Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA Slide Bài giảng GIAO THOA VĂN HÓA
Trang 1GIAO THOA VĂN HÓA
Trang 2Tài liệu học tập
Nguyễn Quang (2004), Một số vấn đề giao tiếp nội văn hóa và
giao văn hóa, Nhà xuất bản đại học Quốc gia
Hutchinson, Carrie (2014), Cross cultural communication, Santa
Barbara: CreateSpace
Ellis, Claire (1995), Culture shock! Vietnam, Portland, Oregon:
Graphic Arts Center Pub Co
http://en.wikipedia.org/Cross-cultural communication
http://www.beyondirntactability.org/essay/cross-cultural
communication
Trang 3Bài 1:
LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP
Trang 4Thảo luận
Lịch sự là gì?
Tại sao cần lịch sự trong giao tiếp?
Một số biểu hiện lịch sự / thiếu lịch sự trong giao tiếp
Trang 5CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP
Gumperz (trích từ Brown và Levinson, 1987: XIII): Lịch sự là một vấn đề cơ bản trong việc tạo ra trật tự xã hội và là một
điều kiện tiên quyết của sự hợp tác của con người để bất cứ
một lý thuyết nào một khi đã đưa ra được một sự hiểu biết về hiện tượng này cũng đồng thời là đã tiếp cận được các phông nền của đời sống xã hội của con người.
Green, 1989:142: Lịch sự là một hệ thống các quan hệ liên
nhân được thiết lập để tạo thuận lợi cho giao tiếp bằng cách tối thiểu hóa khả năng gây xung đột và đối đầu vốn tàng ẩn trong mọi mối tương giao của con người
Trang 6CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP
Yule (1977:60) gắn khái niệm lịch sự với khái niệm thể diện
(face) và ý thức của chủ thể giao tiếp về quan hệ chủ thể giao tiếp-đối thể giao tiếp + sự gần gũi hay xa cách mà chủ thể giao tiếp muốn thể hiện
Lịch sự, trong giao tiếp, có thể được định nghĩa như là phương tiện được sử dụng để tỏ ra là mình có lưu ý đến thể diện của
người khác Theo nghĩa này, lịch sự có thể được thể hiện trong những tình huống mang tính xa cách hay gần gũi về mặt xã hội
Tỏ ra là mình có lưu ý đến thể diện của người khác.
Trang 7CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP
Nguyễn Quang (2004:11): Lịch sự là bất cứ loại hành vi nào (cả ngôn từ và phi ngôn từ) được sử dụng một cách có chủ đích và phù hợp để làm cho người khác cảm thấy tốt hơn hoặc ít tồi tệ hơn
Trang 8Nhằm tránh hoặc giảm việc làm cho họ phật ý
hay mất thể diện:
Khi phải đương đầu với một hành đông đe dọa thể diện (phải đưa
ra một vài phát ngôn mà những phát ngôn đó, ở các mức độ khác nhau có thể tạo ra ảnh hưởng tiêu cực cho các thể diện (hoặc
dương tính, hoặc âm tính) của đối tác giao tiếp, ta có thể đi theo một trong 3 hướng sau:
a Sử dụng lịch sự dương tính (positive politeness)
b Sử dụng lịch sự âm tính ( negative politeness)
c Nói bóng gió, không công khai (off-record)
Trang 9Brown & Levinson (1987)
Lưu ý: Các chiến lược của lịch sự âm tính, đặc biệt của lịch sự
âm tính và của việc nói bóng gió, không công khai đòi hỏi
người sử dụng phải rất nhạy cảm nhằm đảm bảo tính phù hợp của các chiến lược đó đối với từng đối tượng giao tiếp cụ thể, để đạt tới một đích giao tiếp cụ thể
Nếu không, tính lịch sự sẽ mất , tính phản cảm sẽ xuất hiện
Trang 11Trong văn hóa người Việt:
Lịch sự dương tính và âm tính về cơ bản và thông thường được phân bổ theo mức độ ưa chuộng hơn (order of preference):
1 Người già và trẻ em thường dùng chiến lược lịch sự dương tính nhiều hơn so với người ở độ tuổi thanh niên hay trung niên (tuổi tác)
2 Phụ nữ thường viện đến chiến lược lịch sự dương tính nhiều hơn so với nam giới (Giới tính)
3 Người sống ở thành phố có xu hướng thiên về lịch sự âm tính hơn so với
người sống ở nông thôn ( Địa dư sinh sống)
4 Những đối tác giao tiếp Việt ở những nơi mà điều kiện sống tỏ ra khó khăn hơn thường có xu hướng sử dụng chiến lược lịch sự dương tính nhiều hơn so với những đối tác giao tiếp ở những nơi mà điều kiện sống tỏ ra dễ dàng hơn (điều kiện sống)
Trang 12Trong văn hóa người Việt:
5 Những người giỏi về các ngoại ngữ Âu châu thường thiên về lịch sự âm tính hơn so với những người không biết ngoại ngữ hay biết tốt về các ngoại ngữ Đông phương (Trình độ ngoại ngữ và mức độ văn hóa – acculturation)
6 Những người làm công việc mang tính độc lập cao thường có xu hướng
sử dụng chiến lược âm tính nhiều hơn so với những người làm các công
việc mang tính tập thể (Bản chất nghề nghiệp)
7 Khi quan hệ chưa thật gần gũi, các đối tác giao tiếp Việt thường viện đến các chiến lược lịch sự âm tính nhiều hơn (khoảng cách quan hệ)
8 Với cùng một đối thể giao tiếp, khi muốn chuyển thái độ từ “ấm hơn” sang “lạnh hơn”, chủ thể giao tiếp Việt thường chuyển từ việc sử dụng các chiến lược lịch sự dương tính sang các chiến lược lịch sự âm tính và ngược lại (Thái độ cần biểu hiện)
Trang 13Trong văn hóa người Việt:
9 Khi muốn biểu lộ những quan hệ thân mật gần gũi với đối thể giao tiếp, chủ thể giao tiếp Việt thường có xu hướng sử dụng chiến lược lịch sự dương tính nhiều hơn (Tình cảm cần biểu hiện)
Khi nói chuyện với người có địa vị xã hội thấp hơn và/ hoặc khi muốn tỏ tình cảm gần gũi, thân mật, chủ thể giao tiếp Việt thường thiên về việc sử dụng chiến lược lịch sự dương tính nhiều hơn (xóa nhòa ngữ nghĩa quyền lực và tang cường ngữ nghĩa đoàn kết)
Khi nói chuyện với người có địa vị xã hội cao hơn và / hoặc muốn tỏ tình cảm thân
thiện gần gũi cùng thái độ quan trọng, chủ thể giao tiếp Việt thường thiên về việc sử dụng các chiến lược dương tính nhiều hơn (Duy trì và kếp hợp ngữ nghĩa quyền lực và ngữ nghĩa đoàn kết)
10 Những đối tác giao tiếp Việt có khí chất hoạt/thái hoakt và hướng ngoại thường viện đến chiến lược giao tiếp lịch sự dương tính nhiều hơn so với các đối tác giao tiếp Việt có khí chất trầm/thái trầm và hướng nội (Khí chất của đối tác giao tiếp)
Trang 14Trong văn hóa người Việt:
11 Khi ở trạng thái tâm lý tiêu cực (buồn, cáu, giận …), các đối tác giao tiếp Việt thường sử dụng các chiến lược âm tính nhiều hơn (trạng thái tâm lý)
12 Trong môi trường giao tiếp không trang trọng, các đối tác giao tiếp Việt
có xu hướng viện đến lịch sự dương tính nhiều hơn (môi trường giao tiếp)
13 Khi đề cập đến đề tài an toàn và tình cảm, các đối tác giao tiếp Việt
thường sử dụng chiến lược giao tiếp dương tính nhiều hơn (Đề tài giao
tiếp)
14 Khi mục đích giao tiếp tỏ ra có lợi cho chủ thể giao tiếp, chủ thể giao tiếp Việt thường sử dụng chiến lược lịch sự dương tính nhiều hơn (mục
đích giao tiếp)
Trang 15Trong văn hóa người Việt:
15 Nếu hai đối tác giao tiếp Việt bình đẳng về mặt quyền lực và/ hoặc tuổi tác, khi mức độ áp đặt của hành động lời nói càng cao,
hay nói cách khác là khi mức độ đe dọa thể diện của hành động lời nói càng lớn thì học càng có xu hướng viện đến chiến lược lịch sự
âm tính nhiều hơn (mức độ áp đặt)
16 Các đối tác giao tiếp Việt thuộc các tiểu văn hóa hay nhóm xã hội có xu hướng thiên về cộng đồng hơn thường sử dụng các chiến lược lịch sự dương tính với tỉ lệ cao hơn so với các đối tác giao tiếp thuộc các tiểu văn hóa hay nhóm xã hội có xu hướng thiên về cá
nhân hơn (khuynh hướng cá nhân ca khuynh hướng cộng đồng)
Trang 16Trong văn hóa người Việt:
- Lưu ý: những khái quát trên đây không phải lúc nào cũng đúng Việc nghiên cứu các trường hợp cụ thể (case-study) với các hành động lời nói hay các hành động, sự kiện và tình huống giao tiếp
cụ thể có khả năng dẫn đến các kết quả khác với những khái quát trên
Trang 18Một số quan điểm
Brown và Levinson (1987): Nhìn chung các nghiên
cứu hình như đã ủng hộ quan điểm là có 3 nhân tố xã hội học đóng vai trò quyết định mức độ lịch sự mà
người nói (S) sẽ sử dụng với người nghe (H): Đó là
quyền lực quan hệ (P – Relative Power) của người
nghe đối với người nói, khoảng cách xã hội (D –
Social Distance) giữa người nói và người nghe, và
mức độ áp đặt (R – Ranking of Imposition) của người
sử dụng hành động đe dọa thể diện.
Trang 19Một số quan điểm
Rosaldo (1982): Nhân tố P thay đổi một cách đáng
kể giữa xã hội bình đẳng và xã hội có tôn ti nên các bình diện P, D, R có lẽ quá đơn giản để có thể nắm bắt được những phức tạp của các cách thức trong
đó các thành viên của các nền văn hóa khác nhau đánh giá về bản chất của các quan hệ xã hội và các hành vi ứng xử giữa người với người
Trang 211 Quyền lực quan hệ
“Quyền lực quan hệ” giữa hai đối tác giao tiếp sẽ ảnh hưởng tới cách thức mà họ:
trò chuyện với nhau
Giao tiếp trực tiếp hay gián tiếp
Sử dụng hình thức quan hệ xưng hô cho phù hợp
Viện đến các dấu hiệu từ vựng-tình thái
Sử dụng các yếu tố thuộc ngôn ngữ thân thể
Các yếu tố cận ngôn và ngoại ngôn
…
Trang 22Một số ví dụ về vai giao tiếp
Với cùng một đề tài giao tiếp, trong cùng một khung cảnh giao tiếp, người giao tiếp đồng quyền sẽ sử
dụng các chiến lược và thủ thuật giao tiếp khác với khi họ trò chuyện với những người có quyền lực cao hơn hay thấp hơn
VD: Khi đến văn phòng của đối thể giao tiếp là bạn của chủ thể giao tiếp (CTGT)để vay tiền hoàn thiện căn nhà đang xây, CTGT có thể nói:
- Thành này, mình xây nhà Phần thô xong rồi Định hoàn thiện luôn một thể, nhưng lại kẹt tiền quá Cậu cho mình vay khoảng 20 triệu được không?
Trang 23Một số ví dụ về vai giao tiếp
Nếu đến văn phòng của sếp, người vốn có quan hệ
rất tốt với CTGT, với cùng một mục đích, CTGT cần
phải viện đến cách nói gián tiếp hơn, nhiều yếu tố
bao (surroundings) hơn và tính ướm thử
(tentativeness) của đề nghị cũng cao hơn.
Anh ạ, đợt này em xây nhà bận quá Đúng là “làm ruộng thì
ra, làm nhà thì tốn” thật Anh biết không, lúc đầu dự trù khoảng 230 triệu là thoải mái Thế mà mới xong phần thô đã mất đến hơn 160 triệu rồi Em còn có 70 triệu, mà theo dự đoán phải mất khoảng 90 triệu nứa mới hoàn thiện được Em ngại quá, nhưng chẳng biết nhờ vả ai Em qua hỏi xem anh có thể cho em vay khoảng 20 triệu, được không ạ? Em sẽ xin gửi anh tiền vào đầu quí tới, anh ạ.
Trang 24
Một số ví dụ về vai giao tiếp
Nếu CTGT là sếp mà người anh ta cần vay là nhân viên (quan hệ chênh quyền) thì anh ta có thể nói
Toàn này, tớ đang xây nhà nhưng còn thiếu ít tiền Cho tớ vay được khoảng 20 triệu nhé.
Trang 252 Khoảng cách xã hội
“Khoảng cách xã hội” giữa các đối tác giao tiếp cũng tạo ra sự khác biệt trong cách thức sử dụng cách chiến lược và thủ thuật giao tiếp
Thông thường, khoảng cách xã hội càng nhỏ thì các chiến lược lịch sử ( cả dương tính và âm tính ) càng ít được sử dụng, và cách nói chuyện trực tiếp càng hay được viện tới
Trang 262 Khoảng cách xã hội
Ngược lại, khi khoảng cách xã hội lớn, người ta thường đưa vào các phát ngôn của mình ‘những
yếu tố đền bù’ (redresses), hoặc thuộc lịch sự
dương tính hoặc thuộc lịch sự âm tính, nhằm làm giảm thiểu tính đe dọa thể hiện của phát ngôn.
Với áp lực của khoảng cách xã hội, người ta cũng
có thể viện đến các cách thức diễn đạt gián tiếp khác nhau với cùng một một mục đích là làm giảm thiểu tính đe dọa thể diện
Trang 272 Khoảng cách xã hội
Một số cách diễn đạt gián tiếp:
1 Gián tiếp ước lệ
2 Gián tiếp ước lệ + Gián tiếp ước lệ
3 Gián tiếp ước lệ + Gián tiếp phi ước lệ
4 Gián tiếp ước lệ + Trực tiếp
5 Gián tiếp phi ước lệ
6 Gián tiếp phi ước lệ + Gián tiếp phi ước lệ
7 Gián tiếp phi ước lệ + Gián tiếp ước lệ
8 Gián tiếp ước lệ + Trực tiếp
Trang 28Áp lực về khoảng cách xã hội
Đề nghị ai đó mở cửa:
Đề nghị bạn thân mở cửa, CTGT có thể nói như sau
mà ko ngại vi phạm các nguyên tắc của thể diện (face) và xâm hại các nhu cầu thể diện:
- Mở cửa ra, mày (công khai, ko có đền bù)
- Cửa giả gì mà cứ đóng im ỉm Nóng bỏ mẹ
(không công khai, ko có yếu tố đền bù)
Trang 29Áp lực về khoảng cách xã hội
Đề nghị một người quen sơ (khoảng cách xã hội
lớn) mở cửa ra, chủ thể giao tiếp lại cần phải nói:
- Có lẽ mình mở cửa ra cho nó thoảng nhỉ (Lịch sự dương tính (LSAT) + các dấu hiệu hạ ngôn và thỉnh đồng)
- Anh làm ơn mở giúp tôi cái cửa Tay tôi bẩn quá
(LSAT + các nhã hiệu và dấu hiệu ăng cường)
- Phòng có vẻ hơi bí anh nhỉ (Gián tiếp phi ước lệ + các dấu hiệu uyển thanh và thỉnh đồng)
Trang 303 Mức độ áp đặt
Thiên về nội dung giao tiếp (interaction-oriented)
trong khi P và D là yếu tố thiên về người giao tiếp
(interactant-oriented)
Xem xét các quan hệ của các đối tác giao tiếp + ảnh hưởng của chúng đến quátrình giao tiếp + tìm hiểu những khía cạnh của bản thân quá trình giao tiếp
Mức độ áp đặt : mức độ áp đặt của hành động ngôn trung lên đối thể giao tiếp nhằm đạt tới đích ngôn
trung
Trang 313 Mức độ áp đặt
Đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định các chiến lược và thủ thuật giao tiếp sao cho phù hợp với các thành tố giao tiếp và phép lịch sự
Khái niệm “mức độ áp đặt” liên quan mật thiết đến khái niệm “hành động đe dọa thể diện (FTA – face- threatening act) của phát ngôn và khái niệm “tính
có lợi “ (beneficiality) của hoặc CTGT hoặc ĐTGT
Trang 32Ví dụ:
Nhờ 1 người bạn cùng lớp chép bài:
CTGT có thể viện tới chiến lược giao tiếp vòng (đi từ lí
do đến đề nghị) + các yếu tố đền bù (phiền cậu, hộ
mình…) + các hình thứ xưng hô quan hệ ngang loại 1
(mình-cậu) + các dấu hiệu tình thái (hòa hợp: cậu
biết đấy, tăng cường: quá, uyển thanh: có lẽ, thỉnh
đồng: nhé)
- Nở này, mai là ngày giỗ đầu bà nội mình, mà cậu biết đấy, mình bận quá nên chưa chuẩn bị được gì cả Có lẽ mai mình định nghỉ học để đi chợ mua đồ cúng Mình phiền cậu chép
bài hộ mình nhé?
Trang 33Ví dụ
Tuy nhiên , nếu vẫn là một lời đề nghị nhưng “tính có lợi” lại thuộc về ĐTGT thì CTGT hoàn toàn có thể nói thẳng và viện đến hoặc không cần viện đến các yếu
tố đền bù hay các dấu hiệu từ vựng-tình thái mang
tính đền bù Thậm chí có thể biến lời đề nghị thành
một mệnh lệnh mà không sợ tạo ra một TFA quá
mạnh và vi phạm “tính lịch sự” Ví dụ thấy bạn không uống thuốc, CTGT có thể có sắc mặt giận dữ (ngoại ngôn), quát ầm lên (cận ngôn và nội ngôn):
- Này Nở, không uống thuốc thì bao giờ mới khỏi, hả?
Trang 34Ví dụ
Mức độ đe dọa thể hiện hành động ngôn trung này,
được sự trợ gúp của các yếu tố nội ngôn (này, hả), cận ngôn (cường độ và cao độ âm thanh) và ngoại ngôn (sắc mặt giận dữ), rõ ràng là rất cao Song
người nghe không phật ý, bởi ‘tính có lợi’ hoàn toàn thuộc về người nghe.
Hoặc khi khen bạn cùng lớp: tính đe dọa thể diện thấp và mức độ áp đặt của phát ngôn không có
hoặc không hiển lộ, CTGT hoàn toàn có thể khen
trực tiếp và không sử dụng yếu tố đền bù
- Này Nở, hôm nay trông cậu xinh quá.
Trang 35Một số nhận xét
Những nền văn hóa coi trọng tính cộng đồng
thường đề cao sự quan tâm (concern) lẫn nhau
giữa các thành viến trong cộng đồng
Do vậy, việc bày tỏ sự quan tâm của mình đối với những chuyện riêng tư (privacy) của người khác được coi là hành vi lịch sự
Trang 36 Trong khi đó, những nền văn hóa thiên hướng cá
nhân lại thường đề cao việc tôn trọng tính riêng tư của các thành viên trong cộng đồng
Do đó việc thánh xâm phạm vào lãnh địa cá nhân của người khác được hiểu là một biểu hiện của lịch
sự
Chính những diễn giải (interpretations) khác nhau
về lịch sự của các nền văn hóa khác nhau là nguồn gốc của các xung đột văn hóa tiềm năng giăng bẫy các thành viên của các nền văn hóa khác khi tham gia vào các hoạt động giao tiếp văn hóa.
Trang 37A Giao tiếp nội văn hóa (Việt)
1 Nói với bố:
Bọn mình đi ăn sáng đi bố [Lịch sự dương tính –
sử dụng ‘dấu hiệu nhận diện đồng nhóm`
(in-group indentity marker): bọn mình]
Cách này trong cộng đồng VH Việt có tôn ti khó được chấp nhận
Trang 38A Giao tiếp nội văn hóa (Việt)
2 Nói với bạn thân:
Tớ thực sự không muốn phiền cậu, nhưng vì tớ đang phải làm nghiên cứu về phép lịch sự trong hành vi giao tiếp ở các nhóm tuổi khác nhau nên
tớ phải hỏi cậu câu này: Năm nay em trai cậu
bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? [Lịch sự âm tính – nêu rõ
lý do phải xâm phạm vào chuyện riêng tư của
người khác]
Cách sử dụng âm tính này ko phù hợp vì cả P và
D đều tích cực (cả CTGT và ĐTGT là đồng niên, đồng quyền)
Trang 39A Giao tiếp nội văn hóa (Việt)
3 Nói với con (đề nghị con rửa lại mấy cái bát):
Bố biết con rất bận, nhưng con có nghĩ là ‘nhà
sạch thì mát, bát sạch ngon cơm’ không con? [Lịch
sự âm tính – tránh áp đặt, đưa ra gợi ý nhẹ nhàng (mild hint) theo kiểu ướm thử (tentativeness)]
Cách đề nghị kiểu lịch sự âm tính này là khó có
thể chấp nhận đc trong cộng đồng người Việt bởi tính tôn ti và tính gia trưởng
Trang 40B Giao tiếp giao văn hóa (Việt-Mĩ)
1 Một người Việt nói với một người Mĩ trong lần
Câu hỏi trên không phù hợp trong 1 cộng đồng đề cao tính riêng tư và tính cá nhân