đọc cảm nhận rất rõ về cuộc sống lặp đi lặp lại ngày nào cũng như thế một cách đơn điệu, buồn tẻ củangười dân :+ Vẫn những động tác quen thuộc của : Chị Tí dọn hàng, bác Siêu thổi lửa, g
Trang 1TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM
A – Kiến thức cơ bản:
1/ Vài nét về nhà văn Thạch Lam:
- Thạch Lam ( 1910 – 1942) ; Ông tên thật là Nguyễn Tường Vinh Ông là một trong những cây bútviết truyện ngắn tài hoa của nhóm Tự lực văn đòan
- Tác phẩm của Thạch Lam đậm cảm hứng lãng mạn nhưng không thoát ly hiện thực đời sống : thấmđượm lòng nhân ái với một văn phong nhẹ nhàng, man mác chất thơ
2/ Truyện ngắn “Hai đứa trẻ”:
a Về nội dung :
+ “Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn hay, mang đậm chất Thạch Lam Truyện thể hiện niềm thương cảmsâu xa, thấm thía của nhà văn với cảnh sống quẩn quanh, mòn mỏi, tăm tối của chị em Liên và nhữngngười dân nghèo nơi phố huyện Qua bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhân vật chính ( Liên)trong tác phẩm, nhà văn dẫn người đọc vào thế giới của tâm trạng, cảm giác, bâng khuâng buồn- vuicùng nhân vật
+ Tác phẩm cũng là truyện ngắn viết bằng cả ký ức tuổi thơ và tình yêu phố huyện của Thạch Lam Tácphẩm thấm được chất thơ bình dị của cảnh vật và tâm hồn
b Về nghệ thuật : Cốt truyện đơn giản ( kiểu truyện ngắn trữ tình); giọng văn nhẹ nhàng , trầm tĩnh;
lời văn bình dị, tinh tế Nghệ thuật tả cảnh tương phản, đối lập Miêu tả tâm lsi nhân vật đặc sắc
3/ Các nội dung và nghệ thuật trong từng phần:
a/ Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn:
- Không gian tạo vật:
+ Được hiện lên với nhiều âm thanh, màu sắc, hình ảnh và đường nét ( Tiếng trống thu không, tiếngếch nhái kêu ran, tiếng muỗi vo ve; phương Tây đỏ rực, đám mây ánh hồng , dãy tre làng đen lại…)+ Khung cảnh ấy được nhà văn thể hiện qua những câu văn êm dịu, uyển chuyển, tinh tế.Mỗi câu nhưmột nét vẽ đơn sơ , không cầu kỳ kiểu cách nhưng lại gợi được cái hồn của cảnh vật , cái thần thái củathiên nhiên …Mỗi câu văn như mở ra một cảnh : cảnh trước gọi cảnh sau rất độc đáo và ấn tượng…
à Một bức “họa đồng quê” quen thuộc, gần gũi , bình dị và gợi cảm , không kém phần thơ mộng, mangcốt cách của hồn quê Việt Nam.Qua đó thể hiện được tình cảm và gắn bó của nhà văn với một vùngquê nghèo
- Cuộc sống của người dân:
+ Cảnh chợ tàn : người về hết , tiếng ồn ào không còn, chỉ còn rác rưởi…
+ Hình ảnh người dân xuất hiện với : mấy đứa trẻ con nhà nghèo đang tìm tòi, nhặt nhạnh rác, mẹ conchị Tý nghèo khổ ngày mò cua bắt ốc, tối đến dọn hàng nước nhỏ trên cái chõng tre ; bà cụ Thi , vợchồng Bác Xẩm…à Tất cả… đều thể hiện sự tàn lụi ( cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn tạ); sựnghèo đói, khó khăn, tiêu điều đến thảm hại của người dân nơi phố huyện
b/ Bức tranh phố huyện lúc về đêm:
- Không gian, tạo vật :
+ Ngập chìm trong bóng tối mênh mông ( đường phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối; tối hết cả, conđường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà; các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn ) à gợinỗi buồn đầy cảm thương về kiếp sống chìm khuất trong cuộc sống của người dân nghèo quẩn quanh,
bế tắc
+ Một vài ánh sáng le lói , yếu ớt lóe lên từ một vài cửa hàng (…với những quầng sáng từ ngọn đèndầu của chị Tí, chấm lửa nhỏ từ bếp lửa của Bác Siêu; hột sáng, khe sáng lọt qua những phên nứa…)
à Thứ ánh sáng nhỏ bé, le lói như chính cuộc đời , số phận của những người dân phố huyện nghèo
- Cuộc sống của người dân: với giọng văn đều đều , chậm buồn và tha thiết , Thạch Lam guíp người
Trang 2đọc cảm nhận rất rõ về cuộc sống lặp đi lặp lại ngày nào cũng như thế một cách đơn điệu, buồn tẻ củangười dân :
+ Vẫn những động tác quen thuộc của : Chị Tí dọn hàng, bác Siêu thổi lửa, gia đình bác xẩm xuất hiệnvới cái thau trước mặt…
+ Vẫn “tiếng đàn bầu bần bật” của bác xẩm ế khách
+ Vẫn những mong đợi như mọi ngày : Chờ đợi tàu đi qua…à Dẫu vậy, họ vẫn không mất hết hy vọng
và niềm tin vào cuộc sống : một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày Điều đó chứng tỏ :trong hòan cảnh nào , con người vẫn không thôi mơ ước những điều tốt đẹp Bởi lẽ, sống là phải biếtước mơ và hy vọng Qua đó thể hiện niềm xót thương da diết của nhà văn
c/ Bức tranh phố huyện huyện khi tàu đến và tàu đi:
- Lúc tàu đến : phố huyện bừng sáng , náo nhiệt trong cái im lặng mênh mông của đêm tối Một phốhuyện sáng rực, vui vẻ và huyên náo
- Khi tàu đi : bóng tối lại dày đặc và để lại bao tiếc nuối của mọi người , đặc biệt là hai chị em Liên Hình ảnh đòan tàu : là biểu tượng của một thế giới thât đáng sống : sức sống mạnh mẽ, giàu sang vàrực rỡ ánh sáng.Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi , nghèo khổ, tăm tối của người dân phố huyện.Đồng thời, hình ảnh đòan tàu ( với riêng Liên và An ) còn là hình ảnh của Hà Nội, của hạnh phúc, củanhững ký ức tuổi thơ êm đềm
Tóm lại, tác phẩm là ba bức tranh liên hòan , cảnh mỗi lúc một tối hơn, mỗi lúc một hiu hắt hơn, có
sự tương phản giữa : sáng và tối; giữa động và tĩnh, giữa sinh họat nhàm chán với khỏanh khắchuyên náo khi đòan tàu đi qua
4/ Gía trị của tác phẩm :
a Gía trị hiện thực:
- Bức tranh phố huyện nghèo nàn, tù túng, tiêu điều, ảm đạm như bị bỏ quên
- Cuộc sống lam lũ nghèo khổ, bế tắt, buồn chán lặp lại đơn điệu, tối tăm với những con người lầmthan, thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần nơi phố huyện nghèo
b.Gía trị nhân đạo:
- Tấm lòng buồn thương, xót xa của nhà văn với những số phận nhỏ bé của người lao động nghèo.+ Xót xa trước cảnh đời nghèo đói, tăm tối, không có tương lai, không có ánh sáng của những người cưdân nơi phố huyện: Mẹ con chị Tý, vợ chồng bác Sẫm, bác Siêu, bà cụ Thi điên,…
+ Lòng thương cảm trước cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt nơi phố huyện
- Phát hiện của nhà văn về những phẩm chất tốt đẹp của người dân phố huyện
+ Cần cù, chịu thương chịu khó (mẹ con chị Tý sáng mò cua bắt tép, tối đến lại dọn hàng nước; giađình bác Sẫm hát rong, gánh phở bác Siêu,…)
+ Giàu lòng yêu thương con người (Liên cảm thấy thương cho những em bé nghèo, thương cái cuộcsống nơi phố huyện với những con người giản dị, cần cù)
- Sự cảm thông, chia sẻ của nhà văn trước những giấc mơ của con người
+ Trân trọng giấc mơ của chị em Liên và những người dân phố huyện: “Tất cả đều mong một cái gì đómới mẻ thổi qua cuộc đời của họ”
+ Lay động, thức tỉnh những người nghèo khổ nơi phố huyện, hướng họ tới một cuộc sống phong phú,tràn ngập ý nghĩa hơn
- Tác giả cũng đã phản ánh sự thức tỉnh của ý thức cá nhân con người: không bằng lòng với hiệnthực mà luôn khát khát vươn tới ánh sáng và vượt qua số phận Cuộc sống của học dù thiếu thốn tất
cả nhưng đầy tình người
Đây chính là giá trị nhân văn , nhân bản đáng quý của truyện ngắn này
Trang 3 Thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm:
+ Đừng bao giờ để cuộc sống của con người chìm vào cái “ao đời phẳng lặng” Con người phải sốngcho ra sống , phải không ngừng khát khao xây dựng cho mình một cuộc sống có ý nghĩa.+ Những người phải sống một cuộc sống tối tăm , mòn mỏi, tù túng hãy cố vươn ra ánh sáng , hướngtới một cuộc sống tươi sáng hơn
B – Một số đề tiêu biểu và gợi ý:
Đề 1: Anh chị có suy nghĩ gì về hình tượng “ánh sáng” và “bóng tối” trong truyện ngắn “HAI ĐỨA
TRẺ” của Thạch Lam
YÊU CẦU:
Bài làm cần phải đạt được yêu cầu sau:
- Bóng tối và ánh sáng trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam có thể đựơc phân tích khảo sátdưới nhiều góc độ:
+ Ánh sáng và bóng tối như là những hình ảnh vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tựơng,gắn với cảm xúc vui buồn của con người, đời người, mang ý nghĩa nhân văn
+Ánh sáng và bóng tối như là những hình ảnh nói lên đặc điểm kết cấu nghệ thuật của tác phẩm ( đốilập tương phản);….Bài làm có thể tổng hợp, kết hợp các góc độ này Nhưng dù triển khai theo hướngnào cũng cần phải lưu ý đến ý nghĩa của mối quan hệ giữa hai loại ánh sáng và bóng tối
DÀN Ý:
I/ Mở bài :
- Giới thiệu tác giả: Thạch Lam ( 1910-1942) là người đôn hậu, điềm đạm, rất đỗi tinh tế Ông là mộtcây bút tài hoa, có biệt tài về truyện ngắn - truyện nhưng không có chuyện.Tác phẩm của ông chủ yếukhai thác thế giới nội tâm nhân vật với biết bao cảm tưởng , cảm giác mơ hồ , mong manh …làm đọnglại trong lòng người đọc nhiều dư vi
- Giới thiệu tác phẩm và luận đề: Một trong những tác phẩm thể hiện sức hấp dẫn trong nghệ thuật viếtvăn ấy của Thạch Lam là truyện ngắn “Hai đứa trẻ” Ở đây, nhà văn đã thật thành công trong việc tạonên sự tương phản giữa hai hình ảnh ánh sáng và bóng tối mang ý nghĩa biểu tượng, gắn với cảm xúcvui buồn của con người nơi phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám
II/ Thân bài :
1/Hình tượng bóng tối:
a Bóng tối của thiên nhiên trong tác phẩm đậm đặc, trở đi, trở lại như một ám ảnh không dứt :
- “Đường phố và các ngõ con dần chứa đầy bóng tối; tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, conđường qua chợ về nhà; các ngõ con vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”
Bóng tối gần như chiếm lĩnh cả không gian bao la , tĩnh mịch nơi phố huyện
b Bóng tối cuộc đời và bóng tối của cuộc sống con người:
- Đôi mắt Liên “ngập dần vào cái buồn của buổi chiều quê”
- Hình ảnh của bà cụ Thi và tiếng cười khuất dần trong bóng tối như cảnh đời đen tối, bức bối , vật
vờ của cụ Thi
- Mẹ con chị Tý với cái chõng nước và ngọn đèn dầu leo lét…
Chừng ấy con người trong bóng tối như những hạt bụi li ti, vô giá trị, bị lãng quên trong sa mạc củacuộc đời mênh mông, bế tắc
2/ Ánh sáng và niềm khao khát tội nghiệp của người dân nghèo nơi phố huyện:
- Đối lập với bóng tối dày đặc là hình ảnh nhỏ nhoi, mỏng manh của ánh sáng
- Cái hay, độc đáo trong nghệ thuật thể hiện của Thạch Lam là nhà văn đã dùng ánh sáng để miêu tảbóng tối:
+ Trên trời : Ánh sáng xuất hiện với sự lấp lánh của những ngôi sao …và những ánh đom đóm lập lòe.+ Ở dưới đất : ánh sáng được hiện lên với ngọn đèn của chị Tí, bếp lửa của bác Siêu, và những hột sánglọt ra từ những liếp cửa của những ngôi nhà…Giữa cái bóng tối dày đặc của không gian, của cuộc đời,ánh sáng nhỏ nhoi trở nên cao giá hẳn lên : hầu như mọi thứ làm ra ánh sáng ở cái phố huyện nhỏ đều
Trang 4được tác giả huy động : các loại đèn ( đèn treo, đèn hoa kỳ, đèn dây, đèn lồng, đèn ghi) ; bếp củi, tànlửa, những con đom đóm và dải Ngân hà…
- Có thể nói : Tất cả các ánh sáng dù thiên tạo hay nhân tạo đều như vẽ ra những vạch đích khát vọngcủa những nhân vật chính, phụ trong tác phẩm, đều biểu tượng lấp lánh những cung bậc của mơước
3/ Bình luận, nâng cao vấn đề:
- Ý nghĩa của hình tượng bóng tối và ánh sáng:
+ Bóng tối: Không chỉ là cái nghĩa bóng tối thông thường mà đó còn là bóng tối trong tâm hồn ngườidân phố huyện Thạch lam xây dựng hình tượng bóng tối cũng giống như cuộc đời của những kiếpngười nghèo khổ Bởi vì sao? Trước cách mạng tháng 8 nhà văn chưa tìm được lối đi cho nhân vật củamình nên vẫn còn đang chìm trong bóng tối Nó như ôm trọn cả con người, tạo nên một không khí ảmđạm man mác một nỗi buồn Đó không những là nỗi buồn của các nhân vật mà cũng chính là nỗi củacủa nhà văn trước CMT8
+ Ánh sáng: Dẫu vậy, trong cái bóng tối mịt mù kia vẫn đan xen những tia sáng Mặc dù không đủ lớnnhưng chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ để tạo thành điểm nhấn rất lớn Xét về quan điểm thẩm mĩ, nhữngtia sáng le lói góp phần tạo nên khung cảnh phố huyện nghèo ảm đạm, man mác sầu Nhưng về quanđiểm nghệ thuật, ánh sáng chính là những mong muốn của chính nhà thơ Ánh sáng sẽ soi đường chỉ lối
để hướng con người đến một tương lai tươi đẹp hơn, trong sáng hơn và hạnh phúc hơn bởi lẽ “Tất cảmọi người đều mong chờ một cái gì đó mới mẻ thổi qua cuộc đời của họ”
III/ Kết bài :
- Khái quát lại luận đề: Truyện kết thúc một cách nhẹ nhàng , nhưng đối với người đọc là cả sự bănkhoăn, ray rứt ,xót thương.Hình ảnh ánh sáng và bóng tối cứ thấp thóang ,cứ ám ảnh người đọc : khôngbiết bao giờ ánh sáng , tương lai và hạnh phúc mới đến với Liên – An và những người dân nghèo nơiphố huyện?
- Suy nghĩ bản thân
Đề 2: Trong Hai Đứa Trẻ, Thạch Lam đã làm người đọc xúc động trước tâm trạng của hai chị em
Liên và An, đêm đêm chờ đợi chuyến tàu đi qua phố huyện Hãy phân tích tâm trạng đó và cho biết qua đây ta có thể hiểu gì về tấm lòng của tác giả
Gợi ý làm bài:
I Tâm Trạng nhân vật Liên :
1 Hoàn cảnh cuả nhân vật( hoàn cảnh chi phối tâm trạng )
Gia đình đang trong cảnh cha thất nghiệp, mẹ tần tảo Liên phải phụ mẹ coi quán hàng xén Phải xa
Hà nội Cảnh ngày tàn, chiều xuống và đêm đen bao trùm tác động đến tâm trạng Liên Nhưng ở tuổicuả Liên, chưa có tâm trạng ( như là dòng chảy cảm xúc suy nghĩ ) Tâm trạng Liên thể hiện qua mắtnhìn cuả Liên trên cảnh vật
2 Liên buồn trước thực tại
Cảnh ngày tàn ” Liên không hiểu sao , nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc cuả ngàytàn “
Buồn nuối tiếc quá khứ, buổi tối khi còn ở Hànội, Liên được đi chơi, được uống những cốc nuớc lạnhxanh đỏ Buồn trước cuộc sống lam lũ, tù đọng, nghèo đói, tăm tối
“ Mấy đưá trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm Tòi Chúng nhặt nhạnhthanh nưá thanh tre Liên trông thấy động long thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà chochúng nó “
“ Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước cuả chị Tý “
Trang 5Mẹ con chị Tý dọn hàng chẳng bán được gì Hôm nay chợ phiên mà Liên bán hàng “ chẳng ăn thua
gì ‘ Gia đình bác sẩm lê la ở dưới đất , tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng “Đêm ở trong phố tịchmịch và đầy bóng tối “
3 Liên mơ ước một thế giới khác
Liên thức để chờ tàu là để đuợc nhìn thấy một thế giới khác : thế giới đầy ánh sáng , chuyển động , vui
vẻ khác với thế giới tăm tối tù đọnghiện tại
“Liên lặng theo mơ tưởng Hà Nội xa xăm Hà Nội sáng rực vui vẻ huyên náo Con tàu như đã đem mộtchút thế giới khác đi qua Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái quầng sáng ngọn đèn chị Tý
và ánh sáng lửa của bác Siêu Đêm tối bao bọc xung quanh, đêm của đất quê và ngoài kia, đồng ruộngmênh mang và yên lặng”
TL tập trung miêu tả tâm trạng chờ tàu và cái nhìn cuả Liên lúc đoàn tàu đi qua Đoàn tàu đến là một
“ làn khói bừng sang tắng lên từ xa “ Khi tàu qua : “các toa đèn sáng trưng , đồng và kền lấp lánh “vàcác cưả kính sáng Khi tàu đi khổi , “ những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt “ Màu trắng , đỏ,vàng lấp lánh là màu cuả rực rở niềm vui Những âm thanh nhanh, mạnh , dồn dập : tiếng còi rít lên ,tàu rầm rộ đi tới tất cả tương phản với thực tại tăm tối cuả Liên
II Tư Tưởng nhân đạo cuả Thạch lam
- TL xót thươngnhững kiếp người sống trong tăm tối tù đọng và nói lên khát vọng về một thế giới tươisáng cuả họ TL miêu tả chi tiết tâm trạng Liên, dõi theo những hướng nhìn cuả chị và nhập thân vàoLiên để sống với những ước mơ Miêu tả tinh tế những khoảng mơ hồ trong tâm hồn Liên ( lúc sắp ngủ )
Tuy nhiên TL không chỉ ra nguyên nhân xã hội cuả cuộc sống nghèo khổ, không chỉ ra con đườngthay đổi xã hội tù đọng tăm tối
- TT miêu tả nâng niu những nét đẹp bình dị cuả cảnh sắc quê hương , cuả tình người ( Liên đối với trẻ
em nghèo, với chị Tý, với cha mẹ ) dù cuộc sống nghèo khổ Truyện có màu sắc lãng mạn
- TL miêu tả tình cảnh những đưa trẻ không có tuổi thơ phải lam lũ lao động và lên tiếng nhắc nhở mọingười phải trả lại tuổi thơ cho trẻ ( chị em Liên phải bán hang chờ tới khuya tàu về, Con chị Tý giúp
mẹ khuân ghế nhóm lưả , những đưá con bác sẩm bò lê trên đất , những đưá trẻ nhặt rác ở chợ )
Đề 3: Anh/chị hãy nêu những nét chính về tình cảm nhân đạo và bút pháp nghệ thuật của Thạch Lam
trong truyện ngắn Hai đứa trẻ (Đề tuyển sinh ĐH khối C)
* Học sinh có thể triển khai nhiều cách làm, có thể làm theo gợi ý dưới đây:
GỢI Ý:
- Giới thiệu: Thạch Lam là một trong những cây bút chủ lực của nhóm Tự lực văn đoàn với nhữngsáng tác mang đậm tình cảm nhân đạo và bút pháp nghệ thuật đặc sắc, trong đó có truyện Hai đứatrẻ
- Tình cảm nhân đạo trong tác phẩm Hai đứa trẻ được thể hiện trong:
+ Sự cảm thông của nhà văn với những rung động nhẹ nhàng, tinh tế trong tâm hồn con người: tâm hồnLiên man mác buồn trong thời khắc của một ngày tàn; Liên xúc động khi nhìn thấy những đứa trẻnghèo đi lại nhặt nhạnh những vật thừa nơi chợ chiều nhưng chính chị cũng không có tiền cho chúng + Sự cảm thông cho những kiếp người nhỏ bé nơi phố huyện nghèo Đó là những kiếp người nghèokhổ, đơn điệu, mòn mỏi, tẻ nhạt
* Hình ảnh mẹ con chị Tí bán nước trà và quà vặt hằng đêm
* Hình ảnh bác phở Siêu bán phở gánh
* Hình ảnh vợ chồng bác xẩm hát dạo, xin ăn
Trang 6* Và cả hình ảnh chị em Liên, An - những đứa trẻ sớm phải phụ giúp sinh kế gia đình + Sự thấu hiểu và trân trọng của nhà văn với khát vọng thầm lặng, sâu sắc trong tâm hồn những ngườinghèo khổ Họ luôn khao khát về một thế giới, một tương lai tươi sáng khác với hiện tại nghèo khổ đentối của họ: ngần ấy con người ngồi trong bóng tối hướng vọng về đoàn tàu Hà Nội rực rỡ, sang trọng -hình ảnh tươi sáng của tương lai
- Bút pháp nghệ thuật đặc sắc biểu hiện qua:
+ Cốt truyện giản dị hầu như không có chuyện mà vẫn chứa đựng nội dung giàu tính nhân văn, gợiđược những rung động sâu lắng, hấp dẫn nơi người đọc và có sức lay tỉnh tâm hồn người
+ Bút pháp tả thực kết hợp hài hòa với trữ tình tạo dựng sinh động, chân thật bức tranh nhân thế cảmđộng của phố huyện nghèo nhưng đầy ấp tình người
+ Lời văn trong sáng và gợi hình, gợi cảm; giọng văn trữ tình, giàu chất thơ tạo được âm hưởng ngânvang và ấn tượng sâu sắc nơi người đọc
- Tổng kết: Thạch Lam với Hai đứa trẻ đã để lại cho văn học Việt Nam một sáng tác đặc sắc giàutính nhân văn
Trang 7TRUYỆN NGẮN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN
A – Kiến thức cơ bản:
1/ Vài nét về Nguyễn Tuân ( 1910-1987) :
- Nguyễn Tuân là nhà văn của 2 giai đọan trước và sau Cách mạng tháng Tám
- Ông rất mực tài hoa,uyên bác, am hiểu sâu sắc nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là các môn nghệthuật : hội họa, điêu khắc, điện ảnh, sân khấu Ông còn là một nhà văn có sở trường viết ký
Tác phẩm được xây dựng bằng một tình huống truyện giàu kịch tính :
+ Viên quản ngục ( kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối) nhưng lại khát khao ánh sáng của chữ nghĩa vớiHuấn Cao (người từ tù có tài viết chữ đẹp nổi tiếng) Lẽ ra đây phải là cuộc hội ngộ tương đắc củanhững người “biệt nhỡn liên tài”, của hai tâm hồn nghệ sĩ yêu cái đẹp
+ Nhưng, thật oái oăm, hai con người ấy lại gặp nhau giữa chốn ngục tù và trong một tình thế éo le :cuộc chạm trán giữa một tên “đại nghich”, cầm đầu cuộc nổi lọan đang đợi ngày ra pháp trường với kẻđại diện cho trật tự xã hội đương thời.Huấn Cao càng tỏ ra lạnh lùng, bất cần, thì viên quản ngục lạicàng cháy bỏng cái sở nguyện xin cho được chữ để làm vật báu treo trong nhà
+ Kịch tính đã lên tới đỉnh điểm khi ngục quan nhận được công văn khẩn của quan hình bộ Thượngthư về việc giải Huấn Cao và các tử tù về kinh để xử chém
c Các nhân vật chính:
Nhân vật Huấn Cao :
- Là một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật viết thư pháp :
+ “Tài viết chữ rất nhanh rất đẹp”, được người khắp vùng tỉnh Sơn khen
+ Lời ngợi ca và mong ước cháy bỏng của quản ngục “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm”; “Cóđược chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời”
+ “Nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”
Nét chữ, nết người , thể hiện phẩm chất , nhân cách cao đẹp của Huấn Cao
- Là người có tâm hồn trong sáng cao đẹp:
+ “Không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối”
+ Ông mới chỉ cho chữ “ba người bạn thân”
+ Do cảm “ tấm lòng biệt nhỡn liên tài” và hiểu ra
Là người trọng nghĩa, khinh lợi, chỉ cho chữ những người tri kỷ.Đồng thời thể hiện lẽ sống củaHuấn Cao : Sống là phải xứng đáng với những tấm lòng.Phụ tấm lòng cao đẹp của người khác là khôngthể tha thứ
- Là một trang anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang, bất khuất :
+ Huấn Cao dám chống lại triều đình mà ông căm ghét
+ Hành động “rỗ gông” của Huấn Cao và thái độ “không thèm chấp” lới dọa dẫm của tên lính áp giảithể hiện sự tự do về tinh thần trong gông cùm
+ “Thản nhiên nhận rượu” như “việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh” à phong thái ung dung , coicái chết nhẹ tựa lông hồng
Trang 8+ Dưới mắt Huấn Cao, việc những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị làm chỉ là “những trò tiểunhân thị oai”.Ông trả lời quản ngục một cách khinh bạc đến điều.
+ Thái độ “lễ phép” ,”xin lĩnh ý”và sự thừa nhận của ngục quan : Huấn Cao là người “Chọc trời quấynước”, “đến trên đầu…còn chẳng biết có ai nữa”
Nhân vật quản ngục:
- Là một người có tâm hồn nghệ sĩ, say mê và quý trọng cái đẹp : Thú chơi chữ, “sở nguyện cao quý”
là được treo ở nhà riêng một đôi câu đối do tay ông Huấn viết
- Là người có tấm lòng “biết giá người, biết trong người ngay”, cảm phục tài năng và nhân cách củaHuấn Cao với một thái độ cung kính, “biệt nhỡn liên tài” đối với ông Huấn
Chính phẩm chất này của viên quan ngục đã khiến Huấn Cao cảm kích coi là “một tấm lòng trongthiên hạ”.Nhà văn đã xem ngục quan là “ một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạcluật đều hỗn loạn xô bồ”
Qua nhân vật viên quan ngục, tiếp tục thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn :
+ Trong mỗi con người đều có một người nghệ sĩ , đều ẩn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài.Khôngphải ai cũng xấu hết; bên cạnh những cái chưa tốt (phần “ác quỷ”), mỗi con người còn có “thiênlương”( phần “thiên thần”)
+ Có khi , có lúc , cái đẹp tồn tại ở trong môi trường của cái ác, cái xấu.Nhưng không vì thế mà nólụi tàn; trái lại nó càng mạnh mẽ và bền bỉ.Nó như hoa sen mọc trên đầm lầy vậy
d Cảnh cho chữ và cho lời khuyên:
- Cảnh cho chữ : “ Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”
+ Hòan cảnh và địa điểm cho chữ : thường được diễn ra ở những nơi thư phòng, còn ở đây lại diễn ragiữa nhà tù –nơi ngự trị của bóng tối, cái ác -> những thứ thù địch với cái đẹp
+ Tư thế của những người cho chữ và nhận chữ cũng “xưa nay chưa từng có”: kẻ có quyền hành thìkhông có “quyền uy”.”Uy quyền” thuộc về Huấn Cao- kẻ bị tước đi mọi thứ quyền Người nắm quyềnsinh, quyền sát thì “khúm núm”, “run run”, trong khi kẻ tử tù thì ung dung , đường bệ Kẻ có chức nănggiáo dục tội phạm thì đang được tội phạm “giáo dục”
- Cho lời khuyên:
+ Nội dung lời khuyên: Huấn Cao khuyên viên quản ngục từ bỏ chốn ngục tù nhơ bẩn, tìm về chốnthanh tao để tiếp tục sở nguyện cao quý và giữ thiên lương cho lành vững
+ Ý nghĩa của lời khuyên: Là lới di huấn của Huấn Cao ( cũng là của nhà văn ) nhắn tới quản ngục
và tất cả mọi người : Muốn chơi chữ phải giữ lấy thiên lương ; trong môi trường của cái ác, cái đẹp khótồn tại vững bền; Chữ nghĩa, thiên lương không thể sống chung với tội ác và nơi ngục tù đen tối + Tác dụng của lới khuyên : Hành động bái lĩnh của ngục quan …à sức mạnh cảm hóa conngười.Bằng con đường của trái tim, sức mạnh ấy càng được nhân lên gấp bội
Đặc sắc về nghệ thuật của đọan văn:
- Thủ pháp tương phản : đối lập giữa ánh sáng và bóng tối; giữa cái hỗn độn xô bồ của nhà giam vớicái thanh khiết, cao cả của nền lụa trắng, nét chữ đẹp và thoi mực thơm; giữa kẻ tử tù đang ban phátcái đẹp, cái thiện với viên quan coi ngục “khúm núm”, “lĩnh hội” à làm nổi bật tư thế của HuấnCao với sự vươn lên, thắng thế của ánh sáng với bóng tối, cái đẹp với cái xấu xa nhơ bẩn; cái thiệnvới cái ác.…
Trang 9- Nhịp điệu chậm rãi, câu văn giàu hình ảnh, sử dụng nhiều từ Hán Việt…à gợi lên không khí thiêngliêng, trang trọng của cảnh cho chữ
Tóm lại, đọan văn , Nguyễn Tuân thể hiện niềm tin vững chắc vào con người Nhà văn khẳngđịnh: Thiên lương là bản tính tự nhiên của con người.Dù trong hòan cảnh nào, con người vẫn luôn khaokhát hướng tới CHÂN- THIỆN- MỸ Đây chính là chiều sâu giá trị nhân văn của tác phẩm
e/ Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
- Về nội dung:
+ Niềm tin và sự khẳng định của nhà văn về sự chiến thắng của cái đẹp đối với cái xấu, cái thiện vớicái ác
+ Tấm lòng yêu quý truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
+ “Nhân chi sơ tính bản thiện“, hướng thiện, trong chân, tìm mỹ là bản tính tự nhiên của con người
- Nghệ thuật :
+ Tình huống truyện độc đáo
+ Bút pháp điêu luyện, sắc sảo khi dựng cảnh, dựng người
+ Ngôn ngữ giàu hình ảnh, vừa cổ kính, vừa hiện đại, có nhịp điệu riêng, truyền cảm,,,
Chữ người tử tù“ là bài ca bi tráng về sự bất diệt của thiên lương, của tài năng và nhân cách caođẹp ở con người : Tài phải gắn với Tâm Tác phẩm nêu lên bài học về thái độ tôn trọng tài năng, phẩmgiá con người và vẻ đẹp của một tấm lòng trọng nghĩa , một cách ứng xử cao thượng , đầy tinh thần vănhóa
B – Một số đề tiêu biểu và gợi ý:
Đề 1: Phân tích vẻ đẹp hình tượng của nhân vật Huấn Cao trong truyện “Chữ người tử tù”
GỢI Ý:
Ý 1: Giới thiệu đôi nét về tác phẩm và hình tượng:
- Chữ người tử tù là tập truyện ngắn rút từ tập vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (1940)
- Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành công về tư tưởng nghệ thuật củatác phẩm bộc lộ tập trung trong hình tượng nhân vật Huấn Cao
Ý 2: Vẻ đẹp của Huấn Cao trước hết là vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài ba.
- Huấn Cao có tài viết chữ Chữ Huấn Cao viết là chữ Hán loại văn tự giàu tính tạo hình Các nhà nhothuở xưa viết chữ để bộc lộ cái tâm, cái chí Viết chữ thành một môn nghệ thuật gọi là thư pháp, cóngười viết chữ thì có người chơi chữ Người ta treo chữ đẹp ở những nơi trang trọng trong nhà, xem đónhư một thú chơi tao nhã
- Huấn cao là nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp “Tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” của ông nổi tiếngkhắp một vùng tỉnh sơn Ngay cả viên quan quản ngục của một huyện nhỏ cô danh cũng biết “Chữ ôngHuấn Cao đẹp lắm, vuông lắm (…) có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một báu vật trên đời”.Cho nên “Sở nguyện của viên quan cai ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng mình một câu đối
do ông Huấn Cao viết” Để có được chữ ông Huấn Cao, viên quản ngục không những phải dụng công,phải nhẫn nhục mà còn phải liều mạng Bởi vì biệt đãi Huấn Cao một kẻ tử tù là việc làm nguy hiểm cókhi phải trả giá bằng tính mạng của mình
Ý 3: Huấn Cao mang vẻ đẹp của khí phách hiên ngang, bất khuất
- Huấn Cao dám chống lại triều đình mà ông căm ghét, khinh bỉ
- Dù chí lớn không thành tư thế của Huấn Cao lúc nào cũng hiên ngang, buất khuất Bị dẫn vào huyệnngục ông không chút run sợ trước những kẻ nắm giữ vận mệnh của mình (thái độ của Huấn Cao đối vớiquản ngục, chi tiết nói về việc Huấn Cao thúc gông xuống nền nhà có thể xem là dẫn chứng cho ý này)
- Là tử tù chỉ đợi ngày ra pháp trường vậy mà Huấn Cao vẫn giữ phong thái ung dung, đường hoàng
Ý 4: Huấn Cao là người có “thiên lương” trong sáng, cao đẹp.
Trang 10- Trong truyện Chữ người tử tù khái niệm “thiên lương” được Nguyễn Tuân sử dụng với nhiều ý nghĩakhác nhau Với quản ngục và thơ lại thì “thiên lương” là ý thức của ông trong việc sử dụng cái tài củamình.
- Huấn cao có tài viết chữ nhưng không phải ai ông cũng cho chữ Ông không bao giờ ép mình cho chữ
vì vàng ngọc hay quyền thế Ông chỉ trân trọng những ai biết yêu quý cái đẹp, cái tài…Cho nên suốtđời Huấn Cao chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân Ông tỏ thái độkhinh bạc vì tưởng quản ngục có ý đồ đen tối gì khi thấy viên quan ấy biệt đãi mình Rồi ông “cảm cáilòng biệt nhởn liên tài” của quản ngục và thơ lại, khi biết họ thành tâm xin chữ Ông quyết không phụtấm lòng của họ, nên mới diễn ra cảnh cho chữ trong tù được tác giả gọi là “một cảnh tượng xưa naychưa từng có”
Ý 5: Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng ở hình tượng Huấn Cao.
- Trong cảnh cho chữ ở cuối tác phẩm Nguyễn Tuân đã để cho vẻ đẹp của cái tâm, của “thiện lương”chiếu rọi, làm cho cái đẹp của cái tài của khí phách anh hùng bừng sáng, tạo nên nhân cách chói lọi củaHuấn Cao Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng là lí tưởng thẩm mỹ của NguyễnTuân là chuẩn mực để ông đánh giá nhân cách của con người Nguyễn Tuân đặt nhân vật dưới ánh sángcủa lí tưởng ấy để các hình tượng bộc lộ vẻ đẹp với những mức độ khác nhau Trên cái nền đen tối củanhà tù, quản ngục và thơ lại là hai điểm sáng bên cạnh cái vần sáng rực rỡ của Huấn Cao Cũng chính
lý tưởng thẩm mĩ ấy chi phối mạch vận động của truyện, tạo thành cuộc đổi ngôi kì diệu kẻ tử tù trởthành người làm chủ tình huống, ban phát cái đẹp, dạy dỗ cách sống, quan coi ngục thì khúm núm sợhãi Hình tượng Huấn Cao vì thế trở thành biểu tượng cho sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóngtối, của cái đẹp cái cao cả đối với cái phàm tục, dơ bẩn của khí phách ngang tàng đối với thói quen nôlệ
Ý 6: Nghệ thuật xây dựng nhân vật Huấn Cao
- Để làm nổi bật vẻ đẹp của Huấn Cao Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật vào một tình huống truyện độcđáo cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao với quản ngục và thơ lại Đó là cuộc gặp gỡ của tử tù với viên quan caingục nhưng cũng là cuộc hội ngộ của những kẻ “liên tài tri kỉ”
- Miêu tả Huấn Cao để làm nổi bật sự chiến thắng của cái tài cái đẹp cái tâm và khí phách ngang tàngNguyễn Tuân triệt để sử dụng sức mạnh của nguyên tắc tương phản, đối lập của bút pháp lãng mạngđối lập giữa ánh sáng và bóng tối giữa cái đẹp cái cao cả với cái phàm tục dơ bẩn Có sự tương phản ởnhững chi tiết tạo hình được sử dụng để miêu tả không khí của cảnh cho chữ (bóng tối phòng giam, ánhsáng đỏ rực của bó đuốc, tấm lụa bạch còn nguyên vẹn…) Có sự đối lập tương phản giữa sự cho chữ(công việc tạo ra cái đẹp “nói lên hoài bảo tung hoành của một đời người”) Với hoàn cảnh cho chữ(nơi hôi hám, bẩn thỉu, nơi giam cầm cùm trói tự do) Có sự đối lập phong thái của người cho chữ(đường hoàng) với tư thế của kẻ nhận chữ (khúm núm)
- Ngôn ngữ miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân giàu chất tạo hình Ông sử dụng nhiều từ hán việt lời ăntiếng nói mang khẩu khí của người xưa làm tăng thêm vẻ đẹp của một thời vang bóng ở hình tượngHuấn Cao
Ý 7: Kết luận
- Nhân vật Huấn Cao thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân Đó là biểu tượng cho sự chiếnthắng của cái tài, cái đẹp, cái tâm trước cái phàm tục, dơ bẩn của khí phách ngang tàng đối với thóiquen nô lệ Đây là lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn, là ý tưởng tư tưởng của hình tượng
- Hình tượng Huấn Cao được xây dựng trên cơ sở nguyên mẫu Cao Bá Quát một nhà nho có tài vănthơ, viết chữ đẹp nổi tiếng một thời và cũng là người từng tham gia lãnh đạo khởi nghĩa nông dânchống lại triều đình nhà Nguyễn Xây dựng nhân vật Huấn Cao Nguyễn Tuân bộc lộ tình cảm yêu nước
và tinh thần dân tộc thầm kín của mình
Trang 11Đề 2: Suy nghĩ của anh chị về nhận định: “Cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù là một cảnh tượng xưa
nay chưa từng có” Anh (chị) hãy làm rõ nhận định trên (TRONG VỞ BỒI DƯỠNG VĂN)
Đề 3: Phân tích ý nghĩa tác dụng lời khuyên của ông Huấn Cao “Tôi bảo thực đấy, thầy Qủan nên tìm
về nhà quê mà ở đạ, thầy hãy thóat cái nghề này đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi” (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân)
Dàn ý
I Mở bài:
- Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa- khí phách Ngay từ Cách mạng tháng Tám, ngòi bút ấy đã biếthướng thiện, hướng mĩ để tìm ra và lưu giữ lại cho đời những về đẹp của một thời vang bóng
- Một trong những chi tiết trong truyện ngắn Chữ tử tù là một của Nguyễn Tuân ( in trong tập
truyện Vang bóng một thời(xuất bản năm 1940) ) đã để lại nhiều ấn tượng trong suy nghĩ của người
đọc là lời khuyên của Huấn Cao đối với viên quan ngục : “Tôi bảo thực đấy, thầy Qủan nên tìm về nhà
quê mà ở đạ, thầy hãy thóat cái nghề này đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi”.
- Phải chăng lời khuyên trên của Huấn Cao có một ý nghĩa vô cùng sâu sắc với quan ngục ( nói riêng)
và với chúng ta ( nói chung) về quan niệm sống và cách sống?
II Thân bài:
1/ Nội dung lời khuyên: Huấn Cao khuyên viên quản ngục từ bỏ chốn ngục tù nhơ bẩn, tìm về chốn
thanh tao để tiếp tục sở nguyện cao quý và giữ thiên lương cho lành vững
1.Ý nghĩa của lời khuyên:
- Cái đẹp chỉ gắn với con người khi con người giữ được thiên lương
- Từ nơi đất chết, cái đẹp vẫn có thể nảy sinh
- Cái đẹp và nhân cách cao quý cùng tồn tại và bổ sung cho nhau phát triển
=> Là lời di huấn của Huấn Cao ( cũng là của nhà văn ) nhắn tới quản ngục và tất cả mọi
người : Muốn chơi chữ phải giữ lấy thiên lương ; trong môi trường của cái ác, cái đẹp khó tồn tại vững bền; Chữ nghĩa, thiên lương không thể sống chung với tội ác và nơi ngục tù đen tối .
2 Tác dụng của lời khuyên:
- Cảm hóa được con người (Qủan ngục đã nhận thức đúng về một con người có thiên lương trong
sáng, về giá trị của cái đẹp nên đã tiếp nhận lời khuyên của Huấn Cao một cách thành tâm, đầy xúc
động): “Ngục quản cảm động, vái người tử tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghen ngào : Kẻ mê muội này xin bãi lĩnh” à Bằng con đường của trái tim,
sức mạnh ấy càng được nhân lên gấp bội
- Khẳng định thiên lương trong sáng của nhân vật Huấn Cao.
III Kết bài:
- Có thể nói, Nguyễn Tuân đã chọn một cách kết thúc tác phẩm thật sâu sắc và ý nghĩa bằng lờikhuyên của người tử tù với viên cai ngục
- Lời khuyên ấy đầy tình người và đã trở thành sức mạnh cảm hóa một tâm hồn bấy lâu vẫn cam chịu
nô lệ , giúp cho một con người lầm đường sẽ trở về với cuộc sống lương thiện
- Câu nói nghẹn ngào trong nước mắt của viên quan ngục đẽ nêu bật sự chiến thắng của cái đẹp , cáithiện, của thiên lương con người