Trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tập 2, Nguyễn Văn Long nhìn nhận Đồng Đức Bốn là một trong số các “nhà thơ trẻ xuất hiện từ sau 1975, nhất là từ đầu những năm 90, đã đe
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thơ Việt Nam sau 1975, đặc biệt khoảng mười năm trở lại đây, đã có
sự vận động và biến đổi hòa nhập với những chuyển biến của đời sống xã hội
Dù không có vai trò nổi trội và tiên phong trong đời sống văn học như các thể loại văn xuôi nhưng thơ vẫn rất phong phú, đa dạng, có nhiều tìm tòi, cách tân mạnh mẽ mang lại một diện mạo mới cho nền văn học nghệ thuật nước nhà
Trong khi các nhà thơ khác tìm kiếm, gắp nhặt từ mới và thể hiện những cách tân mới lạ, Đồng Đức Bốn lại tìm về với mạch nguồn ca dao dân tộc Bằng cách giữ vững và “chưng cất hồn cốt dân gian” trong lối nói hiện đại, ông đã tạo nên hàng trăm bài thơ hướng tới miền cộng sinh của cái đẹp,
sự dân dã và đạo làm người Thế nên, thơ Đồng Đức Bốn vụt lên với sự sáng trong giản dị mà không kém phần sâu sắc, mới lạ và ấn tượng như mang cả hồn thiêng tổ tiên trong mỗi lời đối thoại, mỗi tiếng nhủ thầm Có thể nói, Đồng Đức Bốn là cây bút lục bát khoẻ khoắn và độc đáo của nền văn học đương đại và sự xuất hiện của ông đã đem lại cho thơ lục bát, thơ truyền thống một niềm tự tin đáng kể Cách khai thác và thể hiện ngôn ngữ thơ của Đồng Đức Bốn giúp chúng ta nhận diện một gương mặt thơ mới xuất hiện nhưng có cá tính Hơn thế, Đồng Đức Bốn đã ý thức rất rõ về giá trị thơ ca và
sứ mạng của người làm thơ để từ đó dấn thân và tạo nên những bài thơ đậm hồn cốt dân tộc trong thời đại “vàng thau lẫn lộn” như hiện nay
Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại đang là một vấn đề quan trọng của tiến trình đổi mới thơ Việt Nam Điều đó cũng có nghĩa, cuộc sống đang đòi hỏi các nhà thơ cần tiếp tục khám phá, sáng tạo, đồng thời giữ vững những giá trị thơ ca dân tộc để thơ tiếp tục đồng hành cùng đời sống tinh thần của dân tộc Bằng những sáng tác của mình, Đồng
Trang 3Đức Bốn đã đi đến gần nhất bản thể giản dị của mình Dừng lại ở những trang thơ Đồng Đức Bốn, vẻ đẹp trữ tình của hồn quê, sự thức ngộ thâm trầm ẩn chứa đằng sau lớp vỏ giản dị thuần phác của ngôn từ hiện lên thật sống động Trong các cây bút đương đại, ít người có được sự lăn lóc và nếm trải sâu sắc đến như thế với nguồn mạch của văn học dân gian Thơ Đồng Đức Bốn vì vậy
mà có được sự vang hưởng sâu xa trong dòng mạch thời gian và độc giả
Khảo sát đặc điểm Cái tôi trữ tình trong Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc
của Đồng Đức Bốn, luận văn hướng tới làm nổi bật những đặc sắc mới mẻ
của cái tôi trữ tình trong thơ Đồng Đức Bốn Qua đó, góp phần khẳng định tài năng, bản lĩnh nghệ thuật của nhà thơ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình, bài viết, nghiên cứu của các nhà khoa học quan tâm đến thơ Đồng Đức Bốn
Trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tập 2, Nguyễn Văn
Long nhìn nhận Đồng Đức Bốn là một trong số các “nhà thơ trẻ xuất hiện từ sau 1975, nhất là từ đầu những năm 90, đã đem đến nhiều tiếng nói mới, cách nhìn mới, xúc cảm mới trong thơ (…) họ mạnh dạn và tự do hơn trong sự tìm tòi, thể nghiệm, với nhu cầu được bộc lộ hết mình con người cá nhân” [10,tr 228] Theo tác giả, đây là một cây bút đã “sử dụng thể thơ quen thuộc, đặc biệt là lục bát, cố gắng tạo ra những thay đổi theo hướng tự do hơn về cách tổ chức câu thơ, về nhịp điệu” [13,tr.240]
Đặng Thu Thủy trong cuốn Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80
đến nay, những đổi mới cơ bản thì cho rằng “Đồng Đức Bốn là nhà thơ bảo
tồn, bảo lưu các giá trị thơ ca truyền thống Cái hay của lục bát anh là sự chất phác giống như ca dao, có sự ngậm ngùi của tình cảm và cả những kinh nghiệm sống chua xót của người nhà quê trí thức lang bạt kì hồ chen lẫn vào” [23,tr.96]
Trang 4Nguyễn Huy Thiệp bằng tâm thế coi Đồng Đức Bốn là “người bạn hiếm có”, “một thi sĩ đáng yêu nhất” [1,tr.965] đã khẳng định “Sự hiện đại trong thơ Đồng Đức Bốn là ở nội lực bên trong từng câu thơ Thơ hiện đại của Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, là hồn vía của cuộc sống hôm nay được
“quản thúc” trong niêm luật cổ truyền lục bát Đồng Đức Bốn là vị cứu tinh của thơ lục bát” [1,tr.547]
Còn nhà thơ Đỗ Minh Tuấn lại bày tỏ sự yêu mến và trân trọng đối với nhà thơ tài năng này khi phát hiện “trong cái trân trọng của nhà thơ với tấm tình của Bốn dành cho thơ, vẫn hé ra chút bùi ngùi thương cảm với những bước “chân trần” lặn lội “đường xa”, “bơ vơ” gian truân trong đời thực Bốn cũng khốn khổ về vật chất như bao thi sĩ khác và cũng cô đơn, lận đận trong chuỗi ngày dằng dặc đeo đuổi Nàng thơ như bao thi sĩ khác Nhưng cái tấm tình sâu nặng của riêng Bốn với thơ là ở chỗ này: tất cả những bất hạnh mất mát lớn lao trong đời thực như cái chết của hai đứa con được Bốn tính cả vào
sự trả giá cho thơ” [1,tr.591-592]
Nhà văn Đình Kính trong bài viết Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức
Bốn - khác biệt và thành công lại coi “Đồng Đức Bốn là nhà thơ lục bát tài ba
bẩm sinh, trung thành với thơ truyền thống, bằng bút lực giàu ấn tượng đại diện tiêu biểu cho thi pháp cổ điển” Theo tác giả này, “Đồng Đức Bốn rất có
ý thức trong cách sử dụng ngôn từ” [11,tr.9]
Trong bài viết Đồng Đức Bốn đa đoan lục bát gọi nhau, nhà thơ Bùi
Kim Anh nhận ra Đồng Đức Bốn “chẳng làm duyên mà lục bát của anh thật
có duyên”, “vận dụng hình ảnh, từ ngữ rất thực mà độc đáo, bất ngờ” [11,tr.22]
Tiến sĩ Nguyễn Hoài Nguyên khi xem xét đặc sắc về ngôn ngữ trong thơ Đồng Đức Bốn đã phát hiện Đồng Đức Bốn “làm thơ bằng sự trải nghiệm của anh “nhà quê ra tỉnh” thực hiện một cuộc dấn thân có phần liều lĩnh Kẻ
Trang 5nhà quê ấy cứ kể về đời mình, phận mình, ước vọng của mình với một giọng điệu hồn nhiên, chân thành, bằng một ngôn từ độc đáo, có cá tính” [11,tr.51]
Trong khi đó, nhà phê bình Vương Trí Nhàn lại chú ý đến “cái tôi với bao hậm hụi bất lực” trong thơ Đồng Đức Bốn Ông cho rằng, Đồng Đức Bốn dường như “không sao tìm được sự cân bằng trong tâm lý” [1,tr.33], “những yếu tố hoang dại có mặt trong thơ Đồng Đức Bốn khắp mọi chỗ làm nên một miền khí hậu riêng” [1,tr.22] và “ở nhà thơ này có một sự quyến quyện giữa nội dung và hình thức, hoặc nói cho chữ nghĩa đương thời tức là sự nhất quán của thi pháp” [1,tr.30]
Hữu Thỉnh trong bài phát biểu kết thúc hội thảo “Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn - khác biệt và thành công”, tổ chức tại Hải Phòng ngày 15/5/2011 đã đánh giá Đồng Đức Bốn là một nhà thơ “làm thơ đầy bản năng, biết tận dụng khai thác triệt để cái bản năng ấy, thâm canh ở đó Anh không chỉ trở về mà là biết chưng cất hồn cốt dân gian, đẩy trực cảm thành một cuộc lên đồng Câu thơ của anh trở nên có phù phép, lộng lẫy, quen mà lạ, xa mà gần, và chủ yếu là rất gợi Có gì đâu, vì anh biết đánh thức con người nhà quê tiềm ẩn đâu đó trong mỗi chúng ta” [11,tr.586]
Còn phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Đồng Đức
Bốn - phiêu du vào lục bát lại cho rằng “sức hấp dẫn đầu tiên của thơ Đồng
Đức Bốn nói chung và lục bát nói riêng là sự quyết liệt và táo tợn, có khi bỗ
bã trong giọng điệu” [1,tr.648] Theo ông, Đồng Đức Bốn phải “trải đời nhiều, đau đời lắm mới ngang đến vậy Nhưng ngang và “Quậy” mà vẫn giữ được cái hồn nhiên, không rơi vào nắn nót, tỉa tót cầu kì, đó là cách Đồng Đức Bốn làm thơ” [1,tr.648-649]
Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo lại coi Đồng Đức Bốn “chính
là một nhà thơ hiện thực mang bi kịch lãng mạn”, “đã bắc cầu lục bát để đến với cuộc đời này” [20,tr.86]
Trang 6Ta còn thấy, nhà văn Lê Lựu gọi Đồng Đức Bốn là một nhà thơ “tài năng ngang tàng” [1,tr.848] còn nhà thơ Tố Hữu thì thân mến gọi Đồng Đức Bốn “một tiếng đờn đồng điệu ngọt ngào và chua xót” [1,tr.837] Đồng Đức Bốn được xem là “con người đặc biệt nhất làng văn Việt Nam, cả trong đời thường lẫn trong văn chương” (Nhà thơ Trịnh Hoài Giang) [1,tr.579]
Đã có nhiều tác giả quan tâm đến Đồng Đức Bốn và thơ ông nhưng chưa có một công trình độc lập tập trung nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Đồng Đức Bốn Do đó, đây là một “khoảng” để chúng tôi có thể thâm nhập, giải mã đồng thời góp phần đánh giá vị trí, đóng góp của nhà thơ đối với thơ
ca đương đại cũng như đánh giá thơ Đồng Đức Bốn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: những khía cạnh nổi bật về đặc điểm nội dung và
nghệ thuật làm nên cái tôi trữ tình trong thơ Đồng Đức Bốn
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Tập Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, tác phẩm và dư
luận của Đồng Đức Bốn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2006
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp hệ thống cấu trúc: Đặt các tác phẩm thơ trong tập Chim
mỏ vàng và hoa cỏ độc trong một chỉnh thể để xem xét đánh giá về những đặc
điểm nội dung, nghệ thuật của thơ Đồng Đức Bốn
4.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích, lý giải, đánh giá những
biểu hiện độc đáo trong thơ Đồng Đức Bốn, đồng thời, tổng hợp, khái quát
vấn đề nhằm thấy được giá trị thơ ông qua tập Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc
4.3 Phương pháp thống kê: khảo sát những yếu tố nghệ thuật có tần số xuất
hiện cao trong tập thơ nhằm đưa đến những kết luận khoa học
4.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh đặc sắc cái tôi trữ tình trong
thơ Đồng Đức Bốn với các nhà thơ như Nguyễn Duy, Nguyễn Bính… có
Trang 7những điểm tương đồng để thấy được những nét đặc trưng riêng và phong cách độc đáo của ông
Ngoài ra, để hoàn thiện và làm sáng rõ các vấn đề đặt ra của đề tài, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thơ Đồng Đức Bốn trong dòng chảy của thơ Việt Nam đương đại
Chương 2: Một số dạng thức cái tôi trữ tình trong Chim mỏ vàng và hoa cỏ
độc của Đồng Đức Bốn
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong Chim mỏ vàng và hoa
cỏ độc của Đồng Đức Bốn
Trang 8CHƯƠNG 1 THƠ ĐỒNG ĐỨC BỐN TRONG DÒNG CHẢY CỦA THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Một số điểm nổi bật của thơ Việt Nam đương đại
1.1.1 Tiếp tục quá trình hiện đại hóa
Sau 1975, đất nước ta đi vào công cuộc đổi mới toàn diện Đây là điều kiện để thúc đẩy tinh thần dân chủ và sự phát triển mạnh mẽ của ý thức cá nhân trong văn học Một thế hệ thơ trẻ xuất hiện từ sau 1975, nhất là từ đầu những năm 90, đã đem đến nhiều cách nói mới, cái nhìn mới, xúc cảm mới trong thơ Ít bị ràng buộc với truyền thống, họ mạnh bạo và tự do hơn trong
sự tìm tòi thể nghiệm với nhu cầu bộc lộ hết mình con người cá nhân Trong
số họ, đã có nhiều tên tuổi gây được sự chú ý như: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quốc Chánh, Đồng Đức Bốn, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh… Điều đó đã tạo nên sự đa dạng về phong cách và sự phong phú về giọng điệu – một đặc điểm nổi bật của thơ ca Việt Nam sau 1975 Thơ trước 1975 có sự nhất quán cơ bản về ý thức và quan niệm nghệ thuật, đó là tập trung thể hiện
sự vận hành của lịch sử dân tộc, với ý thức về sự gắn bó với nhân dân, hy sinh cho cộng đồng Sau 1975, thơ đã có những thay đổi đa dạng và “phân cực”, nhất là ở cấp độ ý thức, tư duy nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật, về khuynh hướng thẩm mĩ, phong cách, thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu Nó phản ánh khá
rõ nét bước ngoặt quan trọng trong định hình và phát triển một giai đoạn thơ
ca vừa đa diện vừa phức tạp Sự tồn tại này thể hiện sự tiếp tục quá trình hiện đại hóa của thơ ca đã diễn ra từ trước đây của thơ Việt Nam Đây là một dấu hiệu cho thấy thơ ca đang sải những bước chân mạnh mẽ trên con đường hiện đại hoá và cũng là điều kiện xuất hiện của thơ đương đại Việt Nam, giai đoạn
Trang 9từ 1986 đến nay Do đó, hiện đại hóa thơ ca là một xu thế tất yếu của thơ ca Việt Nam đương đại
Hiện đại hóa thể hiện trước hết ở quan niệm nghệ thuật về thơ Trong văn học lãng mạn 1930-1945, những nhà thơ khai sáng ra thơ ca lãng mạn, đặc biệt là những nhà thơ thuộc trường thơ Loạn và nhóm Xuân Thu Nhã Tập
đã có những quan niệm khá mới mẻ, thổi vào thơ một luồng sinh khí mới Đến giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, văn học đi từ cái tôi cá nhân của thơ ca lãng mạn sang cái tôi cộng đồng thời chiến, do đó, xuất hiện quan niệm thể hiện sự gắn bó giữa thơ ca và cuộc sống
Với thơ đương đại, quan niệm nghệ thuật về thơ có nhiều biến đổi và ý thức cách tân thơ ngày càng mạnh mẽ Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời thuyết lý khô khan mà hoá thân vào chữ nghĩa và hình tượng Các cây bút có ý thức phá vỡ các chiều tuyến tính, gia tăng tính đồng hiện của các hình ảnh thơ hoặc cố gắng tĩnh lược các mối quan hệ bề nổi Từ đó, đặt những hiện tượng khác nhau bên cạnh nhau và buộc người đọc tự xác lập mối lên hệ giữa chúng Đồng thời, thơ thời kì này thể hiện khát vọng đào sâu vào bản ngã, vào con người bên trong con người, đặc biệt là thế giới tâm linh, những vùng mờ của tiềm thức, vô thức Do đó, nhiều thể nghiệm mạnh bạo đã ra mắt công chúng Khởi động là các nhà thơ thuộc thế hệ trước 1975 Những tác giả
như Hoàng Cầm (Mưa Thuận Thành), Lê Đạt (Bóng chữ), Dương Tường (Noel 1), Trần Dần (Cổng tỉnh, Mùa sạch),… đã đem lại nhiều cái mới từ
quan niệm đến sự thể nghiệm những xu hướng hiện đại trong thơ; từ bóng dáng siêu thực đến xem thơ như trò chơi của ngôn từ… Những quan niệm đó
là nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những
bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị mới
Trang 10Đến sau 1975, hầu hết các nhà thơ “không bị ràng buộc bởi niêm luật, hình thức, vần vèo Họ chơi thơ, thả thơ, họ tự do, để được cháy bỏng, tuôn trào thể hiện những ý niệm mới trong đời sống đương đại” [24] Họ muốn giải phóng thực sự cho ý tưởng cảm xúc khỏi những khuôn mẫu thể loại có sẵn:
“tôi chuộng thơ tự do, vì tôi thấy mình ở đó, và khi viết nó, nó là tôi… Thơ tự
do cho phép tôi bộc lộ cảm xúc một cách nguyên bản nhất” [25] Với họ, làm thơ để kiến tạo giá trị bản thân mình, giải tỏa những mong đợi cá nhân, đề cao
vai trò của thơ và nhà thơ cho nên thơ phải được định hình cao độ, không thần
thánh và cường điệu hóa thơ
Thơ đương đại không băn khoăn lập tứ, không vật vã “ý tại ngôn ngoại”, không nhốt câu thơ, dòng thơ trong những “cái khung” quen thuộc mà tạo ra những nhịp điệu biến đổi đột ngột, bất thường, từ chối những “giai âm” du dương ảo não, sướt mướt và đặc biệt thiên về trực cảm với đậm đặc ngôn từ
“chói gắt” Các nhà thơ đương đại làm thơ một cách tự nhiên, không chuẩn bị trước, không gò bó Khi cảm xúc dâng lên, họ để nó tự do trào ra ngọn bút, không cần điều khiển, tiết chế Họ nhìn cuộc sống một cách chân thật hồn nhiên, phát hiện và tái hiện những vẻ đẹp, những cái lạ lẩn khuất giữa đời thường nên gần gũi với đời sống Các nhà thơ như Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ với quan niệm có sẵn trong tâm thức là đưa người đọc
về một thế giới quen thuộc nhưng vẫn tạo ra ấn tượng mới mẻ với phong cảnh, con người, nếp sống, nếp nghĩ khiến người đọc bất ngờ, sửng sốt Bởi vậy, họ đã hướng thơ về cội nguồn, về tâm linh sâu lắng và mang nhiều tâm
trạng (Lời ru trong bão – Nguyễn Duy, Lời ru cho cỏ buồn – Đồng Đức
Bốn…)
Quan niệm về thơ thay đổi đã đẩy mạnh sự tự do hóa trong thơ, tức là xét về phương diện hình thức Tự do hóa được thể hiện trên nhiều cấp độ, từ thể thơ, đến ngôn ngữ và cả cách trình bày văn bản bài thơ Lời thơ là những
Trang 11phát ngôn hướng nội: “Suốt một ngày chạy đuổi/ Suốt một ngày hai tay dang rộng/ Chỉ cây tiếp cây hoa tiếp hoa đến tận chân trời/ Hoa không nói lời hoa/ Chỉ trắng như một niềm vui sướng/ Và gió và ong và bướm/ Mang hoa về
muôn nơi/ Và trên hoa lộng lẫy nắng trời…” (Trong mùa tưới rẫy - Đinh Thị
Như Thuý) Tổ chức kết cấu bài thơ cũng hết sức đa dạng và nhiều trường hợp đã vượt ra khỏi những cách kết cấu, lập tứ quen thuộc Tức là, thơ đương đại ít chú ý đến các biện pháp đơn lẻ mà định hướng vào “hình tượng tổng thể” của toàn bài thơ Kết cấu bài thơ có thể nhiều tầng, nhiều tuyến Từng câu thơ có vẻ rời rạc, đứt nối Để mở rộng trường liên tưởng của người đọc, tô đậm cái hình tượng tổng thể, các tác giả sử dụng các dấu chấm, phẩy, viết hoa, sang dòng… rất phóng khoáng:
Tiếng hát như chiều thảng thốt Tình yêu
………… thở
………qua
……….kẽ tay
(Dòng sông không trở lại – Vi Thùy Linh)
Bên cạnh sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về thơ, quan niệm của nhà thơ về con người cũng đã có sự thay đổi đáng kể Nếu ở giai đoạn 1945-1975, nhà thơ quan niệm con người là những anh hùng, cầm súng vì tự do dân tộc thì giai đoạn sau 1975, các nhà thơ đã có sự thay đổi lớn về tư duy nghệ thuật,
sự nhận thức về thơ ca trở nên toàn diện hơn Xu hướng dân chủ hoá và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã đưa tới sự thay đổi quan niệm về con người của các nhà thơ Đặc biệt, từ sau 1986, con người trong thơ được bổ sung nhiều khía cạnh, soi chiếu từ các bình diện khác nhau của đời sống và hiện lên chân thực hơn (vui sướng, hạnh phúc, cao cả, thịnh vượng, buồn đau…) Nhà thơ còn quan tâm và thể hiện con người ý thức và vô thức, lý tính và phi lý tính,
Trang 12quan tâm đến cả những vấn đề trực giác của con người: “Đêm đã tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đèn vàng/ Và khe khẽ hát/ Để em không thể nhìn
thấy anh/ Bằng thính giác” (Đêm và anh – Ly Hoàng Ly) Với họ, làm thơ là
để suy tư, chiêm nghiệm về con người, về thế giới và những biến động xung quanh cũng như biến động trong tâm hồn, từ đó tìm ra ý nghĩa nhân sinh đích thực Vì thế, họ hướng đến thế giới đằm sâu trong tâm linh của cõi người, những vùng mờ vô thức để giãi bày tư tưởng, tình cảm, để suy tư và nhận thức: “Đêm di mộng/ đêm nồng nàn mê sảng/ sáng nghe mưa chảy xiết xuống đáy buồn/ sáng nghe mưa dự báo mầm xanh ấy/ ngỡ chính em đương là…”
(Mê sảng mưa - Ngô Thị Hạnh)
Trong quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn, ý thức nghệ thuật có tác dụng bổ sung toàn diện hơn về hiện thực và văn chương Do đó, trong thơ xuất hiện nhiều cái tôi trữ tình như cái tôi vị tha, đồng cảm, cái tôi luôn luôn lo âu với sự nguội lạnh của tâm hồn con người (vô cảm), cái tôi khát khao được sống trong một xã hội mà con người đồng cảm và yêu thương nhau, hay cái tôi khát khao tình yêu, trăn trở về cuộc đời Đây chính là sự tự
ý thức về nhân cách con người Mạch chính của nó vẫn là loại thơ bắt rễ vào đời sống dân tộc, vào thân phận “con người số đông” với bao chìm nổi cay cực nhưng luôn biết vượt lên làm chủ số phận, đồng thời hàm chứa chiều sâu
tư tưởng, triết lý và mỹ cảm thời đại Tất cả đi vào khuynh hướng trình bày những suy nghĩ, cảm nhận về đời sống chứ không tái hiện hình thể đời sống
Một điều dễ nhìn thấy, trong mấy thập niên gần đây, hình thức nghệ thuật thơ có nhiều biến đổi Loại thơ thiên về thanh, vần, điệu, về cái nhịp nhàng đưa đẩy dần được thay bằng những thi phẩm bộn bề tự do mang âm hưởng đời sống Các quy luật bằng trắc, các loại vần chân, vần lưng, các nhịp chẵn lẻ không còn mấy tác dụng Tất cả tuỳ biến theo tâm trạng tác giả Việc
mở rộng trường liên tưởng, tăng nồng độ cảm giác, phối hợp các yếu tố hư ảo,
Trang 13vô thức, tâm linh, siêu thực… nhằm lạ hoá hình tượng thơ được sử dụng với hàm lượng tối đa Do vậy, nhiều thể loại mới đã ra đời nhằm đi sâu khám phá những bí ẩn tâm hồn, những miền tâm tưởng sâu kín Các nhà thơ đương đại
đã tạo ra sự phá cách mạnh mẽ khiến thơ trở nên mới mẻ và ghi đậm dấu ấn sáng tạo
Bên cạnh thơ tự do không vần, thơ tân hình thức, thơ siêu thực, tượng trưng, còn thấy sự hiện diện của thơ hậu hiện đại và thơ văn xuôi Tất cả đều đậm sinh khí siêu thực, trừu tượng đem lại nhiều ấn tượng cho bài thơ, tạo
nên một thi pháp mới lạ Đó là sinh thái mới của ngôn ngữ thơ đương đại (Níu
mây nhìn xuống - Linh Phương, Hoàng hôn nhớ nắng - Từ Hoài Tấn)
Một tìm tòi thể hiện rõ những bước chuyển thơ ca đương đại nữa là thể loại trường ca Ở đó, yếu tố trữ tình nổi trội, phá vỡ cấu trúc của trường ca truyền thống Cốt truyện sự kiện bị phân rã và cốt truyện tâm lý được đẩy lên đến cao trào Các tác giả tổ chức trường ca theo một cấu trúc phát triển theo dòng cảm xúc, trong đó độc thoại nội tâm nhiều lúc đóng vai trò chủ đạo, mạch sự kiện chỉ đóng vai trò phái sinh nhờ các liên tưởng ngoại biên Dường như đến với thể loại này, các nhà thơ muốn bày tỏ khát vọng trên đường tìm kiếm cõi thẳm sâu chân thực trong chính bản thân mình Điều này phần nào bộc lộ hơi thở và khuynh hướng chính của nền thơ đương đại
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thơ sau 1975 đã vận động một cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa Trong đó, quan niệm nghệ thuật về thơ, quan niệm nghệ thuật về con người của nhà thơ cũng như ý thức sáng tạo qua các thể thơ và mức độ hiện đại hóa đã giúp cho thơ ca đương đại Việt Nam hội nhập với thế giới
1.1.2 Sáng tạo mới từ những yếu tố truyền thống
Cách tân là thuộc tính của sáng tạo, là con đường sống còn của văn học nghệ thuật Thơ Việt Nam vốn tiềm tàng một khát vọng đổi mới Do đó, thơ
Trang 14ca đương đại không thể giữ nguyên giai điệu cũ, mà phải có sự đổi mới Nhưng đổi mới như thế nào cho phù hợp và giữ được bản sắc bản sắc văn hóa dân tộc là một vấn đề cần bàn Sau 1975, nhất là từ sau 1986, thơ đã có sự phân luồng Một bộ phận lớn tiếp tục trung thành với truyền thống, kiên trì nhẫn nại nơi thành trì cũ, bền vững, cố kết, không mở ra một cái gì khác lạ; trong khi đó, một số lại có ý thức cách tân thơ trên nền truyền thống Cái mới được tạo ra trên cơ sở cái cũ, bổ sung, kiện toàn cho cái trước đó trở nên đầy đặn, toàn diện hơn Cái mới này bắt nguồn từ niềm tha thiết với các giá trị truyền thống và khao khát muốn khắc phục những bất cập của cái cũ Sự sáng tạo đó đã mang lại những giá trị nhất định và khẳng định sự đóng góp của cá nhân các nhà thơ Có thể kể ra các trường hợp của Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Dư Thị Hoàn, Đồng Đức Bốn…
Lịch sử dân tộc với các thể thơ lục ngôn, song thất lục bát, lục bát để lại tên tuổi của nhiều tác giả thì nay lại được các thế hệ nhà thơ tiếp nối và sáng tạo Vượt qua những ràng buộc mang tính quy phạm của văn học trung đại, thơ Việt Nam hiện đại phát triển đa dạng, muôn hình muôn vẻ với các thể thơ
tự do xâm nhập từ phương Tây Nếu lục bát trong phong trào Thơ Mới với nhiều cách tân mạnh mẽ về hình thức cũng như nội dung, hướng đến khả năng trữ tình thì giữa những cái truyền thống và cái hiện đại đang bắt đầu nảy nở, trên nền thơ dân tộc, thể thơ lục bát đã có những cách tân, tiến triển nhất định nhằm làm phong phú, mới mẻ diện mạo thơ ca nước nhà Lục bát trong giai đoạn thơ 1945-1975 được dùng làm vũ khí đánh đuổi kẻ thù, giành độc lập
Đời sống văn học đương đại khẳng định sự thành công của những gương mặt thơ thủy chung với lục bát như Nguyễn Duy, Lê Đình Cảnh, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ… Đó là những nhà thơ đã cố gắng tạo ra những thay đổi theo hướng tự do hơn về cách tổ chức câu thơ, về nhịp điệu… Họ đã kiên trì lục bát một cách có hiệu quả, khai thác nguồn mạch dân gian nhằm
Trang 15mở rộng và thiết lập tứ thơ mới để dung nạp và đồng hóa chất liệu đa dạng, tinh tế của đời sống ngay cả khi phạm vi giao tiếp của cái tôi trữ tình được mở rộng theo hướng hiện đại hóa, không ít nhà thơ đã đi vào con đường hình
thức, vô tình đẩy thơ vào tình trạng khó hiểu, bế tắc: “Em đi để lại nụ cười/ Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê/ Trăng vàng đêm ấy bờ đê/ Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may” (Lời thề cỏ may - Phạm Công Trứ)
Điều đặc biệt là thể lục bát đã có sự nới lỏng cấu trúc truyền thống nhằm thể hiện sự sáng tạo của các nhà thơ Nhiều bài thơ lục bát được bố trí theo kiểu thơ tự do, cách tân về bài trí văn bản (tiêu biểu là loại lục bát xuống dòng theo hình thức bậc thang và hiện tượng ngắt dấu giữa dòng đã trở nên phổ biến):
chia em một đời thơ một lênh đênh
một dại khờ
một tôi
(Chia - Nguyễn Trọng Tạo)
Bên cạnh đó, nhịp câu lục bát cũng có sự đột phá mạnh mẽ thể hiện sự đổi mới của nhà thơ trong việc tổ chức tiếng nói âm nhạc, làm cho câu thơ đa dạng về nhịp thích ứng với sự đa dạng của tư tưởng tình cảm: “Ngõ/ như một
đoạn dây diều” (Ngõ quê - Đồng Đức Bốn) hay “Yêu/ thì thương/ giận/ nhớ/ ghen” (Vẫn còn viết gửi Tân Cương - Đồng Đức Bốn) Bên cạnh những câu
thơ có phần thô phác, thơ lục bát sau 1975 còn có những câu thơ kể, như một
sự tường thuật làm gia tăng chất tự sự vào thơ hiện đại Ở phương diện ngôn ngữ, sự xuất hiện của những câu thơ này đã làm gia tăng thêm chất đời thường bởi nó thường được điểm xuyết bằng những từ gợi cảm xúc mang hơi thở cuộc sống, các hình tượng thơ giàu sức biểu hiện, giàu cá tính: “Cả đời
buộc bụng thắt lưng/ Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng” (Trở về với mẹ ta
Trang 16thôi – Đồng Đức Bốn) hay “Năm nay lại lụt trắng đồng/ Quê ta lại tỏng tòng
tong mùa màng” (Dân ơi – Nguyễn Duy)
Như vậy, có thể thấy, hướng tới việc thể hiện những nội dung phức tạp của cuộc sống hiện đại, lục bát đã không còn lặng lẽ hiền hoà mà nó cũng vắt dòng, leo thang, cũng thay vần, đổi nhịp, tiết tấu theo khuynh hướng tự do hoá Nó vẫn giữ được sự dân dã, nhưng phóng khoáng, “bụi bặm”, mang âm hưởng thời mở cửa: “Thất tha thất thểu văn chương/ Kẽo cà kẽo kẹt tai ương
đường dài/ Yêu cùng ai, ghét giùm ai/ Để cơm áo vẹo hai vai em gầy” (Xin
đừng buồn em nhé – Nguyễn Duy) Điều đó thể hiện bản lĩnh của các nhà thơ
dám bước đi và biết quay về trên cội nguồn thơ Việt, biết vận dụng linh hoạt thi pháp các trường phái mà không đánh mất bản chất tâm hồn Việt vốn sáng trong, chân thành, bao dung mà rất hiện sinh, tinh tế trong cảm nhận, nhân bản hồn hậu trong nghĩ suy về phận người
Nếu thơ 5 chữ và 7 chữ trước đây gắn chặt với kỹ thuật gieo vần và nhịp điệu thơ thường khá êm ả, ru vỗ thì đến giai đoạn sau 1975, tính “điệu nói” được gia tăng thêm tạo ra những thay đổi đáng kể về cấu trúc bên trong Nghĩa là, cấu trúc thể loại tựa vào nhịp nhiều hơn tựa vào vần, giọng điệu thơ gân guốc hơn, các liên tưởng thơ ít tuân theo quan hệ nhân – quả hơn
Cùng với thể thơ lục bát, thơ 5 chữ, 7 chữ, các thể thơ tự do, thơ văn xuôi… cũng đã vượt qua mọi biến cố của thời gian, sự thăng trầm của lịch sử
để tồn tại và in đậm dấu ấn của các nhà thơ đương đại Ở đó, các tác giả đã sử dụng một ngôn ngữ tạo sinh đa dạng, luôn tìm cách bứt phá, tạo một kiểu kết
hợp mới theo khuynh hướng mở rộng: “Hoa mướp bồng áo con/ Ru hời/
Thoại Khanh - Châu Tuấn/ Đun nấu sụt sùi đứt ruột ống bơ” (Rỗng ngực –
Phan Huyền Thư)
Khi thơ tự do và thơ không vần đã trở thành phổ biến thì các dòng thơ cũng được giãn nở hoặc co lại một cách rất tự do Sự liên kết giữa các dòng
Trang 17thơ, câu thơ cũng có xu hướng phá bỏ những trật tự lôgic thông thường Nhịp điệu thơ trở nên hết sức linh hoạt
Trong trào lưu hội nhập, tiếp thu những yếu tố mới mẻ, tích cực ở các chủ thuyết nghệ thuật hiện đại để đổi mới thủ pháp xây dựng hình tượng là rất cần thiết Các nhà thơ Việt Nam sau 1975 đã tìm cách xây dựng cho mình những kiểu mã ngôn ngữ riêng để sáng tạo nghệ thuật Và vì thế, trên bình diện ngôn ngữ, thơ đương đại nói chung lấy việc hoà nhập đời thường làm tiêu chí quan trọng để hướng tới một hệ thống từ ngữ có sắc thái đời thường, gần gũi với cuộc sống con người, những từ ngữ thông tục, khẩu ngữ, biệt ngữ, ngôn ngữ đậm chất dân gian với những chất liệu đời thường có mặt khá thường xuyên trong thơ: “Buồn không mang comlê không đợi chờ ai/ Mắt là
hổ phách/ Đẹp dữ tợn” (Buồn – Nguyễn Bình Phương)
Việc sử dụng ngôn từ, do đó, cũng có những biến đổi đáng kể Mặc dù vẫn là thứ ngôn từ khá thông dụng, phổ biến được lưu hành trong đời sống giao tiếp của xã hội nhưng khi được nhà thơ “cấp” cho những nghĩa mới, chúng trở nên sinh động hơn, vượt qua khỏi sự sáo mòn Cách đi vào thơ của ngôn ngữ đời thường bằng những lối cấu trúc riêng khiến thơ ngày càng trở nên mới mẻ và lạ lẫm mà không bị rơi vào tầm thường, thô tục, gắn với những nguồn cảm hứng mới của thời đại như cảm hứng “giải thiêng”, cảm hứng triết luận từ cái nhìn của cái tôi công dân: “Ngẫu nhiên em ra đời giọt trời rơi xuống/ không hề ký tên hợp đồng làm người/ Giọt yêu cũng ngẫu nhiên đến từ trời/ không đề cương không kịch bản không dự báo thời tiết…”
(Giọt trời – Nguyễn Duy) Nhiều cây bút lại có ý thức đưa ngôn ngữ đậm chất
tượng trưng, siêu thực vào lục bát khiến cho thể loại này không chỉ hồn hậu
mà còn có khả năng biểu đạt những tâm thức sâu thẳm của người hiện đại:
“Nắng em nắng đến siêu hình - Như môi như mắt như hình như không - Mưa
em mưa đến hãi hùng - Lìa khoang xanh xiết xuống vùng dấn thân” (Hoàng
Trang 18Cầm) hay sự thể hiện thẩm mỹ kì lạ, huyền hoặc mà gần gũi: “Chiều nay hồ
Tây có giông/ Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm” (Chiều nay hồ Tây có
giông – Đồng Đức Bốn)
Sự thay đổi giọng điệu cũng là một thay đổi đáng quan tâm Đó là chất giọng bụi bặm, suồng sã đời thường kiểu “Tạnh men là tạnh la đà/ Tạnh cơn một bóng ảo ra chính hình/ Phàm trần bớt chút lung linh/ Các em bớt xỉnh
xình xinh mấy phần” (Kiêng – Nguyễn Duy) Chất giọng này đã góp phần
thay đổi giọng điệu thơ sau năm 1975
Cùng với sự thay đổi vị thế và điểm nhìn của nhà thơ là chất giọng tự thú và giễu nhại như một cách để xoá bỏ khoảng cách giữa nghệ thuật và đời thường Trong đó, những từ ngữ “phàm tục” đã được trộn lẫn với thế giới thiêng của ngôi đền thi ca để tạo ra một hiệu ứng là sự chua chát đằng sau mỗi
nụ cười: “Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại/ Để dành thành mất cắp cả tình yêu”
(Một góc chiều Hà Nội - Nguyễn Duy) Trong thơ có cả giọng hồ nghi: “Rõ
ràng là chẳng giống ngày xưa/ Giống mai chăng?/… Cũng không biết nữa”
(Thoáng - Trần Nhuận Minh), có khi ngang tàng, bất cần: “Tin thì tin không
tin thì thôi” (Nguyễn Trọng Tạo)… Tuy nhiên, ở từng tác giả cụ thể lại có
những sự khác biệt riêng về số lượng và tần số xuất hiện Đáng chú ý là những sự tìm tòi đổi mới này thể hiện ý hướng triệt để cách tân thơ, vượt ra khỏi những khuôn khổ và thói quen đã định hình khá lâu để mở ra con đường
và những khả năng mới cho thơ Do đó, trên cơ sở kế thừa và cách tân, thơ đương đại đã dần gạt bỏ được sự cầu kỳ, kiểu cách để tìm đến và tiếp nhận được sự phong phú của ngôn ngữ trong đời sống dân tộc Việt Nam Chính điều đó đã tạo cho thơ có khả năng tác động mạnh mẽ hơn đối với tình cảm, nhận thức của người đọc
Ngoài ra, chúng ta còn thấy, phương thức trữ tình cũng là một phương diện đổi mới trên cơ sở kế thừa thơ ca các giai đoạn trước rất đáng chú ý
Trang 19Những biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, hoán dụ, ẩn dụ, nói quá, nói giảm, chơi chữ, liệt kê… được sử dụng nhằm tăng tính hiệu quả và nghệ thuật của thể thơ Tất cả góp phần hướng đến bày tỏ những quan niệm mới mẻ
về cuộc sống Đó cũng là cách bộc lộ trực diện nhằm thể hiện hơi thở nóng hổi của cuộc sống mới
Với ý thức cá nhân và sức mạnh của tiếng nói nội tâm, các nhà thơ đương đại đã tìm đến những câu chữ và những hình thức nghệ thuật mới mẻ
để diễn tả đúng những rung động tinh tế, những ngõ ngách của tâm hồn cũng như những hỗn độn của cuộc đời vào trong một ánh nhìn bao chứa một cách sinh động nhất Do đó, có thể nói, chưa bao giờ cách tân, sáng tạo lại trở thành một ý thức tự giác, một nhu cầu khẩn thiết, một cao trào phổ biến, rộng rãi như giai đoạn này Sự táo bạo, dũng cảm của những người đi trước, xu hướng hội nhập toàn cầu, môi trường tự do dân chủ, giao lưu quốc tế, khao khát được khẳng định cá tính chính là động lực để nhiều nhà thơ trẻ bắt đầu tạo ra một làn sóng mới trong thơ Việt Nam đương đại Và có thể khẳng định rằng, thơ đương đại cách tân nhưng vẫn không xa lạ với tâm thức văn hóa người Việt
1.2 Thơ Đồng Đức Bốn – thế giới của những nỗi niềm “hoang dại đồng quê”
1.2.1 Đồng Đức Bốn – thi sĩ “nhà quê trí thức”
Đồng Đức Bốn sinh ngày 30-3-1948, quê ở xóm Lê Lác, thôn Song Mai (tức làng Moi), xã An Hồng, huyện An Hải (nay là An Dương), thành phố Hải Phòng Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Sinh ra trong một gia đình thuần nông, tuổi thơ của Đồng Đức Bốn gắn liền với đồng nội quê hương, với cuộc sống lam lũ và cái tình trong trẻo của người dân quê Tâm hồn ông vì thế, hồn nhiên, chân chất, rất nhạy cảm và cũng không kém “bụi bặm”, ngang tàng Đồng Đức Bốn bắt đầu sáng tác thơ vào cuối những năm
Trang 201980 Và suốt cuộc đời mình, tuy cuộc sống bấp bênh nhưng niềm khao khát thơ ca của nhà thơ cháy bỏng khôn nguôi
Đến với thơ từ năm 17 tuổi (1965), song mầm thơ ở chàng thanh niên quê mùa ấy vừa nhú đã lụi Phận nghèo đẩy đưa, người lính thanh niên xung phong ấy không thể vơ vẩn mãi với gió trăng Ông phải vật lộn với cuộc sống, làm đủ thứ nghề từ thợ gò, sửa chữa ô tô và cả ký kết những hợp đồng kinh
và trong thơ Cũng ở đây, chất dân dã đã bắt đầu xuất hiện và ngay lập tức tạo nên một hiện tượng độc đáo cho thơ đương đại
Tuy chưa có nhiều thành công ở tập thơ đầu nhưng Đồng Đức Bốn vẫn kiên trì với thơ ca cùng niềm khát khao cháy bỏng của mình vốn đang bị chôn nén trong cuộc đời nhiều long đong Nhà thơ đã “phải duyên” cùng lục bát để rồi suốt hành trình sáng tác của mình, ông đã cùng lục bát rong ruổi khắp mọi
nẻo đường quê hương, xứ sở, mọi ngóc ngách của tâm hồn Tập Chăn trâu
đốt lửa (Nxb Lao Động – 1993) là một tập thơ thuần lục bát Ở đó, thế giới bế
tắc và thất bại hiện lên với những rạn vỡ của mọi vật trong cuộc sống Đó đồng thời cũng là nơi thăng hoa những tình cảm cơ bản nhất, bền vững nhất của Đồng Đức Bốn Những ngang trái, sự bơ vơ đồng hiện trong tập thơ này
là sự bày tỏ tình cảnh và tái hiện quãng đời đáng nhớ của ông
Trang 21Bảy năm sau, Trở về với mẹ ta thôi, “tập thơ có sức nặng, có chất lượng
cao” [1,tr.678] của Đồng Đức Bốn ra mắt bạn đọc với những bài thơ giàu ám
ảnh như Trở về với mẹ ta thôi, Nhà quê, Cuốc kêu, Đời tôi, Vào chùa, Chợ
buồn Nó đánh dấu “thời đỉnh cao của thơ Đồng Đức Bốn” [1,tr.687] khi nhà
thơ trở về với ca dao, với tình đời dù cay đắng nhưng vẫn rất ngọt ngào
Đến Chuông chùa kêu trong mưa (Nxb Hội Nhà văn – 2002), cái tôi
Đồng Đức Bốn dường như được khai mở bởi nhãn quan tôn giáo, chứa đựng
sự khoan dung, siêu thoát Cõi đời, cõi đạo, cõi thơ xuyên thấm vào nhau Vẫn cái giọng hồn nhiên, tài hoa, ngang tàng, đậm chất ca dao và đầy những liên tưởng bất ngờ thú vị rất có duyên nhưng thơ ông đã có một sắc thái thẩm
mỹ đầy khí vị Thiền Cũng trong tập thơ này, Đồng Đức Bốn đã thể hiện rõ cái quyết tâm sống chết với thơ, để lộ cái ý thức về một cõi thơ riêng, một thể thơ riêng và “có vẻ muốn chiếm đoạt thể thơ lục bát thành danh xưng và tước hiệu của riêng mình” [1,tr.589]
Khao khát tìm một “lối đi” nhằm mở rộng phạm vi biểu hiện cái tôi của
Đồng Đức Bốn được thể hiện tập trung trong tập thơ Chim mỏ vàng và hoa cỏ
độc (Nxb Hội Nhà văn – 2006) Trong tập thơ đầy ắp sự trăn trở, khát vọng về
tình yêu, tình cảm với gia đình, quê hương, nỗi ám ảnh về cái chết và những suy nghiệm về sự cô đơn của bản thân và trên hết là sự ham sống và ý thức trân trọng sự sống của nhà thơ Dường như đứng trước thử thách cuối cùng của cuộc sống, thơ ông nâng niu sự sống hơn và đằm về phía tâm linh, cõi người hơn Chất “nhà quê” không chỉ dừng lại ở thể thơ lục bát được làm mới, làm sang trọng lên rất nhiều mà còn được biểu hiện chủ yếu ở sự kết tinh của “hồn quê” với những gì tinh túy, đẹp đẽ nhất
Thực ra, sự phân hóa của thể loại trữ tình trên các nẻo đường ngôn ngữ cũng là sự phân hóa trong thái độ thẩm mỹ của nhà thơ đối với hiện thực Những sáng tác của Đồng Đức Bốn đã mang hương vị dân gian đến cho thơ
Trang 22ca đương đại Đó là minh chứng cho sự nỗ lực không ngừng của nhà thơ để tạo nên cái mới lạ, độc đáo cho thơ
Mỗi nghệ sĩ, khi sáng tạo, dù tuyên ngôn hay im lặng, đều viết dưới ánh sáng của một quan niệm nghệ thuật nào đó Quan niệm này chi phối trực tiếp
tư duy sáng tạo, khúc xạ lên những hình ảnh, biểu tượng, đổ bóng lên cái tôi trữ tình và in dấu vào ngôn ngữ Đồng Đức Bốn là người có ý thức trong quan niệm về thơ Những quan niệm đó ít khi được ông phát biểu dưới dạng lý luận
mà thường được bộc lộ qua chính những sáng tác của mình Không tuyên ngôn to tát, với Đồng Đức Bốn, thơ đơn giản chỉ là tiếng hót của con “chim
mỏ vàng” lay động lòng người, là tiếng thơ khắc khoải của tâm hồn thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người đến cạn lòng: “Tôi còn một giọt máu tươi/ Cũng xin
để lại nụ cười cho thơ/ Biết đâu trong cõi mộng mơ/ Lại thành ra tiếng chuông
thờ gọi mưa” (Đi tìm mặt trời đã lặn)
Tha thiết với cuộc đời, Đồng Đức Bốn xem thơ là cõi đi - về trong cõi đơn độc, bơ vơ để cứu rỗi, giải thoát linh hồn đau đắng: “Gửi câu lục bát vào
Trời/ Tôi đi tìm lại con người trong ta” (Với cây xương rồng) Thơ, với ông,
là “Sự đời cát bụi soi gương”, là tiếng chuông thức tỉnh của thân phận lận đận, nổi chìm Nhà thơ quan niệm “thơ phải đạt đến độ giản dị Không có nghĩa là thấy sao nói vậy, mà giản dị chính là cách tiếp cận để đến với bản chất cuộc đời cũng như cõi sâu xa của tâm hồn Lối nói giản dị là lối nói của dân gian Tri thức, kinh nghiệm dân gian chính là phần tiềm thức trong mỗi con người hiện đại” [1,tr.690] Chính những trải nghiệm quý báu trong cuộc đời nhiều chìm nổi, long đong đã giúp ông xác định một tư tưởng nghệ thuật mang giá trị nhân văn sâu sắc
Ý thức sâu sắc về bản thân, Đồng Đức Bốn hiểu trong ông tồn tại song song hai con người: một con người thực mạnh mẽ, quyết liệt và độc đoán; một con người thơ, dịu dàng, đằm thắm, nhân hậu và đa tình Con người thứ
Trang 23nhất bươn chải với sóng gió, chịu nhiều bấp bênh của số phận, vì vậy quá tường tận “mánh khóe” cuộc đời Con người ấy có thể mang trong mình những bộ mặt khác nhau, có thể xoay vần theo sự chuyển biến của xã hội Con người thứ hai, đến già vẫn hồn nhiên: “Tôi lấy trăng liềm làm bím tóc cho”, đa cảm, đắm đuối, đẫm ắp tin yêu Đó là một “thi sĩ đồng quê/ Là kẻ
mượn bút của trời là người chăn trâu đốt lửa” (Anh vẫn yêu những đồng cỏ
hoa vàng) Yêu thơ, sống chết cùng với nó nhưng Đồng Đức Bốn không xa
cách với đời sống thực Bằng lao động, trí lực của mình, ông đã thay đổi cuộc sống bần nông nghèo khó của gia đình Khi mắc phải căn bệnh hiểm nghèo – ung thư phổi, trong những ngày tháng chống chọi với số mệnh, ông vẫn lạc
quan “Tôi không thể chết được đâu/ Bởi tôi còn khúc sông sâu lụy đò” (Tôi
không thể chết được đâu) Đeo nặng nghiệp thơ, Đồng Đức Bốn vừa chống
chọi với căn bệnh hiểm nghèo vừa tiếp tục làm thơ Với Đồng Đức Bốn, để sống với “cái lộc thơ” được “trời cho” của mình, ông phải đánh đổi bằng cả cuộc đời đầy truân chuyên Dường như mỗi một tập thơ ra đời là một lần ông phải mất đi một người thân và cả chính cuộc đời mình
Sau một thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư và gượng sống những giây phút cuối cùng với thơ ca, con “chim mỏ vàng” của dòng thơ lục bát, nhà thơ Đồng Đức Bốn, đã “ngưng tiếng hót” để “trở về với mẹ ta thôi”
Trước khi mất, nhà thơ âm thầm chuẩn bị cuốn sách Chim mỏ vàng và hoa cỏ
độc dày hơn 1000 trang Và ngày 14 tháng 2 năm 2006, con người đã khiến
giới văn nghệ và truyền thông tốn bao nhiêu giấy mực, “người đã gây náo loạn làng văn Việt Nam” như lời nữ thi sĩ Dư Thị Hoàn từng nhận xét, đã ra
đi mãi mãi Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng, thơ Đồng Đức Bốn sẽ được đọc, được nhớ lâu bởi chính chất “vàng mười” rạng rỡ trong thơ ông:
“Dẫu chưa đến được mặt trời/ Cũng thành hạt thóc tháng mười vàng ươm”
(Muôn ngàn sông chảy về đâu)
Trang 241.2.2 Thơ Đồng Đức Bốn – hành trình hiện đại đẫm chất dân gian
Thơ Việt Nam đương đại đang nỗ lực đổi mới trong cách thể hiện về cả
nội dung lẫn nghệ thuật Các nhà thơ đã tạo ra những hình thức thơ mới lạ
mang đậm dấu ấn hậu hiện đại Trong khi đó, Đồng Đức Bốn dường như vẫn
“trung thành” với truyền thống Sự đổi mới của thơ ông, cơ bản vẫn gắn liền với thơ lục bát và một số ít thể thơ khác
Thơ Đồng Đức Bốn là khúc hát vừa ngọt ngào, vừa nghẹn ngào vừa bay bổng, ngang tàng hòa trộn trầm tích ngàn năm văn hiến của nền văn minh lúa nước sông Hồng với cả hơi thở của dòng chảy văn hóa đương đại Nó chứa đựng một “hồn quê” đằm sâu với cả người quê, cảnh quê và tình quê, làm thao thiết tâm hồn người bởi lối cảm và logic dân gian Ở đó, đầy ắp những tin yêu, gắn bó sâu nặng với cuộc đời, với cảnh quê, người quê, tình quê của con người: “Dẫu chưa đến được mặt trời/ Cũng thành hạt thóc tháng
mười vàng ươm” (Muôn vàn sông chảy về đây) Tất cả lắng đọng trong những
cảnh sắc giản dị, thơ mộng, lung linh của bến nước, hoa vườn, của đơn sơ những ngày “đốt lửa chăn trâu”, trong những câu hát đồng quê, trong lời ru, trong những lam lũ và bình yên của quê hương Ở đó, tình yêu và nỗi nhớ của nhà thơ kết tinh thành “hồn quê” níu gọi người về: “Từ trong méo nắn lệch
kê/ Tôi ngồi thương nhớ đồng quê một mình” (Nhà quê)
Có thể nói, thơ Đồng Đức Bốn đi ra từ nguồn mạch văn học dân gian thấm đẫm sắc hồn ca dao Việt Nhà thơ không chỉ mượn cách nói, cách cảm, cách nghĩ của ca dao mà còn nhập vào hồn vía của ca dao mà thăng hoa cùng những câu thơ của mình Khác với lục bát của Nguyễn Bính, Huy Cận, Nguyễn Duy… lục bát của Đồng Đức Bốn thuần khiết những cũng đầy mới
mẻ, có khả năng khai mở những chiều sâu và tầm vóc mới cho thơ ca
Sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn trên thi đàn Việt Nam được xem là một hiện tượng đặc biệt Từng phiêu bạt nhiều nơi, lam lũ chuyện vợ con,
Trang 25nếm đủ mùi cay đắng “hệt như trong một câu chuyện “hoang đường” [1,tr.800], Đồng Đức Bốn đã đến với thơ, “mượn bút của trời” để làm thơ và
gắn tên tuổi của mình với hồn thơ lục bát thấm đẫm tình người Vì lục bát là
thành công lớn nhất của Đồng Đức Bốn nên ông quan niệm rất sâu sắc về nó Bởi nó không chỉ là “ân huệ” của trời đất mà nó còn là cõi hóa thân, là bản mệnh của ông Nó cũng là một sợi dây liên kết sự đồng cảm giữa con người với với thiên nhiên, giữa ông với mọi người Bên cạnh việc khẳng định vị trí của mình trong dòng chảy của thơ Việt Nam đương đại Đồng Đức Bốn còn định hình cho mình một phong cách lục bát riêng biệt với chất giọng lúc thiết tha, đằm thắm, lúc tưng tửng, ngạo nghễ với sự nối kết những câu từ bình dị nhưng mang đến cho người đọc một cấu tứ lạ, vừa triết lý, vừa hóm hỉnh, thâm trầm
Tránh những lối mòn xưa cũ, lục bát Đồng Đức Bốn phá vỡ những quy luật thơ ở mọi chiều kích trong sự ngang tàng, ngạo nghễ mang hơi hướng đồng quê Mỗi câu lục bát của ông khi đứng độc lập thường gợi liên tưởng đến những câu tục ngữ, ca dao đã sống tự nghìn đời: “Lời ru cho cỏ biết buồn/
Cho nên chớp bể mưa nguồn lại thôi” (Lời ru cho cỏ buồn) Với khoảng 600
bài thơ lục bát, Đồng Đức Bốn đã góp cái lạ, cái tinh tế của cảm xúc và suy tư cho cuộc hành trình thơ độc đáo của mình Trong thể thơ dân dã ấy, ngôn ngữ đồng quê, cảm hứng đồng quê và đặc biệt là ý tưởng đồng quê phát lộ qua tiếng dùng, chữ dùng, cách ví von của những người gắn bó với ruộng lúa, ao rau, của những người chèo đò, rã vai gánh trên các chợ quê “thập thò”, “thấp thỏm”, “tẽn tò”, “ra bể vào ngòi”, “buộc bụng thắt lưng”, “và nắng chan sương” Dù hành trình của cái tôi trong thơ Đồng Đức Bốn có xu hướng đi –
về hay tìm kiếm ở những miền đất nào khác thì tất cả vẫn chỉ là những cuộc
phiêu lưu trong câu lục bát Trong thơ Đồng Đức Bốn xuất hiện nhiều hình
ảnh, biểu tượng mang đậm chất dân gian Đó là hình ảnh của làng quê, con
Trang 26đò, cánh đồng, dòng sông, gai, giông bão, hoa cỏ… chứa đựng những sâu thẳm của con người đồng quê Có người trách thơ ông kém vui, nhưng chúng tôi cho rằng, nỗi buồn của ông dẫu cay đắng đến đâu cũng đều là nỗi buồn đẹp Nó mang cả ngậm ngùi tiếc nuối, niềm hoài cổ của thi sĩ về những điều
đã mất với mọi cung bậc của yêu thương và của cả những nỗi niềm thất
vọng: “Bây giờ em đang ở đâu/ Để sông cạn chảy để trầu bỏ cau” (Đợi ở chùa
nghèo) Không chỉ thành công ở thể lục bát, Đồng Đức Bốn còn thử nghiệm
thơ tự do, thơ năm chữ với nhiều bài thơ như: Theo cánh chim bị thương, Anh
vẫn yêu những đồng cỏ hoa vàng, Em đi Malaysia, Sau đấy là hoa sữa… Ở
đó, Đồng Đức Bốn đã biến hóa, xếp ghép những từ ngữ bình dị thành những bài thơ có ma lực truyền cảm, lan tỏa, có khả năng khiến những nỗi niềm hoang dại đồng quê hiện lên thấm đẫm chất dân dã, làm ám ảnh người đọc
Song thơ Đồng Đức Bốn cũng không kém phần hiện đại Ông đã làm mới thể thơ lục bát bằng chất tình trong trẻo, nỗi đau đáu với đời và cả cái ngông của một kẻ sĩ: “Nói gì thì kệ người ta/ không em phố chẳng còn là phố
đâu” (Duyên quê); “Cánh hoa sắc một lưỡi dao/ Vì yêu tôi cứ cầm vào như không” (Hoa dong riềng) Cái tài hoa, độc đáo của Đồng Đức Bốn thể hiện rõ
qua những câu lục bát đậm chất quê mùa nhưng lại ẩn chứa nhiều triết lý về thế thái, nhân tình
Thơ lục bát Đồng Đức Bốn đặc biệt bởi nó luôn là một bất ngờ đến kì
lạ “Mỗi bài giống như một ma trận trí khôn, đôi khi láu cá của những câu hát dân gian ví von, ẩn dụ, láy, lóng…!” [1,tr.801] Ẩn trong giai điệu nhịp nhàng của thể thơ truyền thống ổn định là hơi thở hiện đại với tâm trạng tếu táo, ngỗ nghịch của một lớp người Nhà thơ không tự tách mình ra để nói về đối tượng
mà đồng cảm, hòa nhập với họ Sự câu thúc của đề tài, thể thơ không phải là không khắc nghiệt với người cầm bút, nhưng thơ lục bát của Đồng Đức Bốn
đã vượt lên Nó không chỉ nhuần nhuyễn trong thể hiện ý tưởng, giãi bày cảm
Trang 27xúc mà còn đầy ắp sự sáng tạo nhịp điệu khiến nhiều câu, nhiều bài đạt tới chiều sâu của triết lý nhân sinh Một điều đáng ghi nhận là thơ lục bát Đồng Đức Bốn có sự cách tân rõ nét trong giọng điệu và lối biểu đạt tạo nên sự đa dạng cho các bài thơ ở cùng một đề tài Vẫn là đình, gốc đa, gai giậu, ngõ quê, con đò, bến nước… nhưng nhà thơ đã chuyển cấp độ bằng lối nói nhân hóa góc cạnh khiến các câu thơ mang chuyển được tâm trạng của con người hiện đại: “Bao nhiêu là thứ bùa mê/ Cũng không bằng được nhà quê của mình/ Câu thơ nấp ở sân đình/ Nhuộm trăng trăng sáng nhuộm tình tình đau”
(Cuối cùng vẫn còn dòng sông)
Trong bối cảnh thơ Việt Nam đang có nguy cơ rối rắm về hình thức, ngổn ngang kĩ nghệ thơ Tây Âu, thì thơ của Đồng Đức Bốn vụt lên sáng trong, giản dị mà không kém phần sâu sắc, mới lạ và ấn tượng Vẫn còn những câu, những bài dài, loãng nhưng thơ ông vẫn là tiếng lòng hồn nhiên bình dị được thăng hoa từ những xô bồ trải nghiệm trong đời thực Bởi vậy, nếu thơ là tiếng nói thân phận thì thơ Đồng Đức Bốn, trước tiên, là phát ngôn cho thân phận của kẻ mang tâm trạng “Tẽn tò con sáo sang sông/ Bờ bên này tưởng cũng không có gì/ Tẽn tò con sáo bay đi / Lại bờ bên ấy có gì cũng
không” (Con sáo sang sông) trên hành trình “Đời tôi chỉ những xót xa đi tìm” (Đời tôi) Mặc dù không có những câu thơ xuất chúng, nhưng Đồng Đức Bốn
đã khẳng định được cá tính và sự độc đáo của thơ mình trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam đương đại bằng những bài thơ đậm chất dân gian hiện đại Với việc sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ bình dân và thể thơ lục bát và xu hướng sử dụng những từ ngữ phóng khoáng, bạo liệt đầy cá tính thể hiện một
tư duy sắc sảo, Đồng Đức Bốn đã tạo ra được cách tân đầy bản lĩnh trong thơ
ca đương đại Ông xứng đáng được coi là “nhà thơ khai sáng và sáng tạo ra những cái mới trong thơ lục bát” [1,tr.546-547], góp phần làm nên một sắc màu lạ cho thơ ca Việt Nam đương đại
Trang 28CHƯƠNG 2 MỘT SỐ DẠNG THỨC CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG CHIM MỎ VÀNG VÀ HOA CỎ ĐỘC CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN
2.1 Cái tôi cảm xúc đời thường
2.1.1 Cái tôi gắn bó sâu nặng với quê hương
Trong Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, Đồng Đức Bốn đã gây ấn tượng
cho người đọc bởi một thế giới thơ đẫm xúc cảm chân thành và mới lạ Ở đó, cái tôi trữ tình thể hiện cảm xúc và suy nghĩ chủ quan của nhà thơ về thế giới con người bằng các phương tiện nghệ thuật Nó góp phần bộc lộ phong cách của nhà thơ
Cảm hứng thương nhớ đồng quê, người quê và hồn quê mà trước hết là niềm tự hào về quê hương thôn dã in đậm trong ông: “Bao nhiêu là thứ bùa
mê/ Cũng không bằng được nhà quê của mình” (Cuối cùng vẫn còn dòng
sông) Quê hương là nơi đã giúp nhà thơ vượt qua bao đắng cay, sóng gió
cuộc đời: “Cũng nhờ mái rạ mái rơm/ Mà tôi vượt khỏi ngàn cơn bão lòng”
(Đứng trong cơn bão mà trông) Vì thế, không khó hiểu khi trong thơ Đồng
Đức Bốn luôn cháy một nỗi niềm khao khát trở về với làng quê của mình
Làng quê trong thơ Đồng Đức Bốn vừa giống vừa khác với làng quê của ca dao xưa: “Nhà quê có cái giếng đình/ Trúc xinh cứ đứng một mình
lẳng lơ” (Nhà quê) Vẫn là những chất liệu dân gian nhưng những “giếng
đình”, “trúc” xuất hiện trong thơ Đồng Đức Bốn hiện đại đến bất ngờ “Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ” chứ không phải là “Trúc xinh trúc mọc đầu đình/ Em xinh em đứng một mình vẫn xinh” nữa Bây giờ, câu thơ vì thế gieo vào tâm tưởng người đọc nét chủ động, tươi mới của con người quê Khác với thơ Nguyễn Bính, thơ Đồng Đức Bốn không hướng về vàng son dĩ vãng mà
nó hướng về hiện tại Nông thôn trong thơ ông vẫn “chân lấm tay bùn” và
Trang 29hình ảnh người phụ nữ đứng tuổi lom khom cấy hiện lên trong cái “rét run” như gieo vào lòng người đọc sự nghèo khó, lam lũ đến cay xè: “Nhà quê chân
lấm tay bùn/ Mẹ đi cấy lúa rét run thân già” (Nhà quê) Thế nhưng, nông thôn
ấy còn là khuôn mặt cuộc đời với những sắc màu hiện đại: “Nhà quê có mấy
trai tơ/ Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi” (Nhà quê) Làng quê ấy vì vậy cứ
hiện ra trong niềm ngậm ngùi: “Chợ chiều mở dưới gốc đa/ Nhà quê đem mấy
con gà bán chơi” (Nhà quê) Có một nỗi niềm xa vắng hiu hắt, cay xót trước
cuộc sống nghèo khó của người quê nhưng cũng hiện lên ở đó chút hóm hỉnh, tinh nghịch của nhà thơ toát ra từ “con gà bán chơi” ấy
Làng quê trong thơ Đồng Đức Bốn được hình dung qua những hình ảnh
rạ rơm, cây cải, hoa dong riềng, bờ tre, bụi dứa, vườn cau, bụi tầm xuân, múi bưởi đào, dây tơ hồng, mảnh sành, gai rào, ngõ quê, dòng sông, chiếc trăng gầy… Nó không chỉ in đậm dấu ấn về một thời thơ ấu gian nan đã qua: “Chăn trâu đốt lửa trên đồng/ Rạ rơm thì ít, gió Đông thì nhiều/ Mải mê đuổi một
con diều/ Củ khoai nướng để cả chiều thành tro” (Chăn trâu đốt lửa) mà còn
chứa đựng trong vô vàn những vẻ đẹp tinh tế mà mộc mạc của thôn quê mà
không phải ai cũng nhận ra “Thập thò trong bụi tre gai/ Hoa dong riềng của nhà ai nở hồng” (Hoa dong riềng) Cảnh quê ấy vừa hiện lên với nhiều bão tố,
gió giông nhưng cũng đã neo đậu, kết tinh trong tâm hồn người bao cảm xúc hồn nhiên, tha thiết về sự bình dị, êm ả, thanh bình của nó Đây chính là một điểm tựa tinh thần an ủi, nâng đỡ con người, là nơi tìm về với cội nguồn văn hóa truyền thống
Cảnh quê trong thơ Đồng Đức Bốn mang một vẻ đẹp đơn sơ như chính tâm hồn con người hiện lên thật chân thực trong cuộc sống còn nhiều gian khổ Hình ảnh người quê quẩn quanh với “chăn trâu đốt lửa”, lên chùa, đón hội thật duyên dáng đậm nghĩa tình: “Tôi về đây với hội Lim/ Nghe câu xe
chỉ luồn kim thuở nào” (Hội Lim) Cái tôi nhà thơ cảm thấy sung sướng khi
Trang 30được gắn bó máu thịt với ruộng đồng quê hương dân dã: “Tôi sinh ra ở quê/
Đi bên cây nói lời của đất” (Theo cánh chim bị thương); “Con muỗm xanh
trên sóng lúa dập dờn/ Hương cỏ dại mãi bên hồ nước đắng” Quê hương với Đồng Đức Bốn, dù đã có rất nhiều thay đổi nhưng cái hồn nhiên, thanh khiết của nó vẫn vẹn nguyên trong hồn người thơ Đồng Đức Bốn để mỗi khi bắt gặp nó, nhà thơ không khỏi run rẩy như nhận ra cái bản lai diện mục của mình Chính vì thế, tìm về với cố hương, với cội nguồn, với cõi bình yên vĩnh hằng chính là khát khao bình dị mà lớn lao của nhà thơ Chất liệu dân gian và đời sống nông thôn đã giúp Đồng Đức Bốn nhận diện vô vàn những vẻ đẹp tinh tế của thôn quê, gợi trong tâm hồn ông những ý niệm đẹp về sự thanh bình, thuần khiết ngay trong lam lũ, khổ đau Người đọc có lẽ không khỏi ngạc nhiên bởi những chất liệu quá quen thuộc nhưng lại có một dáng vẻ riêng biệt, gợi cảm và gây được ấn tượng
Sự gắn bó sâu nặng với quê hương của cái tôi trữ tình Đồng Đức Bốn
được thể hiện trong Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc bằng nỗi ám ảnh về cuộc
thâm nhập phố - làng Nếu trong Thơ Mới, không gian nghệ thuật giữa thành thị và nông thôn có sự phân định rõ ràng thì trong Đồng Đức Bốn, đó là hai cảnh ngộ nhưng lại là một số phận Làng quê ấy đã đang bị cuộc sống đô thị xâm lấn Sự xâm lấn này hiện rõ trong “vêu vao” khuôn mặt nàng thôn nữ:
“Lề đường bên những chiếc lều/ Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày” (Chờ đợi
tháng ba), trong nhốn nháo “Ngả nghiêng mấy lão thợ cày/ Rượu say vác cả
cối chày nện nhau” (Chờ đợi tháng ba) hay “Nhà quê có mấy trai tơ/ Quần bò
mũ cối giả vờ sang chơi” (Nhà quê) Cuộc sống đô thị đang ồ ạt phá hỏng sự
trong trẻo, yên bình của làng quê Điều này trở thành nỗi lo lắng ám ảnh nhà thơ
Trong thơ Đồng Đức Bốn, đầy ắp nỗi hẫng hụt của tâm hồn người quê khi dọ dẫm với sống cuộc đời thành thị Không mong được hội nhập mà cốt
Trang 31để ứng chiếu, ngắm nghía Không gian thành thị ấy, Đồng Đức Bốn đã thức nhận rõ khuôn mặt cuộc sống: “Người thì áo rách đã lâu/ Người thì xe cúp
đua nhau từng hàng” (Chiều mưa trên phố Huế) Bởi, tình quê ở phố còn tha
thiết nên người thơ Đồng Đức Bốn cảm thấy lạc lõng: “Chiều mưa phố Huế
một mình/ Biết ai là chỗ ân tình đến chơi” (Chiều mưa trên phố Huế)
Song đô thị là nơi con người đang vật vã với những quăng quật của cuộc đời để mưu sinh Dẫu biết “Nhà cao dẫu đến lưng trời/ Nếu không có cỏ
cũng vơi sắc hồng” (Tôi từ ngõ nhỏ ra đi) nhưng nhà thơ không thể tránh
được nỗi chua chát khi chứng kiến “Trâu bò thất thểu long đong/ Trên bè tre
rối bòng bong xoong nồi” (Vỡ đê) Làng trong mảnh hồn của Đồng Đức Bốn
vẫn còn những nét nguyên sơ, thuần hậu nhưng đã bị đóng khung, đã và đang
bị những luồng ánh sáng hiện đại xâm nhập vào từng bờ ao, bến nước, lũy tre
làng Từ ông lái đò xưa cũ: “Bờ sông có một con đò/ Gác chèo ông lái nằm
lo trăng buồn” (Bờ sông) đến thần, Phật: “Miếu thờ phật tượng ngồi đau/ Cửa thiền rêu đã lên mầu cổ xưa” (Chờ đợi tháng ba) Thế nhưng, bằng sự trải
nghiệm của mình, Đồng Đức Bốn đã có được những phát hiện mới mẻ về cuộc sống Cái tôi ấy nhìn thấy cái đẹp của làng quê ngay trong sự gai góc, đắng cay: “Đất nâu tưởng đã cũ càng/ Tiếng chim trong bụi gai làng cứ non”
(Câu ca mẹ hát như đùa) Hành trình xuôi ngược làng - phố, phố - làng của
tâm hồn thơ Đồng Đức Bốn thực sự là những cuộc đi - về của tình yêu và nỗi khát khao tìm kiếm hạnh phúc, tìm cách bắt rễ cho những câu thơ của mình và làm cho nó lên hương cùng năm tháng Có thể thấy, chất quê hiện lên thật đằm thắm trong thơ Đồng Đức Bốn dù cuộc đời lắm phiêu lưu và phiêu bạt
Trong Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, Đồng Đức Bốn đã chân thành bộc
lộ những gì trần thế nhất trong trải nghiệm của chính mình Dường như tất cả bôn ba sóng gió đã đã ngưng tụ lại trong những gì tinh túy, đẹp đẽ của hồn
Trang 32quê, người quê nhân hậu Đồng Đức Bốn để làm thành sự trân trọng và ngưỡng vọng về quê hương
2.1.2 Cái tôi chan chứa tình cảm đối với con người
Thơ xưa nay là tiếng nói tâm tình của con người đi từ trái tim đến trái tim, là mạch nguồn sinh sôi của ngôn ngữ dân tộc Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, thơ tồn tại và luôn chuyển mình cùng mỗi thời đại Thơ luôn thay chiếc áo mới để cho phù hợp với từng giai đoạn nhưng bên trong thơ vẫn luôn giữ được cảm xúc lành mạnh của trái tim chân thành và trái tim ấy luôn đập cùng nhịp với sự trắc trở vui buồn của nhân sinh thế sự Thơ Đồng Đức Bốn
là những tình cảm thiêng liêng nhất dành cho người thân trong gia đình, cho
bè bạn và những số phận nhỏ bé nơi làng quê của mình Nó đầy ắp những day trở với cuộc đời
Với Đồng Đức Bốn, quê hương không chỉ là cảnh, là người, là truyền thống văn hóa mà quê hương còn gắn liền với hình ảnh người mẹ, người cha Tình cảm với mẹ là điều thiêng liêng, bởi mẹ là người đã sinh dưỡng, thương yêu, hi sinh, che chở con một đời Đồng Đức Bốn đã viết về mẹ bằng một sự
chân thành mộc mạc đến tận cùng Trong Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, mẹ là
nơi lưu giữ toàn bộ tuổi thơ với những kỷ niệm khắc sâu trong tâm khảm, hằn từng vệt lớn về quê hương, về mẹ đầy ám ảnh Người mẹ “Bạc phơ mái tóc
bên trời hoa mơ” (Trở về với mẹ ta thôi) trong thơ Đồng Đức Bốn hiện lên
như một ảnh hình vừa hiện thực, vừa huyền thoại Đồng Đức Bốn nhìn mẹ với niềm tự hào lớn lao, mẹ hiện lên đẹp đẽ dù có lẫn trong lấm láp nhọc nhằn:
“Cả đời buộc bụng thắt lưng/ Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng” (Trở về
với mẹ ta thôi) Mẹ mang đến niềm vui, sự lạc quan và là nguồn an ủi lúc
cuộc sống cam go nhất: “Mẹ đau vẫn giữ tiếng cười/ Mẹ vui vẫn để một đời
nhớ thương” (Trở về với mẹ ta thôi) Những câu thơ ấy khiến người đọc nhận
Trang 33ra, hầu như người Việt Nam nào cũng có người mẹ như Đồng Đức Bốn:
nghèo nàn, lam lũ, nhẫn nhịn, hi sinh
Dòng kí ức về mẹ trong Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc đong đầy thương
cảm và biết ơn Cái tôi thơ luôn đau đáu trước sự nghèo khó cay đắng của mẹ Người mẹ tảo tần, một nắng hai sương vì miếng cơm manh áo: “Mẹ mua lông
vịt chè chai/ Trời mưa trưa nắng đôi vai lại gầy” (Trở về với mẹ ta thôi)
Dường như cái tôi Đồng Đức Bốn nhìn thấy cái bóng hình khổ đau lam lũ
“Áo nâu mẹ vẫn bạc bên nắng chờ” và cuộc đời gió mưa đầy vất vả của
mẹ: “Còng lưng gánh chịu gió mưa/ Nát chân tìm cái chửa chưa có gì” (Trở
về với mẹ ta thôi) nên ông giật mình nhói xót: “Bát cơm và nắng chan sương/
Đói no con mẹ sẻ nhường cho nhau” (Trở về với mẹ ta thôi) Hình ảnh mẹ
được đan dệt bằng cả mưa nắng, bùn lầy, những rác rưởi “lông vịt chè chai”
Mẹ lặn lội gió mưa để tìm trong hư vô một cái gì đó, không chỉ là miếng cơm manh áo và tiền bạc, mà còn là những thứ quý hơn vàng Đó phải chăng là tình đời và những lời ca thấm đẫm tình mẫu tử bấy lâu bị vùi lấp trong lãng
quên: “Mẹ ra bới gió chân cầu/ Tìm câu hát đã từ lâu dập vùi” (Trở về với mẹ
ta thôi) Mẹ “bới gió” tìm những câu hát bị thời gian vùi lấp nhưng trời đất
chỉ mang đến cho mẹ những lời ca vĩnh viễn buồn đau Mẹ của Đồng Đức
Bốn gian nan “đi cất vó lội xiêu gió đồng” cho nên ông “thương mẹ ở phía cơn giông một mình” (Nhớ một dòng sông) Tự thẳm sâu đáy lòng, thơ ông
bật lên những đớn đau: “Mẹ hát con chẳng khen hay/ Bởi bao nhiêu gió đã bay về trời/ Lời buồn buồn mãi chẳng vơi/ Lời vui để lại ruột người chín đau”
(Trở về với mẹ ta thôi)
Đồng Đức Bốn không chỉ kính yêu, trân trọng người mẹ “còng lưng gánh chịu gió mưa” của mình mà trong ông, mẹ còn là nơi sẻ chia những đau đớn của ông Cảm động biết bao khi trong thơ Đồng Đức Bốn hành trình của
mẹ từ khi còn sống với đong đầy vất vả đến khi mất “vùi chôn đất mềm” là cả
Trang 34một hành trình gian khổ và thấm đẫm nỗi đau: “Tôi còn nhớ một dòng sông/
Mẹ đi cắt cỏ mưa không kịp về” (Nhớ một dòng sông) Gặp nhiều bế tắc và
thất bại trong đời: “Đời tôi như một cánh diều/ Đứt dây để trống cả đời ngẩn
ngơ” (Đời tôi) nên nhà thơ chỉ còn biết “Trở về với mẹ ta thôi” và tìm về với
mẹ cũng là trở về với điều thiêng liêng của tổ tông, cội nguồn
Nỗi đau, niềm trăn trở bật lên thành tiếng: “Ối mẹ ơi đê vỡ rồi/ Mộ cha liệu có lên giời được không?/ Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng/ Chở con với
mẹ qua giông bão này?” (Vỡ đê) Những câu hỏi đặt ra liên tục như tấm lòng
của đứa con trước những nhọc nhằn, bão tố trong cuộc sống mà mẹ phải trải qua và chịu đựng Tiếng gọi mẹ khi đê vỡ khiến người đọc hình dung ra cảnh làng quê ngập trắng trong lũ lụt ngày nào với bao nhói xót trong tâm hồn đứa con xa quê Đằng sau lối nói lu loa ấy là lời thú nhận về sự bất lực, chua xót đầy bế tắc của con người trước những cam go của cuộc sống
Chính vì vậy, nhà thơ đau đớn khi mẹ qua đời Nỗi đau, sự chông chênh của con hiện lên trong cảnh ngộ thật đau lòng: “Con vừa vượt núi băng
ngàn/ Về nhà chỉ kịp đội tang ra đồng” (Trở về với mẹ ta thôi) Và tâm trạng
nhà thơ lúc đó thật lạ lùng: “Mẹ không còn nữa để gầy/ Gió không còn nữa để
say tóc buồn” (Trở về với mẹ ta thôi) Tiếng thơ ấy chứa đựng sự dung dị, tha
thiết chân thành của Đồng Đức Bốn dành cho mẹ Tình cảm biết ơn, trân trọng của đứa con trở nên đẹp đẽ, toát lên dòng cảm xúc vừa lắng đọng vừa thiêng liêng Những xúc cảm ấy có được nhờ sự lên ngôi của những trải nghiệm, những nông sâu vơi cạn và ý vị của cuộc đời
Cuộc tiễn đưa mẹ về thế giới bên kia nghẹn ngào, ngẩn ngơ, xé gan xé ruột Nó nghẹn lại và xen lẫn cả tiếng nấc trong nỗi đau xót và sự mất mát:
“Mẹ nằm như lúc còn thơ/ Mà con trước mẹ già nua thế này” (Trở về với mẹ
ta thôi) Có thể nói, tình cảm với mẹ của Đồng Đức Bốn thật sâu đậm, thể
hiện một mong ước thoạt nghe “chẳng giống ai”, song càng ngẫm càng thấy
Trang 35thấm thía Ông cầu mong được về với mẹ, cần mẹ cả khi đã chết: “Trở về với
mẹ ta thôi/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ” (Trở về với mẹ ta thôi)
Trong thơ Đồng Đức Bốn còn chứa chan tiếng lòng của cái tôi ngưỡng vọng về cha mình với một niềm biết ơn sâu thẳm Người cha trong ám ảnh của cái tôi ấy hiện lên vừa kì vĩ, vừa mơ mộng: lấy trăng tròn đan sàng và trút
“mơ màng” vào “nan thưa”: “Lanh canh, lạch cạch ngoài hiên/ Bố tôi đan
chiếc trăng lên làm sàn” (Bố tôi) Cha, với một thái độ sống tích cực, lạc quan
trước những nhọc nhằn của cuộc sống đã trở thành điểm tựa tinh thần giúp con vững vàng vượt qua trở ngại, khó khăn: “Có bao nhiêu những say sưa/ Bố tôi bắt gẫy nắng mưa trưa chiều/ Lạ chưa chỉ một tay chiêu/ Mà đập vỡ mặt
trời chiều tháng ba” (Bố tôi)
Cái tôi giàu hiếu kính ấy đau xót, thảng thốt xen lẫn niềm hối hận khi
cha không còn trên cõi đời: “Khi con nhận ra thì cha đã xa rồi” (Ở trên đồi
Thanh Tước) và ông “ra hứng gió vọng hồn bố tôi” (Bố tôi) Lúc này, ông như
đứa trẻ mồ côi đáng thương, không bao giờ sửa chữa được những nỗi đau và lỗi lầm từng có Thế nên đứng trước mộ cha, ông mong cha được thanh thản yên nghỉ nơi đồi cao đầy gió và hoa: “Mộ cha ở trên đồi đất đỏ/ Điều trước tiên phải cảm ơn là gió/ Bởi gió thơm về những cánh đồng hoa/ Để mộ cha
không già” (Ở trên đồi Thanh Tước) Tình cảm của Đồng Đức Bốn dành cho
cha vô cùng lớn lao, thiêng liêng, bởi đó là tình cảm cao cả và bất tử
Đặc biệt, trong thơ mình, Đồng Đức Bốn dành cho bạn bè những tình cảm vô cùng tha thiết Đó trước hết là những người đồng cam cộng khổ, sẻ chia những buồn đau, vui sướng trong đời với nhà thơ Có thể thấy, Đồng Đức Bốn xem nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là tri âm tri kỷ trong cuộc sống và
cả thơ ca Đồng Đức Bốn và Nguyễn Huy Thiệp gắn bó với nhau lúc nhà thơ
ở vào giai đoạn khó khăn nhất của cuộc đời Thế nên, tình cảm mà Đồng Đức Bốn dành cho bạn tha thiết, hàm ơn và mang tâm trạng: “Yêu quê nước mắt
Trang 36đầm đìa/ Câu văn bạn viết rực tia nắng vàng/ Đã đành ngang dọc sơn hà/
Cũng nên về chốn quê nhà ngắm trăng” (Đã đành ngang dọc sơn hà)
Đồng Đức Bốn gắn bó chân thật mà tự nhiên trong sự trân trọng, tin tưởng với các bạn văn nghệ khác như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, nhà văn Hữu Ước, nhà thơ Tố Hữu, là họa sĩ Nguyễn Mạnh, nhà thơ Lê Tám, nhà thơ Hữu Thỉnh… Ắt hẳn phải vô cùng yêu mến bạn nên Đồng Đức Bốn mới có thể nhớ sâu sắc về những kỷ niệm làm con người lớn lên: “Anh dặn em bấy nhiêu lời/ Khi mang xuống mộ cùng người tri âm/ Anh tặng em quả chuông
chùa/ Khi ba tiếng mở thì mưa bỗng rào” (Kính gửi anh Điềm) Lời tâm sự ấy
toát lên một niềm kiêu hãnh về vương quốc riêng của “hồn hoang quê mùa”, của những câu thơ ngang tàng phóng đãng, không nằm trong khuôn phép như
“trúc mọc sân đình” Cái thông điệp bình đẳng về tình bạn của Đồng Đức Bốn thật ý nhị và tinh tế Đó không chỉ là tình cảm bạn bè gắn bó mà còn hàm chứa cả quan niệm của Đồng Đức Bốn về giá trị thơ ca, về sự lựa chọn một vùng thẩm mĩ cho riêng mình
Đồng Đức Bốn còn viết về những số phận nhỏ bé, cơ cực quanh mình bằng sự chân thành và đồng cảm sâu sắc Đó là sự bày tỏ lòng cảm thông với
số phận những con người cơ cực, khốn khó của nhà thơ với ông lão hát rong:
“Bàn tay gầy khô bọng/ Ôm cây đàn nứt vỏ/ Ông ngồi hát giữa chợ” (Người
hát rong), bác xẩm mù: “Chợt đâu có tiếng ca ru/ Nhìn ra lại bác xẩm mù hát
rong” (Cơn mưa dừng ở Sóc Sơn), người ăn xin: “Ngậm ngùi thịt chó bánh đa/ Chiều nay lại thấy bà già ăn xin” (Ở quán bán thịt chó về chiều) Đôi khi
nhà thơ nở nụ cười hóm hỉnh nhưng bên trong lại thấm thía nỗi buồn sâu sắc
bởi cảnh sống cơ cực, nghèo nàn “Con nhà ai cứ lang thang chợ chiều” (Chờ
đợi tháng ba) và nhàm chán, buồn tẻ của nông thôn trong hình ảnh cô hàng
xén: “Lề đường trong những chiếc lều/ Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày”
(Chờ đợi tháng ba) Bởi cái khốn khó vẫn còn và sự chênh chao giữa giàu
Trang 37nghèo làm lòng người xa xót: “Người thì áo rách đã lâu/ Người thì xe cúp đua
nhau từng hàng” (Chiều mưa trên phố Huế)
Như vậy, bằng cái tôi chan chứa tình cảm đối với cuộc đời, nhà thơ Đồng Đức Bốn đã thể hiện sự chân thành và tha thiết dành cho mẹ cha, cho
những phận người nghèo khó, cơ cực và cho cả bè bạn
2.1.3 Cái tôi suy tư về tình yêu và nỗi đơn độc của đời mình
Trong thơ Đồng Đức Bốn nói chung, Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc nói
riêng, sâu thẳm nhất, đằng sau mọi sự đau đáu về cái khổ vật chất cộng với nỗi đau tinh thần là mặc cảm về thân phận tan nát, bơ vơ của nhà thơ Nó tạo thành lời tổng kết về hành trình đầy thất bại, lỡ nhịp của kẻ tìm yêu, tìm bạn, tìm thơ Đồng Đức Bốn: “Đời tôi tan nát bơ vơ/ Nhớ thương là đợi còn chờ là
yêu” (Đời tôi)
Có thể nói, ý thức về sự cô đơn, biết cô đơn là một phẩm chất của con người hiện đại khi mà con người cá nhân đã có thể tách ra khỏi cộng đồng Tuy nhiên, cái tôi của Đồng Đức Bốn không phải nỗi cô đơn thông thường Hạt nhân của cái tôi đơn độc ấy phải chăng chính là cái tôi luôn ám ảnh về sự
mồ côi? Cái mồ côi là cảm giác đơn lẻ, hoang mang Khi thấy mình chỉ có một, trống vắng nhưng lại không muốn hoà nhập với cộng đồng Đây cũng chính là tình trạng tâm lý của con người khi mất đi chỗ dựa chắc chắn về tinh thần, không có cái để tin yêu và kính trọng Hồn thơ của Đồng Đức Bốn là thứ “hồn hoang quê mùa” Nó phát lộ một cảnh ngộ cô đơn, bị bỏ rơi và phản ánh một tâm thế, một thân phận, một chuỗi ngày đầy bất trắc không có gì có
thể tiên liệu trước “Mải mê vào cõi bơ vơ” Có thể nói, Chim mỏ vàng và hoa
cỏ độc là sự xâu chuỗi những tâm trạng bất ổn, những cuộc lên đường để tìm
đến cái tôi bình an, cái tôi đích thực của nhà thơ
Cái tôi mồ côi ấy khiến nhà thơ nhìn đâu cũng thấy lẻ loi, đơn độc:
“Đời tôi như một con diều”; “Bờ sông có một con đò”; “Lẻ loi lấy một tiếng
Trang 38chim”, “Núi như một cánh chim hoang/ Riêng còn có một hạt mưa”; “Mồ côi
cả chiếc gai hồng”; Tôi ngồi khóc một dòng sông”… Tuy nhiên, không vì thế
mà cái tôi mồ côi quên dành cho chúng những trân trọng, quí yêu
Là người độc hành bơ vơ đi về trong cõi thơ: “Tuy rằng một mái nhà
tranh/ Nhưng trái tim lớn vẫn dành cho thơ” (Đã cầm khăn gói bơ vơ) Đồng
Đức bốn lấy thơ lục bát “làm cầu đi qua” “Cõi người còn lắm bể dâu” Có lúc nhà thơ bị đẩy vào trạng thái: “Tẽn tò con sáo sang sông/ Bờ bên này tưởng cũng không có gì/ Tẽn tò con sáo bay đi/ Lại bờ bên ấy có gì cũng không”
(Con sáo sang sông) Cuộc đời là một hành trình tìm kiếm, nhưng dường như
cuộc đời không cho ông được toại nguyện Hạnh phúc mong manh, còn khổ đau, mất mát, trớ trêu thì luôn luôn rình rập: “Chín xu đổi lấy một hào/ Đi mua cái nắng lại vào cái mưa/ Đường bùn tội lỗi giữa trưa/ Đắng cay thì ngậm
xót chua thì cầm” (Chín xu đổi lấy một hào) Nhận thức được điều đó, Đồng
Đức Bốn xem mình như người khách lữ hành đơn độc: “Thương mình lặn lội đường xa/ Vào rừng tìm mãi một hoa cải ngồng/ Thế rồi phải quay ra không/
Tìm mình ở phía cánh đồng đang mưa” (Thương mình lặn lội đường xa)
Hành trình tìm mình một cách đơn độc ấy thật gian nan Nhà thơ lao vào hành trình ấy để rồi thất vọng “quay ra không” với bao xót chua và cay đắng Hiếm
có nhà thơ nào kiên trì dũng cảm suốt đời kiếm tìm cái tôi của chính mình như Đồng Đức Bốn: “Tôi thường đi trên lưỡi dao/ Tay cầm cơn bão đem vào
cho em” (Cơn bão cho em)
Dẫu chênh vênh, sấp ngửa đến đơn độc trong cõi đời: “Lòng như cơn
bão mồ côi/ Để cho tôi gọi tên tôi cũng nhầm” (Anh ngồi uống cả cánh đồng
heo may), dẫu thường trực trong lòng nỗi ám ảnh “Anh là con sông không có
hai bờ/ Sóng chỉ toàn nước mắt” (Sông không có hai bờ) song ngay trong nỗi
mặc cảm về thân phận bơ vơ, cái tôi ấy vẫn cố tỏ ra ngạo nghễ: “Ta đánh bạc
với quỷ thần/ Cho người chỉ được sống gần ta thôi” (Trả bút cho đời) Vì thế,
Trang 39không khó hiểu khi đâu đó trong Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc hiện ra chới
với những câu thơ tự ngẫm, tự thương bản thân mình: “Hiểu tôi là ngọn núi
cao Thương tôi có một ngôi sao cuối trời” (Tôi viết tặng tôi) Càng suy tư về
thân phận của con người đơn độc, Đồng Đức Bốn càng hiểu thêm giá trị của tình người Ông sẵn sàng trả giá để được yêu nhưng cuối cùng chỉ là sự hẫng hụt, cô đơn
Cái tôi mồ côi, đơn độc hiện diện trong suốt hành trình thơ, hành trình đời của Đồng Đức Bốn Nó không chỉ hiện ra trong “kẻ mồ côi”, “lòng như cơn bão mồ côi”, “tình như cơn bão mồ côi” mà còn hiện diện bằng cả nỗi
“mồ côi dưới mồ” Cô đơn, bơ vơ trước mọi biểu hiện của cuộc đời nên thơ Đồng Đức Bốn thường thể hiện một không gian nham nhở, rạn vỡ đến rách nát: trăng gẫy, trăng cong, sào gẫy, diều đứt dây… Và Đồng Đức Bốn cũng
bơ vơ ngay trong chính phong cách độc đáo của mình: “Ý tưởng thơ của Đồng Đức Bốn giống như tiếng chim kêu khuất sau đám sương mù một buổi sớm không rõ ngày nào tháng nào Chỉ có điều này rõ rệt: đó là một cây bút tài hoa, một cá tính mạnh mẽ… Đau đáu theo đuổi cái đẹp và bên những câu chữ rạn vỡ vẫn ẩn chứa một dòng nhạc dân gian” [1, tr 696]
Có thể thấy “Cõi tình” trong thơ Đồng Đức Bốn là “cõi mồ hoang”, hay
“cõi vu vơ” với những nỗi niềm khắc khoải Tình yêu đối với ông cao cả thiêng liêng và lắm lúc cũng hồn nhiên đến bình dị Chính vì thế, Đồng Đức Bốn không bao bọc nó bằng thế giới ảo trong sự thoát ly mà luôn hướng đến
nó một cách không e dè, bóng gió và rất quyết liệt: “Nếu cần bán hết cửa nhà/
Theo em cho hết tuổi già mới thôi” (Tận cuối cơn mưa) Song nhà thơ càng
tha thiết yêu thương thì lại càng buồn bã đau đớn “Tình yêu là thứ trời đày/
Càng đi tới cõi càng ngây ngất buồn” (Chiếc gió ngụ ngôn) Cái tôi trữ tình
hiện ra với thấm đẫm nỗi mặc cảm thân phận “Sỏi đá còn biết có đôi/ Sao em