Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản SKSS tại một số Trường Trung học Phổ thô
Trang 1VÕ TH Ị TÍCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIỀU
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 4Bảng 2.3.2 Đánh giá của học sinh về hình thức dạy và học SKSS nên được sử dụng47
Bảng 2.3.3 Nơi tìm hiểu khi có những vướng mắc về những nội dung SKSS 49
Bảng 2.3.4 Ý kiến đồng ý của học sinh về việc đưa nội dung giáo dục SKSS vào
trường THPT 51
Bảng 2.3.5 Đánh giá khó khăn học sinh gặp phải khi học chủ đề 53
Bảng 2.3.6 Đánh giá trở ngại của học sinh khi học những nội dung SKSS 54
Bảng 2.3.7 Đánh giá chung của học sinh về nội dung SKSS được học ở trường
THPT 55
Bảng 2.3.8 Đánh giá của học sinh về phương pháp dạy SKSS ở Trường THPT 56
Bảng 2.3.9 Đánh giá khó khăn của học sinh khi gia đình biết được học những nội
Bảng 2.3.12 Tự đánh giá của học sinh về sự hiểu biết về các biện pháp tránh thai 62
Bảng 2.3.13 So sánh đánh giá khó khăn gặp phải khi học chủ đề theo giới ở nội thành63
Bảng 2.3.14 So sánh đánh giá khó khăn gặp phải khi học chủ đề theo giới ở ngoại
Trang 5Bảng 2.3.18 So sánh đánh giá chung về những nội dung SKSS học ở trường THPT
theo giới tính ở ngoại thành 67
Bảng 2.3.19 So sánh đánh giá của học sinh về phương pháp dạy SKSS ở Trường
THPT theo giới tính ở nội thành 68
Bảng 2.3.20 So sánh đánh giá của học sinh về phương pháp dạy SKSS ở Trường
THPT theo giới tính ở ngoại thành 69
Bảng 2.3.21 So sánh đánh giá khó khăn khi gia đình biết được học những nội dung
SKSS ở Trường THPT theo giới tính ở nội thành 70
Bảng 2.3.22 So sánh đánh giá khó khăn khi gia đình biết được học những nội dung
SKSS ở Trường THPT theo giới tính ở ngoại thành 71
Bảng 2.3.23 So sánh đánh giá khó khăn từ phía bản thân khi học những nội dung
SKSS ở Trường THPT theo giới tính ở nội thành 72
Bảng 2.3.24 So sánh đánh giá khó khăn từ phía bản thân khi học những nội dung
SKSS ở Trường THPT theo giới tính ở ngoại thành 73
Bảng 2.3.25 So sánh đánh giá việc tiếp thu một số nội dung SKSS được học ở Trường
THPT theo giới tính ở ngoại thành 74
Bảng 2.3.26 So sánh sự tự đánh giá về mức độ hiểu biết một số biện pháp tránh thai ở
Bảng 2.3.29 Các hình thức giáo viên thường biết trong việc tổ chức giáo dục SKSS 78
Bảng 2.3.30 Đánh giá của giáo viên về mức độ biết những chủ đề SKSS 79
Bảng 2.3.31 Đánh giá của giáo viên về trở ngại khi tiến hành những nội dung SKSS 80
Bảng 2.3.32 Đánh giá của giáo viên về sự cần thiết của nội dung giáo dục SKSS 81
Bảng 2.3.33 Đánh giá của giáo viên về yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục SKSS 82
Trang 6Bảng 2.3.35 So sánh đánh giá của giáo viên ở ngoại thành về mức độ biết những chủ
đề giáo dục SKSS theo thâm niên 84
Bảng 2.3.36 So sánh đánh giá của giáo viên ở nội thành về trở ngại khi tiến hành
những nội dung SKSS theo thâm niên 85
Bảng 2.3.37 So sánh đánh giá của giáo viên ở ngoại thành về trở ngại khi tiến hành
những nội dung sức khỏe sinh sản theo thâm niên 86
Bảng 2.3.38 So sánh đánh giá của giáo viên nội thành về sự cần thiết của giáo dục
SKSS theo thâm niên 87
Bảng 2.3.39 So sánh đánh giá của giáo viên ngoại thành về sự cần thiết của giáo dục
SKSS theo thâm niên 88
Bảng 2.3.40 So sánh đánh giá của giáo viên nội thành về yếu tố ảnh hưởng đến giáo
dục SKSS theo thâm niên 89
Bảng 2.3.41 So sánh đánh giá của giáo viên ngoại thành về yếu tố ảnh hưởng đến giáo
dục SKSS theo thâm niên 90
Bảng 2.3.42 Ý kiến của phụ huynh về việc hướng dẫn kiến thức SKSS cho học sinh
THPT 91
Bảng 2.3.43 Tự đánh giá của phụ huynh mức độ biết về chủ đề giáo dục SKSS 92
Bảng 2.3.44 Ý kiến của phụ huynh về khó khăn thường gặp khi trao đổi với con cái về
những nội dung giáo dục SKSS 93
Bảng 2.3.45 Đánh giá của phụ huynh sự cần thiết phải hiểu biết về những nội dung
SKSS 94
Trang 7• SKSS : Sức khỏe sinh sản
• GD SKSS : Giáo dục sức khỏe sinh sản
• SKSS VTN : Sức khỏe sinh sản vị thành niên
• RHIYA : Sáng kiến sức khỏe thanh thiếu niên Châu Á
Trang 8LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu: 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu: 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 4
4.2 Khách thể nghiên cứu: 4
5 Giả thuyết nghiên cứu: 4
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: 4
7 Phương pháp nghiên cứu: 4
7.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận: 4
7.2 Những phương pháp nghiên cứu thực tiễn: 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Nghiên cứu vấn đề trên thế giới 5
1.1.2 Tài liệu và công trình nghiên cứu vấn đề ở việt nam: 8
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 16
1.2.1 Lý luận về nhận thức, về nội dung SKSS 16
1.2.2 Lý luận về sức khỏe sinh sản, giáo dục sức khỏe sinh sản, nội dung giáo sục sức khỏe sinh sản 19
1.2.3 Đặc điểm tâm lý học sinh THPT: 35
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 39
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục ở địa bàn TP HCM 39
Trang 92.2.2 Mẫu chọn 41
2.3 Thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) tại một số trường trung học phổ thông (THPT) ở nội và ngoại thành TP.HCM 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
1.1 Kết quả nghiên cứu lý luận 82
1.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 82
2 Kiến nghị 84
2.1 Đối với nhà trường: 84
2.2 Đối với gia đình 85
2.3 Đối với xã hội 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 92
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, tuổi dậy thì ở vị thành niên xảy ra sớm hơn, hiện tượng này có thể được giải thích là do điều kiện sinh hoạt vật chất được cải thiện đáng kể làm cho sự phát triển thể chất của trẻ em ngày nay thuận lợi hơn và nhanh hơn trước đây, thêm vào đó là những sách báo, văn hóa phẩm, phim ảnh, internet kích thích sự tò mò của trẻ em cũng làm cho tốc độ phát triển có chiều hướng tăng nhanh hơn Điều đáng quan tâm ở đây là: về thể chất, các em phát triển rất mạnh nhưng về kinh nghiệm sống và cách xử thế lại còn rất chậm Với một thể xác cao to, tràn đầy sức sống nhưng các em lại chưa hiểu biết đầy đủ về chính mình và chưa có kinh nghiệm phòng tránh những tác động xấu của môi trường sống Điều này đặc biệt đúng trong những vấn đề có liên quan đến tình dục và sức khỏe sinh sản
Tình yêu học đường bùng nổ, sinh hoạt tình dục ở một bộ phận vị thành niên đang diễn ra với mức độ khác nhau có xu hướng gia tăng tạo ra hậu quả xấu như có thai sớm, phá thai, mắc các bệnh lây qua đường tình dục (kể cả HIV/ AIDS) Những hậu quả xấu này tác hại trực tiếp ngay cho lớp trẻ và để lại mối lo âu cho phát triển các thế hệ mai sau
Thiếu hụt kiến thức về sức khỏe sinh sản và kỹ năng sống là nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến số lượng mang thai ở tuổi vị thành niên ngày càng tăng cao Điều này ảnh
hưởng không tốt tới sức khỏe và khả năng học tập của thanh thiếu niên Theo Hội Kế
hoạch hóa gia đình Việt Nam, bình quân mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai
ở độ tuổi 15-19 trong đó 80-90% là học sinh, sinh viên cao nhất so với các nước Đông Nam Á và thứ 5 thế giới, và tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm Việc mang thai ở tuổi vị thành niên để lại những hệ lụy và
hậu quả nặng nề do các bà mẹ nhỏ tuổi còn quá trẻ, thể chất và tinh thần chưa phát triển để sẵn sàng làm mẹ Giáo dục sức khỏe sinh sản dường như vẫn là một khái niệm
mới trong xã hội Việt Nam Ở nhiều gia đình, các bà mẹ không giải thích được cho con những điều căn bản nhất về việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho con cái Cha mẹ cũng chưa hiểu được rằng nhu cầu tìm hiểu về sức khỏe sinh sản của con cái là điều tự
Trang 11nhiên, cần thiết và tất yếu nên họ không giáo dục cho con về vấn đề này, nhiều người
hiểu vấn đề nhưng vì ngại nên không muốn nói ra Ở nước ta, giáo dục sức khỏe sinh
sản không được hiểu theo đúng nghĩa của nó Gia đình Việt Nam ngày nay còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến và bởi vậy, việc giáo dục sức khỏe sinh
sản hạn chế trong những lời răn dạy về đạo đức
Hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản phổ biến trong các gia đình chỉ dừng lại
ở góc độ dạy vệ sinh thân thể ở tuổi dậy thì Với nhiều bậc phụ huynh, giáo dục tình
dục hầu như chưa bao giờ được đặt ra Trên thực tế đã có nhiều trường hợp các em nam phạm tội hiếp dâm, các em nữ có thai ở tuổi vị thành niên Nhiều trẻ ở lứa tuổi 14-15, còn cắp sách đến trường, chưa có kinh nghiệm về cuộc sống gia đình nhưng đã
phải làm cha mẹ do thiếu hiểu biết về tình dục Đây là vấn đề làm đau đầu người lớn
và người ta cho rằng nguyên nhân là do tác động từ kinh tế thị trường, sự du nhập của văn hóa từ bên ngoài, chạy theo lối sống ăn chơi, suy đồi về mặt đạo đức Được biết trong một cuộc khảo sát gần 4700 thanh niên chỉ có 2,6% cho biết kiến thức về giới tính được bố mẹ giáo dục Trung tâm nghiên cứu tâm lý và sự phát triển nhanh của thanh thiếu niên giải thích: “Các bậc phụ huynh luôn cho rằng những vấn đề liên quan
tới sức khỏe sinh sản rất tế nhị Mặt khác, con mình còn quá nhỏ để tìm hiểu về những
vấn đề ấy Có khi chính phụ huynh cũng không nắm rõ kiến thức về sức khỏe sinh sản
để diễn đạt cho con mình hiểu” Chính vì thế mà nhiều trường hợp đáng tiếc đã xảy ra như: Con thủ dâm quá mức, quan hệ tình dục trước tuổi trưởng thành, mắc các bệnh lây lan qua đường tình dục… Bố mẹ thường tránh né, ngại ngùng khi trẻ hỏi về chuyện tình dục Chính vì các quan niệm sai lầm đó của các bậc phụ huynh mà không ít lần người lớn “đỏ mặt” trước các thắc mắc của trẻ
Về phía nhà trường hiện nay những trường hợp nữ học sinh trở thành mẹ hay
những cái chết thương tâm bởi bản thân vướng vào con đường tình yêu, tình dục quá
sớm… không còn xa lạ Đó là hệ quả tất yếu từ việc “xem nhẹ” chương trình giáo dục
sức khỏe sinh sản trong trường học hiện nay Chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản hay bị bố mẹ né tránh cho rằng việc của nhà trường Nhưng thực tế hiện nay ở trường
học, việc giáo dục sức khỏe sinh sản chưa được thực hiện đến nơi đến chốn nên học trò đang phải tiếp cận kiến thức một cách “nửa vời” Vì vậy cha mẹ phải quan tâm đến
Trang 12con cái ở lứa tuổi này để nhận biết đúng sự thay đổi của con cái để có sự uốn nắn kịp
thời Để cho các em ít hoang mang lo lắng trước sự thay đổi của bản thân, bởi vậy
việc giáo dục sức khỏe sinh cho các em là hết sức cần thiết Cũng như giáo dục nói chung, giáo dục sức khỏe sinh sản phải được tiến hành có phân hoá tuỳ theo từng lứa
tuổi, có khối lượng và hình thức phù hợp để đứa trẻ có thể nhận thức được Muốn giáo
dục đúng thì các bậc cha mẹ phải nắm bắt được và biết tất cả các giai đoạn phát triển thông thường và những dấu hiệu không bình thường để cho đứa trẻ sớm có những hiểu
biết về bản thân của mình thì ngay từ lúc đang còn nhỏ
Chúng ta cần đưa nội dung sức khỏe sinh sản để giáo dục cho học sinh Bên cạnh những chương trình học ở nhà trường, các em cần có những thông tin rõ ràng, dễ hiểu về sự phát triển giới tính, sức khỏe sinh sản và kế họach hóa gia đình, những vấn
đề về giới tính và bình đẳng giới, về những bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục, như HIV/AIDS, càng sớm càng tốt Nâng cao nhận thức cho học sinh THPT về sức khỏe sinh sản để các em không quan hệ tình dục sớm và các em biết trì hoãn quan hệ tình dục đến sau hôn nhân, khi quan hệ tình dục thì hãy chọn biện pháp an toàn và có trách nhiệm
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng
nhận thức của học sinh lớp 10 về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) tại một số Trường Trung học Phổ thông (THPT) ở nội và ngoại thành Tp.HCM”
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở khảo sát thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản, từ đó đề tài hướng tới việc nâng cao nhận thức đối với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản cho các em
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
3.2 Khảo sát thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 đối với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
3.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của học sinh lớp 10 THPT đối với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
Trang 134 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 đối với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
4.2 Khá ch thể nghiên cứu:
Học sinh ở một số trường THPT nội và ngoại thành Tp.HCM
5 G iả thuyết nghiên cứu:
Nhận thức của học sinh lớp 10 ở một số trường nội và ngoại thành Tp.HCM đối với nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản chưa đầy đủ và không có sự đồng đều
6 G iới hạn và phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 THPT
về một số nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại một số trường THPT nội và ngoại thành Tp.HCM
- Về mặt nhận thức, chúng tôi chỉ khảo sát về vốn hiểu biết của các em đối với một
số nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, một số kiến thức cụ thể về sức khoẻ sinh sản và nhận thức về sự cần thiết của nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản
7 P hương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi sử dụng phối hợp
các phương pháp nghiên cứu như sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận:
Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
7.2 Những phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
*Phương pháp bảng thăm dò ý kiến:
+ Mục đích phương pháp này nhằm giải quyết nhiệm vụ tìm hiểu thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản
* Phương pháp toán thống kê:
+ Mục đích: Dùng phương pháp tóan thống kê để xử lý các số liệu điều tra để định hướng các kết quả nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
SKSS là một vấn đề của đời sống giới tính của con người nên nó được quan tâm
từ khá lâu “Ngay từ thời Cổ đại, giới tính đã được quan tâm tìm hiểu rất thô sơ, mang
mà u sắc cảm tính bằng một hệ thống thần thoại cổ đại và các khảo luận về tình yêu như “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidious,“Chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr” và “ Bữa tiệc” của Platon…Trong đó các tác giả
“khô ng những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu, mà còn
cố gắng cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lý học tình dục” [26]
Công tác nghiên cứu khách quan các vấn đề về giới tính, tính dục chỉ thật sự được tiến hành ở thời kì Phục hưng, khi bộ môn Giải phẫu và Sinh lý bắt đầu phát triển Trong thời kỳ này, những khía cạnh của tính dục, nhất là xét về phương diện đạo đức và giáo dục được người ta nghiên cứu tới
Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các đề tài nghiên cứu về giới tính được
mở rộng hơn…Cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX các nhà khoa học J.Bachocen (Thụy Sĩ), J Mac Lennan (Anh), E Westermach (Phần Lan), Ch Letourneau và A Espinas, Lewis Henry Morgan (Mỹ), X.M Kovalevxki (Nga)…không những đã gắn
sự quan hệ tính dục với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn cả với yếu tố khác của chế đệ xã hội và văn hóa Nhiều nhà khoa học: R Kraft Ebing (Áo), M Hischfeld
và A Moll (Đức), H Ellis (Anh), A Forel (Thụy Sĩ),… đã bắt đầu tiến hành công tác nghiên cứu khách quan về tính dục của con người Họ đã miêu tả hàng loạt dạng bất thường trong tâm lý tính dục và tán thành việc xúc tiến công tác giáo dục tính dục một
cách khoa học [11; tr 10,11]
Trong những năm 20 – 30 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu tính dục phát triển mạnh và gắn với phong trào gọi là “Phấn đấu vì những cải cách tính dục”, đòi hỏi bình đẳng nam nữ, giải phóng hôn nhân khỏi quyền lực nhà thờ, tự do li hôn và sử dụng các biện pháp phòng tránh thai, giáo dục tính dục trên cơ sở khoa học…Tuy nhiên, những
Trang 15lý luận trong thời kì này còn nặng tính tự biện, tách rời khỏi cơ sở xã hội và thực tiễn [11]
Năm 1926, T.Vande Velde (Hà Lan), đã cho ra đời cuốn “Hôn nhân hiện đại”, cuốn sách khoa học đầu tiên về sinh lý học và kĩ thuật trong hôn nhân, trong đó người phụ nữ được coi là người bạn đời có vai trò và chức năng tình dục tương đương với người chồng
Các công trình nghiên cứu tiến hành tại những nước khác nhau đã chứng minh rằng, việc định hướng tâm lý tính dục và hành vi của con người phụ thuộc vào những đặc điểm về văn hóa và vai trò, địa vị xã hội của họ [11]
Nhiều nhà bác học lớn đã nghiên cứu các khía cạnh của đời sống tính dục, góp
phần xây dựng tính dục học thành một khoa học độc lập theo một quan điểm chủ đạo
có hệ thống, trong đó liên kết nhiều phương pháp và thủ pháp sinh lý, lâm sàng và tâm
lý xã hội Các vấn đề giới tính đã thu hút sự nghiên cứu của nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như sinh học, y học, xã hội học, tâm lý học…
Nhiều nhà lãnh đạo hoạt động xã hội, hoạt động chính trị nổi tiếng của Liên Xô (V.I Lênin, Marxim Gorki, Maiacovxki, Secnưsevxki; đặc biệt là A.X Makarenko và V.A Sukhomlinxki) đã đưa ra nhiều quan điểm khoa học về đời sống giới tính, tình yêu hôn nhân gia đình…
A.X Makarenko cho rằng, thanh niên cần “phải học tập cách yêu đương, phải
học tập để biết tình yêu, phải học tập cách sống hạnh phúc, và như thế có nghĩa là học
tập để biết tự trọng, học tập để biết cái vinh hạnh được làm người Trong các bài giảng
giới tính, ông cho rằng: “Chúng ta phải giáo dục con em chúng ta làm sao để các em
có thái độ đối với tình yêu như đối với một tình cảm nghiêm túc và sâu nặng, để các
em được hưởng khoái cảm của mình, tình yêu của mình, hạnh phúc của mình trong khuôn khổ gia đình” [26]
Sukhomlinxki đã khuyên nhủ thanh niên: “Hãy sáng suốt và yêu cầu cao trong tình yêu Tình yêu là một loại tình cảm mãnh liệt, nhưng lý trí phải điều khiển trái tim” “Nữ tính chân chính là sự kết hợp tính dịu dàng và tính nghiêm khắc, sự âu yếm
với tính cứng rắn Tình yêu và sự nhẹ dạ không đi cùng nhau Tình yêu có thể chính
Trang 16đáng về mặt đạo đức, khi những người yêu nhau được kết hôn bằng tình bạn vững
bền” [26]
Từ những năm 1968, hầu hết các địa phương của Liên Xô bắt đầu chú ý tổ chức
việc hướng dẫn và tổ chức giáo dục điều trị, hướng dẫn các vấn đề về giới tính, nhất là đời sống tình dục và quan hệ hôn nhân Việc nghiên cứu và điều trị những bệnh về tính
dục đã được tiến hành Ngay từ đầu những năm 70, việc giáo dục giới tính cho học sinh đã được đề xuất giảng dạy ở một số nơi Năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô
đã ra chỉ thị cho tất cả các trường học trong cả nước thực hiện giáo dục vệ sinh và giáo
dục giới tính cho học sinh các trường phổ thông [26]
Ở Đức có rất nhiều các nhà khoa học nổi tiếng với những công trình nghiên cứu
về giới tính và giáo dục giới tính như: R Neubert, Aresin, Smolka, Hopman và Klemm, Linser, Polte, Dierl, Grassel…[26]
Nhiều nước như Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan…đều đã tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông bằng những chương trình bắt buộc Các nước phương Tây như: Anh, Đan Mạch, Thụy Điển, Mỹ…đã tiến hành giáo dục cho học sinh khá sớm (1966) Ở Pháp chương trình giáo dục nội dung này được thực hiện từ năm 1973 Đặc
biệt một số nước châu Á, châu Phi, Mỹ Latin cũng đưa giáo dục giới tính vào nhà trường phổ thông và đã đạt kết quả tốt Trung Quốc đã tiến hành giáo dục giới tính cho
học sinh từ năm 1974 và hiện nay là một trong những nước có nhiều công trình nghiên
cứu, có sự phát triển cao trong nghiên cứu khoa học về giới tính [26]
Ngay các nước Đông Nam Á như: Thailand, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines…cũng đã thực hiện nội dung giáo dục này Nội dung giáo dục giới tính đã được lồng ghép một cách hợp lý vào nhiều bộ môn văn hóa khác, chủ yếu là môn kế
hoạch hóa gia đình qua các giờ chính khóa và qua các hoạt động ngoại khóa theo mức
độ khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau Các hình thức tổ chức dạy học, những phương pháp và những phương tiện dạy học về giới tính rất được quan tâm và cuốn hút học sinh, làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao Việc giáo dục nội dung này cũng đã được mở rộng ra ngoài nhà trường, đến các tầng lớp nhân dân khác nhau qua rất nhiều hình thức giáo dục phong phú, qua các trung tâm tư vấn và đã được xã hội ủng hộ [26]
Trang 17Trên thế giới, vấn đề SKSS được quan tâm nhiều từ khoảng thập niên 90 của thế
kỷ XX., do yêu cầu của việc giáo dục dân số, sự phát triển của các khoa học nghiên
cứu về giới tính, đặc biệt là do tình hình phức tạp của đời sống xã hội về các tệ nạn xã
hội, về sự bùng nổ dân số, về sự phát triển của những lối sống không lành mạnh trong thanh thiếu niên
Hơn nhiều thập kỷ qua, tình dục và sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên đã ngày càng trở thành những vấn đề của nhiều quốc gia Trong nhiều nước, vấn đề này cũng liên quan nhiều nhất đến HIV/AIDS của những người trẻ tuổi Ở một số nước khác thì
vấn đề này lại là nguyên nhân ảnh hưởng đến việc có con sớm ở thanh thiếu niên; vấn
đề khác cũng quan trọng không kém đó là những hành vi tình dục của thanh thiếu niên Kinh nghiệm cho thấy rằng, những chương trình và những nghiên cứu ngày càng nhiều
gần đây đều không có tính khả thi trong việc ngăn chặn tình dục thanh thiếu niên và
bảo vệ sức khỏe sinh sản vị thành niên khi mà không có sự chỉ dẫn sâu rộng Thêm vào đó, có nhiều bằng chứng cho thấy rằng ngày càng có nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản vị thành niên và thật không đơn giản để làm giảm những nguy cơ ấy
1.1.2 V ấn đề ở việt nam:
Từ sớm những năm 1990, rất nhiều chương trình và những hoạt động giáo dục
sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên đã được triển khai và thực hiện ở nhiều vùng khác nhau ở Việt Nam Những chương trình và những họat động này thì rất đáng giá trong
việc tập trung vào việc truyền thông về thông tin giáo dục nhưng không cung cấp
những phương pháp tránh thai hoặc những dịch vụ về sức khỏe sinh sản khác Thêm vào đó, những thông điệp về thông tin sức khỏe sinh sản này được truyền tới thanh niên thông qua những bài giảng đạo đức mà điều này thường nhanh chóng làm giới trẻ chán nản Những chương trình dạng này không thu hút được sự quan tâm của giới trẻ
Cuối cùng, tất cả những chương trình này mà phụ thuộc phần lớn vào những nguồn
quốc tế, đều không thành công nhiều và hầu hết những chương trình này chỉ được thực
hiện trong phạm vi nhỏ Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng duy trì các dự án và khả năng để tạo ra những mô hình thành công
Trang 18Từ năm 1988, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện chương trình “Giáo dục dân
s ố, tình dục và cuộc sống gia đình” với sự hỗ trợ Quỹ dân số liên hiệp quốc và
UNESCO ở trên 17 tỉnh thành trên cả nước Giai đoạn đầu tiên, chương trình “Giáo
d ục tình dục và đời sống gia đình, được thực hiện từ 1988 – 1993 và như một thí điểm
Vào năm 1994, chương trình đã được mở rộng đến toàn quốc, và thuật ngữ “Giáo dục
dân s ố” đã được thành tiêu đề nghe khắp nơi Từ năm 1998 – 2000, thời kỳ được gọi
là “Giáo d ục dân số và sức khỏe sinh sản” Những chương trình này thường được liên
kết với các ngành sinh học, ngành địa lý, ngành quản lý đô thị dân cư, hoặc thêm
những chương trình hoạt động của học sinh lớp 8, nhưng thường chương trình chỉ tập trung phần lớn vào học sinh lớp 10 đến lớp 12 Mặc dù những chương trình có những giá trị tích cực, nhưng để mở rộng ra đến với những thanh thiếu niên thì thật sự là rất khó khăn Hầu hết những giáo viên cảm thấy bối rối khi nói về giới tính và tình dục
với những học sinh Nhiều giáo viên nghĩ rằng Trường học là môi trường không thích
hợp để nói về những vấn đề này, và tốt hơn hết để cho cha mẹ thực hiện trách nhiệm này, để thảo luận những vấn đề này với con cái của họ Sách dùng cho giáo viên và sách dùng cho học sinh thì cung cấp thông tin rất ít và những người huấn luyện thì lại được trang bị một cách nghèo nàn và nhận được rất ít sự quan tâm
Từ năm 1997, Bộ Giáo dục và Đào tạo được sự hỗ trợ của Quỹ dân số liên hiệp
quốc đã chỉ đạo chương trình đào tạo và giáo dục quốc gia về phát triển dân số và sức
khỏe sinh sản Một phần mở rộng từ những vấn đề về kế hoạch hóa gia đình, dự án đã
mở lối cho các vấn đề khác bao gồm: dạy cho thanh thiếu niên về những vấn đề về sức
khỏe sinh sản, hướng dẫn những khóa học từ xa cho tất cả những giáo viên để cung
cấp cho họ những thông tin về dân số và sức khỏe sinh sản, và hướng dẫn một khóa
học khác cho những giáo viên cấp THCS để giúp họ dạy những chủ đề nhạy cảm này Vào cuối năm 2001, những sách giáo khoa hướng dẫn tự học dành cho giáo viên,
“Giáo d ục sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên”, đã được mở rộng và phổ biến bởi Bộ
Giáo dục và Đào tạo, và Bộ đã chỉ đạo các Sở Giáo dục và Đào tạo khuyến khích các giáo viên sử dụng những sách giáo khoa này để bồi dưỡng thêm kiến thức cho họ Tài
liệu này thực sự có ích vì tất cả những thông tin về sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên được trình bày một cách toàn diện và chính thức; Nó không những có ý nghĩa thiết
Trang 19thực để cho giáo viên có thể vận dụng chúng tối đa trong việc giảng dạy mà chúng còn
khắc phục được những nội dung nghèo nàn và mơ hồ trong chương trình giáo dục sức
khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên ở Trường
Một vài quy mô nhỏ khác là một số hoạt động, dự án ở Trường học được tiến hành ở nhiều nơi khác nhau trong cả nước Ví dụ như từ năm 1996, Văn phòng hỗ trợ giáo dục ở Thành phố HCM với sự ủng hộ của Tổ chức bảo trợ trẻ em Anh Quốc, đã
tiến hành giáo dục HIV/AIDS cho học sinh từ tiểu học đến trung học ở một số Trường trên địa bàn Thành phố HCM
Một số hoạt động và chương trình dành cho cộng đồng cũng đã được thực hiện
Những hoạt động này bao gồm những câu lạc bộ, những trung tâm tư vấn, những đường dây tư vấn qua điện thoại miễn phí, những chương trình phân phát tờ rơi thông tin, và những chương trình thông tin giáo dục truyền thông
Những câu lạc bộ, những trung tâm tư vấn, những đường dây tư vấn qua điện thoại: Liên đoàn Thanh niên Việt Nam đã có vai trò chính trong việc dẫn đầu thí điểm cho chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên từ sớm những năm 1990
Rất nhiều mô hình thử nghiệm của những hoạt động thông tin giáo dục truyền thông,
đã được mở rộng và thực hiện dưới những chương trình thử nghiệm trong quy mô nhỏ, được tài trợ bởi những nhà hảo tâm quốc tế Những mô hình này bao gồm những câu
lạc bộ cho những thanh niên chưa lập gia đình, câu lạc bộ cho các cặp thanh niên, và
những cuộc thi về dân số và kế hoạch hóa gia đình Sử dụng những mô hình và những
hoạt động can thiệp như những Trung tâm tư vấn, những đường dây nóng, và những đội ngũ cung cấp, truyền thông, thông tin giáo dục qua điện thoại, mà sau đó đã được
mở rộng và áp dụng cho 6 tỉnh thành của cả nước dưới sự hỗ trợ của Quỹ dân số liên
hiệp quốc - dự án tài trợ trong khoảng từ năm 1996 – 2000, mang tên “Ủng hộ cho sự
c ải tiến của sức khỏe sinh sản vị thành niên”, Đoàn Thanh niên Việt Nam đã thực hiện
và phổ biến nhiều tờ rơi thông tin giáo dục truyền thông bao gồm những áp phích,
những tờ rơi, và những cuốn sổ tay nhỏ, đặc biệt trong cuốn sổ tay này được in nhiều thông tin về “Tâm lý và sinh lý tuổi mới lớn”, “Tình bạn và tình yêu” và “Những đều
c ần biết về HIV/AIDS dành cho giới trẻ” đã được phát hành và phân phát một cách
rộng rãi đến những thanh thiếu niên
Trang 20Dự án thành phần RAS/03/P51 thuộc chương trình RHIYA Việt Nam trong 33 tháng (4/2004 – 12/2006) Mục tiêu của dự án là cải thiện hành vi và thực hành SKSS, tăng cường sử dụng các dịch vụ SKSS và tư vấn cho VTN/TN ở những vùng có dự án (Trường PTTH Marie Curie, TP.HCM và Trường ĐHSP TPHCM) Mô hình đồng đẳng viên của dự án được đặc biệt hoan nghênh và giới thiệu là “Mô hình cần được nhân rộng tại các trường ở TPHCM” vì tính phù hợp và hiệu quả, đồng đẳng viên đã
thực sự làm chủ trong các hoạt động của dự án và tiếng nói của các bạn đã được cộng đồng, cha mẹ lắng nghe Dự án RAS/03/P51 cũng đã phát hàng chục ngàn tờ rơi về SKSS cho VTN/TN với những nội dung được in đẹp, trình bày súc tích, phù hợp với đối tượng, và dự án cũng đã phát hàng ngàn cuốn sách mỏng về “Tâm sinh lý lứa
tuổi”, bao cao su, thuốc tránh thai khẩn cấp…
Sách giáo khoa về giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên:
Dự án trong 3 năm (1995 – 1997) “Bồi dưỡng kiến thức về sức khỏe sinh sản cho
thanh thi ếu niên” đã được Hội liên hiệp phụ nữ đảm trách dưới sự hỗ trợ của tổ chức
Path (Canada) đã phát hành những cuốn sách về giáo dục tình dục và sức khỏe sinh
sản cho thanh thiếu niên và cộng đồng
Bộ GD&ĐT kết hợp với Ban Giáo dục Dân số - Kế Hoạch hóa Gia đình đã phát hành tài liệu “Giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản và đời sống gia đình, phát hành
1998
Ủy ban Dân số Quốc gia và Kế hoạch hóa gia đình phát hành các tài liệu dành cho giáo viên giảng dạy về “Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục thanh thiếu niên” (tập 1, 2, 3), sách phát hành năm 2000
Quỹ dân số thế giới kết hợp với Trung tâm giáo dục đạo đức công dân - Viện khoa học giáo dục, cùng với Cục V26 - Bộ Công an và Trung tâm dạy nghề KOTO đã phát hành sách dành cho tuổi vị thành niên “Trò chuyện về giới tính, tình dục và sức
khỏe sinh sản”, phát hành tháng 8/2004
Chương trình “Sáng kiến SKSS vị thành niên và thanh niên ở Châu Á” (RHIYA),
do Liên minh Châu Âu và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc phát hành cẩm nang hướng
dẫn hoạt động truyền thông thay đổi hành vi tăng cường SKSS và sức khỏe tình dục cho VTN/TN (tập 1, 2, 3), phát hành tháng 6/2005 Chương trình nhằm thúc đẩy việc
Trang 21thực hiện Chương trình hành động của hội nghị quốc tế về dân số và phát triển 7 nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Từ năm 1997, RHIYA đã được triển khai khá thành công tại Việt Nam, ưu tiên các lĩnh vực bình đẳng giới, tăng cường tiếp
cận thông tin, tư vấn và sử dụng các dịch vụ thân thiện về SKSS – tình dục cho vị thành niên và thanh niên Việt Nam Đến năm 2005, chương trình đã thiết lập môi
trường chính sách thuận lợi cho thông tin và dịch vụ SKSS cho vị thành niên, thanh niên ở cấp quốc gia và địa phương
Những bài học về những kỹ năng trong cuộc sống cho thanh thiếu niên: Từ năm
1996, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Hội Chữ Thập Đỏ đã thực hiện bài học về những kỹ năng trong cuộc sống cho thanh thiếu niên ở trên 7 tỉnh thành cả nước với sự hỗ trợ
của UNICEF Chương trình này tập trung vào việc giáo dục những kỹ năng trong cuộc
sống và phòng chống HIV/AIDS Trong Trường học, một chương trình về kỹ năng trong cuộc sống (ví dụ như: Việc đưa ra quyết định, sự quyết đoán, sự chọn lọc có giá
trị) đã được thiết kế bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo và được lồng ghép trong nhiều môn
học chính khóa của Trường Với những thanh thiếu niên ngoài Trường học, cũng có
một khóa học mà được thiết kế bởi Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam và Hội Chữ Thập Đỏ
Úc cũng đã được đưa vào thực hiện
Những chương trình về thông tin giáo dục, truyền thông: Chương trình thông tin giáo dục, truyền thông mang tầm cỡ quốc gia đầu tiên về sức khỏe sinh sản được tổ
chức dưới sự hỗ trợ của Quỹ dân số liên hiệp quốc - hỗ trợ cho dự án VIE/97/P12 của Liên đoàn thanh niên Việt nam, tháng 5/1998 Những mục tiêu của chương trình này là
nhằm giúp thanh thiếu niên nhận thức về những lợi ích của việc trì hoãn những hành vi tình dục quá sớm và đồng thời động viên những người đã có quan hệ tình dục rồi thì nên có những kiến thức về tình dục an toàn Bắt đầu là Hà Nội, chiến dịch đã thực hiện trên 8 Tỉnh và Thành phố Để chắc chắn cho chiến dịch thành công, Liên Đoàn Thanh Niên Việt Nam đã thực hiện với sự hỗ trợ những phương tiện truyền thông rộng lớn
cấp Trung ương và cấp tỉnh, Trường học, những tổ chức Đoàn Thanh niên, tổ chức y
tế, Trung tâm tư vấn, và những hội và những tổ chức khác
Chương trình Marie Stopes International tại Việt Nam (MSIVN) bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 1989 Đặc trưng MSIVN là được cấu tạo bởi hai bộ phận
Trang 22cung cấp dịch vụ: một trung tâm tĩnh tại và một đội lưu động Trung tâm tĩnh tại cung
cấp dịch vụ cho dân cư ở khu vực đô thị và đội lưu động đi tới những vùng nông thôn
xa xôi để có thể tiếp cận và cung cấp dịch vụ SKSS cơ bản cho người nghèo Tính đến tháng 9/2004, chương trình MSIVN đã cung cấp các dịch vụ lâm sàng cho 340.707
phụ nữ với tổng số 615.007 dịch vụ Khoảng 1 triệu người đã nhận được thông tin và
kiến thức về kế hoạch hóa gia đình và sinh sản thông qua các khóa giáo dục truyền thông và tư vấn được thực hiện tại các trung tâm Marie Stopes tại Việt Nam Cho đến nay có khoảng triệu tài liệu thông tin giáo dục truyền thông cung cấp thông tin đa dạng
về kế hoạch hóa gia đình và SKSS Khoảng 230 khóa thông tin truyền thông và hơn
350 chuyến lưu động đã được thực hiện để cung cấp thông tin và dịch vụ cho một số khi vực dân cư rất nghèo của Việt Nam
Những hoạt động về thông tin giáo dục, truyền thông sáng tạo khác: Từ giữa
những năm 1990, những hoạt động phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên đã được
thực hiện rất tích cực trong những chương trình sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên
Những nỗ lực này đã được thực hiện từ những hoạt động về truyền thông, thông tin giáo dục, bao gồm tư vấn và giáo dục với những hình thức sáng tạo như “café
condom”, “café t ư vấn”, “Hội quán trẻ” và “nhóm bạn giúp nhau” Những hình thức
này được hình thành và thực hiện bởi Hội liên hiệp Thanh niên tại nhiều cấp khác nhau Những thanh thiếu niên đến những nơi này để uống càfê và những thức uống
nhẹ và có thể được yêu cầu tư vấn, được phát những ống kim tiêm mới, bao cao su Tuy nhiên, rất ít những mô hình về HIV/AIDS mà có thể giải thích hiệu quả hơn cho
người trẻ tuổi để giúp họ thay đổi hành vi Những dự án sáng tạo khác cũng tập trung vào việc phòng chống HIV/AIDS và giáo dục sức khỏe sinh sản được thực hiện trên
khắp 3 miền, do Quỹ dân số phát triển thế giới tài trợ cho Hội liên hiệp thanh niên, dự
án “Sân kh ấu lưu động và những khóa học về kỹ năng cuộc sống cho giới trẻ”; Ví dụ
như: Một dự án dùng những thông tin HIV/AIDS bằng video và những vở kịch cho
những người thanh niên Khmer với Hội đồng dân số của Tỉnh Trà Vinh; Giải đá bóng
và phòng chống HIV/AIDS cho những thanh thiếu niên ở Tỉnh Quảng Ninh
Hoặc như Dự án RAS/03/P51 đã phát động cuộc thi viết và vẽ về tình huống SKSS/SKTD lứa tuổi VTN/TN tại TPHCM, cuộc thi đã chuyển tải được tâm tư,
Trang 23nguyện vọng và ý kiến VTN/TN đến các nhà lãnh đạo cộng đồng, những nhà cung cấp
dịch vụ, cha mẹ, thầy cô giáo và các cán bộ dự án của chương trình RHYIA hiểu và đáp ứng nhu cầu VTN/TN trong việc ủng hộ và vận động chính sách truyền thông và thay đổi hành vi
Sự lồng ghép về sức khỏe sinh sản trong những chương trình và những hoạt động khác: Sức khỏe sinh sản cũng được thấy trong những chương trình và những hoạt động khác như việc khuyến khích sự bình đẳng về giới và vai trò của nam giới trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được thực hiện bới những tổ chức lớn như Hội liên hiệp
phụ nữ Việt Nam, Hội liên hiệp nhà nông và Tổ chức chữ thập đỏ Hầu hết những
chương trình và hoạt động này đều được hỗ trợ bởi những tổ chức quốc tế và những tổ
Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu về SKSS vị thành niên
đã được thực hiện như:
Dự án “Bình đẳng giới và đẩy mạnh sự tham gia của nam giới trong SKSS” – VIE/97/P11, các số liệu cho thấy thanh niên và vị thanh niên hiện nay biết rất ít về khái niệm SKSS Kết quả điều tra cho thấy có tới 26.1% số thanh niên và vị thành niên không biết cụm từ SKSS hoặc KHHGĐ
Khảo sát của Hội liên hiệp Phụ nữ TPHCM trong năm 2005 về “Thực trạng và
giải pháp SKSS vị thành niên” hơn 1.100 đối tượng từ 14 – 18 tuổi, kết quả là có 16,9
% đã quan hệ tình dục; 19,2% không biết hành vi nào có thể mang thai
Kết quả điều tra của chương trình “Sáng kiến SKSS vị thành niên và thanh niên Châu Á” viết tắt là RHIYA, do liên minh Châu Âu và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc năm 2006, cho thấy thanh niên và vị thành niên Việt Nam vẫn thiếu kiến thức và kỹ
Trang 24năng cần thiết trong chăm sóc SKSS, chưa tiếp cận và sử dụng các dịch dụ thân thiện
về chăm sóc SKSS
Luận án tiến sĩ cấp nhà nước chuyên ngành Lý luận và lịch sử sư phạm học của NCS Nguyễn Thế Hùng Trong luận án, tác giả đã xác dịnh những yếu tố ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng năng lực giáo dục SKSS VTN, xây dựng cơ sở lý luận về các biện pháp bồi dưỡng năng lực SKSS VTN cho các bậc cha mẹ, hệ thống hóa một số khái
niệm giáo dục SKSS VTN Luận án cũng đã xác định thực trạng nhận thức và năng lực giáo dục SKSS VTN của các bậc cha mẹ, làm rõ được các khó khăn, hạn chế của thực
trạng trên, đồng thời đề xuất và tổ chức thực nghiệm các biện pháp bồi dưỡng đối với các bậc cha mẹ về GD SKSS VTN
Kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam, tên viết tắt
tiếng Anh là SAVY) Điều tra là kết quả của sự đầu tư và sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ Việt Nam gồm: Bộ Y Tế, Tổng cục Thống kê và các cơ quan của Liên hiệp
quốc bao gồm: Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF), được tiến hành trên phạm vi toàn quốc 7.584 vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi từ 14 đến 25 đã lập gia đình và chưa lập gia đình từ các vùng thành thị, nông thôn, kể cả vùng dân tộc thiểu số thuộc 42 tỉnh thành trên cả nước Trong cuộc điều tra này đã cho chúng ta thấy về kiến thức tình dục và SKSS ở thanh thiếu niên còn nhiều bất cập Ví dụ như thanh thiếu niên hiểu được hiệu quả của bao cao su
nhưng thái độ đối với bao cao su còn khá tiêu cực, đồng nhất bao cao su với những quan hệ không đàng hoàng như mại dâm Các phương tiện tránh thai thì các cặp vợ
chồng sử dụng nhiều nhưng những người độc thân có quan hệ tình dục thì sử dụng không thường xuyên 2/3 nữ thanh thiếu niên còn hiểu biết hạn chế về thời điểm dễ có thai nhất trong chu kỳ kinh nguyệt Điều tra cũng cho thấy thanh thiếu niên Việt Nam được cung cấp nhiều thông tin về SKSS, tuy nhiên mức độ chính xác của thông tin mà
họ nắm được vẫn chưa như mong muốn, đặc biệt là các thông tin về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về SKSS vị thành niên của các đơn vị văn hóa, giáo dục địa phương trên cả nước cũng như là các đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ và các bài báo cáo khoa học trong các hội nghị, hội thảo Điều
Trang 25này đã cho thấy sự quan tâm sâu rộng của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục đối
với vấn đề SKSS cho vị thành niên
1/11/2014, tại Hà Nội đã diễn ra “Hội nghị toàn quốc lần thứ hai về Nghiên cứu
sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục: Từ bằng chứng tới chính sách” do Bộ Y tế, Trường Đại học Y tế công cộng và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc phối hợp tổ chức
Mục tiêu chính của Hội nghị nhằm Chia sẻ và thảo luận các kết quả nghiên cứu
mới nhất về lĩnh vực SKSS/SKTD tại Việt Nam Bên cạnh đó, hội nghị đã thảo luận ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chương trình về SKSS/SKTD tại Việt Nam và thảo luận về định hướng nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực SKSS/SKTD trong giai đoạn tiếp theo
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Nhận thức, về nội dung SKSS
* Nh ận thức
Nhận thức là một trong 3 mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm và hành động) Nhận thức có quan hệ chặt chẽ với tình cảm và hành động cũng như với các hiện tượng tâm lý khác của con người
Hoạt động nhận thức là một hoạt động rất đặc trưng của con nguời nói chung và
của mỗi người nói riêng Nhận thức – đó là môt lĩnh vực hết sức phức tạp, khi tìm hiểu về vấn
đề này cần xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Nhận thức là hoạt động của chủ thể nhằm khám phá thế giới xung quanh, dĩ nhiên kết quả của hoạt động là nhằm tìm ra chân lý hay sự
thật về những thuộc tính và quy luật khách quan của một sự vật cụ thể
* Khái ni ệm chung
Hiện nay, trong TLH có các cách hiểu nhận thức như sau:
- Nhận thức là sự phản ánh (xét dưới góc độ phản ánh)
- Nhận thức là hoạt động
- Nhận thức được xem như một quá trình lĩnh hội
Hoạt động nhận thức là một hoạt động bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể
hiện những mức độ phản ánh khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về
hiện thực khách quan
Trong luận án Tiến sĩ của Trần Thị Minh Ngọc, tác giả đã xây dựng khái niệm
Trang 26nhận thức khá đầy đủ như sau: “Nhận thức là một chuỗi các hoạt động tâm lý tái tạo
hiện thực khách quan trong đầu óc con người Nhận thức biểu hiện ở các mức: biết;
hiểu; vận dụng Trong đó biết là mức độ nhận thức thấp nhất; hiểu là mức độ nhận
thức tiếp theo và cao hơn biết, nảy sinh trên cơ sở biết; vận dụng là mức nhận thức cao
nhất giúp con người ngày càng đi sâu vào thực tiễn, tìm ra chân lý, làm chủ tự nhiên,
xã hội và bản thân”
Bản chất của nhận thức: Nhận thức là một quá trình hoạt động Ở con người, quá trình nhận thức thường gắn với mục đích và động cơ nhất định nên nhận thức con
người là một họat động Nhận thức mang bản chất xã hội, lịch sử Nhận thức phải sử
dụng vốn từ ngữ do các thế hệ trước sáng tạo ra Quá trình nhận thức được thúc đẩy
bởi nhu cầu xã hội Nhận thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội - lịch sử [27]
Căn cứ và tính chất phản ánh có thể chia toàn bộ hoạt động nhân thức thành hai giai đoạn lớn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
* Các m ức độ của quá trình nhận thức
- Nh ận thức cảm tính:
Nhận thức cảm tính là giai đoan đầu sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức
của con người Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người
Nhận thức cảm tính bao gồm 2 mức độ sau:
* Cảm giác: là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật
và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta
* Tri giác: là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài
của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta [19]
- Nh ận thức lý tính
Nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn nhận thức cảm tính Nhận thức lý tính
phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng trong hiện tượng khách quan mà con ngưới chưa biết
Nhận thức lý tính bao gồm 2 mức độ:
Trang 27* Tư duy: là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những
mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện
thực khách quan, mà trước đó ta chưa biết
* Tưởng tượng: là một quá trình tâm lý phản ảnh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những
biểu tượng đã có
Nếu nhận thức cảm tính chỉ phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta thì quá trình nhận
thức lý tính phản ánh được những thuộc tính bên trong, bản chất, quy luật của sự vật
hiện tượng và phản ánh được cả những sự vật hiện tượng không trực tiếp tác động vào
cảm giác của ta Nhận thức cảm tính cung cấp cho con người vốn hiểu biết bên ngoài
của sự vật hiện tượng Từ đó có thể biến đổi được các sự vật hiện tượng vì đã nắm được thuộc tính bản chất cũng như quy luật của nó
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong hoạt động nhận thức thống nhất, biện chứng
Theo quan điểm phản ánh luận của V.I.Lênin, nhận thức con người có nhiều giai đoạn, mức độ khác nhau “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy
trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự
nhận thức hiện thực khách quan”
Trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh, có nhiều nội dung bàn về các mức độ
nhận thức thấm đậm tính chất thực tiễn Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề mọi người tiếp thu cái gì, nhận thức cái gì cần; “hiểu kỹ, nhớ lâu, vận dụng tốt”
Quan điểm của B.S Bloom về đánh giá các mục tiêu nhận thức: B.S Bloom phân
loại mục tiêu nhận thức ra 6 mức độ từ thấp đến cao: Nhận biết; Hiểu; Vận dụng; Phân tích; Tổng hợp; Đánh giá Hai mức đầu là nhận thức ở mức thấp Bốn mức sau gọi là
nhận thức ở mức cao, vì chúng đề cập đến các thao tác tư duy phức tạp hơn (phân tích,
tổng hợp, đánh giá)
Như vậy, hoạt động nhận thức giúp cho con người hiểu biết về thế giới khách quan, về các sự vật hiện tượng Sự hiểu biết có thể ở nhiều mức độ:
Trang 28- Nhận biết: là mức độ nhận thức thấp nhất, chỉ nắm được các dấu hiệu bên ngoài
của khái niệm nhưng chưa có khả năng vận dụng để giải quyết những tình huống,
những hiện tượng Nhận biết được biểu hiện ra cac dấu hiệu sau: nhận ra vấn đề, nhận
biết được hình thức bên ngoài của khái niệm, nhận biết được một số biểu hiện cụ thể
- Thông hiểu: là khi nắm được một số thuộc tính bản chất, nắm được khái niệm
sự vật, hiện tượng nhưng chưa giải quyết được vấn đề
- Vận dụng: Khi đã nắm vững và thông hiểu sâu được bản chất, các thuộc tính
trừu tượng bên trong của khái niệm, do đó có thể dùng các khái niệm để giải quyết được những vấn đề, những tình huống phức tạp
Nhận thức của mọi người có những quá trình cơ bản như nhau, đều thực hiện theo những quy luật giống nhau Nhưng kết quả đạt được của mỗi người khác nhau tức
là phản ánh hiện thực đúng hoặc sai khác nhau Đó là do phẩm chất trí tuệ của mỗi cá nhân quyết định [19]
Tóm l ại: Quá trình nhận thức của con người rất phong phú, đa dạng và phức tạp
Quá trình nhận thức có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau, song để đánh giá nhận
thức của con người về một vấn đề nào đó chúng ta có thể đánh giá theo các mức độ
nhận thức hay đánh đánh giá một cách giản đơn theo hai hướng: nhận thức đúng đắn hay nhận thức chưa đúng đắn (nhận thức sai lệch)
Trong đề tài này, nhận thức của học sinh lớp 10 đối với nội dung giáo duc SKSS được khảo sát ở mức độ thấp: mức độ nhận biết; các em biết hay chưa, biết đúng hay sai về một vài kiến thức cụ thể trong nội dung giáo dục SKSS, đó chính là vốn hiểu
biết của học sinh về những nội dung kiến thức nhất định
1.2.2 Sức khỏe sinh sản, giáo dục sức khỏe sinh sản, nội dung giáo sục sức khỏe sinh sản
* S ức khỏe sinh sản
- Khái niệm sức khỏe sinh sản
Trên thế giới, vấn đề sức khoẻ sinh sản (SKSS) được quan tâm nhiều từ khoảng
thập niên 90 của thế kỉ XX, do yêu cầu của việc giáo dục dân số, sự phát triển của các khoa học nghiên cứu về giới tính, đặc biệt là do tình hình phức tạp của đời sống xã hội
Trang 29về các tệ nạn xã hội, về sự bùng nổ dân số, về sự phát triển của những lối sống khơng lành mạnh trong thanh thiếu niên
Việc nghiên cứu SKSS thường được tiến hành theo các hướng:
+ Nghiên cứu theo gĩc độ Dân số học và Giáo dục dân số: Các cơng trình nghiên cứu thường đi vào những phương thức điều chỉnh sự phát triển dân số, hoạt động kế hoạch hố gia đình, căn cứ để xây dựng các chính sách dân số và Giáo dục dân số, xây dựng chương trình, nội dung giáo dục dân số, giáo dục giới tính và đời
sống gia đình Ở nhiều nước, việc nghiên cứu SKSS được gắn với vấn đề giáo dục Dân số được coi là một bộ phận của Giáo dục giới tính, của chính sách dân số
+ Nghiên cứu theo gĩc độ Y học: Nghiên cứu những tri thức khoa học về các vấn
đề của SKSS, những vấn đề kĩ thuật của “kế hoạch hố gia đình”
+ Nghiên cứu việc giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên, cho người lớn đặc biệt là
trẻ vị thành niên, trẻ ngồi nhà trường
Việc nghiên cứu trên ngày càng phát triển hơn sau Hơi nghị Quốc tế về Dân số
và Phát triển tại Cairo, Ai Cập tháng 9/1994
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục SKSS được đặc biệt quan tâm trong tình hình hiện nay, đặc biệt ở đối tượng thanh thiếu niên Nhiều cơng trình nghiên cứu về SKSS đã được thực hiện và cơng bố, trong đĩ, cĩ những cơng trình đã kết hợp giáo dục dân số, giáo dục giới tính với giáo dục SKSS, kết hợp Dân số học, Y học, Xã hội học, Tâm lý
học, Giáo dục học về các nội dung trên Năm 2004, Bộ giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo đưa các nội dung giáo dục Dân số - SKSS vào chương trình đào tạo trong các trường
sư phạm
Trước đây, người ta cho rằng,“sức khoẻ sinh sản” chỉ là những vấn đề về tình
trạng sức khoẻ và khả năng sinh sản của người phụ nữ, về“kế hoạch hố gia đình” với
việc thực hiện các biện pháp tránh thai và một số vấn đề liên quan tới việc thụ thai và sinh nở
Tuy nhiên, ngày nay mọi người đều nhận thấy, nội dung của khái niệm “sức khoẻ
sinh s ản” rộng hơn nhiều Nĩ cịn liên quan đến hoạt động tình dục, những quan niệm
về lối sống, về thái độ và cảm xúc yêu đương trong đời sống tình dục của cả nam lẫn
nữ, những vấn đề bệnh lý về mặt tình dục, hoạt động của các cơ quan sinh dục, về quá
Trang 30trình thụ thai và mang thai, về tri thức và nghệ thuật sinh nở, nuơi con để các cặp vợ
chồng cĩ những đứa trẻ khoẻ mạnh và thơng minh
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “Sức khoẻ sinh sản là tình trạng khoẻ
m ạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và
ch ức năng của bộ máy sinh sản chứ khơng phải chỉ là khơng cĩ bệnh tật hoặc là ốm
y ếu” [5]
Như vậy, khi nĩi đến “sức khoẻ sinh sản” phải chú ý đến tồn bộ những vấn đề
về cấu tạo, về chức năng, về tình trạng hoạt động của hệ cơ quan sinh dục, về nhiều
vấn đề tâm lý nảy sinh trong đời sống sinh lý giới tính và cả một số vấn đề tâm lý xã hội giới tính, trong đĩ cĩ đời sống tình dục và nếp sống sinh hoạt liên quan đến vấn
đề tình dục, thái độ và trách nhiệm của người nam và người nữ trong vấn đề giới tính, trong việc thụ thai khả năng sinh nở kế hoạch hĩa sinh nở và nuơi con, mối quan hệ
giới tính giữa hai giới
*N ội dung của khái niệm sức khỏe sinh sản bao hàm 3 vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, con người phải đạt được một sự đảm bảo đầy đủ về mặt thể lực và một tình trạng sức khỏe tốt Tức là đảm bảo về mặt dinh dưỡng, các chỉ số về cơ thể
(chiều cao, cân nặng,…) và các bộ máy cơ quan của cơ thể phát triển hồn hảo
Từ sự phát triển khỏe mạnh về thể lực là điều kiện cơ bản để cĩ thể thực hiện chức năng duy trì nịi giống của con người với thế hệ kế tiếp khỏe mạnh
Thứ hai, con người cĩ một đời sống tinh thần ổn định, tâm lý thoải mái và lối
sống lành mạnh Con người khơng bị bắt buộc làm những điều họ khơng muốn (bị cưỡng ép) làm những điều cĩ hại cho cơ thể họ vì những lý do như khơng hiểu biết, thơng tin sai, hay hành vi của người khác gây ảnh hưởng đến họ Nĩ cũng cĩ nghĩa là
mỗi người được tự do khơng chịu một áp lực tâm lý nào dựa trên các đặc điểm sinh
sản của họ
Thứ ba, con người cĩ thể đạt được những giá trị xã hội cao nhất mà họ cĩ thể đạt được: trình độ học vấn, điều kiện học tập, trình độ tay nghề, giao tiếp xã hội, và các quan hệ xã hội khác là cơ sở để chọ nhận thức, thái độ và hành vi tình dục của họ, cũng như thực hiện quá trình sinh sản đúng đắn [3]
Trang 31Như vậy, sức khỏe sinh sản không chỉ đơn giản là một con người không có bệnh
tật hay không ốm yếu Sức khỏe sinh sản hàm ý rằng, con người có thể có một đời
sống tình dục thỏa mãn, an toàn và có khả năng sinh sản, được tự chủ quyết định khi nào và tiến hành như thế nào trong việc này
* Nh ững nội dung cơ bản của vấn đề sức khỏe sinh sản:
Sức khỏe sinh sản của mỗi con người có mối quan hệ mật thiết với gia đình, cộng đồng và xã hội Nó không chỉ thuần túy mang ý nghĩa về duy trì nòi giống mà vấn đề quan trọng hơn là ở chỗ sức khỏe sinh sản có vai trò quyết định cơ bản, là điều kiện
tiền đề đối với bản thân của mỗi người trong suốt quá trình từ khi sinh ra, lớn lên, trưởng thành và tham gia đóng góp vào sự vận động, phát triển chung của xã hội Trong mối quan hệ cá nhân – gia đình – cộng đồng xã hội, sức khỏe sinh sản của từng thành viên sẽ là yếu tố cơ sở, nền tảng cho sức khỏe sinh sản của gia đình và xã hội Ngược lại, sự phát triển của xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục khoa
học – kỹ thuật,… sẽ là điều kiện khách quan giúp cho sức khỏe sinh sản ngày càng được tăng trưởng
Một khi sức khỏe sinh sản của từng thành viên trong xã hội được đảm bảo, trước
hết, đó chính là nền tảng ban đầu cho sự thực hiện việc duy trì nòi giống, tạo ra thế hệ
tiếp nối, khỏe mạnh và phát triển bình thường Đồng thời, mỗi con người được phát triển toàn diện về cả thể lực, trí lực và tâm hồn sẽ có ý nghĩa rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực, đến việc lao động sản xuất và sáng tạo các giá trị mới
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, như việc không nhận được thông tin đầy đủ,
hạn chế trong công tác tuyên truyền giáo dục và nhất là chưa có những chiến lược và chính sách đồng bộ, hợp lý về công tác chăm sóc, hỗ trợ,tăng cường về sức khỏe sinh
sản Trên thực trạng chung, sức khỏe sinh sản hiện đang đứng trước những vấn đề đáng báo động Tình trạng tiêu cực với nhiều vấn đề trở ngại nảy đang là những thách
thức rất lớn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, nhất là đối với các nước nghèo, các nước đang phát triển và thậm chí ngay cả các nước phát triển
Theo thống kê của Tổ chức Dân số Thế giới và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) trong những năm gần đây tình hình chung về sức khỏe sinh sản trên toàn
thế giới có những vấn đề nổi trộisau:
Trang 32- Hằng năm có khoảng 120 – 150 triệu cặp vợ chồng trẻ chưa được tiếp cận dịch
vụ kế hoạch hóa gia đình
- Có khoảng 60 – 80 triệu cặp vợ chồng trẻ bị vô sinh do rất nhiều nguyên nhân
mà nếu biết trước họ có thể khắc phục được
- Hằng năm có khoảng 20 – 25 triệu phụ nữ phá thai không an toàn, nhiều người trong số họ mang thai ngoài ý muốn vị sự thiếu hiểu biết hoặc sự lệch lạc trong nhận
thức ngay từ thời vị thành niên
- Mỗi năm có từ 585.000 – 600.000 phụ nữ tử vong do thai nghén hoặc có liên quan đến việc sinh nở Trên 25 triệu trẻ em sinh bị thiếu cân hoặc mắc các dị tật bẩm sinh do điều kiện chăm sóc, hoặc do các hậu quả của việc bố mẹ không giữ gìn an toàn cho thai nhi ngay từ khi mang thai
- Tại các nước đang phát triển, hằng năm có gần 205 triệu người bị mắc các bệnh lây qua đường tình dục, nhiều phụ nữ bị lây nhiễm từ người chồng của họ [1]
Do thiếu bình đẳng giữa nam và nữ, cũng nhưnhiều biểu hiện suy thoái đạo đức, nhiều phụ nữ trên toàn thế giới đang là nạn nhân của mại dâm, của các hành vi hãm
hiếp, bạo dâm, và bạo lực trong gia đình Nhiều phụ nữ bị phân biệt đối xử và ít được quan tâm tạo điều kiện trong việc học hành nên trình độ văn hóa thấp [4]
Sự thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản hiện nay ở cả nam và nữ đang ở mức báo động, bên cạnh đó là những quan niệm về lối sống hưởng thụ sự tự do trong quan hệ tình dục đã và đang tiếp tục gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe sinh sản [4]
Ở các nước đang phát triển do nhiều gia đình không làm chủ được quyền sinh sản nên sinh đẻ không có kế hoạch (đẻ nhiều, đẻ dầy,…) làm cho dân số tăng nhanh không phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội [4]
Ở Việt Nam, mặc dù trong những năm gần đây, việc tuyên truyền giáo dục, phổ
biến sức khỏe về sinh sản đã được quan tâm và từng bước chú trọng thực hiện, nhưng nhìn chung thực trạng về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản vẫn còn có những
diễn biến phức tạp, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên – những thế hệ người chủ tương lai của đất nước lại càng có nhiều nguy cơ thách thức Điều đó được thể hiện:
- Tỉ lệ vị thành niên và thanh niên nam nữ có quan hệ trước hôn nhân đang có chiều hướng gia tăng
Trang 33- Việc sống thử, sống gấp, thái độ, hành vi dễ dãi trong tình yêu của thanh thiếu niên, nhất là khu vựcđô thị có xu hướng phổ biến
- Tệ nạn mại dâm, các hành vi lạm dụng tình dục, các biểu hiện suy đồi đạo đức đang trở nên phức tạp
- Hiện tượng tảo hôn tại khu vực nông thôn do có thai ngoài ý muốn hoặc trình
độ ý thức yếu kém đã làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe sinh sản
- Số lượng người tử vong, gặp rủi ro trong quá trình mang thai và việc nạo phá không an toàn, nhất là đối với vị thành niên gây những hậu quả xấu đến sức khỏe sinh
sản
Số lượng người bị nhiễm khuẩn bộ phận sinh dục, bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/ AIDS ngày một tăng, nguy cơ ngày càng có nhiều người bị
mắc chứng vô sinh tạm thời hoặc vĩnh viễn
- Nhiều cặp vợ chồng chưa biết đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tư
vấn về hạnh phúc gia đình và còn xa lạ với các biện pháp phòng tránh thai, biện pháp phòng tránh bệnh lây nhiễm qua đường tình dục,…
- Vẫn còn một bộ phận không ít thanh niên nam, nữ thiếu hiểu biết về hành vi tình dục có văn hóa cũng như các chức năng sinh sản của bản thân mình [2]
Từ những vấn đề trên có thể thấy công tác truyền thông giáo dục sức khỏe sinh
sản hiện nay vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định Vì vậy cần phải đẩy mạnh công tác này và coi đó là nhiệm vụ thường xuyên, rộng rãi, không chỉ là trách nhiệm
của mỗi các nhân mà còn của toàn xã hội Trong đó giáo dục về sức khỏe sinh sản và trang bị những kiến thức liên quan cho học sinh có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng
Việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến và trang bị kiến thức về sức khỏe sinh sản ở các trường học sẽ là yếu tố quyết định nhận thức, thái độ và hành vi của mỗi cá nhân người học Và điều quan trọng hơn, chính họ sẽ là người chủ tương lai của đất nước, quyết định chất lượng nguồn nhân lực
* S ức khỏe sinh sản vị thành niên
Sức khỏe sinh sản vị thành niên – vấn đề quan tâm của mọi quốc gia
Sức khỏe sinh sản vị thành niên đang được đặt ra quan tâm hàng đầu trong tất cả các mục tiêu, chương trình về sức khỏe sinh sản ở tất cả các quốc gia trên thế giới Đã
Trang 34có nhiều nước xây dựng một chương trình riêng, tương đối hoàn chỉnh về giáo dục, chăm sóc, hỗ trợ tăng cường cho sức khỏe sinh sản vị thành niên Vì vậy, nhiều nước
đã thu được những kết quả khả quan và những tiến bộ nhất định về chăm sóc, hỗ trợ tăng cường sức khỏe sinh sản Vì vậy, nhiều nước đã thu được kết quả khả quan và
những tiến bộ nhất định về chăm sóc, hỗ trợ tăng cường sức khỏe sinh sản
Tại sao vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên lại được quan tâm hàng đầu?
Th ứ nhất, sức khỏe sinh sản vị thành niên trực tiếp liên quan đến tương lai nòi
giống
Sức khỏe sinh sản vị thành niên thực chất là sức khỏe liên quan trực tiếp đến sự phát triển của một con người từ lúc còn ở tuổi vị thành niên (từ 10 đến 19 tuổi – theo cách xác định của tổ chức y tế thế giới) và cả tương lai duy trì nòi giống của họ sau này
Tuổi trẻ là tương lai của mỗi đất nước, vấn đề sức khỏe sinh sản của tuổi trẻ có tác động và ảnh hưởng đến sự tồn vong của một dân tộc Do đó, nó luôn được các
quốc gia quan tâm
Sức khỏe sinh sản và vấn đề quan hệ tình dục, quá trình sinh sản còn chịu ảnh hưởng của tập quán, phong tục, lối sống của mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo và dựa trên
những chuẩn mực đạo đức của xã hội quy định.Thế nên việc cung cấp thông tin, giáo
dục và dịch vụ về sức khỏe sinh sản vị thành niên ở mỗi nước đều có cách làm riêng phù hợp với lối sống, tập quán, văn hóa, xã hội cũng như pháp luật của từng nước
Th ứ hai, bản thân vị thành niên muốn tự khẳng định mình, do đó cần có sự
hướng dẫn để vị thành niên quá độ sang tuổi trưởng thành một cách đúng đắn
VTN là một lực lượng to lớn trong xã hội và chiếm một tỷ lệ lớn trong quy mô dân số của mỗi quốc gia Đa số những nước đang phát triển có cấu trúc dân số trẻ thì
lực lượng VTN chiếm gần phân nửa dân số Họ là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước trong tương lai
Trong mỗi gia đình, VTN có vai trò quan trọng, là lực lượng lao động sẽ thay thế cho bố mẹ để đảm bảo đời sống cho các thành viên trong gia đình và sự tồn tại, phát triển của mỗi gia đình Trong tương lai chính những VTN này là những người chủ gia đình và đến lượt họ, lại gánh vác trọng trách lao động, thu nhập xây dựng gia đình và
Trang 35chăm sóc con cái Vì vậy, nếu họ được chuẩn bị mọi thứ một cách chu đáo và bắt đầu
cuộc sống một cách tốt đẹp thì họ sẽ có thể có được một sức sống và một ý chí để làm
việc và cống hiến Ngược lại, nếu họ mắc sai lầm trong thời kỳ này thì họ sẽ bị tổn thương mạnh về tinh thần, sự sai lệch về tình cảm, nhân cách mà có thể sẽ không có
khả năng phục hồi lại được
Tuổi vị thành niên là giai đoạn “quá độ” từ một đứa trẻ sang người lớn – người trưởng thành, vì vậy thời kỳ này cơ thể con người từng bước phát triển và đi đến hoàn thiện Nếu được giáo dục một cách toàn diện với phương pháp đúng đắn thì họ sẽ được đảm bảo về phát triển, hoàn thiện nhân cách
Lứa tuổi vị thành niên có những dấu hiệu đặc biệt về tâm sinh lý Đây là thời kỳ mang lại những thay đổi lớn lao về cơ thể (sự phát triển và từng bước hoàn thiện các
bộ máy trong cơ thể, phát triển xương, cơ bắp, chiều cao và đặc biệt là bộ máy sinh
sản) cũng như sự khác biệt về giới Những khả năng phát triển này tạo ra những hành
vi mới: xuất hiện tình cảm khác giới mà đỉnh cao của nó là nảy nở tình yêu và có
những cảm giác mới lạ, hấp dẫn, tò mò về quan hệ nam – nữ (quan hệ tình dục với
những cấp độ khác nhau) Những hành vi không chỉ thay đổi tùy theo giới tính và sự trưởng thành về thể chất, tinh thần và quan hệ xã hội của các cá nhân vị thành niên mà còn tùy thuộc vào môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội nơi họ sinh sống Do
đó sự quan tâm của chính phủ cùng với việc tạo lập một mối trường giáo dục tốt sẽ là
những yếu tố cơ bản để đảm bảo cho sự phát triển sức khỏe sinh sản vị thành niên [6]
Từ đầu tuổi vị thành niên đến tuổi trưởng thành là một giai đoạn dài (khoảng gần
10 năm), vì vậy cần có sự hướng dẫn để vị thành niên chuyển sang tuổi trưởng thành
một cách đúng đắn Sự kết hợp giữa cá nhân, gia đình, cộng đồng và môi trường là cơ
sở rất quan trọng cho sức khỏe vị thành niên được tăng cường và phát triển lành mạnh
Th ứ ba, quan hệ tình dục ở lứa tuổi vị thành niên gây ra nhiều vấn đề xã hội
nghiêm trọng
Xu hướng quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên và thanh niên trẻ ngày càng tăng, gây ra nhiều vấn đề xã hội trầm trọng như mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây qua đường tình dục kể cả lây nhiễm HIV/ AIDS Vì vậy, cần có sự quan tâm đúng mức
của xã hội đối với sức khỏe sinh sản vị thành niên
Trang 36Tổ chức Y tế Thế giới cho biết trong số 20 phụ nữ mắc bệnh lây qua đường tình
dục thì cĩ 3 người là ở tuổi vị thành niên Trong tổng số người nhiễm HIV/ AIDS trên tồn thế giới thì hơn một nửa là dưới 25 tuổi [1]
Ở Việt Nam hiện nay, mỗi năm cĩ gần 1.3 triệu trường hợp nạo phá thai Trong
đĩ, cĩ khoảng 300.00 trường hợp (chiếm 25%) là nữ thanh thiếu niên trẻ chưa kết hơn
So với các nước trong khu vực và trên thế giới thì Việt Nam là một trong những nước
cĩ tỉ lệnạo phá thai cao nhất Điều này khơng chỉ gây ốn kém về mặt kinh tế, vật chất
mà cịn để lại những hậu quả nặng nề về mặt sức khỏe, tinh thần cho xã hội [1]
Sự lây lan của các bệnh liên quan đến tình dục, đặc biệt là HIV/ AIDS đang ở tình trạng báo động về cả tốc độ lây nhiễm, số lượng người bị nhiễm, con đường, cách
thức lây nhiễm Hiện nay trên tất cả các tỉnh thành, cả ở thành thị và nơng thơn, thậm chí cùng sâu vùng xa đều cĩ người bị lây nhiễm HIV/ AIDS Trong tổng số người nhiễm HIV/ AIDS thì 50% là người trong lứa tuổi vị thành niên, nghiêm trọng hơn, trong con số này cĩ tới 17% là dưới tuổi 15 Cĩ rất nhiều nguyên nhân lây nhiễm HIV/ AIDS ở nước ta nhưng nguyên nhân cơ bản và chủ yếu nhất là sự thiếu hiểu biết Con đường lây nhiễm rất phức tạp, song tập trung vào hai con đường chính: tiêm chích ma túy (sử dụng chung bơm kim tiêm) và quan hệ tình dục khơng lành mạnh, khơng an tồn Vì vậy, nếu khơng quan tâm đến việc hướng dẫn để thanh thiếu niên cĩ kiến thức
về tình dục an tồn và biết tự chăm sĩc, bảo vệ mình thì việc lây lan HIV/ AIDS sẽ
tiếp tục gia tăng với tốc độ cao, khĩ kiểm sốt và sẽ trở thành gánh nặng, ảnh hưởng
trực tiếp đến lao động, kinh tế – xã hội của đất nước trong tương lai gần [1]
* Khái ni ệm giáo dục sức khỏe sinh sản
Giáo dục sức khoẻ sinh sản là hoạt động giáo dục nhằm trang bị cho con người tri thức và những kĩ năng giữ gìn, bảo đảm cho sức khoẻ sinh sản ở tình trạng tốt, giúp cho con người cĩ sức khoẻ, cĩ đời sống tình dục an tồn, yêu đương lành mạnh, gia đình hạnh phúc, cĩ tri thức đầy đủ về sức khoẻ sinh sản, bảo đảm được sự sinh nở bình thường, nuơi con khoẻ mạnh, thơng minh và phát triển [3]
Giáo dục SKSS gắn liền với giáo dục dân số Đĩ là hai vấn đề cĩ mối liên hệ rất đặc biệt, rất mật thiết Giáo dục SKSS là một bộ phận của giáo dục giới tính, cĩ ý nghĩa quan trọng trong giáo dục giới tính [3]
Trang 37Việc giáo dục sức khoẻ sinh sản phải được tiến hành tồn diện và rộng rãi trong tồn xã hội, cho mọi đối tượng, đặc biệt là đối với trẻ vị thành niên
Giáo dục sức khỏe sinh sản phải được tiến hành ở nhiều hình thức giáo dục phong phú và đa dạng, cĩ thể thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, bằng các phương tiện
thơng tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, quảng cáo tuyên truyền, các hình thức
ho ạt động văn hố, nghệ thuật, ), đặc biệt là giáo dục trực tiếp cho thanh niên, học
sinh, trẻ vị thành niên trong nhà trường qua các giờ chính khĩa, ngoại khĩa và các hoạt động vui chơi giải trí
*Giáo d ục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
- Ý nghĩa của việc giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Tuổi vị thành niên là một giai đoạn đặc biệt của đời sống con người Đây là giai đoạn dậy thì, chín muồi giới tính, những chức năng sinh sản của hệ cơ quan sinh dục
bắt đầu hoạt động và ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển cơ thể và nhân cách Đây là
lứa tuổi cĩ nhiều biến động mạnh về tâm lý, bắt đầu cĩ những biểu hiện điển hình của đời sống tình dục, đã xuất hiện những rung cảm yêu đương, bắt đầu hình thành tình yêu đồng thời cĩ những biến đổi đặc biệt về mặt tâm lý, nhất là những biểu hiện tâm lý giới tính, tính xúc động mạnh của thời kì dậy thì, sự biến đổi mạnh và thất thường trong đời sống tâm lý, thậm chí cĩ sự khủng hoảng tâm lý trong mối quan hệ
với người lớn, với bạn bè khác giới
Ở lứa tuổi này, các em quan tâm nhiều đến những vấn đề tình dục, về sinh nở, về kinh nguyệt, về tình yêu nhưng lại rất ít hiểu biết về vấn đề này
Các em dễ bị kích động bởi các rung cảm về tình dục và những biểu hiện sớm
của đời sống tình dục (bắt đầu cĩ kinh nguyệt, bắt đầu cĩ hiện tượng mộng tinh, cĩ
nhu c ầu thủ dâm ), ngồi ra cịn cĩ nhiều biến đổi khác về tâm sinh lý Những yếu tố
trên ảnh hưởng mạnh đến lối sống, nếp sinh hoạt, quan hệ xã hơi và sự phát triển nhân cách, đặc biệt các em dễ bị lơi cuốn và bị sa ngã bởi văn hố phẩm đồi trụy, bởi những
nếp sinh hoạt khơng lành mạnh, ăn chơi, nghiện hút, ma tuý và thuốc lắc, dễ bị xâm
hại tình dục Do đĩ, vấn đề giáo dục sức khoẻ sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên cĩ
ý nghĩa quan trọng đặc biệt
- M ột số vấn đề cần chú ý trong việc giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Trang 38Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cần chú ý đến những vấn đề sau đây:
Giáo dục những tri thức về sự dậy thì, về việc giữ gìn vệ sinh cho hệ cơ quan sinh sản, đặc biệt là tri thức về cấu trúc và chức năng hoạt động của hệ cơ quan sinh
dục, hiện tượng kinh nguyệt, hiện tượng mộng tinh và di tinh, hiện tượng thủ dâm, sự phát triển bất bình thường của hệ cơ quan sinh dục (nam hoặc nữ), các bệnh lý liên quan đến cơ quan sinh dục
Giáo dục về hoạt động tình dục, tác hại của hoạt động tình dục sớm, những bệnh
lý tình dục, bệnh tâm thần tình dục, hiện tượng tình dục đồng giới, những dấu hiệu của
hiện tượng lạm dụng tình dục và của các hành vi cưỡng dâm
Giáo dục kế hoạch hoá gia đình, trang bị các kiến thức khoa học về các biện pháp tránh thai, giúp cho các em sớm nhận thức được hậu quả nguy hiểm của việc có thai
sớm, việc nạo phá thai…
Giáo dục nếp sống lành mạnh, văn hoá, văn minh Giáo dục cho các em thấy sự nguy hiểm của việc ăn chơi đua đòi, đọc sách báo, văn hoá phẩm đồi trụy, tác hại của
ma tuý, thuốc lắc, bia rượu và những lối sống ăn chơi sa đọa khác
Giáo dục về tình bạn khác giới, về tình yêu trong sáng, về sự tôn trọng đối với người khác giới, đặc biệt là tôn trọng phụ nữ Giáo dục thái độ tôn trọng và bảo vệ các
bạn nữ, sự tôn trọng đối với tình bạn khác giới, tình yêu nam nữ Giáo dục về đới
sống gia đình, về quan hệ giữa con cái với cha mẹ vá ý thức trách nhiệm đối với việc xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển [5]
* N ội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
Khái niệm SKSS và chăm sóc SKSS tương đối rộng Theo Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) thì chăm sóc SKSS bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Làm mẹ an toàn, tức là đảm bảo sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em trước và sau khi sinh
- Kế hoạch hóa gia đình nhằm đảm bảo quyền lợi của các cặp vợ chồng trong
việc lựa chọn và sử dụng biện pháp tránh thai, quyền lợi sinh con theo ý muốn, phù
hợp với các nguyên tắc về phát triển kinh tế – xã hội
- Giảm tỷ lệ nạo hút thai ở lứa tuổi sinh đẻ
Trang 39- Giảm các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản ở phụ nữ như viêm hố chậu, viêm
âm đạo, viêm cổ tử cung…
- Phòng chống nguy cơ mắc bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/ AIDS
- Giáo dục giới tính rộng rãi cho thanh thiếu niên
- Điều trị và phòng tránh các bệnh liên quan đến vô sinh
- Điều trị và phát hiện sớm các bệnh ung thư vú và đường sinh dục
- Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên
- Thông tin giáo dục truyền thông về SKSS nhằm hướng tới thay đổi nhận thức
và hành vi của cộng đồng
Theo chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020,
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2013/QD-TTg về phê duyệt chiến lược dân số và sức khẻ sinh sản (SKSS) giai đoạn 2011-2020 Trong quyết định nêu rõ quan điểm, mục tiêu và các giải pháp chủ yếu thực hiện chiến lược dân số và SKSS Năm quan điểm nêu trong chiến lược: “Một là Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 là một nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội; Hai là giải quyết đồng
bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản, tập trung nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợi thế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số và kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh; Ba là giải pháp cơ
bản để thực hiện công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản là sự kết hợp đồng bộ,
hiệu quả giữa vận động, giáo dục, truyền thông chuyển đổi hành vi, cung cấp dịch vụ
dự phòng tích cực, chủ động, công bằng, bình đẳng và chế tài kiên quyết, hiệu quả đối
với các đơn vị, cá nhân hoạt động dịch vụ vi phạm các quy định về chẩn đoán và lựa
chọn giới tính thai nhi; Bốn là đầu tư cho công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản
là đầu tư cho phát triển bền vững, mang lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế, xã hội và môi trường Tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, tích cực tranh thủ các nguồn viện trợ
và huy động sự đóng góp của nhân dân; ưu tiên nguồn lực cho vùng sâu, vùng xa,
miền núi, vùng ven biển và hải đảo; Năm là tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các
Trang 40cấp ủy Đảng và chính quyền; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; huy động sự tham gia của toàn xã hội; tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy để thực hiện có hiệu
quả công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản
Rõ ràng hiện nay, chúng ta không chỉ quan tâm đến sức khỏe kế hoạch hóa gia đình mà còn phải giải quyết nhiều vấn đề hơn nhằm bảo vệ và chăm sóc SKSS của nhân dân.”
Có thể xác định nội dung chương trình giáo dục SKSS bao gồm những vấn đề cơ
bản sau:
- Cấu tạo và chức năng của hệ cơ quan sinh dục nam nữ
- Một số hiện tượng đặc biệt điển hình trong đời sống sinh lý tình dục
- Bản chất của hoạt động tình dục và biểu hiện của đời sống tình dục ở thanh thiếu niên
- Các bệnh lây lan qua đường tình dục và cách phòng tránh
- Sự thụ thai và phát triển của thai nhi
- Các biện pháp tránh thai
- Kế hoạch hoá gia đình
- Vấn đề nạo phá thai ở tuổi vị thành niên và hậu quả
- Giới tính và vấn đề SKSS
- Tình yêu nam nữ
- Hôn nhân và đời sống gia đình
- Quan hệ vợ chồng và sự bình đẳng nam nữ
- Vấn đề chống bạo hành trong gia đình và sự xâm phạm tình dục trẻ em
- Việc chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trả em
- Việc xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển [5]
Trên đây là những nội dung cơ bản của chương trình nội dung giáo dục SKSS
Tuỳ theo đặc điểm đối tượng (địa phương, trình độ, lứa tuổi, cấp học, thanh thiếu niên
ngoà i nhà trường, trẻ em ó hoàn cảnh đặc biệt ), sẽ xây dựng chương trình giáo dục
riêng
Để giáo dục sức khoẻ sinh sản có hiệu quả, cần phải có chương trình, nội dung cụ
thể, phù hợp cho từng đối tượng