi tuyển chọn ñến lúc tạo thành giống mới, ñưa ra sản xuất cần có thời gian dài và những ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển của cây chè là kết quả phản ánh tổng hợp giữa các ñặc ñiểm của giống với những ñiều kiện ngoại cảnh Chu kỳ phát triển của cây chè ñược chia làm hai chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ
Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả ñời sống cây chè, tính từ khi tế bào trứng thụ tinh bắt ñầu phân chia cho ñến khi cây chè già cỗi, chết
Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979), chu kỳ phát triển lớn của cây chè chia làm
5 giai ñoạn: giai ñoạn phôi thai, giai ñoạn cây con, giai ñoạn cây non, giai ñoạn chè lớn, giai ñoạn chè già cỗi Trong mỗi giai ñoạn, cây chè có những ñặc ñiểm sinh trưởng, phát triển và yêu cầu về ngoại cảnh, kỹ thuật tác ñộng khác nhau
Chu kỳ phát triển nhỏ (hàng năm) gồm 2 giai ñoạn sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng Trong giai ñoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triển hình thành búp, lá non và những ñợt búp chè mới; các mầm sinh thực phát triển hình thành nụ, hoa và quả Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởng sinh thực phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, ñiều kiện ngoại cảnh, trình ñộ quản lý chăm sóc Giai ñoạn sinh trưởng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào ñiều kiện khí hậu, thời tiết mỗi vùng Trong giai ñoạn tạm ngừng sinh trưởng các bộ phận trên mặt ñất không xuất hiện các lá non mới, song bộ rễ của cây chè lại sinh trưởng ñể tạo nên các rễ non mới Trong ñiều kiện ở Phú Hộ, cây chè thường bắt ñầu sinh trưởng từ tháng 2 ñến tháng 11 và tạm ngừng sinh trưởng từ tháng 12 ñến tháng 2 hàng năm
Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm là mục tiêu ñầu tiên của tất cả các
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
ngành sản xuất nói chung và ngành sản xuất chè nói riêng ðặc biệt, khi nhu cầu thị hiếu của con người ngày càng tăng cao thì chất lượng chè là chỉ tiêu ñặc biệt quan trọng ñể nâng cao giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường Hiện nay, ngành chè nước ta ñang gặp phải rất nhiều khó khăn: năng suất thấp hơn chè thế giới, chất lượng còn hạn chế dẫn ñến giá trị thấp, thiếu những sản phẩm chất lượng chủ ñạo ðể tạo nên chất lượng chè thành phẩm, yếu tố giống quyết ñịnh ñến 50%, còn yếu tố ñộ cao, chăm sóc quyết ñịnh 30%, yếu tố công nghệ chế biến, thiết bị chỉ chiếm 20% (Nguyễn Hữu Khải, 2005)
Trong những năm 2000 - 2005, nhằm khắc phục tình trạng thiếu giống chè chất lượng cao, ñược sự chỉ ñạo của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và PTNT, công tác chọn tạo giống chè ñược ñẩy mạnh, ñồng thời vừa chọn tạo giống chè trong nước, vừa tăng cường việc nhập nội giống từ nước ngoài Với mục tiêu nhanh chóng chọn tạo ra nhiều giống chè mới có năng suất và chất lượng cao ñể mở rộng diện tích, thay thế dần các giống chè cũ năng suất, chất lượng thấp ở Việt Nam Thông qua việc nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh trưởng của các dòng chè mới trong ñiều kiện vùng sinh thái khác nhau chúng ta sẽ ñánh giá ñược khả năng thích ứng cũng như khả năng chống chịu của các dòng chè, từ ñó lựa chọn ra các dòng chè có khả năng sinh trưởng tốt ñể ñưa vào sản xuất diện rộng, góp phần vào công tác chọn tạo ra giống chè mới có chất lượng cao
1.2 Nguồn gốc và phân loại
1.2.1 Nguồn gốc
Việc xác ñịnh nguồn gốc của cây chè còn tồn tại nhiều nhận ñịnh khác nhau dựa trên những cơ sở lịch sử hay khảo cổ học, thực vật học Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ñược nhiều người công nhận ñó là:
- Một số nhà khoa học Trung Quốc như Su-Chen-Pen, Jao-Dinh ñã giải thích sự phân bố của cây chè như sau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt ñầu hàng loạt con sông lớn chảy qua Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến ðiện, do ñó ñầu tiên cây chè ñược mọc từ Vân Nam sau ñó hạt ñược di chuyển theo các con sông ñến các nước khác và từ ñó lan ra cả vùng rộng lớn (Lê Tất Khương, 1997)
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
- Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979): cách ñây trên 4000 năm người Trung Quốc ñã biết dùng chè làm dược liệu, sau ñó dùng chè ñể uống
- Năm 1823, Robert Bruce lại cho rằng cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Assam - Ấn ðộ ( Nguyễn Ngọc Kính, 1979)
- Djemukhadze (1982) ñưa ra quan ñiểm: cây chè có nguồn gốc Việt Nam
Từ năm 1962 ñến năm 1976 ông ñã tiến hành ñiều tra cây chè mọc tại Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lào Cai, Tam ðảo ñã tiến hành phân tích thành phần sinh hoá cây chè từ sự biến ñổi sinh hoá của lá cây chè mọc hoang dại và các cây chè ñược trồng trọt, chăm sóc, Dejmukhatze thấy rằng những cây chè hoang dại chủ yếu tổng hợp catechin ñơn giản, cây chè tiến hoá tổng hợp catechin phức tạp Cây chè ở Việt Nam chủ yếu tổng hợp (-) epicathechin và (-) epigalocathechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechin), trong khi ñó chè ở Tứ Xuyên và Quý Châu, Trung Quốc chỉ chiếm 18 – 20% Từ ñó Ông cho rằng nguồn gốc cây chè chính là Việt Nam Hiện nay, phần ñông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè không cố ñịnh ở một vùng nào nhất ñịnh, mà trải dài từ Assam Ấn ðộ sang Miến ðiện, Vân Nam – Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan Từ ñó chia ra làm hai nhánh, một ñi xuống phía Nam và một ñi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam – Trung Quốc ðiều kiện khí hậu ở ñây rất lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm (Chu Xuân Ái, 1998; Nguyễn Ngọc Kính, 1979; Nguyễn Hữu La và ðỗ Văn Ngọc, 1988; Nguyễn Hữu La, 2011; Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Toàn, 1994; Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Niệm, 1998)
1.2.2 Phân loại chè
Phân loại cây chè có rất nhiều quan ñiểm chưa thống nhất có quan ñiểm cho rằng phân loại cây chè dựa vào các ñặc ñiểm dinh dưỡng tuy nhiên ñặc ñiểm này dễ thay ñổi bởi ñiều kiện môi trường Vì vậy, cũng có tác giả ñề xuất phân loại chè dựa vào ñặc ñiểm sinh thực do bộ phận sinh thực ổn ñịnh hơn, trong ñó hoa chè ñược xem là ñặc ñiểm phân loại chủ yếu, các chỉ tiêu ñược xem xét gồm: cuống hoa, ñài hoa, tràng hoa, nhị hoa, nhụy hoa và tua ñầu nhụy v.v…
Theo Cohen Stuart, C P (1916); Nguyễn Ngọc Kính (1979), trong hệ thống
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
phân loại thực vật cây chè ñược xếp như sau:
Ngành: Hạt kín (Angiospermae)
Lớp: Hai lá mầm (Dicotyledonae)
Bộ: Chè (Theales)
Họ: Chè (Theaceae)
Chi: Chè (Camellia) (Thea)
Loài: Camellia hoặc Thea sinensis
Cũng theo Cohen Stuart loài chè (Camellia sinensis) ñược chia ra 4 thứ
(Nguyễn Ngọc Kính, 1979), bao gồm:
- Thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var bohea)
- Thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var bacrophylla)
- Thứ chè Ấn ðộ (Camellia Sinensis var assamica)
- Thứ chè Shan (Camellia sinensis var shan)
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis var macrophylla): Cây thân bụi
hoặc gỗ nhỏ cao 5 - 7 m, phân cành trung bình, lá hơi tròn, có diện tích khoảng 30
cm2, có 8 - 9 ñôi gân lá, lá màu xanh nhạt, búp có khối lượng 0,5 - 0,6g
- Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var bohea): Cây bụi, phân
nhiều cành, lá nhỏ (10 - 15 cm), phiến lá dày, giòn, mầu xanh thẫm, 6 - 7 ñôi gân (không rõ), búp nhỏ, hoa nhiều, chịu rét tốt
- Chè Shan (Camellia Sinensis var shan): Cây thân gỗ cao 6 - 10 m, diện
tích lá lớn hơn 50cm2, lá hình thuyền, răng cưa sâu, có khoảng 10 ñôi gân lá, búp to nhiều tuyết, khối lượng búp khoảng 1 - 1,2 g
- Chè Ấn ðộ (Camellia Sinensis var assamica): Thân gỗ cao trên 10m,
phân cành thưa, lá hơi tròn, mặt lá gợn sóng gồ ghề, diện tích lá khoảng 40 cm2,
có 12 - 15 ñôi gân lá Búp lớn có khối lượng 0,9 - 1g, búp giòn, chống chịu rét kém và thích ñất tốt
Ngoài bốn thứ chè trên, Việt Nam còn có rất nhiều dạng chè trung gian giữa chè Trung Quốc lá to và chè Trung Quốc lá nhỏ, Trung Quốc lá to với chè Shan…Các giống chè lai ñã tỏ rõ ưu thế trong sản xuất vì chúng ñược tích hợp bởi
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
nhiều gen quý của cả bố lẫn mẹ và ngược lại ñã khắc phục ñược những nhược ñiểm vốn có của giống bố, mẹ
1.2.3 Sự phân bố của cây chè
ðiều kiện tự nhiên là yếu tố quan trọng quyết ñịnh sự phân bố của cây chè Các công trình nghiên cứu trước ñây ñã kết luận: vùng khí hậu Nhiệt ñới và Á nhiệt ñới ñều thích hợp cho sự phát triển của cây chè
Hiện nay cây chè phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn
ðộ, Srilanca, Indonexia và Việt Nam, ñây là những nước có ñiều kiện khí hậu nóng
ẩm Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, với hàng loạt các biện pháp
kỹ thuật mới ñược áp dụng, vì vậy hiện nay cây chè hầu như ñã ñược trồng khắp các châu lục trên thế giới từ 42 vĩ ñộ Bắc (Xochi – Liên Xô cũ) ñến 27 vĩ ñộ Nam (Autralia) (ðỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Kim Phong, 1977)
Cây chè trồng ở những ñộ cao khác nhau có sự khác biệt giữa các giống và khác biệt về chất lượng chè Những giống chè sinh trưởng tốt ở nơi có ñộ cao lớn so với mực nước biển, ñều có chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm tốt hơn những giống chè ñược trồng ở vùng thấp (Chu Xuân Ái, 1998; Lê Tất Khương, 1997)
Những vùng chè nổi tiếng như: Hoàng Su Phì, Vị Xuyên (Hà Giang), Tà Xùa (Sơn La), Suối Giàng (Yên Bái), Mộc Châu (Sơn La), Tủa Chùa (Lai Châu), Bằng Phúc (Bắc Kạn), Bảo Lộc (Lâm ðồng), Mẫu Sơn (Lạng Sơn) ñều nằm ở ñộ cao lớn hơn so với mực nước biển trên 500m, ñược trồng chủ yếu là các giống chè Shan và các giống chè thuộc biến chủng Trung Quốc lá nhỏ có chất lượng cao như: Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Thiết Quan Âm,…
Các tỉnh Trung du như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang nơi có ñộ cao so với mực nước biển dưới 500m, là nơi tập trung của các giống thuộc thứ chè Trung Quốc lá to, chè Assamica (Ấn ðộ) như: Giống Chè Trung Du, giống PH1, PH11, LDP1, LDP2, PH8, PH9 và các giống chè lai khác
1.3 Diện tích, sản lượng và cơ cấu giống chè những năm gần ñây
1.3.1 Diện tích và sản lượng chè thế giới và Việt Nam
Chè là ñồ uống phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, ñược sản xuất ở hơn 30
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
nước và có hơn 100 nước tiêu dùng chè với khối lượng lớn Trên thế giới hiện có khoảng 50 quốc gia sản xuất chè, trong ñó Châu Á có 18 nước, Châu Phi có 19 nước, Châu Mỹ có 11 nước, Châu ðại Dương có 2 nước Theo số liệu FAO (2015) diện tích, sản lượng, năng suất chè trên thế giới và ở Việt Nam từ 2010-2013 ñược thể hiện qua bảng:
Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng, năng suất chè trên thế giới và Việt Nam
Thế giới
Diện tích (ha) 3.149.608 3.412.539 3.517.383 3.521.230 Năng suất
(Tấn chè khô/ha) 1,46 1,40 1,43 1,51 Sản lượng
( Nghìn Tấn) 4.606,07 4.771,21 5.034,97 5.345,52
Việt
Nam
Diện tích (ha) 113.200,00 114.399,40 115.963,52 121.649,07 Năng suất
(Tấn chè khô/ha) 1,75 1,81 1,87 1,76 Sản lượng
( Nghìn Tấn) 198,47 206,60 216,90 214,30 Nguồn: FAOSTART
Qua bảng số liệu chúng tôi thấy rằng:
Về diện tích trồng chè trên thế giới hàng năm ñều ñược mở rộng cụ thể năm
2010 diện tích chè thế giới là 3.149.608 ha ñến năm 2011 diện tích là 3.412.539 ha như vậy chỉ sau 1 năm diện tích chè ñã mở rộng thêm 262.931 ha Năm 2012 tốc ñộ
mở rộng diện tích so với năm 2011 thấp hơn chỉ ñạt 104.849 ha và năm 2013 so với năm 2012 có tốc ñộ mở rộng sau 1 năm là thấp nhất và chỉ mở rộng ñược 3.827 ha
Về tổng sản lượng chè khô hàng năm ñều có sự tăng trưởng Năm 2010 tổng sản lượng ñạt 4.606,07 nghìn tấn ñến năm 2011 tổng sản lượng tăng thêm 165,14 nghìn tấn, năm 2012 tổng sản lượng tăng cao hơn so với năm trước và ñạt 263,76
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
nghìn tấn ñến năm 2013 với tổng sản lượng ñạt 5.345,52 nghìn tấn ñã ñạt tốc ñộ tăng sản lượng lớn nhất trong giai ñoạn từ năm 2010-2013 và tăng thêm 310,55 nghìn tấn so với năm 2012
Về năng năng suất chè khô chúng tôi thấy ít có sự biến ñộng
Ở Việt Nam diện tích trồng chè cũng ñang ngày càng ñược mở rộng hơn với tốc ñộ mở rộng cụ thể: năm 2011 mở rộng thêm 1.199,40 ha so với năm 2010 và năm 2012 mở rộng thêm 1.564,12 ha và năm 2013 có tốc ñộ mở rộng thêm về diện tích so với năm 2012 ñạt cao nhất với 5.685,55 ha
Về tổng sản lượng chè khô hàng năm cũng ñược tăng thêm từ năm 2010 ñến năm 2012 tương ứng từ 198,47 nghìn ha - 216,90 nghìn ha Còn năm 2013, tuy sản lượng chè ñạt cao hơn so với năm 2010 và 2012 nhưng lại thấp hơn năm 2012 là 2,6 nghìn tấn
Và tương tự như sản lượng, về năng suất chè khô hàng năm cũng tăng thêm 0,06 -0,12 tấn chè khô /ha qua các năm 2010-2012 Nhưng ñến năm 2013, thì năng suất chỉ cao hơn so với năm 2010 là 0,01 tấn chè khô/ha còn lại ñều thấp hơn so với năm 2011 và 2012 tương ứng là 0,05 tấn chè khô/ha và 0,11 tấn chè khô/ha
Xu hướng toàn cầu của ngành chè trong 4 năm (2010 – 2013) cho thấy sản lượng chè thế giới có sự tăng lên giữa các năm, ñiều này cho thấy xu hướng sử dụng chè trên thế giới ñang tăng dần hiện nay
Qua bảng thống kê trên cho thấy, trong 3 năm (từ năm 2010 ñến 2012) sản xuất chè cả nước tăng dần cả về diện tích, năng suất và sản lượng Riêng năm 2013 chỉ tăng nhẹ về diện tích còn năng suất và sản lượng chè cũng giảm nhẹ so với cùng
kì năm trước Mặc dù vậy, qua bảng trên cũng cho thấy rằng, năng suất chè của Việt Nam ñều cao hơn so với trung bình chung của thế giới, vì vậy có thể nhận ñịnh rằng giá chè Việt Nam không cao là do chất lượng chè còn chưa ñáp ứng ñược yêu cầu thị trường
1.3.2 Hiện trạng cơ cấu giống chè ở Việt Nam hiện nay
Với nhiệt ñộ trung bình hàng năm 18-250C, ñộ ẩm trung bình của không khí
>80%, lượng mưa trung bình hàng năm >1200mm Về ñất ñai, tầng canh tác
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
>50cm, ñộ PH từ 0,4 ñến 0,6, ñộ dốc bình quân <250 ðối chiếu với các vùng trồng chè hiện nay của nước ta thì hầu hết các vùng ñều có ñiều kiện ñất ñai, khí hậu thích hợp với phát triển cây chè
Ở Việt Nam cây chè ñang có mặt trên 4 vùng sinh thái lớn: Vùng Trung du miền núi phía Bắc, Duyên hải Miền Trung, ðồng bằng sông Hồng và Tây Nguyên Trong ñó có một số vùng thuộc vùng núi, cao nguyên phù hợp cho việc trồng chè với diện tích lớn mang lại giá trị kinh tế cao, ñiển hình như vùng Tây Nguyên, Lâm ðồng, vùng miền núi phía Bắc
Trong 34 tỉnh trồng chè, có 9 tỉnh ñược nhà nước xếp vào các tỉnh trọng ñiểm trồng chè về diện tích , sản lượng , chất lượng , khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ chế biến chè, ñó là các tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ và Lâm ðồng chiếm 81% diện tích chè của cả nước Trong 9 tỉnh trên thì có 8 tỉnh thuộc trung du miền núi Bắc Bộ (Chu Tất Thịnh, 2004)
Theo TS ðỗ Văn Ngọc, căn cứ vào hiện trạng, diện tích trồng giống chè mới ñược chọn lọc, có thể phân chia chè của Việt Nam thành một số nhóm giống chính với ñặc ñiểm chủ yếu sau ( Nguyễn Huân, 2015):
- Chiếm cơ cấu diện tích lớn nhất hiện nay là nhóm giống LDP2 (trên 2 vạn ha), LDP1 (trên 1,5 vạn ha), PH1 (1 vạn ha) Trong ñó, giống PH1 năng suất 15 - 25 tấn/ha/năm, hàm lượng tanin > 33%, chất hoà tan > 44%; các giống LDP1, LDP2 lai giữa hai giống chè có nguồn là biến chủng Cammelia sinensis Assamica và biến chủng Cammelia sinensis microphylla, năng suất búp 15 - 20 tấn/ha/năm, nguyên liệu có hàm lượng tanin cao > 30%, chất hoàn tan > 40% Ưu ñiểm của nhóm này năng suất cao, thích ứng khá rộng tại các vùng chè miền Bắc và miền Trung
- Nhóm các giống Kim Tuyên, Ngọc Thúy, PH10, PH8, PH9, PVT, nguồn
gốc chủ yếu thuộc biến chủng Cammelia sinensis microphylla hoặc lai giữa biến chủng Cammelia sinensis microphylla với biến chủng Cammelia sinensis var shan
(như PH8, PH9) Nhóm giống trên chiếm khoảng 20% tổng diện tích, năng suất trung bình 8 - 12 tấn/ha/năm
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
- Nhóm thứ ba là các giống mới, có năng suất rất cao, chất lượng nguyên liệu tốt dùng chế biến chè ñen như PH11, PH12, PH14, LD 97 và TB14, song mới chỉ chiếm khoảng 3% diện tích
Nhóm này là giống chè bản ñịa Việt Nam, chủ yếu có nguồn gốc từ biến
chủng Cammelia sinensis var shan, ñặc ñiểm là kích thước lớn, sinh trưởng mạnh,
năng suất cao, nguyên liệu chất lượng khá, thích ứng với vùng núi cao phía Bắc và cao nguyên Lâm ðồng, năng suất 15 - 20 tấn/ha/năm
Về cơ cấu giống chè, theo TS Nguyễn Hữu Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam cho rằng không dễ sản xuất toàn bộ chè chất lượng cao khi vùng chè không có
ñủ biên ñộ so với mực nước biển Vấn ñề là phải có lộ trình ñể chuyển ñổi từng bước, nhất là với nông dân, không thể sớm chặt bỏ chè cũ có năng suất, chất lượng thấp ñể trồng ngay chè giống mới Vì thế, cơ cấu sản phẩm chè Việt Nam vẫn phải sản xuất cả chè ñen và chè xanh (Nguyễn Huân, 2015)
Trong các giống chè hiện nay, thì giống Trung Du truyền thống vẫn chiếm diện tích lớn nhất với khoảng 49%, phân bố chủ yếu ở các tỉnh trung du và vùng núi thấp như Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái và các tỉnh khu 4 cũ, sau
ñó ñến giống chè Shan chiếm 22%, phân bố ở các vùng cao trên 500m so với mực nước biển như Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lâm ðồng Số còn lại là PH1
và các giống khác ñược trồng ở vùng thấp ñược tuyển chọn nhập nội như TRI777, Bát Tiên, Kim Tuyên, Vân Xương
Thực tế trồng chè cho thấy hai giống chè Trung du và chè Shan là hai nhóm giống chè chiếm tỷ trọng lớn nhất và ñại diện cho hai mức ñịa hình Tuy nhiên năng suất và chất lượng của hai giống chè này không cao Giống Trung du chủ yếu trồng bằng hạt lấy ngay từ nương chè ñể sản xuất ñại trà, không ñược chọn lọc từ giống ñầu dòng nên sinh trưởng không ñều, năng suất thấp, nguyên liệu không ñồng ñều, chất lượng kém hương Giống chè Shan chưa ñược tuyển chọn theo quy trình chuẩn, chất lượng chưa cao
Chính bởi vậy mà chất lượng chè ở Việt Nam ñã làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm chè Việt Nam trên thị trường thế giới ðây là vấn ñề bức xúc và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới giá thành chè xuất khẩu của nước ta thấp hơn
Trang 19Học viện Nơng nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nơng nghiệp Page 13
so với thế giới và thực tế được đưa ra là chúng ta cịn chậm trong việc nghiên cứu và triển khai kế hoạch chuyển dịch cơ cấu và nâng cao giá trị xuất khẩu ngành chè Với các giống chè truyền thống như chè Tà Sùa, chè Suối Giàng, chè Tân Cương và các giống đặc sản như chè đắng, chè dây diện tích các loại chè này cịn nhỏ lẻ, chưa quản lý được chất lượng, thương hiệu chưa được khẳng định, cịn bị lợi dụng dẫn đến làm giảm uy tín những loại chè này trên thị trường
Cĩ thể nĩi giống chè ảnh hưởng khơng nhỏ đến chất lượng chè xuất khẩu, hiện nay chúng ta vẫn chưa cĩ nhiều giống chè cĩ năng suất và chất lượng cao để tạo ra sản phẩm hàng hố cĩ chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu
Trong những gần đây, Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè đã cĩ nhiều cố gắng trong việc nhập nội thuần hố, chọn lọc cá thể, gây đột biến và lai tạo giống nhằm tạo ra một tập đồn giống tốt và phong phú, tuy nhiên cơng tác này diễn ra cịn chậm
1.4 Các nghiên cứu cây chè trong và ngồi nước
1.4.1 Nghiên cứu cây chè trên thế giới
1.4.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống chè
Thế giới coi cơng tác chọn tạo giống chè là nhiệm vụ quan trọng nhất để tạo
ra các sản phẩm mới, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Trong cơng tác chọn tạo giống cây trồng nĩi chung và cây chè nĩi riêng, người ta sử dụng nhiều phương pháp chọn tạo khác nhau, như chọn lọc cá thể trực tiếp trên nguồn vật liệu sẵn cĩ trong tự nhiên, nhập nội giống, lai hữu tính, gây đột biến, cơng nghệ sinh học trong đĩ phương pháp lai hữu tính và gây đột biến thực nghiệm được chú ý và đạt được nhiều thành cơng
Trong lai hữu tính để chọn tạo giống chè mới thì lựa chọn các cặp bố, mẹ cĩ tính trạng tốt để tiến hành lai tạo nhằm thu được con lai cĩ tính trạng vượt trội bố,
mẹ của chúng là vấn đề rất cần thiết và cấp thiết ðể tuyển chọn cặp bố, mẹ trong lai tạo địi hỏi phải cĩ sự đánh giá và phân tích kỹ về tiềm năng di truyền của chúng đối với các tính trạng khác nhau như: khả năng chống chịu sâu bệnh, tính thích ứng, chất lượng sản phẩm, năng suất, đặc trưng hình thái, (Nguyễn Văn Tồn và Trịnh Văn Loan, 1994; Nguyễn Văn Tồn và Nguyễn Thị Minh Phương, 2006)
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
Sở Nghiên cứu chè Tứ Xuyên Trung Quốc trong năm 1960 bắt ñầu nghiên cứu lai hoa thụ phấn nhân tạo, ñã bồi dục thành công hai giống chè Thuộc Vĩnh số 1 và số
2 ñã ñược công nhận là giống chè quốc gia Sở Nghiên cứu chè Hồ Nam, Trung Quốc
từ năm 1975 trở lại ñây, ñã tiến hành 525 tổ hợp lai tạo thụ phấn nhân tạo và thu ñược một số giống chè mới có triển vọng (Trịnh Khởi Khôn và Trang Tuyết Phong, 1997) Phương pháp lai hữu tính ñược Ấn ðộ rất quan tâm ñã chọn ra giống VTA
54 có năng suất và chất lượng khá Từ cặp lai TV1/19, 31, 14 tại Tocklai ñã chọn ra giống TS449 có năng suất cao, chất lượng khá có khả năng chịu hạn tốt Cũng bằng phương pháp lai hữu tính ñã chọn ra các giống TS450, TS462, TS463, TS464, TS491 và TS520 ñều là các giống sinh trưởng khoẻ có khả năng chịu hạn rất tốt (Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997)
Nhật Bản, lần ñầu tiên trong năm 1929 cũng ñã xây dựng thành công trong việc thụ phấn lai tạo nhân tạo giống chè Assam và giống Nhật Bản tạo nên cơ sở ổn ñịnh cho việc tuyển chọn bồi dục thành một loạt giống chè ñen (Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997)
Các giống chè mới ñược chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính chúng thường ñược kết hợp các ñặc tính tốt của cả bố, mẹ nhưng qua phân tích các ñặc trưng, ñặc tính quý ñó thường không vượt trội so với bố mẹ Vì thế, năng suất, chất lượng của các giống mới ñược tạo ra thường không có sự ñột phá trong sản xuất ðể tạo các giống chè có các ñặc trưng, ñặc tính vượt trội, cần thiết tiến hành lai tích luỹ với bố, mẹ từ ñó chọn ra các giống mới ñột phá về năng suất, chất lượng phục vụ sản xuất chè
Tại Srilanka, công tác chọn giống chú trọng nhiều ñến khâu chọn dòng, kết hợp chọn dòng có sản lượng cao, có khả năng chống hạn và chống chịu với sâu bệnh Trong những năm 1940, Srilanka ñã chọn ra một loạt các dòng chè TRI2020, trong ñó có các giống nổi tiếng như TRI777, TRI2043 Trong những năm 1960 trở lại ñây, Srilanca ñã chọn ra các dòng chè triển vọng như TRI14, DT, DN, DP và DV (ðỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000) Hiện nay, tại Srilanka, diện tích trồng chè bằng các giống chè ñược nhân giống vô tính ñạt trên 40% diện tích trồng chè trong
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
cả nước
Bằng phương pháp gây ựột biến thực nghiệm Viện nghiên cứu chè và cây trồng Á nhiệt ựới Anaceuli (Gruzia) ựã tạo ựược tập ựoàn ựột biến cây trồng Á nhiệt ựới phong phú bao gồm 562 dòng chè, 218 dòng cam quýt, 23 dòng trẩu và 12 dòng nguyệt quế đối với giống chè, các ựột biến làm tăng thành phần sinh hoá thể hiện rất rõ nét (từ 0,2 Ờ 4,8%) Trong các dòng chè ựột biến, tác giả J.G Kerkadze (1986) ựã chia ra thành 3 nhóm: nhóm có hương thơm ựặc trưng hơn hẳn ựối chứng gồm các dòng số 872, 1507, 2023, 2840, 2094, 3274, 3858 và dòng 582; nhóm có hương thơm nổi trội ở chè thành phẩm gồm các dòng số 2095, 3852, 4805, 3755,
2053, và dòng 510; nhóm có hương chè ựen phảng phất hương hoa hồng gồm các dòng số 855, 3823, 3846
Takyu Toshio et al (2003) ựã chiếu xạ tia gamma ở liều lượng 2Kr trong 20 giờ
trên chè và họ ựã thu ựược hai cây chè không có lông tuyết trên lá non Giống chè không
có lông tuyết trên bề mặt lá non có khả năng kháng bệnh tốt (do lông tuyết ở lá chè non
là con ựường xâm nhập chủ yếu của các bào tử nấm), chất lượng cao
Qua 100 năm, Ngành chè thế giới ựã tổng kết: Công tác chọn tạo giống chè mới ựược ựẩy mạnh, cây chè từ lúc tuyển chọn ựến lúc tạo thành giống mới, ựưa ra sản xuất cần thời gian dài Theo thống kê ựến năm 1990 của 11 nước và khu vực trồng chè trên thế giới có số lượng giống chè mới tạo ra là 446 giống, trong ựó có
387 giống vô tắnh chiếm 77%, giống lưỡng hệ, ựa hệ vô tắnh 22 giống chiếm tỷ trọng 4,93%, giống hữu tắnh chọn lọc 37 giống chiếm tỷ trọng 8,3% Tỷ trọng phổ cập giống chè tốt trong sản xuất cao nhất ở Trung Quốc và đài Loan trên 90%, tỷ lệ phổ cập giống mới ở Ấn độ và Kênia cũng ựạt tới 80% (Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997)
để chọn lọc các giống chè mới, các nước trồng chè trên thế giới cũng áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây ựầu dòng, lai hữu tắnh, nhập nội giống, gây ựột biến, công nghệ sinh học, trong ựó phương pháp lai hữu tắnh và gây ựột biến ngày càng ựược chú ý và có nhiều thành công
1.4.1.2 Nghiên cứu ựặc ựiểm sinh trưởng của cây chè
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
Các ñặc ñiểm hình thái của cây chè (thân, lá, búp), ñặc tính sinh trưởng của cây chè, thời gian sinh trưởng (bắt ñầu, kết thúc sinh trưởng búp …), số ñợt sinh trưởng búp/năm… có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất và chất lượng chè nguyên liệu Do vậy nghiên cứu ñặc tính sinh vật học cây chè nhằm tuyển chọn giống chè tốt luôn ñược các nhà chọn giống trên thế giới quan tâm
Theo Бахтадзе (Bakhơtadze) (1948), nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năng suất ñã ñề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: màu sắc, kích thước
lá, cấu tạo giải phẫu lá
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa màu sắc lá với chất lượng chè tác giả kết luận: Dạng lá chè có màu vàng là ñặc trưng và tương quan có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá, nó phân biệt với lá có màu sắc khác ở chỗ có sự khác nhau của hàm lượng Chlorophyll, Tanin và một số chỉ tiêu khác Dạng lá có màu cà phê sáng ñặc trưng
có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý
Góc lá tối ưu cho quang hợp của cây chè là 450, lá chè màu vàng là ñặc trưng
có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá búp chè Nghiên cứu tương quan giữa số búp/tán và năng suất búp của nương chè tác giả ñưa ra kết luận: tương quan giữa số lượng búp
và năng suất chè là 0,956 ± 0,064
Nghiên cứu của Hadfiel (1968) về chỉ số diện tích lá của các giống chè ñã kết luận: Chỉ số diện tích lá của những giống chè thông thường từ 3 - 4 và của những giống chè có thế lá ñứng là 5- 7 Giống chè Trung Quốc chỉ số diện tích lá cao hơn,
có khả năng trồng và phát triển tốt trong ñiều kiện ánh sáng ñầy ñủ và cho năng suất cao hơn kiểu giống Assam
Nghiên cứu thời gian hoàn thành một ñợt sinh trưởng búp, các tác giả Tanton (1982); Carr (1992) ñưa ra giá trị trung bình là 47,5 ngày tuy nhiên số ngày cho 1 ñợt sinh trưởng biến ñộng từ 30 – 42 ngày vào mùa hè và 70 – 160 ngày vào mùa ñông Mỗi giai ñoạn cây chè sinh trưởng khác nhau vì vậy sự hình thành và phát triển của búp chè cũng như các lứa búp chè cũng khác nhau
Mật ñộ búp và khối lượng búp là nhân tố quan trọng tạo nên sản lượng chè Tác giả Tanton (1981,1982); Tanton Kumar Mondal (2004) cũng chỉ ra nhân tố
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
quan trọng nhất là mật ựộ búp ựóng góp tới 89%, còn khối lượng búp tương tự chỉ ựóng góp 11% năng suất, sản lượng chè
Sự sinh trưởng của búp chè trong ựiều kiện có ựốn thì sự phân hoá của mầm chè chủ yếu ựược hình thành trong vụ Xuân và thời gian hình thành búp muộn hơn một số ngày so với nương chè không ựốn hái
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa lá chè, thế lá và bộ rễ và khả năng chống chịu của các giống chè, Hadfiel (1968) chỉ ra rằng: Những giống chè Trung Quốc lá nhỏ, có thế lá ựứng, với bộ rễ phân bố sâu dưới mặt ựất có khả năng chống hạn tốt hơn những giống chè khác
đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000) cho biết khi nghiên cứu ựặc ựiểm sinh trưởng của bộ rễ chè các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: Sinh trưởng của bộ rễ
và bộ lá chè có tương quan chặt với nhau, hỗ trợ cho nhau về mùa đông, khi chè ngừng sinh trưởng rễ chè bắt ựầu phát triển, mùa Xuân khi búp chè sinh trưởng mạnh, bộ rễ phát triển chậm lại và tiếp tục như vậy khi bộ rễ phát triển chậm lá chè, búp sẽ sinh trưởng nhanh và ngược lại
1.4.1.3 Nghiên cứu về nhân giống vô tắnh chè
Cũng như nghiên cứu về nhân giống vô tắnh cây trồng nói chung, nghiên cứu các biện pháp nhân giống vô tắnh ựối với cây chè ựã ựược rất nhiều tác giả quan tâm, các biện pháp nhân giống ựã ựược nghiên cứu như giâm cành, chiết, ghép, nuôi cấy mô
1- Phương pháp nuôi cấy mô (invitro)
Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật invitro ựược Pháp triển mạnh và hoàn thiện từ những năm 60 của thế kỷ XX, sau khi ựã có môi trường nuôi cấy chuẩn, ựặc biệt là sử dụng các chất kắch thắch sinh trưởng thực vật vào môi trường nuôi cấy, sử dụng các tế bào trần ựể nuôi cấy huyền phùẦ Ngày nay người ta có thể nuôi cấy tế bào thực vật của bất kỳ loại cây nào và nhân bản vô tắnh cây invitro ựể
vi nhân giống và tạo ra giống mới (Nguyễn Ngọc Hải, 1997; LI Xinghui Tianmou Huang Qiwei, 2005)
Áp dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào các nhà khoa học Nhật Bản ựã tạo
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
ra ựược cây chè con Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng vào sản xuất ựại trà
vì giá thành cây con cao do tỷ lệ chết khi chuyển cây con từ ống nghiệm ra vườn ươm rất cao
áp dụng
Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của cây chè ghép, Nyirenda (1990) cho thấy năng suất của một số dòng chè ghép có thể ựược tăng lên bằng cách ghép lên các giống khỏe mạnh
3- Phương pháp giâm cành
Phương pháp giâm cành là một tiến bộ trong sản xuất giống chè Giâm cành ựược tiến hành nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1900, ở Ấn độ năm 1911, Gruzia năm 1928, Srilanka năm 1938 ựến nay ựược phổ biến rộng rãi trên thế giới
Ở Nhật Bản giống Yabukita trồng bằng cành giâm chiếm 55,4% diện tắch, Bangladesh trồng chè giâm cành từ những năm 1970; Indonexia bắt ựầu phổ biến
từ năm 1988 (Nguyễn Văn Toàn và cs., 1998)
Nghiên cứu môi trường cắm hom các nhà khoa học Liên Xô (cũ), Ấn độ, Srilanca, đông Phi ựều cho rằng: cắm hom vào túi PE không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom chè Việc giâm cành vào túi PE giá thành lại cao do tăng chi phắ mua túi bầu và công ựóng bầu, nên ựể giảm giá thành sản xuất cây con giống mà vẫn ựảm bảo cây giống tốt các nhà khoa học Nhật Bản, Trung Quốc ựã nghiên cứu giâm cành trực tiếp trên nền ựất hoặc giá thể dinh dưỡng
để giâm hom chè ựạt kết quả tốt cần thực hiện ựầy ựủ các yếu tố kỹ thuật Theo Hartmen và Kester (1988) cho biết có 3 yếu tố chắnh ảnh hưởng tới kết quả giâm hom: Giống, kỹ thuật xử lý hom và môi trường giâm
Trang 25Học viện Nơng nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nơng nghiệp Page 19
Theo Anon (1986) nghiên cứu ở Kenya cho biết để cĩ hom giống tốt cần phải chăm sĩc vườn cây mẹ chu đáo như chế độ bĩn phân đặc biệt, đốn nhiều lần trong năm Hom giống tốt cĩ chiều dài 3 – 4 cm, nếu ngắn hơn 3 cm phải bỏ bớt 1
lá để đảm bảo độ dài của hom
Theo nghiên cứu mơi trường pH giâm hom giống chè Ấn ðộ của
Chakravartee et al (1996), cho biết độ pH dưới 5 thì hom ra rễ tốt nhất, tác giả cũng
kết luận túi bầu cĩ kích thước đường kính 8 cm và chiều cao 28 cm, luống khơng rộng hơn 1,5 m cho kết quả tốt
Tác giả Patarava (1987) nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến vườn chè giâm hom cho thấy: Nhiệt độ dưới 50C hoặc trên 450C thì hom chè bị chết; nhiệt độ dưới 150C và trên 350C thì hom chè sinh trưởng chậm; nhiệt độ thích hợp cho hom chè sinh trưởng và phát triển tốt là từ 25 – 300C
1.4.2 Nghiên cứu về cây chè ở Việt Nam
1.4.2.1 Nghiên cứu về giống chè
a Hiện trạng tập đồn giống chè của Việt Nam
Việt Nam được coi là vùng nguyên sản của cây chè và cũng là cây trồng
được người Việt đưa vào trồng trọt từ xa xưa Cơng tác nghiên cứu, thu thập giống chè ở nước ta được tiến hành từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau và đã đạt được những thành tựu nhất định
Cho đến nay tại Viện Khoa học kỹ thuật Nơng lâm nghiệp miền núi phía Bắc,
đã lưu giữ tập đồn gồm 193 giống chè cĩ nguồn gốc từ trong nước và nhập nội từ nước ngồi Trong đĩ, phân theo nguồn gốc cĩ: 76 giống địa phương và chọn tạo tại Việt Nam (chiếm 39,38%); 117 giống nhập nội (chiếm 60,62%) Phân theo hình thái
cĩ: thứ Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea): 71 giống, thứ Trung Quốc
lá to (Camellia sinensis var Macrophylla): 42 giống, thứ chè Ấn ðộ (Camellia sinensis var Assamica): 38 giống, chè Shan (Camellia sinensis var Shan): 42 giống
So với trước năm 2000, tập đồn giống chè được thu thập bảo quản để khai thác tăng thêm 71 giống (tăng 58,2% so với tổng số giống bảo quản) Các giống chè này đang là nguồn vật liệu quan trọng phục vụ cho cơng tác chọn tạo giống chè mới
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
chất lượng cao ở Việt Nam (Nguyễn Hữu La và đỗ Văn Ngọc, 2002)
b Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống chè ở Việt Nam
Có nhiều phương pháp khác nhau ựể tạo ra giống chè mới ựược áp dụng từ trước tới nay như:
+ Phương pháp nhập nội giống
+ Phương pháp chọn lọc cá thể
+ Chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tắnh
+ Chọn tạo giống bằng phương pháp ựột biến
+ Chọn tạo giống bằng phương pháp công nghệ sinh học
Mỗi một phương pháp ở từng giai ựoạn có các thành tựu nghiên cứu xác ựịnh:
1 - Phương pháp nhập nội giống
Công tác thu thập nguồn quỹ gen giống chè cũng ựược ựẩy mạnh, bổ sung mới 41 giống chè ựưa tổng số giống trong tập ựoàn là 193 giống chè Giai ựoạn năm 2000- 2005 công tác ựiều tra thu thập các giống ựịa phương và nhập nội giống ựược ựẩy mạnh, nhằm tìm ra những nguồn gen quý trong nước, nhập nội giống nhằm cải thiện chất lượng chè Việt Nam đến năm 2003, Hội ựồng khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT ựã công nhận tạm thời 7 giống nhập nội, ựó là các giống Hùng đỉnh Bạch, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tắch, Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Bát Tiên và PT95 (đỗ Văn Ngọc và cs., 2009), trong 7 giống trên ựến nay có 3 giống ựã ựược công nhận chắnh thức, ựó là: Kim Tuyên, Thuý Ngọc và Phúc Vân Tiên, 4 giống còn lại sinh trưởng yếu và sâu bệnh phát triển nhiều Mặt khác, trong ựiều kiện vùng thấp chúng chỉ cho chất lượng tốt vào vụ đông Xuân, còn
vụ Hè Thu thì chúng chưa thể hiện ưu thế nhiều so với các giống chè Việt Nam (đỗ Văn Ngọc và cs, 2005).
Giai ựoạn 2006 - 2010, thông qua dự án ỘPhát triển giống chè chất lượng cao giai ựoạn 2006 - 2010Ợ, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè ựã nhập một số giống chè từ Ấn độ và Trung Quốc, có một số cá thể có ựặc ựiểm hình thái khác lạ so với những giống ựã ựược mô tả trong hồ sơ nhận giống trong ựó có dòng chè số 1 Qua quá trình nghiên cứu ựánh giá dòng chè số 1 thấy có một số ựặc ựiểm
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
quý về chất lượng Năm 2004, Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc ñã tiến hành trồng khảo nghiệm so sánh giống tại gò Cọc Rào- Trung tâm nghiên cứu
và Phát triển chè Năm 2009, Dòng chè số 1 ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống sản xuất thử, ñược ñặt tên là PH10 (ðỗ Văn Ngọc và cs., 2014) và ñược công nhận giống Quốc gia năm 2014
Năm 2007, Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc nhập nội 6 giống trong ñó có 3 giống có nguồn gốc Trung Quốc: VN1, VN2, VN3; 3 giống có nguồn gốc Ấn ðộ: TB1, TB2, TB3.Qua quá trình khảo nghiệm dòng TB1 có nhiều ñắc ñiểm vượt trội về năng suất và chất lượng ñạt loại khá thích hợp cho chế biến chè ñen Năm 2009, TB1 ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống sản xuất thử và ñược ñặt tên là PH11 Hiện nay, giống PH11 ñã và ñang mở rộng diện tích, ñược trồng ở Phú Thọ với diện tích trên 124,5ha (ðỗ Văn Ngọc và cs., 2013) Tháng 5/2013, PH11 ñã ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống Quốc Gia
2- Chọn tạo giống bằng phương pháp chọn lọc cá thể
Bằng phương pháp chọn lọc cá thể Viện nghiên cứu chè Phú Hộ ñã chọn
ñược PH1 thuộc biến chủng Assamica có năng suất cao thích hợp cho chế biến chè ñen (Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Niệm, 1998) PH1 ñược công nhận giống năm
1987 Hiện nay giống chè PH1, vẫn là giống cho năng suất cao và là nguyên liệu cho chế biến chè ñen
ðể có giống chè chọn lọc nguồn gốc ñịa phương, năm 1970- 1976 ñã chọn ra cây chè TH3, thuộc thứ chè Trung Quốc lá to nguồn gốc Lạng Sơn, năm 1978 ñược giâm cành và trồng giám ñịnh giống TH3 là giống có năng suất cao chịu thâm canh (Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Toàn, 1994)
Năm 2010, Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc ñã chọn lọc từ
13 cây chè Shan ñầu dòng bằng phương pháp chọn lọc cá thể chọn ra ñược 2 giống PH12 và PH14 có năng suất cao, chất lượng tốt và ñã ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống sản xuất thử năm 2010
3- Chọn giống bằng phương pháp lai hữu tính
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
Năm 1980, Viện Nghiên cứu Chè ñã tiến hành 7 tổ hợp lai mà bố mẹ ñã ñược xác ñịnh, sau khi gieo hạt và tuyển chọn ñược 35 cá thể có nhiều triển vọng Năm
1988 ñã chọn lọc ñược 4 cá thể nổi bật ñó là LDP1, LDP2, CDP và CLT Sau 10 năm giám ñịnh, so sánh giống ñã thu ñược kết quả tốt Hai dòng LDP1, LDP2 là dòng lai sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chất lượng tốt ñược Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống tạm thời, năm 1994 cho phép mở rộng ra sản xuất, giống LDP1 ñã ñược công nhận là giống quốc gia năm 2003, giống LDP2 ñược công nhận
2006 Hai dòng lai LDP1, LDP2 ñược chọn từ tổ hợp lai giữa giống ðại Bạch Trà (mẹ) x PH1 (bố) (ðỗ Văn Ngọc và cs., 1994; ðỗ Văn Ngọc và cs., 2009)
Năm 1994, Viện nghiên cứu chè ñã thu hạt của giống PH1 gieo trồng và tiến hành chọn lựa, năm 1995 ñã chọn ñược một số cá thể ñưa vào giám ñịnh, năm 1996 ñã chọn ñược 2 dòng 276 và 215 có nhiều ưu ñiểm cả về năng suất và chất lượng, ñã ñược Hội ñồng khoa học của Viện nghiên cứu Chè cho phép bố trí thí nghiệm giám ñịnh chính quy (Trần Thị Lư và Nguyễn Văn Niệm, 1998; Nguyễn Thị Minh Phương, 2007)
Trong những năm gần ñây, cũng bằng phương pháp lai tạo, từ tổ hợp con lai giữa giống Kim Tuyên và giống TRI777, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc ñã tạo ra ñược 2 giống chè PH8
và PH9 (ñược công nhận giống tạm thời năm 2009) Hiện nay, hai giống này ñược ñánh giá là có năng suất cao, chế biến chè xanh và chè ñen có chất lượng tốt
Ngoài các giống chè ñã ñược công nhận, hiện nay Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chè ñã tiến hành lai tạo và chọn lọc ra các dòng chè số 12, 13, 14, 15, 17,
19, 20, 25 có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao chất lượng tốt thích hợp với chế biến chè xanh ñặc biệt là dòng số 14 có khả năng chế biến chè xanh chất lượng cao Phương pháp lai hữu tính các giống chè ñang ñược Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc rất quan tâm và ñưa ra khảo nghiệm so sánh giống, khảo nghiệm trên diện rộng, khảo nghiệm trong sản xuất tại các vùng sinh thái ñối với các dòng chè có triển vọng ñể công nhận giống sản xuất thử và giống chè mới
4- Chọn giống bằng phương pháp gây ñột biến
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1998), bằng phương pháp gây ñột biến có thể
làm thay ñổi ñược một hay nhiều tính trạng của cây chè mà ñôi khi những tính trạng
ñó không thể ñạt ñược bằng con ñường lai tạo Tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc ñã sử dụng tác nhân hoá học bằng colchicine xử lý trên mầm cây chè 2 tuổi với nồng ñộ từ 0,1 ñến 0,8%, thời gian xử lý từ 24 ñến 72 giờ và ñã thu ñược một số biến dị Cũng tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc ñã xử lý ñột biến bằng bức xạ gamma (nguồn Co60) trên hạt ñang nảy mầm và thu ñược kết quả là ở liều lượng 3 Kr gây chết 100%
ðinh Thị Phòng và cs (2005) ñã phân tích mức ñộ thay ñổi phân tử của một
số dòng chè ñột biến, kết quả cho thấy hệ số tương ñồng di truyền giữa các giống, dòng chè ñột biến có sự gần nhau, khác xa nhau hay có sự tương ñồng giữa một số dòng với nhau và hoàn toàn tuân theo thuyết tương ñồng di truyền của Vavilov, các tác giả ñã nhận ñịnh các ñột biến nếu ñã phát sinh ở giống này thì cũng sẽ phát sinh
ở giống khác và có thể là cơ sở ñể chúng ta tìm kiếm những biến dị cảm ứng làm vật liệu khởi ñầu phục vụ cho công tác chọn tạo giống chè mới
Lê Mệnh và Nguyễn Văn Tạo (2006) ñã tuyển chọn ở thế hệ M1 từ quần thể biến dị cảm ứng bằng bức xạ gamma Co60 trên hạt giống TRI777 và PH1 và ñã xác ñịnh ñược 12 cá thể có triển vọng về năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh và chịu hạn, ñã nhân giống và phát triển thành dòng Trong ñó có 5 dòng nổi trội nhất, ñó là: dòng P2.0 (xử lý trên hạt giống PH1) có khả năng chống chịu tốt với rầy xanh và bọ xít muỗi hơn hẳn ñối chứng; dòng 3.5.1 (xử lý trên hạt giống TRI777) có hương ñặc trưng hơn hẳn giống TRI 777; dòng 4.0 (xử lý trên hạt giống TRI777) có vị ñậm dịu, ñặc biệt là hương thơm hơn hẳn giống TRI777, dòng P5.2 (xử lý trên hạt giống PH1), nhiễm nhẹ ñối với rầy xanh hơn ñối chứng; dòng 5.0 (xử
lý trên hạt giống TRI777) Các kết quả phân tích năm 2006, 2007 so với giống TRI777 cho thấy dòng chè này có hàm lượng tanin thấp hơn 9%, chất thơm cao hơn 2,7% (có lợi cho chế biến chè xanh) và năng suất cao hơn 80% Qua ñánh giá khảo nghiệm ñã tuyển chọn ñược 3 dòng chè TRI7775.0, TRI7774.0, TRI7773.5.2 có năng suất cao hơn ñối chứng từ 74- 122%, có chất lượng chè xanh tốt, có khả năng chống
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
chịu với sâu bệnh tốt, thích ứng với các vùng sinh thái rộng, ñây là các dòng chè quý sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn quỹ gen các giống chè tại Việt Nam Nguyễn Văn Toàn và cs (2011) ñã công bố kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của bức xạ gamma lên hạt chè giống PH1 và TRI777 như sau:
Các liều lượng tia phóng xạ gamma Co60 lên hạt chè giống ñã ảnh hưởng lớn tới tỷ lệ mọc của các giống Liều lượng xử lý càng cao thì tỷ lệ mọc của các cây chè giống càng thấp Liều lượng gây chết một nửa của giống TRI777 là dưới 5.0 kr, giống PH1 là trên 4.5 và dưới 5.0 kr
Dưới tác ñộng của tác nhân vật lý bức xạ gamma Co60 xuất hiện một số biến dạng ñiển hình như hiện tượng ña phôi tăng lên, tỷ lệ khảm tăng, biến dạng về hình dạng lá và ñộ gồ ghề ở phiến lá
Qua khảo nghiệm so sánh giống ñã chọn ra dòng TRI7774.0 và TRI7775.0 có năng suất cao tuổi 11 ñạt 10,79 – 11,30 tấn/ha cao gấp 2 lần so với ñối chứng TRI777 ñạt 5,34 tấn /ha, có chất lượng chè xanh tốt, ñiểm ñánh giá cảm quan ñạt 16,74 – 17,04 ñiểm tương ñương với ñối chứng, ñây là dòng chè có nhiều triển vọng
1.4.2.2 Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh trưởng của cây chè Việt Nam
Nghiên cứu về ñợt sinh trưởng của chè, tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) cho
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
thấy: trong năm chè ñể sinh trưởng tự nhiên có 3 - 5 ñợt sinh trưởng, khi ñốn hái thì
có 6 - 7 ñợt sinh trưởng, ñiều kiện thâm canh cao có thể có từ 8 - 9 ñợt sinh trưởng Nghiên cứu số ñợt sinh trưởng của các giống chè trong ñiều kiện có ñốn hái
và ñiều kiện tự nhiên, Lê Tất Khương và Hoàng Văn Chung (1999) cho rằng: Tuỳ ñiều kiện tự nhiên mà các giống chè sinh trưởng khác nhau, nhưng giữa các giống ít
có sự sai khác về số ñợt sinh trưởng, số ñợt sinh trưởng tự nhiên của các giống biến ñộng từ 3,4-3,6 ñợt/năm Tuy nhiên, trong ñiều kiện có ñốn, hái ở các giống có sự sai khác ñáng kể về số ñợt sinh trưởng, biến ñộng từ 5,5- 6,2 ñợt/năm tuỳ thuộc vào ñiều kiện và phương thức thu hái
Thời gian sinh trưởng 1 ñợt búp trên giống chè Trung Du tại Phú Hộ dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, vụ Xuân búp chè có thời gian sinh trưởng dài nhất và ngắn nhất là vụ Hè
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh trưởng búp chè với sản lượng chè theo tác giả Nguyễn Văn Toàn và cs (1994): sản lượng búp chè do 2 yếu tố số lượng búp trên cây và khối lượng búp quyết ñịnh, trong ñó số lượng búp/cây có tương quan chặt hơn ñối với sản lượng, ñây là yếu tố rất nhạy cảm có thể thay ñổi theo những ñiều kiện canh tác và các biện pháp kỹ thuật
Cây chè sau khi trồng tuỳ ñiều kiện sinh trưởng mà có khả năng ra hoa ñậu quả khác nhau Nếu cây trồng bằng hạt thường sau 2 năm sẽ có hoa và quả lần thứ nhất, cây trồng bằng cành giâm sẽ cho quả sớm hơn
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ñặc ñiểm hình thái, ñiều kiện ngoại cảnh với năng suất chè, Chu Xuân Ái (1988) cho rằng: Năng suất chè có mối tương quan thuận chặt với mật ñộ búp (r = 0,8564) và diện tích lá (r = 0,7752), những giống có mật ñộ búp cao, diện tích lá lớn cho năng suất cao Giống có chiều rộng lá (r = 0,7542) lớn có năng suất cao hơn là có chiều dài lá lớn
Nghiên cứu kích thước lá của các giống chè khác nhau, Nguyễn Văn Toàn và Trịnh Văn Loan (1994) cho rằng: Các giống chè khác nhau có kích thước lá khác nhau, do vậy các giống khác nhau cũng có khả năng cho năng suất khác nhau Tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) cho rằng: lá chè mọc trên cành chè của
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
các giống khác nhau có thế lá khác nhau, thế lá úp, thế lá nghiêng, thế lá rủ và thế lá ngang Thế lá ngang và thế lá rủ là ựặc trưng của giống chè có năng suất cao
Theo đỗ Ngọc Quỹ (1980) phân loại lá chè như sau:
Dạng phiến lá căn cứ theo tỷ lệ dài lá/ rộng lá (d/r)
Nghiên cứu kắch thước lá của các giống chè khác nhau, Nguyễn Văn Toàn và Trịnh Văn Loan (1994); Lê Tất Khương (2006) ựều cho rằng: Các giống chè khác nhau có kắch thước lá khác nhau, do vậy các giống khác nhau cũng có khả năng cho năng suất khác nhau Nghiên cứu quan hệ giữa hệ số diện tắch lá với khả năng cho năng suất của các giống chè, các tác giả đỗ Văn Ngọc (2006) cho rằng: Hệ số diện tắch lá có tương quan thuận với tổng số búp chè (R = 0,69) thông qua ựó mà có tương quan thuận với năng suất búp chè
Theo Nguyễn Văn Niệm và cs (1988); Nguyễn Văn Niệm và Lê Sĩ Thức (1994) cho rằng ựặc ựiểm phân cành của cây chè là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cho năng suất của giống Những giống chè có ựộ cao phân cành thấp, số cành cấp 1 nhiều, cành lớn sẽ có bộ khung tán to, khoẻ, có khả năng cho năng suất cao Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của các dạng ựốn ựến sự phân bố của bộ rễ tác giả đỗ Văn Ngọc (1991) ựã kết luận: Khối lượng bộ rễ tập trung phân bố chủ yếu ở tầng 0-40cm (chiếm 80% khối lượng bộ rễ)
Nghiên cứu về quan hệ giữa bộ rễ và tán cây chè Nguyễn đình Vinh (2002) cho rằng: Vào cuối tháng 3 ựầu tháng 4 rễ bắt ựầu sinh trưởng, và chỉ sau khi hình thành nên một ựợt sinh trưởng rễ nhất ựịnh, thì bộ phận trên mặt ựất mới bắt ựầu sinh trưởng Về mùa Thu sau khi kết thúc ựợt sinh trưởng của phần
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
trên mặt ñất, bộ rễ chè mới bắt ñầu sinh trưởng Sinh trưởng của bộ rễ mạnh hay yếu ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng búp chè vụ Xuân năm sau
1.4.2.3 Nghiên cứu về nhân giống vô tính chè
Ở Việt Nam nhân giống vô tính ñối với cây chè từ lâu ñã ñược nhiều tác giả nghiên cứu Hiện nay có thể nhân giống theo các hình thức khác nhau như: Giâm cành, chiết cành, ghép cành và nuôi cấy mô
1- Phương pháp ghép cành
Ở Việt Nam, theo ðỗ Văn Ngọc và cộng sự - Dự án phát triển cây chè và cây ăn quả (2002), ñối với cây chè ghép có thể áp dụng kỹ thuật ghép nêm khi cây làm gốc ghép ñạt 3 - 3,5 tháng tuổi, có 5-6 lá thật, ñường kính thân >2,0mm
là ñủ chỉ tiêu ghép
Theo Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002), kết quả nghiên cứu phương pháp ghép của Kvarakhelia TK (1959) cho biết: tỷ lệ sống của mắt ghép ñạt từ 53 - 76% tùy thuộc vào phương pháp ghép Tác giả cũng cho rằng cây chè 2 tuổi làm gốc ghép cho kết quả tốt và ghép vào mùa thu có tỷ lệ sống cao ñạt tới 80% Trung tâm nghiên cứu chè Bảo Lộc- Lâm ðồng ñã nghiên cứu thành công
kỹ thuật tạo cây chè ghép từ giống TB14 và Lð19 vào năm 1999, ñề tài ñược hội ñồng khoa học tỉnh Lâm ðồng công nhận vào tháng 12/2000 (ðỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Kim Phong, 1997)
3- phương pháp nuôi cấy mô
Nghiên cứu khả năng nuôi cấy mô của một số giống chè tác giả Nguyễn Văn Thiệp và Nguyễn Văn Tạo (2008) ñã kết luận: Khả năng nẩy chồi của một
số giống chè khi nuôi cấy bằng phôi hạt là như nhau trong khi ñó nếu nuôi cấy
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
bằng búp thì các giống chè Shan và giống LDP1 có tỷ lệ nẩy chồi thấp hơn Các giống chè Shan và giống LDP1, Shan Chất Tiền, Gruzia 3 có khả năng tạo thành phôi vô tính, khả năng tạo chồi và rễ mạnh hơn các giống khác
4- phương pháp giâm cành
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi hom, thời vụ và một số chất kích thích sinh trưởng ñến sự pháp triển của cành chè 1A giâm ở Phú Hộ, cho thấy rằng: hom xanh, giâm cành chè 1A vụ thu cho tỉ lệ xuất vườn cao nhất (Nguyễn Văn Niệm và Lê Sỹ Thức, 1994) Theo Lê Tất Khương (1997) khi phun Komix, Agriconik và hỗn hợp axit Boric + Urê cho chè 1A giâm cành làm tăng tỷ lệ bật mầm, tăng tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn của cành giâm từ ñó làm giảm giá thành cây xuất vườn từ 3,2 – 8,1%
Khi nghiên cứu kỹ thuật giâm cành chè trên nền ñất ñã ñưa ra kết luận: Giâm cành chè rễ trần ở mật ñộ 250 – 300 hom/m2 cây sinh trưởng tốt tương ñương với giâm trong bầu ở tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng (ðỗ Văn Ngọc và cs., 2006)
Nguyễn Văn Thiệp và Nguyễn Văn Tạo (2008) khi nghiên cứu hệ số nhân giống của giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích ñã chỉ rõ: Cành giống tốt là những cành có số lá thật ñồng ñều, lá dày, màu xanh, ñộ dài lóng ñạt mức ñộ trung bình, mầm nách phát triển không dài quá 3cm tốt nhất mầm nách chỉ hình thành ở nách lá thứ 1-3 với ñộ dài mầm ≤ 1cm
ðỗ Văn Ngọc và cs (2009) ñã thực hiện dự án “ phát triển giống chè mới giai ñoạn 2006 - 2010” thu ñược kết quả như sau: về thời vụ cắm hom ở miền bắc có 2 thời
vụ cắm hom tốt vụ thu cắm hom vào tháng 8, vụ ñông xuân cắm hom vào tháng 11 -
12, có thể dựa vào thời vụ cắm hom ñể xác ñịnh thời vụ nuôi hom thích hợp trên vườn giống Tiêu chuẩn hom giống khác nhau trên từng giống: ñối với giống Shan Chất Tiền, hom loại 1 chiều dài hom 3,5 - 4,5cm, ñường kính hom 3 - 4mm, hom loại 2 chiều dài hom 3,5 - 4,5cm, ñường kính hom 2,5 -3,0mm ðối với giống chè chất lượng cao hom loại 1 chiều dài hom 3- 4cm, ñường kính hom 2,5 - 3mm, hom loại 2 chiều dài hom 3 - 4cm, ñường kính hom 2 -2,5mm
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
1.5 đánh giá tổng quan
điểm qua các kết quả nghiên cứu về cây chè nhất là các thành tựu của thế giới cho thấy các kết quả ựạt ựược là hết sức to lớn Xét trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta, thì phương pháp lai hữu tắnh vẫn là một phương pháp có hiệu quả cao song
áp dụng trong nghiên cứu chọn tạo giống chè lại chưa nhiều Kỹ thuật lai giống ựạt kết quả cao vẫn chưa ựược làm rõ, chọn lọc, ựánh giá các dòng lai qua nhân giống
vô tắnh sơ bộ vẫn là những vấn ựề cần ựược giải quyết thấu ựáo
Một trong những vai trò to lớn của phương pháp ựột biến là tạo ra nguồn vật liệu khởi ựầu quý giá phục vụ cho công tác lai tạo Phương pháp gây ựột biến có thể tạo
ra nguồn vật liệu khởi ựầu với số lượng lớn, nguồn biến dị rất phong phú và chỉ trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, trong những năm vừa qua những nghiên cứu về chọn tạo giống chè bằng phương pháp ựột biến còn hạn hẹp cả về chiều rộng và chiều sâu
Từ những phân tắch trên ựây, chúng ta thấy rằng chè Việt Nam muốn có ựược bộ giống tốt cho chế biến chè chất lượng cao cần kết hợp các phương pháp truyền thống với các phương pháp hiện ựại ựể giải quyết những tồn tại lâu nay, ựồng thời ựóng góp thêm nguồn vật liệu cho nghiên cứu và sản xuất chè ở nước ta,
cụ thể là tập trung chọn tạo giống theo phương pháp lai hữu tắnh và gây ựột biến, bên cạnh ựó, nghiên cứu các biện pháp nhân giống ựặc biệt là biện pháp giâm cành
ựể tạo giống tốt và nâng cao hệ số nhân giống, ựồng thời nghiên cứu khả năng thắch ứng của các giống chè này ựể nhanh chóng ựưa ra sản xuất
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Gồm 6 dòng chè chọn lọc có triển vọng: dòng TRI774.0, TRI7773.5.1, dòng
số 10, dòng số 13, dòng số 14 và dòng số 15
- Giống ñối chứng: Trung Du và Kim Tuyên
+ Nguồn gốc của các dòng (giống) chè nghiên cứu:
Lê Mệnh và cộng sự, năm 1990
Xử lý tia gamma nguồn
Co60 trên hạt chè TRI777 ở liều lượng 4,0 Kr
TRI777 3.5.1 Phương pháp Lê Mệnh và cộng sự, Xử lý tia gamma nguồn
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 31
Tên Dòng
( giống)
Phương pháp
gây ñột biến năm 1990 Co60 trên hạt chè TRI777 ở
liều lượng 3,5Kr
Dòng số 10 Phương pháp
lai hữu tính
Viện KHKT NLN MN Phía Bắc lai tạo năm
1998 và ñược chọn dòng năm 2000-2002
Là con lai của cặp lai hữu tính giữa mẹ Kim Tuyên và
bố Trung Du
Dòng số 13 Phương pháp
lai hữu tính
Viện KHKT NLN MN Phía Bắc lai tạo năm
1998 và ñược chọn dòng năm 2000-2002
Là con lai của cặp lai hữu tính giữa mẹ Shan Ba Vì và
bố Trung Du
Dòng số 14 Phương pháp
lai hữu tính
Viện KHKT NLN MN Phía Bắc lai tạo năm
1998 và ñược chọn dòng năm 2000-2002
Là con lai của cặp lai hữu tính giữa mẹ là giống chè Saemidori và bố Shan Cù
Dề Phùng
Dòng số 15 Phương pháp
lai hữu tính
Viện KHKT NLN MN Phía Bắc lai tạo năm
1998 và ñược chọn dòng năm 2000-2002
Là con lai của cặp lai hữu tính giữa mẹ Shan TRI777
Viện KHKT NLN Miền núi Phía Bắc chọn lọc
Là giống chè hiện ñang phổ biến trong sản xuất, có năng suất khá, chống chịu tốt, có thể chế biến cả sản phẩm chè xanh, chè ñen chất lượng trung bình
Giống Kim
Tuyên
(ð/c)
Là giống chè nhập nội từ
Viện KHKT NLN Miền núi Phía Bắc
Sinh trưởng khá, chất lượng chè xanh, chè Ôlong chất
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 32
Tên Dòng
( giống)
Phương pháp
đài Loan nhập nội và ựược
công nhận giống năm
2008
lượng tốt, khả năng chống chịu trung bình
2.1.2 địa ựiểm nghiên cứu:
Các dòng ( giống) chè ựược trồng tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển chè Ờ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phắa Bắc
2.1.3.Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 10/2014 - 10/2015
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Nội dung nghiên cứu:
đề tài tập trung nghiên cứu hai nội dung chắnh như sau:
- Nghiên cứu ựặc ựiểm hình thái thực vật, khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu bệnh của các dòng chè chọn lọc tuổi 4
- Nghiên cứu khả năng nhân giống bằng phương pháp giâm cành của các dòng chè chọn lọc có triển vọng
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Thắ nghiệm 1: Nghiên cứu ựặc ựiểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của các dòng chè chọn lọc tuổi 4
Sơ ựồ thắ nghiệm:
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam Ờ Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 33
CT2: Dòng TRI7774.0
CT3: Số 10
CT4: Số 13
CT5: Số 14 CT6: Số 15 CT7: Trung Du (đ/c)
CT8: Kim Tuyên (đ/c)
- Bố trắ thắ nghiệm: Thắ nghiệm gồm 8 công thức (6 dòng chè chọn lọc và 2 giống ựối chứng) ựược bố trắ theo khối ngẫu nhiên ựầy ựủ với 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc 3 hàng, mỗi hàng 10 cây, khoảng cách cây x cây: 0,4m, hàng x hàng: 1,5m diện tắch mỗi ô thắ nghiệm: 18m2
- Áp dụng các kỹ thuật chăm sóc các dòng chè theo quy trình trồng, chăm sóc
và thu hoạch chè 10TCN 48- 2001 (10TCN 446-2001), Bộ Nông nghiệp và PTNT
- đánh giá các chỉ tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn ngành TCVN 1455-1993,
Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
- đánh giá các chỉ tiêu hình thái theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm tắnh khác biệt, tắnh ựồng nhất và tắnh ổn ựịnh của giống chè (QCVN01-124: 2013/BNNPTNT)
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 34
2.2.2.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu khả năng giâm cành của các dòng chè chọn lọc
CT8: Kim Tuyên (ð/c)
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 8 công thức (dòng/ giống), ñược bố trí theo khối ngẫu nhiên ñầy ñủ với 3 lần nhắc lại (mỗi lần nhắc lại 150 bầu (φ10), diện tích ô thí nghiệm 1,0m2 ), tổng toàn diện tích thí nghiệm 24m2
- Áp dụng các kỹ thuật chăm sóc vườn ươm theo quy trình kỹ thuật chung tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè – Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
2.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ñặc ñiểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng búp của các dòng chè chọn lọc
* Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển: Theo các phương pháp quan trắc thí nghiệm ñồng ruộng chè và QCVN 01-124:2013/BNNPTNT
- ðặc ñiểm hình thái, sinh trưởng của thân, cành chè:
ðể ño ñếm, ñánh giá ñược các chỉ tiêu hình thái, sinh trưởng, phát triển chúng tôi tiến hành lấy mẫu mỗi ô 5 cây theo ñường chéo góc (trừ các cây nằm ở mép hàng, ô) Kết quả cần tìm ở mỗi ô là giá trị trung bình của các số liệu thu thập ñược trên 5 cây lấy mẫu ñó
+ Chiều cao cây(cm): Dùng một khung vuông có kích thước bằng diện tích tán chè ñặt lên mặt tán thăng bằng song song với mặt ñất, chiều cao cây ño từ cổ rễ