Vì vậy, trong thời gian tới vẫn duy trì phương pháp lai tạo này kết hợp với phương pháp đột biến bằng các tác nhân vật lý và tác nhân hóa học, góp phần bổ sung vào cơ cấu giống chè mới n
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HOÀI THU
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÁC DÒNG CHÈ MỚI CHỌN LỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP
LAI HỮU TÍNH TẠI PHÚ HỘ - PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Người hướng dẫn: 1 TS Nguyễn Đình Vinh
2 TS Nguyễn Thị Minh Phương
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày 30 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoài Thu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình
Trước tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy
TS Nguyễn Đình Vinh – Học viện Nông nghiệp Việt Nam và TS Nguyễn Thị Minh Phương – Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Cây công nghiệp và Cây thuốc - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè, bạn bè, đồng nghiệp trong Bộ môn Chọn tạo giống Chè đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên tôi khích lệ
để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Hà nội, ngày 30 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoài Thu
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục đồ thị, sơ đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 3
2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 4
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trong và ngoài nước 4
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới những năm gần đây 4
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam 5
2.3 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới và ở Việt Nam 6
2.3.1 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 6
2.3.2 Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam 14
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Địa điểm nghiên cứu 23
3.2 Thời gian nghiên cứu 23
3.3 Vật liệu nghiên cứu 23
3.4 Nội dung nghiên cứu 23
3.5 Phương pháp nghiên cứu 24
Trang 53.5.1 Thiết kế thí nghiệm 24
3.5.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định 24
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 30
4.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng chè nghiên cứu 30
4.1.1 Đặc điểm hình thái thân, cành của các dòng chè nghiên cứu 30
4.1.2 Đặc điểm hình thái lá của các dòng chè 33
4.1.3 Đặc điểm hình thái búp, khả năng sinh trưởng búp của các dòng chè 35
4.1.4 Nghiên cứu sinh trưởng sinh thực của các dòng chè 41
4.1.5 Đánh giá mức độ sâu hại của các dòng chè nghiên cứu 44
4.1.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 48
4.2 Nghiên cứu về chất lượng của các dòng chè 51
4.3 Đánh giá khả năng nhân giống của các dòng chè 60
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Kiến nghị 65
Tài liệu tham khảo 66
Phụ lục 70
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt BNN Bộ nông nghiệp CTV Cộng tác viên
KHKT Khoa học kỹ thuật KTCB Kiến thiêt cơ bản NLN Nông lâm nghiệp PTNT Phát triển nông thôn
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Sinh trưởng thân, cành của các dòng chè nghiên cứu (Tuổi 2) 30
Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái thân, cành của các dòng chè nghiên cứu 32
Bảng 4.3 Đặc điểm cấu tạo lá của các dòng chè nghiên cứu (Tuổi 2) 33
Bảng 4.4 Đặc điểm hình thái lá, màu sắc lá của các dòng chè nghiên cứu 34
Bảng 4.5 Đặc điểm hình thái búp của các dòng chè nghiên cứu (Tuổi 2) 36
Bảng 4.6 Đặc điểm cấu tạo búp của các dòng chè nghiên cứu (Tuổi 2) 37
Bảng 4.7 Thời gian sinh trưởng búp của các dòng chè nghiên cứu (Tuổi 2) 38
Bảng 4.8 Động thái tăng trưởng chiều dài búp của các dòng chè nghiên cứu (Vụ xuân năm 2016) 39
Bảng 4.9 Thời gian hình thành lá của các dòng chè nghiên cứu tuổi 2 40
Bảng 4.10 Đặc điểm nở hoa của các dòng chè nghiên cứu 41
Bảng 4.11 Đặc điểm cấu tạo hoa của một số dòng, giống chè nghiên cứu 43
Bảng 4.12 Một số loài sâu bệnh gây hại chính trên các dòng chè nghiên cứu 45
Bảng 4.13 Diễn biến số lượng búp/cây qua các thời vụ của các dòng chè nghiên cứu 48
Bảng 4.14 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng chè 49
Bảng 4.15 Tỷ lệ búp mù xòe của các dòng, giống chè nghiên cứu 51
Bảng 4.16 Thành phần cơ giới búp chè tôm 3 lá của các dòng nghiên cứu 52
Bảng 4.17 Kết quả phân tích sinh hóa các dòng chè nghiên cứu (Tuổi 2) 53
Bảng 4.18 Kết quả thử nếm chè xanh các dòng chè nghiên cứu (Tuổi 2) 57
Bảng 4.19 Kết quả thử nếm chè đen các dòng chè nghiên cứu 59
Bảng 4.20 Tỷ lệ sống của cành giâm các dòng, giống chè 62
Bảng 4.21 Kết quả giâm hom các dòng chè sau 9 tháng tuổi 63
Trang 8DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Hình 4.1 Biểu đồ năng suất của các dòng chè nghiên cứu (tuổi 2) 50
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Hoài Thu
Tên luận văn: Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng chè mới chọn lọc bằng phương pháp lai hữu tính tại Phú Hộ - Phú Thọ
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm so sánh một số dòng chè tuổi 2 được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), nhắc lại 3 lần
Kết quả chính và kết luận
Kết quả nghiên cứu, đánh giá cho thấy dòng chè 207, 233 sinh trưởng khỏe, bật búp sớm, có dạng thân bán gỗ, góc độ phân cành lớn, cành cấp 1 nhiều, chiều cao cây đạt 80,7 cm và 81,6 cm
Đánh giá về yếu tố cấu thành năng suất cho thấy dòng 232, 234, 241 có số búp trên cây nhiều đạt trên 300 búp Dòng 207, 233 có khối lượng búp lớn đạt 0,64 g/búp đến 0,74 g/búp Dòng 207, 233 có năng suất cao đạt 3,34 tấn/ha và 3,18 tấn/ha, tiếp đến
là dòng 213, 241 đều cho năng suất cao hơn so với giống đối chứng LDP1
Xác định được dòng cho chế biến chè xanh chất lượng khá là dòng 207, 238 đạt điểm thử nếm trên 17,0 điểm, có hương thơm đặc trưng hơn hẳn so với giống đối chứng LDP1 Dòng 233, 241 thích hợp cho chế biến chè đen với điểm đánh giá đạt 16,8 điểm
Các dòng chè mới chọn lọc đều ít bị gây hại bởi rầy xanh, cánh tơ, nhện đỏ so với giống đối chứng LDP1 Đánh giá nhân giống trong vườn ươm cho thấy dòng 207,
233 sinh trưởng khỏe, chiều cao cây trong giai đoạn vườn ươm đạt trên 30,0 cm, tỷ lệ sống cao đạt 90%, tỷ lệ xuất vườn trên 70%
Từ khóa: Chè lai hữu tính, năng suất, chất lượng
Trang 10THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Hoai Thu
Thesis title: Assessment of agrobiological characteristics of new tea varieties selected
by cross-breeding method in Phu Ho, Phu Tho Province
Major: Crop Science Code: 60.62.01.10
Education organization: Vietnam National University of Agriculture
Research Objectives
The assessment of agro-biological characteristics of new tea varieties selected by cross-breeding method contributes to createnew high-productivity and good-quality tea varieties suitable for processing green tea and black tea in Vietnam
Materials and Methods
The comparative experiments on certain two-year tea varieties were arranged by full randomized method (RCB) in3 times
Main findings and conclusions
The result of research methodology shows that thetea variety No 207 and 233 have strong growth, early bud production, semi-wooden trunk, great branching ability with a lot of level-I branches and height reach 80,7 cm and 81,6 cm
The assessment of productivity factor shows that tea variety No 232, 234, 241 have high rate of buds (above 300 buds) Tea variety No 207 and 233 produces large bud size, weighting at 0.64 g/bud to 0.74 g/bud Tea variety No 207 and 233 have the highest productivity 3.34 tons /ha and 3.18 tons/ha, followed by variety No 213 and
241 yielding higher productivitiy than the control variety LDP1
The tea variety suitable for processing green tea is tea variety No 207 and 238, reaching 17.0 tasting points, with more distinctaroma than that of the control variety LDP1 Tea variety No 233 and 241 is suitable for processing black tea, at 16.8 tasting points
The new selected tea varieties are likely to be less harmed by green hoppers, cockchafer and red spiders than the control variety LDP1 The assessment of breeding
in the nursery shows that variety No.207 and 233 growwell, the tea height in the nursery
is over 30.0 cm, the rate of survival is high (90%) and the percentage of selling plants reaches more than 70%
Keywords: sexual hybrid tea, productivity, quality
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là loại cây công nghiệp dài ngày đã có lịch sử phát triển từ rất lâu đời (khoảng 5000 năm) Việt Nam là một trong những nước có điều kiện địa lý, khí hậu nóng ẩm thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè
Hiện nay, trên thế giới sản lượng chè Việt Nam đứng hàng thứ 5, xuất khẩu đứng thứ 6 trong 10 nước sản xuất chè lớn nhất Tuy vậy giá trị xuất khẩu
do chè mang lại chưa cao, ước tính khoảng 200 triệu USD chưa tương xứng với tiềm năng của ngành chè Việt Nam Một trong những nguyên nhân đó là cơ cấu giống chè tuy nhiều, nhưng những giống chất lượng tốt lại gặp khó khăn về năng suất và khả năng chống chịu Vì vậy, công tác đánh giá, chọn lọc các giống chè được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính luôn được trú trọng
Chúng ta đã và đang sử dụng các phương pháp chọn giống phổ biến trên thế giới (chọn lọc cá thể, lai tạo, gây đột biến ) Tuy nhiên, công tác chọn tạo giống chè truyền thống chủ yếu dựa trên phương pháp lai hữu tính có định hướng trên
cơ sở một giống năng suất cao, chống chịu tốt với một giống chất lượng vẫn được xem trọng nhất vì nó giúp đa dạng hóa nguồn gen, tập hợp được những gen quý vốn
có trên bố mẹ Tiến bộ mới nhất hiện nay dựa trên phương pháp lai hữu tính đã tạo ra các giống chè mới vượt trội về chất lượng như giống Hương Bắc Sơn được công nhận năm 2014 và giống VN15 được công nhận giống sản xuất thử năm 2016
Như vậy, trong chọn tạo giống chè bằng phương pháp lai hữu tính, chúng
ta đã đạt được những kết quả nhất định Vì vậy, trong thời gian tới vẫn duy trì phương pháp lai tạo này kết hợp với phương pháp đột biến bằng các tác nhân vật lý và tác nhân hóa học, góp phần bổ sung vào cơ cấu giống chè mới những giống năng suất cao, chất lượng tốt cho chế biến chè xanh, chè đen và các loại chè đặc sản
Trong chọn tạo giống chè bằng phương pháp lai hữu tính, chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên trong lựa chọn bố mẹ chúng ta mới chỉ dựa vào chỉ tiêu định tính là chọn bố mẹ có chất lượng chè xanh, chè Ôlong tốt đem lai với giống sinh trưởng khoẻ, chống chịu tốt Hiện nay giống chè chất lượng tốt của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản đa phần có hàm lượng axit amin
và đường khử cao, tuy nhiên trồng tại Việt Nam chúng lại sinh trưởng yếu và sâu
Trang 12bệnh nhiều Vì vậy, chúng tôi đã nghiên cứu tuyển chọn giống chè có chất lượng tốt, sinh trưởng khỏe sử dụng trong lai hữu tính để tạo ra các dòng, giống chè mới cho chế biến chè xanh, chè đen góp phần bổ sung vào cơ cấu giống chè Việt Nam
Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng chè mới chọn lọc bằng phương pháp lai hữu tính tại Phú Hộ - Phú Thọ” 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng chè mới chọn lọc bằng phương pháp lai hữu tính, góp phần chọn ra được các giống chè mới năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp cho chế biến chè xanh, chè đen của Việt Nam 1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung đánh giá đặc điểm nông sinh học của 7 dòng chè mới chọn lọc bằng phương pháp lai hữu tính gồm dòng 207, 213, 232, 233, 234, 238, 241
và giống đối chứng LDP1, chọn ra dòng chè mới thích hợp cho chế biến chè xanh, chè đen của Việt Nam
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ thu thập được các thông tin cần thiết để làm cơ sở cho việc đánh giá, chọn lọc các dòng, giống chè mới cho sản xuất chè xanh và chè đen hiện nay
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Chọn được những dòng chè sinh trưởng khỏe, năng suất cao, chất lượng khá, chống chịu sâu bệnh tốt cho chế biến chè xanh, chè đen góp phần đa dạng hóa các sản phẩm chè phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Chè là loại cây giao phấn, nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ đồng đều của cây con rất thấp, có tới 95% cây con không giống cây mẹ về các đặc điểm hình thái, các tính trạng về năng suất và chất lượng Đây là đặc điểm có ý nghĩa lớn về tính
đa dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn tạo giống, đồng thời là điều chúng ta cần lưu ý trong sản xuất đặc biệt là trong việc nhân giống Cây chè từ khi tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra sản xuất cần có thời gian dài Do đó các nghiên cứu chè là sự kế thừa và phát triển nối tiếp nhau,
từ lựa chọn các cá thể tốt đến đánh giá khảo nghiệm về năng suất chất lượng và qui trình trồng trọt chế biến không thể tách rời mà phải liên hoàn và kế tiếp nhau
Để chọn lọc các giống chè mới, các nước áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây đột biến Trong đó phương pháp lai hữu tính và chọn lọc cá thể được chú ý và có nhiều thành công nhất theo (Vũ Thị Thư, Đoàn Hùng tiến và cs., 2001)
Chè là cây lâu năm, có chu kỳ sống rất dài có thể đạt 100 năm hoặc lâu hơn, chia làm 2 chu kỳ phát triển là: chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ
- Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống cây chè, tính từ khi noãn được thụ tinh bắt đầu phân chia đến khi cây chè chết Tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) đã chia chu kỳ phát triển lớn của cây chè làm 5 giai đoạn: giai đoạn phôi thai, giai đoạn cây con, giai đoạn cây non, giai đoạn chè lớn, giai đoạn chè già cỗi
- Chu kỳ phát triển nhỏ (hàng năm) gồm 2 giai đoạn là sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng Trong giai đoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triển hình thành búp, lá non và những đợt búp chè mới, các mầm sinh thực phát triển hình thành nụ, hoa và quả Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởng sinh thực phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điều kiện ngoại cảnh, trình
độ quản lý chăm sóc Giai đoạn sinh trưởng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết mỗi vùng Trong giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng các
bộ phận trên mặt đất không xuất hiện các lá non mới, song bộ rễ của cây chè lại sinh trưởng để tạo nên các rễ non mới Trong điều kiện ở Phú Hộ, cây chè thường bắt đầu sinh trưởng từ tháng 2 đến tháng 11 và tạm ngừng sinh trưởng từ
Trang 14tháng 12 đến tháng 2 hàng năm
Khả năng giâm cành của chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó
có 3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố giống (khả năng giâm cành của giống), điều kiện môi trường ngoại cảnh và các biện pháp kỹ thuật
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Năng suất, chất lượng ngày càng được nâng cao ở trên tất cả các cây trồng nói chung và cây chè nói riêng Trong những năm gần đây cây chè đã trở thành cây trồng chủ lực đối với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Việt Nam là một trong 6 quốc gia sản xuất chè lớn nhất thế giới Cây chè đã góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước với tổng kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng Năm 2012 Việt Nam xuất khẩu 160.000 tấn với kim ngạch 243 triệu USD Tuy nhiên vị thế chè Việt Nam trên thế giới còn thấp do giá xuất khẩu chè Việt Nam chỉ bằng 60-70% giá bán bình quân của sản phẩm chè thế giới Chính vậy vậy để nâng cao năng suất, chất lượng chè công tác chọn tạo giống đóng vai trò quan trọng
Dựa trên cơ sở thực tiễn yêu cầu tạo ra những giống chè năng suất, chất lượng cho chế biến chè xanh chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước đòi hỏi chúng ta phải lai tạo ra các giống chè mới vượt trội về chất lượng so với những giống đang có hiện nay Bên cạnh đó đẩy mạnh sản xuất chè đen vì chè đen vẫn là sản phẩm được thị trường thế giới ưa chuộng Việc nghiên cứu chọn tạo ra những giống cho chất lượng chè đen tốt nhằm mở rộng diện tích dần thay thế những giống chè cũ năng suất thấp, chống chịu kém là cần thiết 2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ CHÈ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới những năm gần đây
Trong năm 2010, sản lượng chè sản xuất trên toàn thế giới đã vượt qua con số 4 triệu tấn để đạt mức 4.126.527 tấn Trong đó Việt Nam là một trong những nước có sản lượng chè sản xuất đứng thứ 5 Qua thống kê sản phẩm chè của các nước trên thế giới thì thị phần Châu Á chiếm 83% sản lượng chè thế giới, tiếp theo là Châu phi chiếm 15% và Nam Mỹ chiếm 2,4%
Về thị trường tiêu thụ trong giai đoạn gần đây, nhập khẩu chè đen thế giới ước tính khoảng 1,15 triệu tấn, mức tăng trung bình khoảng 0,6%/năm Các nước nhập khẩu chính như: Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản… sẽ chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu chè toàn thế giới
Trang 15Những thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với sản phẩm chè xanh và chè đen là: Thị trường Nga (đã nhập khẩu trên 174.000 tấn, Pakistan nhập khẩu 126.170 tấn, Hy Lạp nhập khẩu 81.700 tấn, Iran nhập khẩu 62.000 tấn, và Morocco nhập khẩu 58.000 tấn)
Ngoài ra còn có các chi nhánh bán lẻ ở thị trường Mỹ và Canada với tổng
số lượng chè nhập khẩu lên tới 144.000 tấn, Vương quốc Anh là 126.000 tấn, và
EU với tổng số lượng chè nhập khẩu là 128.000 tấn
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam
Sau năm 1990 do biến động tại thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu sản xuất chè ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn, thị trường truyền thống (Liên Xô và Đông Âu) giảm sút, thị trường mới chưa được mở ra hoặc công nghệ chưa kịp đổi mới nên chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường mới (Tây Âu)
Từ năm 1995 trở lại cùng với sự đổi mới về quản lý ngành chè, nhiều hình thức liên doanh, liên kết được hình thành (với các nhà sản xuất Nhật Bản, Đài Loan, Bỉ ) cơ chế quản lý được đổi mới, nhiều công nghệ tiên tiến được đầu tư,
đã khắc phục và phát triển ngành chè trở lại, diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị xuất khẩu chè ngày càng tăng Đến nay, cây chè đã thực sự là cây trồng mũi nhọn, là cây trồng chiến lược của vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên
Việt Nam có diện tích trồng chè dao động khoảng 126.000 – 133.000 héc
ta và thu hút khoảng 2 triệu lao động Trong năm 2011 cả nước có diện tích trồng chè là 133.000 ha; sản lượng (thô) đạt 888.600 tấn; sản lượng (đã chế biến) đạt 165.000 tấn; xuất khẩu là 132.600 tấn
Việt Nam là nước xuất khẩu và sản xuất chè lớn thứ 5 thế giới, với kế hoạch sản xuất đạt 1,2 triệu tấn chè thô và xuất khẩu 200.000 tấn chè chế biến vào năm 2015
Cả nước có khoảng 300 cơ sở chế biến chè có công suất 900 nghìn tấn búp tươi/năm, trong đó có khoảng 31 nhà máy có quy mô sản xuất lớn 30 tấn búp tươi/ngày chiếm 47% công suất chế biến; 103 nhà máy có quy mô vừa công suất chế biến 10 đến 28 tấn búp tươi/ngày chiếm 43%; còn lại là cơ sở chế biến nhỏ công suất từ 3 đến 5 hoặc 6 tấn búp tươi/ngày và các hộ chế biến nhỏ lẻ chiếm khoảng 10% tổng công suất chế biến
Trang 16Kết thúc năm 2012, xuất khẩu chè của cả nước đạt 146.708 tấn, trị giá 224.589.666 USD, tăng 9,6% về lượng và tăng 10,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước với thị trường xuất khẩu mở rộng tới gần 100 quốc gia
Trong đó Pakistan là thị trường Việt Nam xuất khẩu nhiều chè nhất, với lượng 24.045 tấn, trị giá 45.304.840 USD, tăng 38% về lượng và tăng 39% về trị giá năm 2012, chiếm 20,1% tổng trị giá xuất khẩu chè của Việt Nam Tiếp đến là Đài Loan, lượng chè xuất khẩu sang thị trường này đạt 22.453 tấn, trị giá 29.589.578 USD, tăng 10,4% về lượng và tăng 13% về trị giá; đứng thứ ba là Nga, Trung Quốc, Inđônêxia, Mỹ…
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHÈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm Đối với sản xuất chè, giống chè lại càng có ý nghĩa quan trọng trong thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm Chè là cây lâu năm trồng một lần cho thu hoạch nhiều lần, một nhiệm kỳ kinh tế kéo dài từ 40 - 50 năm, thậm chí là 100 năm Vì vậy, đầu tư trồng chè cao hơn nhiều lần so với các cây trồng ngắn ngày khác Không thể phá
đi trồng lại hàng năm được Mọi quyết định đúng đắn hay sai lầm về giống chè sẽ
có ảnh hưởng đến sự phát triển của vườn chè trong thời gian rất dài Do vậy ở tất
cả các nước trồng chè, giống chè tốt là biện pháp được quan tâm hàng đầu, được coi là khâu đột phá nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng chè Nghiên cứu giống chè cũng là lĩnh vực khoa học kỹ thuật được quan tâm hàng đầu
2.3.1 Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới
2.3.1.1 Nghiên cứu chọn tạo giống chè trên thế giới
Dựa vào phương pháp lai hữu tính để chọn được giống chè mới có chất lượng tốt và ổn định thì việc lựa chọn các cặp bố, mẹ có tính trạng tốt là vấn đề rất cần thiết và cấp thiết Để tuyển chọn cặp bố, mẹ trong lai tạo đòi hỏi phải có
sự đánh giá và phân tích kỹ về tiềm năng di truyền của chúng đối với các tính trạng khác nhau như: khả năng chống chịu sâu bệnh, tính thích ứng, chất lượng sản phẩm, năng suất, đặc trưng hình thái, (Nguyễn Văn Toàn và Trịnh Văn Loan, 1994; Nguyễn Văn Toàn và Nguyễn Thị Minh Phương, 2006)
- Nghiên cứu chè ở Trung Quốc: Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới Nghiên cứu sử dụng giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc quan tâm từ rất sớm Ngay từ đời nhà Tống, Trung Quốc
Trang 17đã có 7 giống chè tốt ở Vũ Di Sơn Các giống chè Thuỷ Tiên (1821 - 1850), Đại Bạch Trà (1850), Thiết Quan Âm đã có từ hơn 200 năm về trước đều là những giống chè chiết cành (Nguyễn Văn Toàn, 1994)
Phương pháp chọn giống 100 điểm đối với cây ăn quả đã được phát triển theo chiều sâu Giống chè được chọn lọc, đánh giá bằng cách đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố hình thái, sinh trưởng của cây chè với sản lượng hoặc dựa trên mối tương quan giữa các yếu tố đó với nhau
Viện nghiên cứu chè thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc đã đưa ra mục tiêu chọn giống chè hiện nay là: chất lượng tốt, ra búp sớm (để chế biến chè xuân), tính kháng sâu bệnh cao Các giống chế biến chè xanh cần đạt hàm lượng axit amin >3%, các giống chế biến chè đen cần đạt hàm lượng tanin >35% Trong chọn giống chủ yếu tập trung vào lai tạo, mỗi năm có từ 6 - 8
tổ hợp lai với khoảng 3 vạn hoa được lai Các giống do Viện chọn tạo được trồng nhiều ở tỉnh Chiết Giang, Quí Châu, Hồ Bắc và Sơn Đông
Viện nghiên cứu chè Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc thành lập năm
1939 là cơ quan nghiên cứu ứng dụng chè từ trồng trọt đến chế biến và xây dựng thương hiệu sản phẩm chè xanh, chè Olong Trong chọn tạo giống chè nhiều phương pháp chọn nhanh đã được áp dụng (thu thập các giống chè sẵn có trong nước đưa vào khảo nghiệm để tuyển chọn ra giống tốt phù hợp với địa phương; chọn cặp bố mẹ trong tập đoàn theo mục tiêu chọn giống để tiến hành lai tạo ) Trong đó chọn giống bằng phương pháp lai tạo là chủ yếu Giống Quế Lục 1 do Viện tạo ra là giống có thể chế biến được cả chè xanh, chè Olong và chè đen Đây là giống ra búp sớm nhất ở Trung Quốc dùng chế biến chè vụ xuân có sản lượng cao Chất lượng chè xanh vào loại nhất của Trung Quốc (chế biến chè Long Tỉnh) Lá của giống Quế Lục 1 thuộc loại trung bình, hàm lượng axit amin 3,7- 3,9% Hiện nay đang được trồng ở các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Quí Châu
Guo Jichun (2005) Trung Quốc khi phân tích 97 giống và đời lai F1 của các giống chè Olong ở An Khê và Vũ Di (Trung Quốc) đã thu được kết quả: hàm lượng axit amin trung bình là 2,94% và nằm ở giữa trong khoảng các giống làm chè đen và các giống làm chè xanh (cao hơn các giống chè đen và thấp hơn các giống chè xanh) Qua kết quả này tác giả cho rằng chỉ tiêu axit amin có thể coi là đặc điểm của chọn giống chè Olong và chè xanh
Guo Jichun (2005) chọn giống theo hướng làm thay đổi chất lượng chủ
Trang 18yếu là bằng phương pháp lai tạo Khi kiểm tra chất lượng (hương thơm) ở đời cây
bố mẹ và F1 cho thấy:
+ Khi cây bố mẹ giống nhau chất lượng hương của đời lai F1 có 3 dạng: loại giống với bố mẹ, loại trung bình và loại mới Loại trung bình luôn kết hợp các đặc điểm hương của bố mẹgiống như có 2 loại hương
+ Phần trăm của loại giống bố mẹ và loại trung bình ở một cặp lai cụ thể
là 62%, còn lại là loại mới Điều này chứng tỏ rằng việc kết hợp cây bố mẹ là rất quan trọng
Li Xinghui and Ye Tianmou (2005) khi lai xa giữa 2 giống chè “Yunnan Daye” có hàm lượng axit amin tự do là 2,67% với “Rucheng Baimao” có hàm lượng axit amin 2,38% thế hệ con lai thu được có hàm lượng axit amin 3,02% Như vậy, khi tiến hành lai xa, con lai cũng có thể cho hàm lượng axit amin cao hơn bố mẹ ban đầu
Về mối liên quan giữa hình thái lá, búp chè với chất lượng tác giả cho rằng: Các mẫu chè có hương thơm mạnh có liên quan nhiều đến chất lượng búp non và màu sắc của lá tươi Những giống Olong có hương đậm luôn có đặc điểm
là cành non màu đỏ tía hoặc xanh tía, vàng xanh điều này có thể có liên quan đến hàm lượng một số chất trong chè Một số nhà chọn giống đã đề xuất rằng có thể coi màu sắc của cành non như một chỉ tiêu để tuyển chọn giống chè Olong
Sở Nghiên cứu chè Tứ Xuyên Trung Quốc trong năm 1960 bắt đầu nghiên cứu lai hoa thụ phấn nhân tạo, đã bồi dục thành công hai giống chè Thuộc Vĩnh
số 1 và số 2 đã được công nhận là giống chè quốc gia Sở Nghiên cứu chè Hồ Nam, Trung Quốc từ năm 1975 trở lại đây, đã tiến hành 525 tổ hợp lai tạo thụ phấn nhân tạo và thu được một số giống chè mới có triển vọng (Trịnh Khởi Khôi
và Trang Tuyết Phong, 1997)
- Nghiên cứu chè ở Ấn Độ: Phương pháp lai hữu tính được Ấn Độ rất quan tâm đã chọn ra giống VTA 54 có năng suất và chất lượng khá Từ cặp lai TV1/19, 31, 14 tại Tocklai đã chọn ra giống TS449 có năng suất cao, chất lượng khá có khả năng chịu hạn tốt Cũng bằng phương pháp lai hữu tính đã chọn ra các giống TS450, TS462, TS463, TS464, TS491 và TS520 đều là các giống sinh trưởng khoẻ có khả năng chịu hạn rất tốt (Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997)
Đánh giá về triển vọng của việc chọn dòng chè ở Ấn Độ Eden (1958), cho
Trang 19rằng: Những giống chè ở Trung Quốc, Ấn Độ có nhiều dạng hình khác nhau, có khả năng sinh trưởng và cho năng suất khác nhau, quan sát 200 cây chè trên nương chè, có những cây chè cho sản lượng cao gấp 3 lần so với năng suất trung bình và gấp tới 20 lần so với cây cho sản lượng thấp nhất Do vậy chọn dòng từ những cây chè tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất vườn chè
Tại trạm Nghiên cứu chè Tocklai của Ấn Độ trong thời kỳ 1936 - 1977 đã tiến hành nghiên cứu lai hữu tính, thụ phấn nhân tạo trên 40 vạn hoa của 115 dòng chè vô tính (Nguyễn Thị Minh Phương và cs., 2006) Ở Ấn Độ hiện nay ngoài áp dụng phương pháp lai hữu tính, chọn lọc các giống chè mới còn áp dụng kĩ thuật “vườn sản xuất giống gốc” (the seed bari) họ thường trồng một số giống chè có năng suất chất lượng cao theo tỷ lệ đã thiết kế trước (như trồng giống TS378 với giống TS379) với tỷ lệ 1:4 (1 cây làm bố không lấy hạt, 4 cây
để lấy hạt trồng theo ô vuông) trong một khu vực để các giống chè giao phấn với nhau Các cây chè không đốn hái mà được chăm sóc bón phân cho cây chè sinh trưởng khoẻ, lấy hạt để nhân giống tạo ra các cây chè khoẻ mang nhiều đặc tính tốt vượt trội Nương chè được trồng bằng các hạt lai thu từ vườn giống gốc có độ thuần không cao nhưng sức sống của cây chè khoẻ, chất lượng nguyên liệu không đồng nhất khi chế biến chè thành phẩm tạo ra loại sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường
- Nghiên cứu chè ở Nhật Bản: Nhật Bản là nước đầu tiên nhập giống chè
từ Trung Quốc, vào thế kỷ thứ 9, chè ở Nhật Bản được trồng tập trung ở giữa 35
- 38 vĩ độ Bắc, chủ yếu trồng trên đất bằng, độ cao không quá 60 – 1000 m so với mực nước biển (Lê Tất Khương và Hoàng Văn Chung, 1999)
Một số tác giả cho rằng giống chè chủ yếu ở Nhật Bản là giống chè lá nhỏ, phù hợp cho chế biến chè xanh Công tác chọn dòng cũng được đặc biệt chú ý ở Nhật Bản, nhiều giống chè mới đã được đưa vào sản xuất, trong đó giống Yabukita được trồng phổ biến nhất chiếm tới 70% diện tích chè ở Nhật Bản (Lê Tất Khương và Hoàng Văn Chung, 1999)
Tại Nhật Bản lần đầu tiên trong năm 1929 cũng đã xây dựng thành công trong việc thụ phấn lai tạo nhân tạo giống chè Assam và giống Nhật Bản tạo nên
cơ sở ổn định cho việc tuyển chọn bồi dục thành một loạt giống chè mới Hiện ở Nhật Bản các dòng chè vô tính được tạo ra gần đây toàn bộ là những dòng vô tính dùng phương pháp thụ phấn lai tạo nhân tạo bồi dục thành (Nguyễn Thị
Trang 20Minh phương và cs., 2008) Ở Liên Xô cũ đã có những giống chọn lọc nổi tiếng như Konkhitda năng suất hơn giống đối chứng 47%, các giống lai tạo có thể chịu được rét ở nhiệt độ - 200C
Các giống chè mới được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính chúng thường được kết hợp các đặc tính tốt của cả bố, mẹ nhưng qua phân tích các đặc trưng, đặc tính quý đó thường không vượt trội so với bố mẹ Vì thế, năng suất, chất lượng của các giống mới được tạo ra thường không có sự đột phá trong sản xuất Để tạo các giống chè có các đặc trưng, đặc tính vượt trội, cần thiết tiến hành lai tích luỹ với bố, mẹ từ đó chọn ra các giống mới đột phá về năng suất, chất lượng phục vụ sản xuất chè
- Nghiên cứu chè ở Srilanca: Công tác chọn giống chú trọng nhiều đến khâu chọn dòng, kết hợp chọn dòng có sản lượng cao, có khả năng chống hạn và chống chịu với sâu bệnh Trong những năm 1940, Srilanca đã chọn ra một loạt các dòng chè TRI2020, trong đó có các giống nổi tiếng như TRI777, TRI2043 Trong những năm 1960 trở lại đây, Srilanca đã chọn ra các dòng chè triển vọng như TRI14, DT, DN, DP và DV (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000) Hiện nay, tại Srilanca diện tích trồng chè bằng các giống chè được nhân giống vô tính đạt trên 40% diện tích trồng chè trong cả nước
Bằng phương pháp gây đột biến thực nghiệm Viện nghiên cứu chè và cây trồng Á nhiệt đới Anaceuli (Gruzia) đã tạo được tập đoàn đột biến cây trồng Á nhiệt đới phong phú bao gồm 562 dòng chè, 218 dòng cam quýt, 23 dòng trẩu và
12 dòng nguyệt quế Đối với giống chè, các đột biến làm tăng thành phần sinh hoá thể hiện rất rõ nét (từ 0,2 – 4,8%) Trong các dòng chè đột biến, tác giả J.G Kerkadze (1986) đã chia ra thành 3 nhóm: nhóm có hương thơm đặc trưng hơn hẳn đối chứng gồm các dòng số 872, 1507, 2023, 2840, 2094, 3274, 3858 và dòng 582; nhóm có hương thơm nổi trội ở chè thành phẩm gồm các dòng số
2095, 3852, 4805, 3755, 2053, và dòng 510; nhóm có hương chè đen phảng phất hương hoa hồng gồm các dòng số 855, 3823, 3846
Takyu Toshio et al (2003) đã chiếu xạ tia gamma ở liều lượng 2Kr trong
20 giờ trên chè và họ đã thu được hai cây chè không có lông tuyết trên lá non Giống chè không có lông tuyết trên bề mặt lá non có khả năng kháng bệnh tốt (do lông tuyết ở lá chè non là con đường xâm nhập chủ yếu của các bào tử nấm), chất lượng cao
Trang 21Qua 100 năm, Ngành chè thế giới đã tổng kết: Công tác chọn tạo giống chè mới được đẩy mạnh, cây chè từ lúc tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra sản xuất cần thời gian dài Theo thống kê đến năm 1990 của 11 nước và khu vực trồng chè trên thế giới có số lượng giống chè mới tạo ra là 446 giống, trong đó có 387 giống vô tính chiếm 77%, giống lưỡng hệ, đa hệ vô tính 22 giống chiếm tỷ trọng 4,93%, giống hữu tính chọn lọc 37 giống chiếm tỷ trọng 8,3% Tỷ trọng phổ cập giống chè tốt trong sản xuất cao nhất ở Trung Quốc và Đài Loan trên 90%, tỷ lệ phổ cập giống mới ở Ấn Độ và Kênia cũng đạt tới 80% (Trịnh Khởi Khôi và Trang Tuyết Phong, 1997)
Để chọn lọc các giống chè mới, các nước trồng chè trên thế giới cũng áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây đột biến, công nghệ sinh học, trong đó phương pháp lai hữu tính và gây đột biến ngày càng được chú ý và có nhiều thành công
2.3.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây chè
Đặc điểm nông sinh học của cây chè như (thân, cành, lá, búp) đặc tính sinh trưởng của cây chè, thời gian sinh trưởng (bắt đầu, kết thúc sinh trưởng búp
…), số đợt sinh trưởng búp/năm có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất
và chất lượng chè nguyên liệu Do vậy nghiên cứu đặc tính sinh vật học cây chè nhằm tuyển chọn giống chè tốt luôn được các nhà chọn giống trên thế giới quan tâm
Theo Бахтадзе (Bakhơtadze) (1948), nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năng suất đã đề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: Màu sắc, kích thước lá, cấu tạo giải phẫu lá Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa màu sắc lá với chất lượng chè tác giả kết luận: Dạng lá chè có màu vàng là đặc trưng và tương quan có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá, nó phân biệt với lá có màu sắc khác
ở chỗ có sự khác nhau của hàm lượng Chlorophyll, Tanin và một số chỉ tiêu khác Dạng lá có màu cà phê sáng đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý
Góc lá tối ưu cho quang hợp của cây chè là 450, lá chè màu vàng là đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá búp chè Nghiên cứu tương quan giữa số búp/tán và năng suất búp của nương chè tác giả đưa ra kết luận: Tương quan giữa
số lượng búp và năng suất chè là 0,956 0,064
Nghiên cứu của Hadfiel (1968) về chỉ số diện tích lá của các giống chè đã
Trang 22kết luận: Chỉ số diện tích lá của những giống chè thông thường từ 3 - 4 và của những giống chè có thế lá đứng là 5- 7 Giống chè Trung Quốc chỉ số diện tích lá cao hơn, có khả năng trồng và phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng đầy đủ và cho năng suất cao hơn kiểu giống Assam
Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, các tác giả Tanton (1982); Carr (1992) đưa ra giá trị trung bình là 47,5 ngày Tuy nhiên số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30 – 42 ngày vào mùa hè và 70 – 160 ngày vào mùa đông
Mỗi giai đoạn cây chè sinh trưởng khác nhau vì vậy sự hình thành và phát triển của búp chè cũng như các lứa búp chè cũng khác nhau
Mật độ búp và khối lượng búp là nhân tố quan trọng tạo nên sản lượng chè Tác giả Tanton (1981,1982); Tanton Kumar Mondal (2004) cũng chỉ ra nhân
tố quan trọng nhất là mật độ búp đóng góp tới 89%, còn khối lượng búp tương tự chỉ đóng góp 11% năng suất, sản lượng chè
Sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn thì sự phân hoá của mầm chè chủ yếu được hình thành trong vụ xuân và thời gian hình thành búp muộn hơn một số ngày so với nương chè không đốn hái
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa lá chè, thế lá và bộ rễ và khả năng chống chịu của các giống chè, Hadfiel (1968) chỉ ra rằng: Những giống chè Trung Quốc lá nhỏ, có thế lá đứng, với bộ rễ phân bố sâu dưới mặt đất có khả năng chống hạn tốt hơn những giống chè khác
Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000) cho biết khi nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của bộ rễ chè các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: Sinh trưởng của bộ rễ và bộ lá chè có tương quan chặt với nhau, hỗ trợ cho nhau về mùa Đông, khi chè ngừng sinh trưởng rễ chè bắt đầu phát triển, mùa Xuân khi búp chè sinh trưởng mạnh, bộ rễ phát triển chậm lại và tiếp tục như vậy khi bộ rễ phát triển chậm lá chè, búp sẽ sinh trưởng nhanh và ngược lại
2.3.1.3 Nghiên cứu về nhân giống vô tính chè
Cũng như nghiên cứu về nhân giống vô tính cây trồng nói chung, nghiên cứu các biện pháp nhân giống vô tính đối với cây chè đã được rất nhiều tác giả quan tâm, các biện pháp nhân giống đã được nghiên cứu như giâm cành, chiết, ghép, nuôi cấy mô
Trang 231- Phương pháp nuôi cấy mô (invitro)
Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật invitro được Pháp triển mạnh và hoàn thiện từ những năm 60 của thế kỷ XX, sau khi đã có môi trường nuôi cấy chuẩn, đặc biệt là sử dụng các chất kích thích sinh trưởng thực vật vào môi trư-ờng nuôi cấy, sử dụng các tế bào trần để nuôi cấy huyền phù… Ngày nay người
ta có thể nuôi cấy tế bào thực vật của bất kỳ loại cây nào và nhân bản vô tính cây invitro để vi nhân giống và tạo ra giống mới (Nguyễn Ngọc Hải, 1997; LI Xinghui Tianmou Huang Qiwei, 2005)
Áp dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào các nhà khoa học Nhật Bản đã tạo ra được cây chè con Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng vào sản xuất đại trà vì giá thành cây con cao do tỷ lệ chết khi chuyển cây con từ ống nghiệm
ra vườn ươm rất cao
Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của cây chè ghép, Nyirenda (1990) cho thấy năng suất của một số dòng chè ghép có thể được tăng lên bằng cách ghép lên các giống khỏe mạnh
3- Phương pháp giâm cành
Phương pháp giâm cành là một tiến bộ trong sản xuất giống chè Giâm cành được tiến hành nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1900, ở Ấn Độ năm 1911, Gruzia năm 1928, Srilanca năm 1938 đến nay được phổ biến rộng rãi trên thế giới
Ở Nhật Bản giống Yabukita trồng bằng cành giâm chiếm 55,4% diện tích, Bangladesh trồng chè giâm cành từ những năm 1970; Indonexia bắt đầu phổ biến
từ năm 1988 (Nguyễn Văn Toàn và cs., 1998)
Nghiên cứu môi trường cắm hom các nhà khoa học Liên Xô (cũ), Ấn Độ, Srilanca, Đông Phi đều cho rằng: cắm hom vào túi PE không ảnh hưởng tới sự ra
Trang 24rễ của hom chè Việc giâm cành vào túi PE giá thành lại cao do tăng chi phí mua túi bầu và công đóng bầu, nên để giảm giá thành sản xuất cây con giống mà vẫn đảm bảo cây giống tốt các nhà khoa học Nhật Bản, Trung Quốc đã nghiên cứu giâm cành trực tiếp trên nền đất hoặc giá thể dinh dưỡng
Để giâm hom chè đạt kết quả tốt cần thực hiện đầy đủ các yếu tố kỹ thuật Theo Hartmen và Kester (1988) cho biết có 3 yếu tố chính ảnh hưởng tới kết quả giâm hom: Giống, kỹ thuật xử lý hom và môi trường giâm
Theo Anon (1986) nghiên cứu ở Kenya cho biết để có hom giống tốt cần phải chăm sóc vườn cây mẹ chu đáo như chế độ bón phân đặc biệt, đốn nhiều lần trong năm Hom giống tốt có chiều dài 3 – 4 cm, nếu ngắn hơn 3 cm phải bỏ bớt
1 lá để đảm bảo độ dài của hom
Theo nghiên cứu môi trường pH giâm hom giống chè Ấn Độ của Chakravartee et al (1996), cho biết độ pH dưới 5 thì hom ra rễ tốt nhất, tác giả cũng kết luận túi bầu có kích thước đường kính 8 cm và chiều cao 28 cm, luống không rộng hơn 1,5 m cho kết quả tốt
2.3.2 Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam
2.3.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè
Nghiên cứu về đợt sinh trưởng của chè, tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) cho thấy: Trong năm chè để sinh trưởng tự nhiên có 3 - 5 đợt sinh trưởng, khi đốn hái thì có 6 - 7 đợt sinh trưởng, điều kiện thâm canh cao có thể có từ 8 - 9 đợt sinh trưởng Nghiên cứu số đợt sinh trưởng của các giống chè trong điều kiện
có đốn hái và điều kiện tự nhiên, Lê Tất Khương và Hoàng Văn Chung (1999) cho rằng: Tuỳ điều kiện tự nhiên mà các giống chè sinh trưởng khác nhau, nhưng giữa các giống ít có sự sai khác về số đợt sinh trưởng, số đợt sinh trưởng tự nhiên của các giống biến động từ 3,4-3,6 đợt/năm Tuy nhiên, trong điều kiện có đốn, hái ở các giống có sự sai khác đáng kể về số đợt sinh trưởng, biến động từ 5,5- 6,2 đợt/năm tuỳ thuộc vào điều kiện và phương thức thu hái
Thời gian sinh trưởng 1 đợt búp trên giống chè Trung Du tại Phú Hộ dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, vụ xuân búp chè có thời gian sinh trưởng dài nhất và ngắn nhất là vụ hè
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh trưởng búp chè với sản lượng chè theo tác giả Nguyễn Văn Toàn và cs., (1994): Sản lượng búp chè do 2 yếu tố số lượng búp trên cây và khối lượng búp quyết định, trong đó số lượng búp/cây có
Trang 25tương quan chặt hơn đối với sản lượng, đây là yếu tố rất nhạy cảm có thể thay đổi theo những điều kiện canh tác và các biện pháp kỹ thuật
Cây chè sau khi trồng tuỳ điều kiện sinh trưởng mà có khả năng ra hoa đậu quả khác nhau Nếu cây trồng bằng hạt thường sau 2 năm sẽ có hoa và quả lần thứ nhất, cây trồng bằng cành giâm sẽ cho quả sớm hơn
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm hình thái, điều kiện ngoại cảnh với năng suất chè, Chu Xuân Ái (1988) cho rằng: Năng suất chè có mối tương quan thuận chặt với mật độ búp (r = 0,8564) và diện tích lá (r = 0,7752), những giống có mật độ búp cao, diện tích lá lớn cho năng suất cao Giống có chiều rộng
lá (r = 0,7542) lớn có năng suất cao hơn là có chiều dài lá lớn
Nghiên cứu kích thước lá của các giống chè khác nhau, Nguyễn Văn Toàn
và Trịnh Văn Loan (1994) cho rằng: Các giống chè khác nhau có kích thước lá khác nhau, do vậy các giống khác nhau cũng có khả năng cho năng suất khác nhau
Tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) cho rằng: lá chè mọc trên cành chè của các giống khác nhau có thế lá khác nhau, thế lá úp, thế lá nghiêng, thế lá rủ và thế
lá ngang Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của giống chè có năng suất cao
Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) phân loại lá chè như sau:
Dạng phiến lá căn cứ theo tỷ lệ dài lá/ rộng lá (d/r)
Nghiên cứu kích thước lá của các giống chè khác nhau, Nguyễn Văn Toàn
và Trịnh Văn Loan (1994); Lê Tất Khương (2006) đều cho rằng: Các giống chè khác nhau có kích thước lá khác nhau, do vậy các giống khác nhau cũng có khả năng cho năng suất khác nhau Nghiên cứu quan hệ giữa hệ số diện tích lá với khả năng cho năng suất của các giống chè, các tác giả Đỗ Văn Ngọc (2006) cho rằng: Hệ số diện tích lá có tương quan thuận với tổng số búp chè (R = 0,69)
Trang 26thông qua đó mà có tương quan thuận với năng suất búp chè
Theo Nguyễn Văn Niệm và cs., (1988); Nguyễn Văn Niệm và Lê Sĩ Thức (1994) cho rằng đặc điểm phân cành của cây chè là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cho năng suất của giống Những giống chè có độ cao phân cành thấp, số cành cấp 1 nhiều, cành lớn sẽ có bộ khung tán to, khoẻ, có khả năng cho năng suất cao
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của các dạng đốn đến sự phân bố của bộ rễ tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) đã kết luận: Khối lượng bộ rễ tập trung phân bố chủ yếu ở tầng 0-40cm (chiếm 80% khối lượng bộ rễ)
Nghiên cứu về quan hệ giữa bộ rễ và tán cây chè Nguyễn Đình Vinh (2002) cho rằng: Vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 rễ bắt đầu sinh trưởng, và chỉ sau khi hình thành nên một đợt sinh trưởng rễ nhất định, thì bộ phận trên mặt đất mới bắt đầu sinh trưởng Về mùa Thu sau khi kết thúc đợt sinh trưởng của phần trên mặt đất, bộ rễ chè mới bắt đầu sinh trưởng Sinh trưởng của bộ rễ mạnh hay yếu ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng búp chè vụ Xuân năm sau
2.3.2.2 Nghiên cứu về nhân giống vô tính chè
Ở Việt Nam nhân giống vô tính đối với cây chè từ lâu đã được nhiều tác giả nghiên cứu Hiện nay có thể nhân giống theo các hình thức khác nhau như: Giâm cành, chiết cành, ghép cành và nuôi cấy mô
- Phương pháp ghép cành
Ở Việt Nam, theo Đỗ Văn Ngọc và cs., (2002) Dự án phát triển cây chè và cây ăn quả, đối với cây chè ghép có thể áp dụng kỹ thuật ghép nêm khi cây làm gốc ghép đạt 3 - 3,5 tháng tuổi, có 5-6 lá thật, đường kính thân >2,0mm là đủ chỉ tiêu ghép
Theo Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002), kết quả nghiên cứu phương pháp ghép của Kvarakhelia TK (1959) cho biết: tỷ lệ sống của mắt ghép đạt từ 53 - 76% tùy thuộc vào phương pháp ghép Tác giả cũng cho rằng cây chè 2 tuổi làm gốc ghép cho kết quả tốt và ghép vào mùa thu có tỷ lệ sống cao đạt tới 80%
Trung tâm nghiên cứu chè Bảo Lộc- Lâm Đồng đã nghiên cứu thành công
kỹ thuật tạo cây chè ghép từ giống TB14 và LĐ19 vào năm 1999, đề tài được hội đồng khoa học tỉnh Lâm Đồng công nhận vào tháng 12/2000 (Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Kim Phong, 1997)
Trang 27- Phương pháp nuôi cấy mô
Nghiên cứu khả năng nuôi cấy mô của một số giống chè tác giả Nguyễn Văn Thiệp và Nguyễn Văn Tạo (2008) đã kết luận: Khả năng nẩy chồi của một
số giống chè khi nuôi cấy bằng phôi hạt là như nhau trong khi đó nếu nuôi cấy bằng búp thì các giống chè Shan và giống LDP1 có tỷ lệ nẩy chồi thấp hơn Các giống chè Shan và giống LDP1, Shan Chất Tiền, Gruzia 3 có khả năng tạo thành phôi vô tính, khả năng tạo chồi và rễ mạnh hơn các giống khác
- Phương pháp giâm cành
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi hom, thời vụ và một số chất kích thích sinh trưởng đến sự pháp triển của cành chè 1A giâm ở Phú Hộ, cho thấy rằng: hom xanh, giâm cành chè 1A vụ thu cho tỉ lệ xuất vườn cao nhất (Nguyễn Văn Niệm và Lê Sỹ Thức, 1994) Theo Lê Tất Khương (1997) khi phun Komix, Agriconik và hỗn hợp axit Boric + Urê cho chè 1A giâm cành làm tăng tỷ lệ bật mầm, tăng tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn của cành giâm từ đó làm giảm giá thành cây xuất vườn từ 3,2 – 8,1%
Khi nghiên cứu kỹ thuật giâm cành chè trên nền đất đã đưa ra kết luận: Giâm cành chè rễ trần ở mật độ 250 – 300 hom/m2 cây sinh trưởng tốt tương đương với giâm trong bầu ở tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng (Đỗ Văn Ngọc và cs., 2006)
Nguyễn Văn Thiệp và Nguyễn Văn Tạo (2008) khi nghiên cứu hệ số nhân giống của giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích đã chỉ rõ: Cành giống tốt là những cành có số lá thật đồng đều, lá dày, màu xanh, độ dài lóng đạt mức độ trung bình, mầm nách phát triển không dài quá 3cm tốt nhất mầm nách chỉ hình thành ở nách lá thứ 1-3 với độ dài mầm ≤ 1cm
Đỗ Văn Ngọc và cs., (2009) đã thực hiện dự án “ Phát triển giống chè mới giai đoạn 2006 - 2010” thu được kết quả như sau: Về thời vụ cắm hom ở miền bắc có 2 thời vụ cắm hom tốt vụ thu cắm hom vào tháng 8, vụ đông xuân cắm
Trang 28hom vào tháng 11 - 12, có thể dựa vào thời vụ cắm hom để xác định thời vụ nuôi hom thích hợp trên vườn giống Tiêu chuẩn hom giống khác nhau trên từng giống: đối với giống Shan Chất Tiền, hom loại 1 chiều dài hom 3,5 - 4,5cm, đường kính hom 3 - 4mm, hom loại 2 chiều dài hom 3,5 - 4,5cm, đường kính hom 2,5 -3,0mm
Về chọn giống: Bằng phương pháp chọn lọc cá thể các tác giả Nguyễn Văn Niệm và Trần Thanh (1959 - 1972) đã chọn được các dòng chè PH1, 1A từ quần thể Manipuar lá đậm ở Phú Hộ Hiện nay giống chè PH1, vẫn là giống có tiềm năng cho năng suất cao nhất, thích hợp cho chế biến chè đen Trong những năm 1976 - 1990 các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm, Trần Thị Lư đã chọn ra từ tập đoàn giống chè ở Phú Hộ và tập đoàn giống nhập nội từ Srilanca các giống chè TH3, TRI 777, đến nay giống chè TRI777 đang được đánh giá cao, phát triển mạnh ở vùng chè Thái Nguyên
Nguyễn Xuân An (2006) năm 1962 tại Bảo Lộc đã chọn ra 2 giống chè TB11 và TB14 có năng suất cao, chất lượng tốt từ 17 cây chè Shan Trấn Ninh (nguồn gốc từ Lào) Năm 1997 trung tâm nghiên cứu thí nghiệm chè Lâm Đồng
đã chọn, phổ biến vào sản xuất giống chè LĐ97, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, ít kén đất và chịu thâm canh
Trong lai hữu tính để chọn tạo giống chè mới thì lựa chọn các cặp bố, mẹ
có tính trạng tốt để tiến hành lai tạo nhằm thu được con lai có tính trạng vượt trội
bố, mẹ của chúng là vấn đề rất cần thiết và cấp thiết (Vũ Thị Thư và cs., 2001; Nguyễn Văn Toàn và cs., 1988) Để tuyển chọn cặp bố, mẹ trong lai tạo đòi hỏi phải có sự đánh giá và phân tích kỹ về tiềm năng di truyền của chúng đối với các tính trạng khác nhau như: khả năng chống chịu sâu bệnh, tính thích ứng, chất lượng sản phẩm, năng suất, đặc trưng hình thái.v.v
Nghiên cứu về lai tạo giống, các tác giả: Trần Thị Lư và cs., (1998) cho rằng: ở Việt Nam các giống chè thường có hoa nở vào tháng 11, tháng 12 Vì thế việc lai giống chè không cần phải bảo quản hạt Trong trường hợp hoa nở không cùng nhau có thể bảo quản trong điều kiện ẩm độ từ 25 - 30%, nhiệt độ bình thường của không khí, trong điều kiện như vậy, ở Phú Hộ (Phú Thọ) có thể giữ sức nảy mầm của hạt phấn trong vòng 40 ngày
Từ năm 1990 trở lại đây định hướng chọn tạo giống chè mới đã có sự thay đổi chọn giống dựa trên các tiêu chí năng suất cao, chất lượng tốt và chống chịu
Trang 29tốt Hai giống chè mới LDP1, LDP2 được chọn lọc từ đời F1 của tổ hợp lai giữa các giống chè PH1 (năng suất cao) với giống Đại Bạch Trà (chất lượng chè xanh tốt nhưng năng suất thấp) Giống chè LDP1 và LDP2 có năng suất và chất lượng khá Năng suất chè tuổi 12 cho năng suất 15 - 18 tấn /ha chất lượng chè xanh đạt loại khá (>15,2 điểm) Chất lượng chè đen đạt loại khá đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu Cả 2 giống chè LDP1 và LDP2 đều được công nhận là giống khảo nghiệm năm 1993 Năm 2002 và năm 2007 lần lượt 2 giống LDP1 và LDP2 được công nhận là giống Quốc gia Hiện nay 2 giống chè này chiếm khoảng 25 % diện tích chè toàn quốc và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của sản xuất chè Ưu điểm nổi bật của 2 giống chè này là cho năng suất khá cao và vừa chế biến được chè xanh, vừa chế biến được chè đen song chất lượng sản phẩm chưa đạt mức độ chất lượng cao
Trong những năm 2000 – 2005 nhằm khắc phục tình trạng thiếu các giống chè chất lượng cao, song song với chọn tạo giống chè trong nước, chúng ta đã đẩy mạnh công tác nhập giống từ nước ngoài Năm 2003 Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận tạm thời 7 giống nhập nội Hùng Đỉnh Bạch, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Bát Tiên và PT95
Trong số các giống nhập nội có một số giống bước đầu tỏ ra phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam, song bên cạnh đó có nhiều giống sinh trưởng yếu, khả năng kháng sâu bệnh kém Một số giống sinh trưởng tương đối khoẻ, song chất lượng lại không cao Hiện nay có 3 giống đã được công nhận chính thức đó là: Kim Tuyên, Thuý Ngọc và Phúc Vân Tiên, 4 giống còn lại sinh trưởng yếu và mức độ sâu bệnh hại nhiều
Một số giống nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan theo lý lịch giống có hàm lượng axit amin cao, chất lượng sản phẩm rất cao (Nguyễn Văn Toàn và Trịnh Văn Loan, 1994) và kết quả đánh giá ở Việt Nam cũng cho chất lượng rất cao như: Thiết Bảo Trà, Long Vân 2000 (TQ), Olong Thanh Tâm, Tứ Quí Xuân (Đài Loan) và Kanaya Midory, Meryoku (Nhật Bản) Song sinh trưởng của các giống chè này ở miền Bắc rất yếu, tỷ lệ chết nhiều (Nguyễn Văn Niệm và cs., 1988)
Các giống Kim Tuyên, Thuý Ngọc và Phúc Vân Tiên có ưu điểm là chất lượng chè xanh và chè Olong vào loại khá đến tốt trong điều kiện khí hậu miền Bắc (Nguyễn Văn Niệm và cs., 1988) Tuy nhiên 3 giống chè này có sức sinh
Trang 30trưởng và khả năng chống chịu điều kiện bất thuận so với các giống chè phổ biến trong sản xuất ở Việt Nam thì chúng sinh trưởng yếu hơn Mặt kháctrong điều kiện vùng thấp chúng có chất lượng không ổn định (chất lượng tốt vào vụ đông xuân Còn trong vụ hè thu là thời vụ chè chính thì chất lượng chưa cao)
Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc hiện đang lưu giữ và nghiên cứu phát triển tập đoàn giống chè gồm 203 giống được thu thập từ các nước trồng chè trên thế giới và các vùng chè của Việt Nam Trong đó có 45 giống chè nhập từ Trung Quốc, 23 giống nhập từ Nhật Bản, 9 giống nhập từ Đài Loan, 11 giống nhập từ Ấn Độ, 3 giống nhập từ Hàn Quốc, 6 giống nhập từ Gruzia, 13 giống nhập từ Srilanca và 93 giống của Việt Nam Các giống chè này đang là nguồn vật liệu khởi đầu quan trọng phục vụ cho công tác chọn tạo giống chè mới chất lượng cao ở Việt Nam
Năm 1990 một số dòng chè có nguồn gốc Ấn Độ được nhập vào Thanh
Ba, Phú Thọ dưới dạng cây chè bằng hạt, trồng tại các xã Thanh Vân, Đông Lĩnh, Thanh Ba - Phú Thọ Trong quần thể các giống chè đó có nhiều dạng hình khác nhau, từ năm 1996 – 1998 các tác giả đã điều tra và tuyển chọn được 3 dòng chè với tên TB1, TB2, TB3 Căn cứ vào kết quả điều tra, tuyển chọn, các tác giả
đã chọn được giống TB1 có nhiều triển vọng được đặt tên là giống PH11 (Đỗ Văn Ngọc và cs., 2014)
Giống PH11 có đặc điểm: Thuộc dạng cây gỗ, phân cành trung bình Lá
có dạng hình bầu dục: chiều dài 12,64 cm, chiều rộng 5,22 cm, diện tích lá trưởng thành lớn, lá màu xanh vàng sáng, mặt lá phẳng nhẵn, mép lá lượn sóng, chóp lá nhọn, có 9 - 11 đôi gân lá chính, răng cưa nông đều, mầu sắc búp non có mầu xanh, mức độ lông tuyết trên tôm trung bình
Khối lượng búp tôm 3 lá lớn 1,56 g/búp, có sức sinh trưởng khoẻ tuổi 4
đã có chiều rộng tán 97,13 cm, chiều cao cây 73,88 cm Sớm cho năng suất cao ở tuổi 4 đã cho năng suất 11,0 tấn/ha đến tuổi 6 đạt tới 15,8 tấn/ha, chịu thâm canh Được công nhận giống cây trồng mới tại các tỉnh phía Bắc theo Quyết định số 201/QĐ-BNN-CCN ngày 28 tháng 5 năm 2013
Năm 2000 Tổng Công Ty chè Việt Nam nhập nội 12 giống chè chất lượng cao có nguồn gốc từ Trung Quốc và Srilanka: Thiết Bảo Trà, Long Vân 2.000, Keo Am Tích, Hương Tích Sơn, Hùng Đỉnh Bạch, Phúc Vân Tiên, PT95, PT10 Trong quá trình khảo nghiệm cho thấy tập đoàn các giống nhập nội có một số cá
Trang 31thể có đặc điểm hình thái khác biệt rõ rệt so với những giống đã được mô tả trong
hồ sơ công nhận giống Bằng phương pháp chọn lọc cá thể chúng tôi đã chọn ra dòng chè số 1 (nay gọi là giống PH10)
Qua đánh giá cho thấy giống PH10 có sức sinh trưởng trung bình 9 tuổi có chiều rộng tán 144,0 cm bằng chiều rộng tán của giống Kim Tuyên; Năng suất bình quân PH10 ở 9 tuổi đạt 6,73 tấn/ha bằng 97,67% so năng suất chè Kim Tuyên Giống PH10 có chất lượng nguyên liệu tốt thích hợp cho chế biến chè xanh chất lượng cao, chè Olong, ổn định qua các thời vụ; hàm lượng đường khử, axit amin, catechin cao hơn so với giống Kim Tuyên có một số đặc điểm quý về chất lượng được công nhận là giống cây trồng mới cho các tỉnh phía Bắc theo Quyết định số 1489/QĐ-BNN-TT ngày 30 tháng 6 năm 2014
Các tác giả Nguyễn Thị Minh Phương và cs., (2010) đã tập trung vào chọn giống chè bằng phương pháp lai hữu tính Mục tiêu là chọn ra các giống có chất lượng chè tốt phù hợp chế biến chè xanh và chè Olong Kết quả đã chọn ra giống PH8 và PH9 (bố là giống chè Kim Tuyên và mẹ là giống TRI 777) sinh trưởng khoẻ, chế biến chè xanh đạt chất lượng khá đến tốt Giống PH8 còn có thể chế biến chè Olong Năm 2009 hai giống PH8 và PH9 đã được công nhận là giống sản xuất thử và cho phép mở rộng trong sản xuất Ngoài kết quả là chọn ra giống PH8, PH9 các tác giả còn chọn được nhiều dòng chè có triển vọng như : dòng số
10, số 12, dòng số 13, dòng số 14, dòng số 15, dòng số 17, dòng số 19, dòng số
20, dòng số 25 và trên 3000 cá thể F1 thu được từ các tổ hợp lai giữa các giống
có chất lượng với giống năng suất cao và chống chịu tốt
Năm 2015 giống chè Hương Bắc Sơn được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính giữa mẹ là Kim Tuyên với bố là giống Trung Du, có những đặc điểm quý năng suất khá, chè 6 tuổi đạt trung bình 8,32 tấn búp/ha, năng suất bình quân
5 năm (tuổi 2-6) đạt 5,54 tấn/ha cao hơn 19,23% so với giống bố Trung Du , cao hơn 12,09% so với mẹ Kim Tuyên và tương đương với giống đối chứng Phúc Vân Tiên Thích hợp để chế biến chè xanh đặc sản, chè xanh dẹt và chè Olong Chế biến chè xanh cho sản phẩm chất lượng tốt ngoại hình đẹp, hương thơm mạnh, hương hoa, bền hương, đặc trưng hương giống, vị đậm dịu có hậu, chế biến ở cả vụ xuân, vụ hè, vụ thu chất lượng đều đạt loại khá và tốt (Nguyễn Thị Minh Phương và cs., 2015) Được công nhận giống sản xuất thử cho phát triển tại các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên theo Quyết định số 2682/QĐ-BNN-TT ngày 8 tháng 7 năm 2015
Trang 32Năm 2016 giống chè VN15 được tạo bằng phương pháp lai hữu tính giữa giống mẹ là giống chè Saemidori (Biến chủng Trung quốc lá nhỏ -Camellia sinesis var bohea) có nguồn gốc Nhật Bản và bố là giống chè Shan Cù Dề Phùng (Biến chủng chè shan - Camellia sinesis var shan) với mục đích tổng hợp được các đặc tính tốt của cả bố và mẹ về năng suất và chất lượng Dòng số 14 có dạng thân bụi, có diện tích lá nhỏ, búp non mầu xanh vàng, mức độ lông tuyết nhiều,
lá trưởng thành có màu xanh đậm, thời gian bật búp sớm Khối lượng búp đạt 0,65g, chiều dài tôm 3 lá đạt 6,83 cm, trồng mới có tỷ lệ sống cao đạt 98,0% Sinh trưởng khỏe, ở tuổi 3 có chiều rộng tán 80,6 cm, mật độ búp 217,3 búp/m2/lứa Năng suất tuổi 3 đạt 4,3 tấn/ha Kết quả thử nếm đánh giá chè xanh khá Điều tra mức độ bị hại của một số loài sâu hại chính cho thấy: tại mô hình khảo nghiệm dòng chè số 14 bị hại bởi các loại sâu hại chính như: Rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi và nhện đỏ, tuy nhiên mức độ bị hại không cao Chống chịu tốt với điều kiện bất thuận Báo cáo công nhận giống sản xuất thử (Nguyễn Thị Minh Phương và cs, 2016) Được công nhận là giống cho phát triển tại các tỉnh Trung Du miền núi phía Bắc theo Quyết định số 5037/QĐ-BNN-TT ngày 01 tháng 12 năm 2016
*Đánh giá tổng quan
Từ các dẫn liệu ở phần tổng quan đã khẳng định rằng hiện nay để chọn tạo giống chè mới trên thế giới chủ yếu dùng phương pháp lai hữu tính nhân tạo Ở Trung Quốc phương pháp chọn tạo giống chè sử dụng hệ thống chọn tạo giống lai tạp giao là chính
Phần lớn các giống chè có chất lượng chè xanh và chè Olong cao nhập từ nước ngoài, trong điều kiện khí hậu của Việt Nam chúng sinh trưởng yếu và sâu bệnh nhiều Nhất là các giống chè Nhật Bản và một số giống chè Trung Quốc
Từ những phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng chè Việt Nam muốn có được bộ giống tốt cho chế biến chè xanh, chè đen và chè Olong cần phải tập trung chọn tạo giống theo phương pháp lai hữu tính là hiệu quả nhất Đặc biệt trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay đã công nhận thêm được rất nhiều giống chè mới được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính như: Giống LDP1, LDP2, PH8, PH9, Giống chè Hương Bắc Sơn năm 2015 và giống chè VN15 được công nhận năm 2016 là những tiến bộ kỹ thuật trong chọn tạo giống chè mới bằng phương pháp lai hữu tính Bên cạnh đó để đẩy nhanh tiến độ chọn tạo giống chè mới cần thiết áp dụng kỹ thuật “ vườn sản xuất giống gốc” mà Ấn Độ đã thành công có hiệu quả (Nguyễn Văn Toàn và Nguyễn Thị Minh Phương, 2006)
Trang 33PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè - Viện KHKT NLN miền núi phía Bắc, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu: Năm 2016 - 2017
3.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Gồm 7 dòng chè được tạo ra năm 2014 từ phương pháp lai hữu tính ở đời lai F1 tương đối ổn định
Giống đối chứng là giống LDP1
TT Tên dòng Nguồn gốc
1 207 Kim Tuyên/ TRI777
2 213 Kim Tuyên/ Trung Du
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái thực vật học, sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất của các dòng chè mới chọn lọc được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính
- Nghiên cứu chất lượng nguyên liệu và sản phẩm chế biến chè xanh, chè đen của các dòng chè mới chọn lọc được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính
- Đánh giá khả năng nhân giống bằng phương pháp giâm cành các dòng chè mới chọn lọc được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính
Trang 343.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Thiết kế thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 8 công thức được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ
(RCB), trên nương chè với 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại có 3 hàng, mỗi hàng
có 10 cây Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 16m2.Tổng diện tích thí nghiệm 700m2
vệ
↑
SƠ ĐỒ THÍ NGHIỆM Nhắc lại 1 207 213 232 233 234 238 241 LDP1
Nhắc lại 2 LDP1 241 238 234 233 232 213 207
Nhắc lại 3 233 234 207 213 232 241 LDP1 238
← Dải bảo vệ →
Kỹ thuật chăm sóc theo quy trình chung cho các giống chè tại trung tâm
nghiên cứu và phát triển chè – Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi
phía Bắc
3.5.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định
Theo QCVN 01-124:2013/BNNPTNT
a, Đặc điểm hình thái, sinh trưởng của thân, cành chè
Các tính trạng được đo đếm trên các ô thí nghiệm, mỗi ô thí nghiệm lấy
mẫu 10 cây theo đường chéo Đo vào tháng 10 hàng năm
- Chiều cao cây (cm): Mỗi ô thí nghiệm lấy 5 cây đại diện cho ô theo
phương pháp đường chéo 5 điểm, đo từ bề mặt đất sát cổ rễ đến bề mặt một
khung vuông đặt nằm ngang trên mặt tán và song song với bề mặt đất
Trang 35- Độ rộng tán chè (cm): Chọn cây chè có độ rộng tán trung bình, đo vị trí rộng nhất của tán cây ở phần giữa tán theo hàng chè, dùng hai thước dựng đứng song song hai bên mép tán đo độ rộng giữa hai thước
- Đường kính thân (cm): Chọn cây đại diện theo phương pháp đường chéo
5 điểm Đo cách cổ rễ 5-6 cm, những cây chè thân bụi phân cành ngay từ cổ rễ,
đo đường kính ở cành chè to nhất, cách cổ rễ 5- 6 cm
- Số cành cấp 1: Đếm tổng số cành sinh ra từ thân chính khi chiều cao cây đạt 60 cm Đo đếm những cành chè phát triển bình thường
- Độ cao phân cành: Đo từ mặt đất đến điểm phân cành cấp 1 đầu tiên
- Góc độ phân cành cấp 1 (độ): Góc độ phân cành cấp 1 là góc tạo bởi các cành cấp 1 và thân chính của cây chè Dùng thước đo độ đo góc tạo bởi các cành cấp 1 trên cây với trục thẳng đứng của thân chính
- Chiều rộng lá (cm): Chiều rộng đo vị trí rộng nhất theo chiều ngang của lá
- Diện tích lá (cm2/lá ): Chiều dài x chiều rộng x kệ số K
( K là hệ số điều chỉnh, theo các kết quả nghiên cứu trước đây, các giống chè có dạng lá bầu, tròn hệ số K là 0,70 Các giống chè có dạng lá thuôn dài, hệ
số K là 0,68)
+ Màu sắc lá: Đánh giá màu sắc của lá trưởng thành (theo dõi các lá thứ 5 –7) + Số đôi gân lá (đôi/lá): Đếm những đôi gân nổi rõ và xuất phát từ gân chính đến mép lá
+ Răng cưa: Quan sát đặc điểm của răng cưa, nông, sâu, đều, không đều
- Hình dạng lá: được căn cứ theo hệ số dài lá/ rộng lá
≤ 2,5 : Hình trứng
>2,5 : Trứng thuôn
> 3,0: thuôn mũi mác
- Chóp lá: Nhọn, tù
Trang 36c, Đặc điểm cấu tạo hoa
- Đặc điểm của hoa chè theo quy trình khảo nghiệm DUS 10TCN744
- Kích thước hoa chè
- Mầu sắc, kích thước, số lượng, lông tuyết của cánh hoa, nhị và nhuỵ
d, Đặc điểm sinh trưởng của búp chè, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
+ Màu sắc búp: Quan sát màu sắc búp sau khi hình thành
- Chiều dài búp (cm): Chọn các búp phát triển bình thường, đo từ vết hái (sát nách lá) đến đỉnh sinh trưởng của búp 1 tôm + 2 lá, 1 tôm + 3 lá Mỗi ô thí nghiệm đo 30 búp
- Đường kính gốc búp tôm 2 lá, 3 lá.(cm): Dùng thước kẹp đo 10 búp/ 1 ô thí nghiệm
- Sinh trưởng của búp
+ Mỗi giống đo 30 búp cố định, đo từ khi lá cá mở đến khi đạt 1 tôm + 5 lá + Theo dõi thời gian sinh trưởng của các búp đo
- Tỷ lệ búp mù xòe (%): Hái tất cả các búp có trên mặt tán, cân 100 gam búp ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại Tiến hành phân loại búp bình thường và búp mù Tính tỷ lệ % búp mù và búp bình thường
- Khối lượng 1 búp (g): Theo dõi vào lứa hái chính, 1 tháng 1 lần Trên mỗi ô thí nghiệm chọn 3 điểm đại diện, mỗi điểm lấy 100g búp 1 tôm 2 lá, đếm
số lượng búp và tính ra khối lượng búp bình quân theo công thức:
100g Công thức tính khối lượng 1 búp: P búp =
Số búp trong 100g mẫu
Trang 37- Số búp/cây: đếm toàn bộ số búp đạt tiêu chuẩn trên cây, mỗi lần nhắc lại
đếm trên 10 cây
+ Mức độ lông tuyết: Quan sát mức độ lông tuyết trên búp và lá non
- Động thái tăng trưởng của búp: Khi các chồi lá ở nách lá chừa phình to bắt
đầu đánh dấu theo dõi thời gian Đến khi búp chè đủ tiêu chuẩn hái và hái búp là
thời gian kết thúc đợt sinh trưởng
+ Đợt sinh trưởng tự nhiên: Cố định cành chè trên cây chè sinh trưởng tự
nhiên (không thu hái búp), theo dõi các đợt lộc ra trong 1 năm kể từ khi cây bắt
đầu bật mầm đến khi kết thúc sinh trưởng Thời gian bắt đầu sinh trưởng: từ khi
có 10% cành nảy mầm sau đốn Thời gian kết thúc sinh trưởng khi cành chè
ngừng sinh trưởng
- Thành phần cơ giới (%): Mỗi lần nhắc lại 10 búp tôm 3 lá cân được khối
lượng (P) tách riêng từng phần lá 1, lá 2, lá 3, cuộng, tôm cân được các khối lượng
P1, P2, P3, P4, P5 % lá 1= P1/P; % lá 2= P2/P; % lá 3= P3/P; % cuộng= P4/ P; %
tôm= P5/P
- Năng suất thực thu (tấn/ha):
Là khối lượng búp thu hái được của một ô thí nghiệm rồi tính ra năng
suất của 1 ha
e, Điều tra sâu bệnh hại
Theo quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-118:2012/BNNPTNT
về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật chính gây hại cây chè
- Điều tra mật độ rầy xanh: Dùng khay nhôm có kích thước 25x30x5cm,
dưới đáy tráng một lớp mỏng dầu hỏa, đặt khay dưới tán chè nghiêng 450 so với
thân cây, dùng tay đập mạnh trên tán chè 3 đập thẳng góc với khay, sau đó đếm
số rầy trên khay Định kỳ 1 tháng điều tra một lần
Mật độ rầy xanh = Tổng số con đếm được (con/khay)
Tổng số khay điều tra
- Điều tra mật độ bọ cánh tơ: Điều tra định kì 1 tháng/lần, vào buổi sáng
Hái 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 20 búp cho vào túi PE đem về phòng đếm số bọ
cánh tơ trên từng búp và phân cấp bị hại, tính theo công thức:
Trang 38Mật độ bọ cánh tơ = Tổng bọ cánh tơ đếm được (con/búp)
Tổng búp điều tra
- Điều tra mật độ nhện đỏ: Hái 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 20 lá bánh tẻ,
lá già, cho vào túi PE về phòng đếm số nhện và phân cấp độ hại, Định kỳ 1 tháng
điều tra một lần tính:
Mật độ nhện đỏ = Tổng số nhện đếm được (con/lá)
Tổng số lá điều tra
- Điều tra bọ xít muỗi: Định kỳ 1 tháng điều tra một lần Điều tra theo 5 điểm
đường chéo, mỗi điểm hái ngẫu nhiên bất kì 20 búp, cho vào túi PE về phòng đếm
số búp có vết do bọ xít muỗi hại, tính tỉ lệ % búp bị hại theo công thức:
Búp bị hại (%) = Tổng số búp bị hại x 100
Tổng số búp điều tra
f, Nghiên cứu, đánh giá các chỉ tiêu chất lượng
- Phân tích thành phần sinh hoá cuả búp chè 1 tôm 2 lá:
- Hàm lượng tanin trong búp tươi (%): Theo phương pháp Levenlthal với K= 0,582
- Hàm lượng chất hoà tan theo phương pháp Voronsov
- Hàm lượng đường khử theo phương pháp Bertrand
- Hàm lượng axitamin theo phương pháp V.R.Papov (1996)
- Đánh giá chất lượng cảm quan chè xanh, chè đen
- Thử nếm mẫu chè xanh, chè đen bằng phương pháp cảm quan theo 4 chỉ
tiêu (ngoại hình- màu nước – mùi hương – vị) theo TCVN 3218- 1993
Đánh giá cảm quan 4 chỉ tiêu (ngoại hình, màu nước, hương, vị), theo
thang điểm 5, nhưng có hệ số quan trọng khác nhau (ngoại hình 1,0; màu nước
0,6; hương thơm 1,2; vị 1,2); sau khi lấy chỉ số trung bình của từng thành viên
nhân với hệ số quan trọng và tính tổng số điểm của mẫu chè, cuối cùng xếp loại:
Loại tốt đạt từ 18,2 – 20 điểm;
Loại khá đạt từ 15,2 – 18,1 điểm;
Loại đạt từ 11,2 – 15,1 điểm;
Trang 39Loại kém đạt từ 7,2 – 11,1 điểm;
Loại hỏng từ 0 – 7,1 điểm;
g Đánh giá khả năng nhân giống các dòng chè bằng phương pháp giâm cành
Mỗi công thức theo dõi 30 cây/3 lần nhắc lại, lấy mẫu theo quy tắc đường chéo 5 điểm
+ Tỷ lệ hom sống (%): Theo dõi sau 30 ngày, 60 ngày, 90 ngày Đếm số hom sống gọi là N1, hom chết là N2 Tính theo công thức:
+ Đường kính thân cây chè giâm (mm): Dùng thước kẹp Panme đo đường kính thân cây tại điểm cách cổ rễ 1 – 2 cm, lấy giá trị trung bình
+ Tỷ lệ cây xuất vườn (%): Mỗi công thức theo dõi 30 cây, tại thời điểm xuất vườn đếm số cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn được số lượng N1 Tỷ lệ cây xuất vườn tính bằng công thức:
N1
Tỷ lệ cây xuất vườn (%) = x 100
N
h Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý kết quả thí nghiệm trên phần mềm IRRISTAT 4.0
- Thiết lập biểu đồ và đồ thị trên máy vi tính bằng phần mềm EXCEL
Trang 40PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT CỦA CÁC DÒNG CHÈ NGHIÊN CỨU
4.1.1 Đặc điểm hình thái thân, cành của các dòng chè nghiên cứu
Nghiên cứu về sinh trưởng thân, cành chè trong giai đoạn kiến thiết cơ bản
có vai trò quan trọng, bước đầu đánh giá được dòng, giống chè nào có đặc điểm sinh học tốt như sinh trưởng khỏe, tán rộng, cành cấp 1 nhiều, đường kính thân lớn tạo ra bộ khung tán to khỏe là tiền đề cho năng suất cao Bên cạnh đó sản phẩm chính của cây chè là búp và lá non, vì thế cây chè có bộ khung tán rộng, mật độ búp nhiều, khối lượng búp lớn là những yếu tố quyết định đến năng suất của cây Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Sinh trưởng thân, cành của các dòng chè nghiên cứu (Tuổi 2)
Tên dòng Chiều cao cây
(cm)
Chiều rộng tán (cm)
Đường kính thân (cm)
Cành cấp 1 (cành)
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong một cột biểu thị sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%
Cây chè sau khi trồng nếu sinh trưởng tốt, tăng trưởng chiều cao và đường kính thân càng nhanh sẽ là cơ sở cho bộ khung tán vững chắc và khả năng cho năng suất cao sau này Tuy nhiên đối với các dòng chè nghiên cứu có thu hái búp thì chiều cao cây và chiều rộng tán được điều khiển hàng năm bằng kỹ thuật đốn và hái chè
Chiều cao cây: Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy chiều cao cây
có liên quan chặt với diện tích lá là một chỉ tiêu để phân loại về giống chè Diện tích lá tương đối ổn định ở các độ tuổi khác nhau Do đó giống có chiều cao cây