1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu hiện trạng và các giải pháp hoàn thiện thiết chế văn hóa ở các xã ngoại thành tp hồ chí minh

208 125 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 5,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐẾN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đây là đề tài nghiên cứu tư vấn và hỗ trợ cho việc lập chính sách, do vậy mục tiêu của đề tài là: Cung cấp những thông tin tham khảo cho lãnh

Trang 1

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TP HCM ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP.HCM

Đề tài:

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP

HOÀN THIỆN THIẾT CHẾ VĂN HÓA

Ở CÁC XÃ NGOẠI THÀNH TP HỒ CHÍ MINH

( Bản chính sửa sau nghiệm thu)

Chủ nhiệm: PGS.TS Nguyễn Minh Hòa

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2005-2006

Trang 2

1 MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐẾN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Đây là đề tài nghiên cứu tư vấn và hỗ trợ cho việc lập chính sách, do

vậy mục tiêu của đề tài là:

Cung cấp những thông tin tham khảo cho lãnh đạo thành phố và các cơ quan ban ngành chức năng, đặc biệt là Sở Văn hóa thông tin trong việc hoạch định và thực thi các chính sách văn hóa, các chính sách liên quan đến văn hóa, và để hoàn thiện các thiết chế văn hóa

Tìm ra những giải pháp khả thi để góp phần phát triển thiết chế văn hóa ngọai thành một cách phù hợp

Qui mô và tính chất của mẫu nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát tổng số 25 xã / 58 xã (chiếm tỷ lệ 43%) Tổng dân số của 25 xã của mẫu nghiên cứu là 330.590 người chiếm tỷ lệ 31% trên tổng dân số ngoại thành

2 MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

• Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở các huyện ngoại thành được cải thiện ngày một tốt hơn

• Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra khá mạnh theo hướng đa dạng

• Mức sống và sự thụ hưởng văn hóa tăng lên, nhưng không đều

• Mức độ chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa nội và ngoại thành có

xu hướng lớn lên

• Văn hóa các xã có phần đa dạng và phong phú hơn do có sự hiện

diện của dân nhập cư từ các nơi khác đến

3 H IỆN TRẠNG CÁC THIẾT CHẾ VĂN HÓA XÃ HIỆN NAY

• Các chỉ số cơ bản về cán bộ văn hóa cấp xã

CHỈ BÁO CHỈ SỐ

2 Bản quán 90% cán bộ tại chỗ

4 Thâm niên trung bình 5 năm

Trang 3

6 Mức sống (thu nhập TB) 600.000 đ/ người/ tháng

8 Số lượng chức vụ đang dảm nhiệm PCT: 14 chức vụ; CCVH: 7 chức vụ

9 Thời gian họp hành/ một ngày PCT: 1,5 buổi/ ngày

10 Đào tạo chuyên môn Đại học, CĐ: 0%; Ngắn hạn: 88% (từ 1-5 ngày)

• Tự đánh giá năng lực chung của chuyên viên văn hóa cấp xã

+ 15 người (chiếm tỷ lệ 30,6 %) tự cho rằng mình có thể đáp ứng tốt yêu

cầu của công việc

+ 16 người (32,65 %) cho rằng chỉ đáp ứng yêu cầu ở mức trung bình + 16 người (32,65 %) cho rằng mình còn thiếu trình độ và năng lực

+ 2 người (4 %) cho rằng mình rất yếu kém về chuyên môn và năng lực

• Đánh gía về các hoạt động văn hóa cấp xã nói chung

Phó CT (25)

Chuyên viên VH (24)

Tổng của cả hai ( 49) Đồng ý Tỷ lệ Đồng ý Tỷ lệ Đồng ý Tỷ lệ Chậm đổi mới về nội dung

hoạt động

Chưa đầu tư đúng mức cơ

sở vật chất và cán bộ

Chính sách chưa sát với

thực tế

• Đánh gía những khó khăn cho người làm văn hóa cấp xã

STT Ý KIẾN SỐ LƯỢNG TỶ LỆ %

1 Thiếu địa điểm sinh hoạt 8 16

2 Thiếu cán bộ 9 18

3 Cơ sở vật chất hạn chế 10 21

4 Trình độ thấp 11 25

5 Kinh phí ít 11 25

• Về ngân sách của xã dành cho hoạt động văn hóa (25 xã)

Tổng dân số: 330.590 người ; Tổng số tiền chi cho văn hóa :

369.200.000 đồng; Trung bình/ 1 người dân 1.200 đ; Kinh phí chi cho văn hóa chiếm 1,84% tổng ngân sách 1 năm của xã

• Các ưu tiên cho phát triển VH cấp xã

Ưu tiên 1 Ưu tiên thứ 2 Ưu tiên thứ 3

Đổi mới cơ chế làm việc 25 18 5

Chế độ đãi ngộ cán bộ văn hóa 28 12 9

Trang 4

• Các nguyện vọng cho phát triển văn hoá xã

STT Ý KIẾN SỐ LƯỢNG TỶ LỆ %

1 Tăng thêm cán bộ 31 63

2 Tăng cường cơ sở vật chất 29 60

3 Tăng kinh phí hoạt động 27 55

4 Kêu gọi người dân cùng tham gia 24 49

5 Chế độ đãi ngộ cán bộ 19 39

6 Mở thêm các lớp đào tạo 12 25

3 ĐỀ XUẤT 17 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THIẾT CHẾ VĂN HÓA NGOẠI THÀNH TP HỒ CHÍ MINH

1 Trước hết và quan trọng nhất là phải có một chiến lược phát triển đồng bộ nông thôn trong đô thị ở TP HCM làm cơ sở cho việc phát triển văn hóa ngoại thành bền vững

Phát triển văn hóa nông thôn ngoại thành nói chung và hoàn thiện thiết chế văn hóa nói riêng không thể tách rời ra khỏi tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và mặt bằng dân trí nói chung của toàn thành phố Tách hoạt động văn hóa ra thành một phần độc lập và hy vọng đẩy nó phát triển nhanh hơn các thành tố khác là siêu hình, bởi vì phát triển văn hoá không phải là một mặt trận đơn phương, mà văn hóa và kinh tế là mối quan hệ phát triển nhân qủa và biện chứng

Có một thực tế là trong những năm qua thành phố chúng ta chú trọng nhiều hơn vào phát triển các quận nội thành, các khu công nghiệp, các ngành nghề dịch vụ và đẩy nhanh đô thị hóa theo chiều rộng, còn phát triển nông thôn tuy đã được quan tâm, nhưng chưa đúng tầm của yêu cầu phát triển cho một đô thị lớn Theo tôi thành phố phải nhanh chóng xây dựng một chiến lược phát triển đồng bộ các huyện, xã ngoại thành mà trong đó văn hóa là một phần quan trọng Trong chiến lược đó các điểm sau đây cần được coi là trọng tâm:

• Bằng mọi gía phải giữ lại một phần nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong những hình thái cư trú và sản xuất mới ở TP HCM với tỷ lệ dân số sống ở các xã ngoại thành trên tổng dân số toàn thành phố là 10% (khoảng 600.000 người), trong đó nông dân tối thiểu là 4-5% (hiện

Trang 5

nay chỉ còn 6,5% trong tổng dân số toàn thành là nông dân), Nếu làm mất phần nông thôn trong đô thị là một sai lầm mà rất nhiều quốc gia phát triển đang phải trả gía rất đắt cho việc phục hồi trở lại

• Tiến hành qui hoạch lại nông thôn đồng bộ về kinh tế-văn hóa và xã hội để giảm khoảng cách giữa nội thành và ngoại thành, đặc biệt là về mức sống, hưởng thụ văn hóa

• Tiến hành qui hoạch không gian và kiến trúc nhằm tạo ra một bộ mặt mới cho nông thôn –đô thị hình thành nên các làng nông nghiệp mới Các kiểu cư trú làng đô thị sinh thái, thành phố vườn, thành phố sinh thái, thành phố xanh, làng nghề không ô nhiễm cần được đặc biệt chú trọng trong quá trình đô thị hóa nông thôn Trong các làng này công nghệ sinh học, năng lượng sạch, công nghệ thông tin (IT), công nghệ tự động hóa được khuyến khích áp dụng Đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đảm bảo sự cần bằng sinh thái

• Dành sự quan tâm thích đáng đến phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở nông thôn như điện, đường, trường, trạm, chợ, nhưng các kỹ thuật này phải phù hợp với truyền thống cư trú của người dân

• Đầu tư có trọng điểm và ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp làm thay đổi căn bản sản xuất nông nghiệp theo kiểu tiểu nông truyền thống, giảm dần lúa nước mà chuyển sang trồng các loại cây trái chất lượng cao, nuôi các loại gia súc cao sản hướng đến thị trường hàng hóa quốc tế, tăng cường các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao có sức cạnh tranh trong nước và khu vực

• Chú trọng phát triển các khu vực nông nghiệp trọng điểm có sử dụng kỹ thuật và công nghệ cao, hình thành nên các trung tâm nông nghiệp-dịch vụ kết hợp với du lịch hiện đại, sớm hình thành các khu vực tập trung gồm có các nhà máy chế biến các sản phẩm nông nghiệp địa phương (sữa, trái cây, rau xanh), các vùng rau trái sử dụng công nghệ gene và công nghệ sinh học Chính từ các nhà máy và trung tâm nông nghiệp hạt nhân này sẽ hình thành nên các khu dân cư mới liền kề với các dịch vụ xã hội ngày càng hoàn thiện hơn

• Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, dân trí và học vấn cho nông dân để họ tự quyết định hoạt động kinh tế của mình, trong đó có việc sử

Trang 6

• Văn hóa cấp xã có một tầm quan trọng chiến lược đặc biệt đối với việc phát triển kinh tế và xã hội nói chung của một tỉnh, thành nói chung và của nông thôn trong đô thị nói riêng Nó chính là mục tiêu và động lực phát triển, như thế không nên chỉ dừng lại ở nghị quyết mà cần biến thành hành động thực tế

• Bản thân cán bộ lãnh đạo cấp xã cần thay đổi tư duy của chính mình để xác định vai trò quan trọng của văn hóa cơ sở từ đó có những bước đi thích hợp Thực tế cho thấy chính cán bộ lãnh đạo cấp xã cũng chưa coi văn hóa là động lực quan trọng, trong chừng mực nào đó có thể nói hiện nay văn hóa chỉ như là phần phụ thêm Thực tế cho thấy rằng những xã nào quan tâm đúng mức đến phát triển văn hóa thì sẽ có kinh tế mạnh và tạo ra môi trường XH lành mạnh, đẩy lùi các tệ nạn xã hội

3 Tiến hành cấu trúc lại hệ thống quản lý văn hóa ở cấp xã

Một trong nhận thức sâu sắc của chúng tôi về hệ thống quản lý văn hóa của thành phố nói chung và văn hóa xã nói riêng là có quá nhiều bộ phận có chức năng giống nhau và chức năng của chúng trùng nhau, chồng chéo lên nhau

Theo chúng tôi ở cấp xã có thể cấu trúc lại theo hướng sau đây:

Ở cấp xã cần thành lập nên “Trung tâm văn hóa-thông tin -thể dục

thể thao đa năng” Trung tâm này thực hiện chức năng tổng hợp là đơn

vị quản lý- tổ chức -thực hiện toàn bộ hoạt động văn hóa cấp xã Khi

đơn vị nay ra đời nó sẽ:

Trang 7

• Gom tất cả các hoạt động văn hóa cấp xã về một mối quản lý

• Một số bộ phận tồn tại rất hình thức nay có thể giảm bớt, hoặc ghép lại với nhau theo hướng tinh gọn hơn

• Trung tâm văn hóa đa năng lúc này không chỉ có chuyên viên văn hóa của xã mà còn có thêm một số cán bộ văn hóa khác nữa Các cán bộ này được đào tạo bài bản và chính họ là người quản lý nhà văn hóa của xã (mỗi xã được đầu tư 5 tỷ để xây nhà văn hóa này), duy trì sự hoạt động thường xuyên của nhà văn hóa

4 Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ theo ngành dọc của văn hóa và giữa các ban ngành, các tổ chức chính trị –xã hội trong xã nhằm hỗ trợ cho hoạt động văn hóa cơ sở phát triển

Trong những năm qua công tác phối kết hợp theo ngành dọc và ngang của ngành văn hóa với các ban ngành khác ở cấp huyện và xã đã có những kết qủa khả quan, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển và còn không ít khiếm khuyết như thông tin hai chiếu chưa thật thông suốt, nhiều chỉ đạo từ sở xuống huyện, xuống xã chưa sát với tình hình thực tế, các ban ngành trong một xã chưa có sự phối hợp ăn ý Theo chúng tôi các hoạt động sau đây cần được coi trọng trong thời gian tới:

 Cần tăng cường sự chỉ đạo thống nhất và sát sao giữa thành phố, sở

VH-TT, phòng VH-TT huyện, và ban văn hóa xã

 Tăng cường sự chỉ đạo thống nhất của các bộ phận đối với mô hình ấp văn hóa Có thể nói mô hình ấp văn hóa là một mô hình tốt, được nhiều ban ngành quan tâm, nhưng thực tế cho thấy vẫn còn chưa có sự chỉ đạo thống nhất giữa các bộ phận liên quan đến mô hình này

 Cần có sự thống nhất cao giữa cấp ủy, ủy ban và các ban ngành khác như tài chính, giáo dục trong việc phát triển văn hóa xã sao cho không có mâu thuẫn mà nhất quán trong chỉ đạo, hành động Đặc biệt là giữa ban văn hóa và ban tài chính, giữa cấp xã và cấp ấp

 Cần có sự kết hợp giữa văn hóa với các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội như: hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, hội nông dân trong việc đề ra sáng kiến và thực hiện các

Trang 8

chương trình văn hóa cụ thể ở cấp xã, thôn, ấp Sự thống nhất này sẽ tạo ra sức mạnh tinh thần và huy động được các nguồn lực ở bên trong và bên ngoài xã

 Kết hợp với các tổ chức tôn giáo (chùa, nhà thờ) thực hiện các kế hoạch văn hóa và giáo dục ở địa phương một cách hiệu quả Đặc biệt là các chương trình làm mạnh hóa môi trường xã hội trước ma tuý, mại dâm

5 Tạo sự chuyển biến về chất và lượng cho đội ngũ cán bộ

Một trong số những bức xúc nhất và lo lắng nhất hiện nay là về chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ văn hóa cấp cơ sở Trong giai đoạn hiện nay đội ngũ cán bộ văn hóa vừa thiếu lại rất yếu, trong khi các chương trình phát triển kinh tế –xã hội của thành phố đến năm 2020 lại rất năng nề và có những yêu cầu chuyển biến về chất Trong xu thế đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh như hiện nay, nhất là dân trí tăng lên, hệ thống thông tin rất nhiều và đa dạng thì chắc chắn dội ngũ cán bộ như hiện nay là không thể nào đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý và hoạt động văn hóa Theo chúng tôi đề xuất, có một số công việc sau đây phải làm:

™ Phát triển cán bộ văn hóa cấp xã theo hướng chuyên nghiệp hơn Theo

như ý kiến tự đánh gía của chính cán bộ văn hóa và thực tế nghiên cứu cho thấy các cán bộ văn hóa cấp xã hoạt động rất không chuyên nghiệp, mang tính nghiệp dư rất cao Do vậy bằng nhiều hình thức hỗ trợ khác nhau để nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ này làm sao cho họ tinh thông nghiệp vụ và các kỹ năng văn hóa Tuy nhiên để nâng cao tính chuyên nghiệp thì phải cố gằng giảm thiểu việc luân chuyển cán bộ quá nhanh và quá nhiều, việc thay đổi liên tục như thế rất khó có thể tạo ra được đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ Bên cạnh đó cũng phải nhất quán trong quan niệm về việc xây dựng bộ máy công chức ổn định ở cấp cơ sở Những người làm công chức là những người hoạt động ổn định trong bộ máy hành chính lâu dài và có thể là suốt đời Tình trạng loại bỏ toàn bộ hoặc phần lớn bộ máy hành chính cũ bằng một bộ máy khác khi có một lãnh đạo mới là điều khá phổ biến

ở Việt Nam ở nhiều cấp độ khác nhau Bản thân các cán bộ văn hóa xã (kể cả các vị trí nhân viên khác) cũng không có được tư duy “chức phận”, họ luôn coi công việc mà họ đảm nhiệm chỉ là tạm một thời gian

Trang 9

rồi tìm cách lên các vị trí cao hơn như chủ tịch, phó chủ tịch hay tìm cách về huyện, thành phố

™ Việc đào tạo nâng cao trình độ là yêu cầu của tổ chức và nhu cầu của mỗi cá nhân Để đáp ứng được nhu cầu này cần thiết mở các khóa đào

tạo ngắn hạn về văn hóa cho cả phó chủ tịch văn -xã và chuyên viên văn hóa, những ai có đủ điều kiện về học vấn, sức khoẻ và thời gian nên tạo điều kiện để họ đi học tại chức bằng ngân sách nhà nước

™ Việc tăng cường cán bộ cho cấp xã nói chung và văn hóa nói riêng là cực kỳ cần thiết Số cán bộ này từ nhiều nguồn khác nhau, có thể tăng

cường cán bộ trẻ từ thành phố xuống trong chương trình 1.000 cán bộ nguồn của thành phố, cũng có thể từ các sinh viên mới tốt nghiệp về ngành văn hóa hoặc gần với văn hóa như xã hội học, nhân học Căn cứ vào khối lượng công việc và dân số ở một xã rất lớn, nhiều xã dân số lên đến hàng chục nghìn người, vì vậy việc tăng số cán bộ văn hóa lên thêm ít nhất một người là nhu cầu có thật và cấp bách

™ Gửi thanh niên địa phương là con em của xã đi học hệ ĐH-CĐ về văn hóa theo các chương trình dài hạn sau đó quay về phục vụ địa phương theo cam kết cũng là một phương án cần được tính đến, như thế sẽ đảm bảo được một nguồn cán bộ ổn định và làm việc lâu dài Tuy nhiên các cán bộ lãnh đạo cơ sở cũng cần thay đổi quan niệm về nhân sự, không nhất thiết phải là con em tại chỗ, miễn là các cán bộ này có trình độ và muốn gắn bó lâu dài với địa phương

6 Từng bước cải thiện thu nhập về lương và phụ cấp cho cán

bộ văn hóa

Việc tăng thu nhập sẽ làm cho cán bộ văn hóa gắn bó lâu dài hơn với nghề là cần thiết và cũng thu hút được cán bộ trẻ có trình độ đại học về phục vụ tại cơ sở Nhưng việc tăng lương cho riêng cán bộ văn hóa là không khả thi

vì cán bộ văn hóa cũng là một nhân viên trong hệ thống quản lý Do vậy ở đây chúng tôi chỉ đưa ra hai gợi ý :

Thứ nhất là nên đưa các cán bộ văn hóa vào danh sách hưởng lương theo định suất của chính phủ Do số định suất không nhiều, chỉ có 18 đến 25 định suất, do vậy trong khi lựa chọn đưa vào danh sách được hưởng lương thì thường chuyên viên văn hoá bị xếp vào nhóm hưởng chế độ hợp đồng Việc được hưởng lương của nhà nước cho dù mức lương không cao, nhưng cũng làm cho họ an tâm hơn với công việc vì đã được “chính danh”

Trang 10

Thứ hai là nên có những phụ cấp ngoài lương từ ngân sách thành phố Thực tế cho thấy trong số cán bộ xã thì cán bộ văn hóa được xếp vào loại “chân chạy”, hầu như việc nào cũng cần có mặt họ (nói cho cùng thì công việc nào của xã cũng dính đến văn hóa-xã hội), Nhưng hầu như họ không có khoản phụ cấp nào cho các hoạt động này

Thứ ba, đặc biệt là đối với cán bộ trong ban chủ nhiệm ấp văn hóa, xã văn hóa (chủ nhiệm và phó chủ nhiệm) lâu nay hoạt động tự nguyện, không có lương, không phụ cấp Nhưng có một thực tế là họ đóng góp rất lớn cho phong trào văn hóa xã, ở nhiều xã chính họ được coi là linh hồn, chủ chốt của các phong trào Nếu chủ trương xây dựng mô hình “ấp, xã văn hóa” thành một thiết chế mang tính đại diện và lâu dài ở cấp cơ sở thì đến lúc cần phải tính đến các chế độ đã ngộ kèm theo, chí ít là các phụ cấp cho họ

ở mức động viên tinh thần

7 Nghiên cứu tăng thêm ngân sách cho hoạt động văn hóa cấp xã

Thực tế cho thấy cơ sở vật chất phục vụ văn hóa ở cấp xã quá ít và nghèo nàn Ở trong nội thành việc đầu tư cho cơ sở văn hóa được huy động từ nhiều nguồn khác nhau Ngoài sự đầu tư từ ngân sách nhà nước ra thì chính bản thân nền kinh tế thị trường đã làm cho các thành phần kinh tế tư nhân tham gia đầu tư vào các hoạt động dịch vụ văn hóa tìm kiếm lợi nhuận như các nhóm ca nhạc, các đoàn nghệ thuật tư nhân, các tụ điểm ca nhạc, sân khấu, quán coffee ca nhạc ở khắp các quận nội thành, trong khi đó ở ngoại thành có những xã, huyện hầu như không có một hoạt động văn hóa nào đáng kể, các nhà kinh doanh văn hóa tư nhân không muốn đầu tư vào khu vực không sinh lời này, do vậy trách nhiệm đầu tư vào văn hóa ở các huyện, xã ngoại thành chỉ có thể trông chờ vào nhà nước

Có thể nói thành phố đầu tư khá nhiều vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật với hàng nghìn tỷ đồng cho đường xá, cầu cống, điện, nước nhưng đầu tư cho cơ sở hạ tầng văn hóa qúa ít Trong mục tiêu phấn đấu là mỗi xã phải dành 10 –12% của tổng ngân sách được cấp dành cho văn hóa-TDTT, nhưng thực tế thì trong tổng ngân sách được cấp hàng năm thì phần dành cho hoạt động văn hóa chỉ vào khoảng 1,84% trên tổng ngân sách của toàn xã được cấp trong một năm (dưới 10.000.000 đồng trên 1,2 –1,5 tỷ cho 1 xã) Theo nghiên cứu của chúng tôi thì tính trung bình một người dân ngoại thành được hưởng từ ngân sách cấp cho hoạt động văn hóa vào khoảng 1.200 đồng/người/năm

Trang 11

Phần hỗ trợ thêm qua sở TT-VH không được bao nhiêu, chủ yếu là qua việc cấp sách báo, nhạc cụ, trong khi bản thân kinh phí cấp cho hoạt động của sở VH-TT cũng rất hạn chế

Như vậy, trong chương trình từ nay đến 2010, và 2020 ngân sách thành phố dành cho các hoạt động văn hóa cần tăng thêm lên nữa (ngoài 5 tỷ dành cho xây dựng phần vỏ của nhà văn hóa), trước mắt là dành cho cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật cho nhà văn hóa hoạt động

Ngoài phần kinh phí cố định hàng năm thì nên có những khoản kinh phí

khác cấp cho các hoạt động đột xuất theo đề nghị từ sở VH-TT

8 Đầu tư có trọng điểm, không đầu tư dàn trải

Trong tình hình như hiện nay chúng tôi nhận thấy việc đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất nên lưu ý các điểm sau đây:

• Không nên đầu tư bình quân các huyện xã như nhau (sự khác nhau hiện nay chỉ là theo đầu dân số) mà nên căn cứ vào đề án hoạt động văn hóa cụ thể của mỗi huyện, sau đó là mỗi xã Việc cấp kinh phí như thế sát với tình hình của huyện, xã Những xã, huyện nào có đề án tốt sẽ được cấp kinh phí nhiều hơn, điều này tránh được tình trạng xã hoạt động tích cực và xã ít hoạt động được cấp kinh phí như nhau Hơn thế nữa điều này sẽ làm cho các huyện, xã có ý thức và tích cực hơn trong việc xây dựng đề án phát triển văn hóa cho mỗi năm

• Như trình bày trong nghiên cứu, một thực tế cho thấy các xã có thực trạng kinh tế khác nhau, do nhiều yếu tố khách quan mà các xã gần sát trung tâm thành phố, huyện lỵ và trên địa bàn xã có các nhà máy, khu công nghiệp tập trung thì có kinh tế khá hơn về cả phương diện nhà nước lẫn hộ gia đình Các xã này có điều kiện huy động nguồn lực tài chính trong dân và các nhà tài trợ phục vụ cho dân sinh, một ví dụ điển hình là hệ thống chiếu sáng công cộng của các xã thuộc huyện Củ Chi có được là phần lớn từ nguồn kinh phí hỗ trợ từ các nhà doanh nghiệp

Do vậy theo chúng tôi, trong khi ngân sách nhà nước còn hạn hẹp thì không nên đầu tư dàn trải mà dành nhiều hơn cho các xã ở xa trung tâm thành phố và trung tâm huyện lỵ nơi không có các khu công nghiệp, nhà máy đóng trên địa bàn Thực tế cho thấy nhiều xã của Cần Giờ, Nhà Bè còn rất khó khăn do vậy cần có chế độ ưu tiên dành ngân sách cho các xã này

Trang 12

Theo nghiên cứu của chúng tôi việc TP.HCM dành cho mỗi xã 5 tỷ đồng để xây nhà văn hóa là một cố gắng lớn, nhưng không nên đầu tư cho mỗi xã như nhau Những xã nghèo, dân số ít, phân bố dân cư thưa, phong trào văn hóa còn yếu thì việc xây một nhà văn hóa lớn có thể đưa đến tình trạng lãng phí không phát huy được tác dụng, không có tiền trả cho lực lượng cán bộ làm trong nhà văn hóa (ít nhất là 3 người), không có lực lượng duy trì cho nhà văn hóa hoạt động thường xuyên (do thiếu các cán bộ chuyên nghiệp), không có kinh phí để mời các đoàn văn hóa nghệ thuật Vì nhiều lý do khác nhau, rất có thể những nhà văn hóa này bị bỏ hoang và trở thành nhà kho, xuân thu nhị kỳ mới đỏ đèn Theo chúng tôi thì nên có hai loại hình đầu tư cho nhà văn hóa:

Thứ nhất là những xã lớn (diện tích, dân số) có phong trào văn hóa mạnh thì có thể xây dựng nhà văn hóa phục vụ cho một xã

Thứ hai là xây dựng một cụm văn hóa tổng hợp đa năng có chất lượng cao theo các nhóm xã gần nhau cùng chia sẻ trách nhiệm và hưởng thụ Nhà văn hóa này nên đặt ở nơi giáp ranh hai hoặc ba xã Việc đầu tư theo cụm sẽ mang lại rất nhiều lợi thế Đó là:

9 Với số kinh phí lớn của 2,3 xã hợp lại (khoảng 10-15 tỷ) sẽ tạo ra được một tổ hợp văn hóa thể thao lớn

9 Có thể xây dựng được một đội ngũ cán bộ văn hóa-TT chuyên nghiệp cho các xã từ chính cán bộ của xã, và thu hút các cán bộ giỏi từ các quận nội thành ra bằng kinh phí tiết kiệm được từ công trình nhà văn hóa liên xã và từ đóng góp của các xã

9 Do có sự hợp tác nên chương trình hoạt động của nhà văn hóa liên xã sẽ hoạt động thường xuyên và thu hút được nhân dân

Tuy nhiên việc các nhà văn hóa liên xã này hoạt động tốt còn phụ thuộc vào khả năng hợp tác, đoàn kết, liên kết và điều phối giữa các xã, cũng như cơ chế hoạt động thích hợp nếu không rất dễ rơi vào tình trạng “cha chung không ai khóc”

9 Đưa các kỹ thuật tiên tiến vào quản lý văn hóa và phục vụ hoạt động văn hóa

Một trong số các điểm yếu cần khắc phục sớm của hoạt động văn hóa ngoại thành là các thiết bị kỹ thuật rất lạc hậu, mặc dù về khoảng cách địa lý không xa trung tâm thành phố Công tác quản lý hành chính, nhân sự, dân số, đất đai hiện vẫn trong tình trạng thủ công Việc thay đổi các thiết bị

Trang 13

kỹ thuật, đưa các công nghệ mới vào hoạt động văn hóa là rất cần thiết Theo chúng tôi công việc này có những nội dung sau đây:

• Tin học hóa công tác quản lý hành chính cấp xã nói chung và quản lý văn hóa nói riêng

• Sử dụng các thiết bị kỹ thuật mới phục vụ cho công tác văn hóa ở mức hiện đại hơn như máy fax, hệ thống âm thanh, nhạc cụ hiện đại

10 Đổi mới cách thức xây dựng kế hoạch văn hóa cơ sở

Theo chúng tôi để làm cho chương trình hoạt động văn hóa cấp xã có hiệu quả và phong phú hơn thì nên có những hoạt động bổ xung sau đây:

• Cần phân cấp nhiều hơn cho cấp xã trong việc xây dựng kế hoạch văn hóa hằng năm, ngoài khung chương trình có sẵn của huyện ra thì mỗi xã nên chủ động trong việc xây dựng một chương trình hành động văn hóa riêng cho xã mình dựa trên đặc điểm riêng của từng xã sao cho phong phú, đa dạng và liên tục Khi tự chủ động xây dựng chương trình thì các xã cũng chủ động tìm nguồn tài chính bổ xung thêm ngoài phần mà ngân sách nhà nước cấp hàng năm

• Xây dựng chính sách văn hóa nên bắt đầu từ dưới lên Điều này thể hiện ở chỗ: tham khảo ý kiến từ dưới lên, ưu tiên các nhu cầu văn hóa trọng điểm dựa trên nhu cầu của dân thông qua điều tra xã hội học và căn cứ trên đặc điểm kinh tế-xã hội cụ thể, tránh chủ nghĩa bình quân và mô phỏng như nhau cho các xã Một kinh nghiệm học được từ các xã có văn hóa mạnh là những chương trình nào do người dân được tham gia xây dựng thì bao giờ cũng thành công, vì chính họ vừa là tác gỉa vừa là diễn viên, mà cũng là người đóng góp tài chính đảm bảo cho hoạt động thành công

• Không nên coi văn hóa chỉ là thi đấu thể thao, hội diễn mà nên mở nội dung ra rộng hơn như giáo dục ngoài trường học cho thanh niên, các hoạt động văn hóa khác nhau cho các nhóm tuổi khác nhau, kể cả cho người gìa và trẻ em

• Chính sách văn hóa không nên bó hẹp quanh mấy ngày lễ hội mà nên gắn với việc bảo vệ, tôn tạo các di tích di sản văn hóa, bảo vệ tôn tạo và làm đẹp môi trường, cảnh quan Chẳng hạn như ngày lễ trồng cây xanh, ngày làm sạch môi trường có thể trở thành một sinh hoạt văn hóa thường niên, tương tự như thế các ngày lễ hội tôn giáo cũng có thể biến nó trở thành một loại hình sinh hoạt văn hóa chung của cả cộng đồng

Trang 14

• Về địa chỉ hoạt động văn hóa cũng không nên tập trung chủ yếu (và duy nhất) cho cấp xã như hiện nay, nếu chúng ta coi ấp là đơn vị văn hóa cơ sở thì nên khuyến khích phát triển các hoạt động văn hóa trên địa bàn ấp và cụm văn hóa gia đình (có thể gọi là liên gia văn hóa) Điều này rất có ý nghĩa với các huyện có địa bàn rộng lớn, dân cư thưa thớt ở theo từng chòm nhà cách nhau các khoảng rất xa, chẳng hạn như những hòn đảo, các ấp ở huyện Cần Giờ

• Một điều nữa cũng cần được đề cập đến là trong thời gian qua, các hoạt động văn hóa còn thiên về về bề nổi như hội, lễ, biểu diễn văn nghệ

Do vậy bên cạnh những hoạt động bề nổi thì các hoạt động khác cần được chú trọng như các hoạt động văn hóa theo nhóm nhỏ, chẳng hạn hội thơ của các cụ gìa, hội sinh vật cảnh văn hóa (không nhằm mục đích kinh doanh), nhóm thi kể chuyện sách của trẻ em

11 Củng cố các thiết chế văn hoá chính thức, đầu tư mạnh hơn để làm nòng cốt cho văn hóa xã

Việc xã hội hóa văn hóa một cách rộng rãi là cần thiết, và là xu thế tất yếu, nhưng để cho xã hội hóa văn hóa đi đúng hướng và đều đặn thì thiết chế văn hóa chính thức luôn luôn phải giữ vai trò chủ đạo, chính thống Cùng với việc xã hội hoá văn hóa, mở rộng cửa cho các thành phần kinh tế khác nhau cùng tham gia sáng tạo văn hóa thì phải tăng cường quản lý và kiểm soát nhằm định hướng cho văn hóa xã phát triển đúng hướng và giảm thiểu các hoạt động thiếu lành mạnh Thực tế là các câu lạc bộ, đội nhóm của ấp hay tư nhân không thể mạnh lên nếu như các đơn vị văn hóa cấp xã lại yếu Các đơn vị văn hóa chính thức của xã như đầu tầu kéo các loại hình hoạt động của các thành phần văn hóa khác trên một đường ray pháp lý đã định hình

12 Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức văn hóa dân lập (phi chính qui) phát triển thông qua các chính sách và sự hỗ trợ thích hợp

Để cho loại hình này phát triển hơn nữa, chúng tôi cho rằng:

• Trước hết cần củng cố và định hướng cho mô ấp văn hóa phát triển theo hướng “giảm bớt chính quyền, tăng tự quản” Việc hành chính hóa có nguy cơ làm cho sức sống của loại hình này có phần xơ cứng

• Làm cho các câu lạc bộ phát triển theo chiều sâu và thực chất hơn Không nên mở ra quá nhiều câu lạc bộ mà chỉ nên gom lại một số câu

Trang 15

lạc bộ có thế mạnh của mỗi xã (không nhất thiết xã bên có thì xã nhà cũng phải có)

• Có kế hoạch bồi dưỡng cho các chủ nhiệm câu lạc bộ (các đầu trò) qua các khóa bồi dưỡng ngắn hạn để họ có thể tự quản lý, tự tổ chức và phát huy các sáng kiên nhằm đổi mới các nội dung hoạt động

• Để làm cho các hoạt động văn hóa xã đa dạng, phong phú thì cần có sự trao đổi và cọ sát với các đơn vị bạn Việc trao đổi kinh nghiệm giữa các đơn vị văn hóa với nhau là cần thiết

13 Đa dạng hoá các loại hình văn hóa, tạo điều kiện cho các loại hình văn hóa tư nhân phát triển

Chúng ta có thể khẳng định chính quyền xã không đủ khả năng để phát triển văn hóa cho toàn xã, do ít người, không đủ tài chính, thiếu nguồn lực, như vậy việc khuyến khích, tạo điều kiện cho các loại hình văn hóa tư nhân phát triển là cần thiết Đây không chỉ là chủ trương xã hội hóa văn hóa của đảng, chính phủ mà còn là đòi hỏi từ chính thực tiễn của cuộc sống Trong sự phát triển này thì chính quyền xã đóng vai trò ĐỊNH HƯỚNG, HỖ TRỢ, TẠO ĐIỀU KIỆN

Các loại hình văn hoá tư nhân được đề cập đến ở đây là: cửa hàng truy cập internet, cửa hàng văn hóa phẩm, quầy sách báo, cửa hàng thuê sách báo, cửa hàng cho thuê băng đĩa, quán cà phê văn hóa, quán nhậu văn minh, quán Karaoke lành mạnh, quán coffe ca nhạc, quán ăn hát cho nhau nghe Chính những loại hình này đã đáp ứng được khá nhiều nhu cầu giải trí của người dân nông thôn, nhất là thanh niên Trong khi mà nhà nước không thể bao sân được thì sự tham gia của các loại hình văn hoá nghệ thuật tư nhân là điều nên khuyến khích, nhưng điều quan trọng là phải định hướng và kiểm soát không để các hiện tượng tiêu cực nảy sinh

14 Huy động các nhà doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tư nhân vào phát triển văn hóa cơ sở

Hiện nay, trên địa bàn một số xã có khá nhiều các nhà máy, công ty, các doanh nghiệp có thể huy động họ vào sự nghiệp phát triển văn hóa địa phương Đây là lực lượng rất quan trọng cho việc đóng góp tài chính cho phát triển văn hóa- xã hội cấp xã Tuy nhiên theo chúng tôi để có được tài trợ các xã nên thức hiện các gợi ý có tính chất tư vấn sau đây:

• Xã phải có những đề án văn hóa cụ thể đủ sức thuyết phục và tạo sự tin cậy cho nhà tài trợ

Trang 16

• Phần tài trợ phải được công khai, minh bạch và sử dụng đúng mục đích

• Nên lôi kéo các nhà doanh nghiệp cùng tham gia vào các hoạt động văn hóa - thể dục thể thao - giáo dục như một người “đồng tác giả” hơn là người chỉ có biết chi tiền

15 Khuyến khích người dân, nhất là các mạnh thường quân trong các ấp tham gia khởi xướng các hoạt động văn hóa ở xã do họ tài trợ và chính họ là người được giao quyền tổ chức

Liên quan đến điều này chúng tôi có một vài đề như xuất sau:

• Xã nên hướng dẫn cách thức quản lý và sử dụng tài chính một cách hợp lý Tài chính của các nhà tài trợ và dân đóng góp tuy không quá nhiều nhưng cũng là khoản đáng kể, nếu sử dụng không khéo và thiếu minh bạch sẽ gây mất đoàn kết và sử dụng sai mục đích

• Động viên các mạnh thường quân tài trợ cho hoạt động văn hóa nhưng theo kế hoạch bàn bạc thống nhất, không nên tài trợ theo ngẫu hứng và tuý hứng, như thế có thể làm cho các tham dự viên sinh tật (ngôi sao, tự

do vô tổ chức, coi thường tổ chức và mọi người) Một kinh nghiệm tốt là ban văn hóa xã và các mạnh thường quân nên bàn bạc với nhau từ đầu năm để lên kế hoạch hoạt động cho cả năm, phân bổ thời gian, tài chính và nhân lực hợp lý Việc để cho các mạnh thương quân được quyền tham gia vào việc hoạch định kế hoạch chung cũng như chủ động trong công việc tổ chức, điều hành, tham gia soạn thảo các điều luật thi đấu, phát giải là một kinh nghiệm rất tốt trong việc huy động sức dân và các nhà tài trợ vào các hoạt động văn hóa

16.Tăng cường sự liên kết giữa các trường đại học và cao đẳng trong việc phát triển văn hóa ngoại thành

¾ Giúp đỡ đào tạo cán bộ văn hóa (và cả các lĩnh vực khác như kinh tế, tài chính) theo hệ ngắn hạn và dài hạn có trọng điểm (xây dựng chương trình, lựa chọn nhân sự) phục vụ trực tiếp cho các xã

¾ Hướng việc thực tập của sinh viên đến các xã ngoại thành, kể cả chiến dịch mùa hè xanh Do vậy sẽ rất thuận lợi cho các trường đại học chọn địa bàn ở trong 58 xã làm nơi thực tập và thực tế

¾ Mỗi trường ĐH nhận đỡ đầu một xã, giúp cho xã phát triển toàn diện (trong đó có văn hóa) Các trường đại học giúp các xã xây dựng các thư viện, đài phát thanh, và công tác quản lý hành chính địa phương Đặc

Trang 17

biệt là giúp cho các câu lạc bộ đội nhóm, hội thanh niên, đoàn thanh niên duy trì hoạt động thường xuyên và hiệu qủa

17 Tăng cường quan hệ văn hóa giữa công nhân ở các khu công nghiệp tập trung với thanh niên của xã nhà

Ở các xã có khu công nghiệp và khu chế xuất đóng trên địa bàn không chỉ có lợi thế về kinh tế mà xét về văn hóa thì công nhân công nghiệp là một lực lượng thanh niên khá đông đảo tham gia vào hoạt động văn hóa của địa phương Các cán bộ lãnh đạo cấp xã và các tổ chức chính trị-xã hội nên tạo điều kiện thu hút thành niên công nhân vào các hoạt động văn hóa ở xã như: vệ sinh môi trường, trồng cây xanh, giư gìn anh ninh trật tự, xóa mù chữ cho trẻ em, thi đấu thể thao, giao lưu văn hóa, biểu diễn văn nghệ Theo chúng tôi thì việc tăng cường mối quan hệ giữa công nhân và nhân dân địa phương nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển toàn diện là một hướng cần được ưu tiên và coi trọng ở các xã có các nhà máy, khu công nghiệp đóng trên địa bàn

KẾT LUẬN

Việc nghiên cứu để hoàn thiện các thiết chế văn hóa ngoại thành là một hướng nghiên cứu rất quan trọng Đề tài nghiên cứu này sử dụng một phương pháp nghiên cứu tiếp cận từ dưới lên trên, từ cơ sở đến huyện, thành phố Sau khi khảo sát 25 xã và phỏng vấn hàng trăm cán bộ cấp xã, cũng như tham khảo ý kiến của nhiều cấp, ban ngành có liên quan, chúng tôi đã cố gắng đưa ra các giải pháp nhằm trực tiếp hay hỗ trợ giúp hoàn thiện thiết chế văn hóa ngoại thành trong giai đoạn trước mắt và những năm tới đây

Thành phố Hồ Chí Minh đang có những bước chuyển nhanh chóng trong tiến trình đô thị hóa, 58 xã của 5 huyện ngoại thành cũng đang có những bước thay đổi tích cực 17 giải pháp mà chúng tôi đề xuất chắc chắn là chưa đả và chưa toàn diện, sẽ có những khiếm khuyết trong bối cảnh cụ thể của mỗi xã Tuy nhiên chúng tôi có quyền hy vọng về kết qủa của nghiên cứu khi được đưa vào ứng dụng, đặc biệt là sự nhiệt tình và năng động của sở VH-TT nơi trực tiếp sử dụng sản phẩm nghiên cứu này

Không phải ngẫu nhiên khi mà Trung Quốc đã dành một khoản tài chính lớn và dốc toàn lực cho việc phát triển nông thôn, nhằm cải thiện mức sống, đời sống văn hóa của người dân nông thôn cho đến năm 2010 Đó là

Trang 18

phát triển bền vững khi mà nông thôn còn nghèo đói và lạc hậu, nông thôn sụp đổ sẽ kéo theo các thành phố Đó là mối quan hệ nhân qủa và biện chứng Do vậy việc hoàn thiện cơ chế kinh tế, hoàn thiện thiết chế văn hóa

ở các xã ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh là một hướng phát triển đúng đắn nhằm lập lại sự phát triển cân bằng ở thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều thập kỷ tới

Trang 19

Nghiên cứu hiện trạng và các giải pháp hoàn thiện thiết

chế văn hóa ở các xã ngoại thành tp Hồ Chí Minh

Thành viên trong nhóm nghiên cứu:

Vũ Toản, khoa XHH, ĐH KHXH và NV

Lê Thị Hồng Diệp, TT NC phát triển đô thị và cộng đồng Đào Ngọc Tú, Bộ môn Văn hóa học, ĐH KHXH và NV

Nguyễn Trọng Hùng, Trung tâm NCPT Đô thị và Cộng Đồng

Trang 20

2 Mục tiêu cần đạt đến của đề tài nghiên cứu

3 Ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn của đề tài

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

II Các thao tác nghiên cứu……… 12

1.Qui mô và tính chất của mẫu nghiên cứu

2.Phương pháp nghiên cứu và cách thức tiến hành

PHẦN THỨ HAI: Nội dung và phân tích kết quả nghiên cứu……… 20

Chương I:

Những tiền đề lý luận và một vài đặc điểm của đối tượng nghiên cứu………… 20

1.Các khái niệm làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu

2.Bối cảnh kinh tế-xã hội của các huyện ngoại thành TP.HCM

Chương II: Thực trạng thiết chế văn hoá ở các xã ngoại thành TP.HCM…… 48

1.Cơ chế tổ chức và cơ chế vận hành của thiết chế văn hoá ở các xã ngoại thành

2 Đánh giá hiện trạng các thiết chế văn hoá xã hiện nay

3.Khảo sát về tổ chức và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động văn hoá

Chương III:

Đề xuất các giải pháp hoàn thiện thiết chế VH ngoại thành TP.HCM ………….19

KẾT LUẬN……… ……… …….152 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ….152

Trang 21

CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line): Đường truyền internet băng thông rộng

2 BCHTƯ: Ban Chấp hành trung ương

3 CCB: Chiến binh

4 CLB: Câu lạc bộ

5 CVVH: Chuyên viên văn hoá

6 ĐH KHXH và NV: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

7 ĐH TH: Đại học Tổng hợp

8 ĐTH: Đô thị hoá

9 GĐ: Giám đốc

10 INGO (International non-governmental organization): Tổ chức phi chính phủ quốc tế

11 IT (Information Technology ): Công nghệ thông tin

12 KCN, KCX: khu Công nghiệp, khu Chế xuất

13 Kế hoạch hoá GĐ: Kế hoạch hoá gia đình

14 MTTQ: Mặt trận tổ quốc

15 UBMTTQ: Uỷ ban Mặt trận tổ quốc

16 PCT: Phó Chủ tịch

17 QL: Quản lý

18 TB: Trung bình

19 TBXH: Thương binh xã hội

20 TDĐKXDĐSVH: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá

21 TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

22 TTCN: Tiểu thủ công nghiệp

23 TV: Tivi

24 TW: Trung ương

25 UBND: Uỷ Ban Nhân Dân

26 UNICEF (The United Nations Children’s Fund): Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc

27 VH-NT: Văn hoá - Nghệ thuật

28 VH-TDTT: Văn hoá - Thể dục thể thao

29 VH-TT: Văn hoá – Thông tin

30 VP: Văn phòng

Trang 22

LỜI MỞ ĐẦU

Văn hóa là một trong số những mục tiêu quan trọng nhất trong kế hoạch phát triển của thành phố Hồ Chí Minh không chỉ trong các chương trình ngắn, trung hạn mà cả trong các chiến lược phát triển lâu dài, bởi vì văn hóa vừa là mục tiêu cần hướng đến, vừa là động lực và cội nguồn của sự phát triển Trong văn kiện đại hội đại biểu lần thứ VIII của đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về phần “nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ thành

phố trong 5 năm 2006-2010” có nhấn mạnh:“Phát triển văn hóa của thành

phố theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các gía trị tinh thần mang nét đặc trưng của nhân dân thành phố Tập trung xây dựng môi trường văn hóa đô thị lành mạnh, văn minh, nếp sống thị dân, tôn trọng pháp luật, kỷ cương, tác phong công nghiệp Tiếp tục nâng cao chất lượng phong trào”toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn dân cư”, hướng cuộc vận động về cơ sở, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng người, từng gia đình, từng khu dân cư, từng công sở”1 Để đưa nghị quyết của đảng vào cuộc sống và biến các kế hoạch, chương trình thành hiện thực thì một trong số các nhiệm vụ quan trọng phải tiến hành trước một bước là công tác nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển

khai Đề tài: Nghiên cứu hiện trạng và các giải pháp hoàn thiện các thiết chế văn hóa ở các xã ngoại thành tp Hồ Chí Minh là một trong số các

nhóm đề tài đó

Sau hơn 30 năm thống nhất đất nước và 15 năm đổi mới, các huyện ngoại thành TP Hồ Chí Minh đã từng bước thay da đổi thịt, những thành tựu đổi mới kinh tế và kỹ thuật đã có mặt trong từng thôn xóm, trong từng hộ gia đình Nhưng cuộc sống không dừng lại, mà mỗi ngày lại có những vấn đề mới nảy sinh Do vậy bước vào giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi chúng ta phải có những sách lược mới và những cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng những đòi hỏi cao hơn từ chính cuộc sống

Sau hơn một năm nghiên cứu đến nay đề tài đã hoàn tất, chúng tôi hy vọng kết qủa của đề tài sẽ trả lời được một số câu hỏi cấp bách của lãnh đạo

1Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ VIII của đảng bộ thành phố Hồ Chí

Minh, tháng 12-2005, trang 59

Trang 23

thành phố và các ban ngành có liên quan đến văn hóa và đáp ứng được phần nào những đòi hỏi có tính chiến lược đặt ra cho phát triển văn hóa ở ngoại thành TP Hồ Chí Minh, mà trước hết là liên quan đến thiết chế văn hóa Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng còn có rất nhiều vấn đề khác nữa trong lĩnh vực văn hóa vượt ra khỏi khuôn khổ một đề tài cấp thành phố mà chúng tôi đảm nhiệm, chúng tôi hy vọng những vấn đề này sẽ được tiếp tục nghiên cứu trong các nhóm đề tài khác

Thay mặt nhóm nghiên cứu chúng tôi cám ơn sự giúp đỡ của các đơn vị và cá nhân sau đây đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi hoàn thành công trình này:

• Phòng văn hóa thuộc sở VH-TT, cá nhân ông Nguyễn Quang Vinh (trưởng phòng), bà Đặng Hồng Linh (phó phòng)

• Ban chỉ đạo Nông nghiệp-nông thôn, và ông Nguyễn Thanh Tùng

• UBND và các cán bộ văn hóa của các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Hóc Môn, Cần Giờ, Củ Chi

• UBND xã, cán bộ văn hóa xã và nhân dân của 25 xã ở các huyện ngoại thành mà nhóm nghiên cứu đã thức hiện chương trình nghiên cứu

Thay mặt nhóm nghiên cứu

Nguyễn Minh Hòa

PHẦN THỨ NHẤT

Trang 24

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

I DẪN NHẬP

1 LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Trong chiến lược phát triển của bất cứ quốc gia nào vấn đề phát triển văn hóa bao giờ cũng là một trong số các tâm điểm quan trọng nhất Đảng Cộng Sản và chính phủ Việt Nam luôn dành một sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực này Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có riêng một nghị quyết của hội

nghị TW 5 khóa 8 về văn hóa, trong nghị quyết này khi đề cập đến “thiết

chế văn hóa” nghị quyết có nêu rõ:” Việc xây dựng thể chế văn hóa còn

chậm và nhiều thiếu sót Chính sách xã hội hóa các hoạt động văn hóa chậm được ban hành Bộ máy tổ chức ngành văn hóa chưa được sắp xếp hợp lý để phát huy cao hơn hiệu lực lãnh đạo và quản lý Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu, còn hẫng hụt cán bộ văn hóa ở các vị trí quan trọng

Chính sách khuyến khích và định hướng đầu tư xã hội cho phát triển văn hóa

còn chưa rõ Hệ thống các thiết chế văn hóa cần thiết nói chung bị xuống

cấp và sử dụng kém hiệu qủa

Ở nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng trước đây, đời sống văn hóa còn qúa nghèo nàn”

Tư tưởng này một lần nữa lại được nhấn mạnh trong văn kiện của đại hội

đảng toàn quốc lần thứ X tổ chức vào tháng 4-2006 có nêu rõ: ”Tăng

trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng Cùng với khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố

phát triển chiều sâu Gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển nền tảng văn

hóa, phát triển con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội”

Cũng trong văn kiện này việc phát triển thiết chế văn hóa được nhấn mạnh

“Huy động các nguồn lực vật chất, trí tuệ và sức sáng tạo để đầu tư xây

Trang 25

dựng các công trình và thiết chế văn hóa; có bước đi thích hợp cho từng

Trong văn kiện đại hội đại biểu lần thứ VIII của đảng bộ TP Hồ Chí Minh về phần “nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ thành phố trong 5 năm

2006-2010” có nêu rõ: ”Hoàn thiện quy hoạch, huy động các nguồn lực đầu

tư xây dựng thiết chế văn hóa, chú trọng văn hóa ngoại thành” và “Tạo lập môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, thôn ấp, khu phố, phường-xã” 2 Thực tế phát triển cho thấy đời sống văn hóa của các huyện, xã ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua đã được cải thiện nhiều hơn so với những năm trước đây, xã nào cũng có các câu lạc bộ, đài truyền thanh, thư viện, các đội nhóm văn nghệ Làng xóm không còn hưu quạnh, buồn tẻ nữa, dân cư tăng lên, nhịp sống có phần nhanh hơn, bộ mặt làng xóm đã thay đổi rất nhiều Nhưng nếu so với các quận nội thành thì vẫn còn tồn tại một khoảng cách khá xa và có nguy cơ độ giãn cách này ngày một tăng nhanh hơn, do các quận nội thành phát triển quá nhanh so với ngoại thành Khoảng cách này được thể hiện ra không chỉ ở các chỉ số kinh tế mà cả ở trong văn hóa, đó là ở sự bất bình đẳng về mức thụ hưởng văn hóa, sự tham gia trực tiếp vào các lọai hình văn hóa và mức tiếp nhận đầu tư cho văn hóa (tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ) từ các nguồn khác nhau Điều này không chỉ làm ảnh hướng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố nói chung mà còn tạo ra những khoảng trống xã hội để cho những tiêu cực tồn tại như: tệ nạn xã hội, sự tha hoá trong lối sống ở

2Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ VIII của đảng bộ thành phố Hồ Chí

Minh, tháng 12-2005, trang 59 và trang 84

Trang 26

một bộ phận thanh niên, sự lúng túng trong khi lựa chọn cho mình lý tưởng sống và cũng như việc hình thành nên các thói quen văn hóa và văn minh đô thị Trong khi đó những tiêu cực, và biểu hiện phi văn hóa ở bên ngoài hàng ngày vẫn dội vào thành phố

Do vậy việc nghiên cứu để tìm ra những nguyên nhân nào thuộc về văn hoá làm cho văn hóa của các huyện, xã ngoại thành phát triển chưa tương xứng với tiềm năng để từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm đẩy nhanh hơn nữa việc phát triển văn hóa ở các xã ngoại thành TP HCM là rất cần thiết Một trong những nguyên nhân mà nhóm nghiên cứu chúng tôi theo đuổi là những vấn đề của thiết chế văn hóa, tức là những vấn đề liên quan đến đội ngũ cán bộ, cơ chế chính sách, tổ chức vận hành, sự phối kết hợp với nhau Chúng tôi cho rằng đây chính là vấn đề then chốt và trước tiên cần tác động đến để cải tiến bộ hệ thống văn hóa ngoại thành TP Hồ Chí Minh

Tuy nhiên chúng tôi cần khẳng định rằng mục đích của nghiên cứu này không phải là đi tìm sự phê phán hay truy tìm khuyết điểm của hoạt động văn hóa ngoại thành, hay thực hiện một nghiên cứu đối phó bởi vì đời sống văn hóa của người nông dân có vấn đề như một vài tờ báo nêu ra mà điều chính yếu mà chúng tôi thực hiện nghiên cứu này là vì một nguyên nhân

quan trọng hơn Đó là vì thành phố chúng ta đang bước vào một giai đoạn

phát triển mới cần có những nhãn quan mới và cách tiếp cận mới cho phù hợp với sự biến chuyển xã hội Những đặc trưng mới đó là:

• Chuyển từ đô thị hoá phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu

• Chuyển từ một cơ cấu kinh tế công nghiệp-nông nghiệp-thương dịch vụ sang dịch vụ-thương mại-công nghiệp-nông nghiệp, trong đó dịch vụ sẽ lên đến 67%, lao động nông nghiệp theo hướng giảm dần, lao động kỹ thuật và dịch vụ có chất lượng cao được ưu tiên

mại-• Xây dựng xã hội pháp quyền, xã hội trí thức, và xã hội học tập theo hướng hiện đại và văn minh

Trong kế hoạch phát triển 5 năm của thành phố do sở nông nghiệp và phát

triển nông thôn xây dựng (2006-2010) có ghi rõ mục tiêu phát triển là:”Xây

dựng nền nông nghiệp gắn liền với đặc trưng của một đô thị lớn Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh t6é nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật

Trang 27

nuôi, thủy đặc sản; phát triển mạnh các cây con chủ lực theo hương công nghệ cao” 3

Sự chuyển đổi này trước hết là về mặt kinh tế và cùng với nó là những sự thay đổi về văn hóa Do vậy chúng ta cần phải nghiên cứu để tìm ra những

cơ chế, hình thức tổ chức, biện pháp thích hợp và các bước đi hợp lý về mặt văn hóa cho phù hợp với sự chuyển đổi kinh tế –xã hội này

Như thế nghiên cứu này được thực hiện không chỉ đáp ứng cần thiết cho một yêu cầu cấp bách có tính thời sự trong giai đoạn trước mắt mà còn hướng tới các mục tiêu xa hơn cho sự phát triển bền vững

2 MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐẾN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trước hết nhóm nghiên cứu xác định rõ đây là đề tài nghiên cứu tư vấn và hỗ trợ cho việc lập chính sách liên quan đến văn hóa do vậy mục tiêu

của đề tài là:

- Cung cấp những thông tin tham khảo cho lãnh đạo thành phố và các

cơ quan ban ngành chức năng, đặc biệt là Sở Văn hóa thông tin trong việc hoạch định và thực thi các chính sách văn hóa, các chính sách liên quan đến văn hóa, và để hoàn thiện các thiết chế văn hóa

- Tìm ra những giải pháp khả thi để góp phần phát triển thiết chế văn hóa ngọai thành một cách phù hợp

3 Ý NGHĨA LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Nếu đề tài thành công sẽ góp phần làm phong phú thêm lý thuyết nghiên cứu văn hóa ở khu vực nông thôn trong tiến trình chuyển từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp đô thị

- Những số liệu, sự kiện, luận chứng của công trình có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy cho một số khoa trong các trường đại học và cao đẳng như trường ĐH KH Xã hội và Nhân Văn (khoa văn hóa học, Nhân học, Xã hội học); trường Cao đẳng Văn hóa

3Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn 5 năm (2006-2010) Sở nông

Trang 28

- Đề tài cố gắng để có những khuyến cáo không chỉ ở tầm vĩ mô mà còn cho cả các cán bộ cấp huyện và xã trong việc hoàn thiện, nâng cao thiết chế văn hóa cơ sở

4 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Các huyện xã ở khu vực ngoại thành TP Hồ Chí Minh là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Trên thực tế có khá nhiều đề tài nghiên cứu về ngoại thành như:

1 Đề tài “ Thực trạng và các giải pháp chính sách giáo dục huấn

nghiệp, tạo việc làm cho thanh niên vùng đô thị hóa mới TP Hồ Chí Minh 2001-2005” Đề tài nghiên cứu cấp thành phố của TS

Trần Đình Thêm

2 “Sự thích ứng văn hóa của cư dân ven đô trong qúa trình đô thị

hóa-trường hợp xã Tân Tạo, huyện Bình Chánh” Đề tài nghiên

cứu của khoa Xã hội học, Trường ĐH KH xã hội và Nhân Văn,

2000 do qũi Ford tài trợ

3 “Nghiên cứu đời sống nông dân ở phía bắc thành phố Hồ Chí

Minh” TS Nguyễn Minh Hòa thực hiện trong khuôn khổ nghiên

cứu của dự án do Ngân Hàng phát triển Châu Á tài trợ 1996

4 “Định hướng nghề nghiệp cho thanh niên ngoại thành TP.Hồ Chí

Minh trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa” 2003 Đề tài

nghiên cứu của trường ĐH KHXH và NV, TS Nguyễn Minh Hòa làm chủ nhiệm đề tài

5 Sách: “Phát triển nông thôn (tiếp cận xã hội học)” của PGS Đỗ

Thái Đồng, do NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh ấn hành

2001

6 Đề tài: “Đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên nông thôn

ngoại thành ở huyện Củ Chi-TP Hồ Chí Minh: Thưc trạng và một

Trang 29

số kiến nghị” Đề tài của trường ĐH KHXH và NV Chủ nhiệm

ThS Phan Thanh Định, 1999

7 Đề tài cấp thành phố “Những gía trị văn hóa đô thị cơ bản của TP

HCM” của PGS TS Tôn Nữ Quỳnh Trân 2004

8 Đề tài cấp thành phố “Thu hẹp khoảng cách mất cân đối giữa tốc

độ ĐTH với qúa trình thị dân của nông dân ngoại thành TP HCM” do ThS Lê Văn Năm thực hiện 2005

9 Đề tài cấp thành phố “Aûnh hưởng văn hóa nghe nhìn lên đời sống

giới trẻ tại TP HCM” do TS Đỗ Nam Liên làm chủ nhiệm, 2004

10 “Sự chuyển biến của một số xã thuộc huyện Bình Chánh trong qúa

trình phát triển theo hướng đôâ thị hóa” Đô thị hóa tại Việt Nam

và Đông Nam Á NXB Thành phố Hồ Chí minh.1996.Tr.127

Nói chung các đề tài nghiên cứu này ít nhiều có liên quan đến ngoại thành, nhưng cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về thiết chế văn hóa cơ sở ở các huyện, xã ngoại thành TP Hồ Chí Minh một cách đầy đủ Đặc biệt là chưa có một tác gỉa nào nghiên cứu sâu về các thiết chế văn hóa phi chính thức ở các xã ngoại thành TP Hồ Chí Minh mà đề tài coi là một trong số các tiêu điểm quan trọng cần hướng đến Như vậy, có thể xem đây như là một đề tài nghiên cứu còn khá mới mẻ về cả đề tài lẫn phương pháp nghiên cứu theo hướng ứng dụng triển khai

II CÁC THAO TÁC NGHIÊN CỨU

1 QUI MÔ VÀ TÍNH CHẤT CỦA MẪU NGHIÊN CỨU

Ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh có 5 huyện, bao gồm 58 xã với

410 ấp và 5 thị trấn, Tổng số dân khoảng 1,1 triệu, Tổng diện tích là: 1.520 km 2 (huyện Bình Chánh: 204,5 km2; huyện Hóc Môn: 109,5 km2; huyện Củ Chi: 428,6 km2; huyện Cần Giờ: 680,6 km2; huyện Nhà Bè 96,24

km2)

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát tổng số 25 xã / 58 xã (chiếm tỷ lệ 43%) Chúng tôi không nghiên cứu các thị trấn vì thị trấn của các huyện tương đối

Trang 30

Huyện Bình Chánh gồm các xã: (6 xã thuộc diện nghèo)

1 Xã Tân Nhật (xã nghèo)

2 Xã Phong Phú (xã nghèo)

3 Xã Lê Minh Xuân (xã nghèo)

4 Xã Tân Kiên

5 Xã Phạm Văn Hai (xã nghèo)

6 Xã Bình Lợi (xã nghèo)

7 Xã Qui Đức (xã nghèo)

Huyện Hóc Môn gồm các xã:

1 Xã Tân Xuân

2 Xã Nhị Bình

3 Xã Xuân Thới Sơn

4 Xã Tân Hiệp

5 Xã Xuân Thới Thượng

6 Xã Xuân Thới Đông

Huyện Củ Chi gồm các xã:

1 Xã Thái Mỹ (đăng ký là xã văn hóa, xã hai lần anh hùng)

2 Xã Tân An Hội

3 Xã Phạm Văn Cội (xã đăng ký là xã văn hóa)

4 Xã Tân Thông Hội

5 Xã Tân Thạnh Tây (xã đăng ký là xã văn hóa)

6 Xã Nhuận Đức Huyện Nhà Bè gồm các xã: (3 xã thuộc diện nghèo)

1 Xã Long Thới (xã nghèo)

2 Xã Nhơn Đức (xã nghèo)

3 Xã Phước Lộc (xã nghèo)

Huyện Cần Giờ gồm các xã: (3 xã thuộc diện nghèo)

1 Xã An Thới Đông (xã nghèo)

2 Xã Bình Khánh (xã nghèo)

Trang 31

3 Xã Long Hòa (xã nghèo)

Tổng dân số của 25 xã của mẫu nghiên cứu là 330.590 người chiếm tỷ lệ 31% trên tổng dân số ngoại thành

Các xã này được chọn dựa trên các tiêu chí sau:

Nhóm 1 là các xã có đặc điểm như sau:

¾ Về kinh tế thì đây là xã nghèo so với các xã khác còn lại trong 5 huyện

Các xã này có thu nhập thấp, thường là có khó khăn về canh tác như đất trũng, úng (Cần Giờ); độ phèn cao (Nhà Bè, Bình Chánh), hoặc đất thiếu nước khô hạn (Củ Chi, Hóc Môn) Theo chuẩn nghèo mới của thành phố Hồ Chí Minh xác định từ 2005 là 6.000.000 đ/người/ năm (khoảng 500.000 đ/ người/ tháng) với khu vực ngoại thành thì các xã này có tỷ lệ hộ nghèo khá cao vào khoảng 12-15% (không còn hộ đói)4, các xã này nằm trong diện 20 phường xã nghèo của thành phố (có ý kiến đề nghị chuyển cách gọi là các xã khó khăn thay vì gọi là xã nghèo) Tính trên tổng mẫu nghiên cứu thì xã nghèo là 9/24 chiếm tỷ lệ 38%, tính trên 20 phường xã nghèo toàn thành thì chiếm tỷ lệ là 45% Tuy nhiên cần nói rõ thêm là các xã này không còn nghèo đói tính theo tiêu chí rổ lương thực5/ đầu người nữa mà bắt đầu nghiêng theo các tiêu chí về dinh dưỡng, gíao dục, chăm sóc y tế và văn hóa

¾ Về vị trí địa lý, các xã này hầu hết thuộc vùng sâu vùng xa so với trung

tâm thành phố và cũng thường xa thị trấn là các trung tâm của huyện lị Mặc dù đã có những sự đầu tư đáng kể vào giao thông, nhưng các xã này không nằm gần các trục đường giao thông cho nên nhiều xã phương tiện đi lại chủ yếu vẫn là xe ôm, xe máy cá nhân hay bằng thuyền (Cần Giờ)

¾ Về cơ cấu nghề nghiệp Đây là các xã thuần nông, chủ yếu là chăn nuôi

và trồng trọt, đặc biệt là không có các khu công nghiệp, khu chế xuất hay là các cụm nhà máy tập trung mà chỉ có các cơ sở sản xuất công

4 Theo chuẩn nghèo cũ thì tỷ lệ nghèo của các xã này là dưới 10%

5 Rổ lương thực là khái niệm quốc tế (food basket) nhằm chỉ số tiền mà người dân phải chi ra cho việc mua lương thực cơ bản duy trì cuộc sống là lương thực (gạo, bắp, đậu, mì), thực phẩm (thịt, cá, rau, củ) và các phụ phí khác( nước, muối, dầu

Trang 32

nghiệp tư nhân phục vụ nông nghiệp ở qui mô rất nhỏ Hầu như hoạt động thương mại và dịch vụ còn rất nhỏ chỉ mới ở qui mô gia đình và chiếm tỷ trọng thấp (dưới 2% trong tổng số hộ gia đình), ngay việc bán hàng tạp hóa cũng không nhiều do nhu cầu tiêu dùng chưa cao

¾ Về văn hóa So với các xã khác thì các xã này chưa mạnh về hoạt động

văn hóa Dấu hiệu cho biết là các xã này không đăng ký là xã đạt chuẩn văn hoá, các phong trào văn hóa của xã còn trầm lắng, mức đầu

tư của xã cho văn hóa cũng như công tác xã hội hóa văn hóa còn thấp

Nhóm 2 là các xã có đặc điểm sau:

¾ Các xã này có kinh tế khá, thu nhập cao hơn, thường là không có các hộ nghèo theo chuẩn mới của thành phố Hồ Chí Minh, hoặc nếu có thì tỷ lệ rất thấp (dưới 3%) Tỷ lệ hộ bán đất và nhận đền bù giải tỏa từ các dự án công nghiệp khá cao, nhiều hộ gia đình khá giả, nhiều nhà xây kiên cố

¾ Có cơ cấu kinh tế đa dạng, có hoạt động nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, công nghiệp và thủ công nghiệp Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo

xu hướng tăng công nghiệp, dịch vụ và giảm nông nghiệp, nông nghiệp cũng thay đổi theo hướng chuyên canh cây trồng vật nuôi

¾ Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật khá tốt, các tiêu chí như: điện, đường, trường, trạm y tế, chợ đều được đầu tư đầy đủ Điện được kéo đến từng hộ gia đình, đường làng, cầu cống được làm bằng betton vững chắc, chợ búa rất nhộn nhịp

¾ Các xã này ở gần các thị trấn, các khu công nghiệp, khu chế xuất và các nhà máy tập trung Dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là số lượng đông đảo các thanh niên mặc đồng phục của các nhà máy vào buổi sáng vào

ca và buổi chiều tan tầm, cũng như rất nhiều các cửa hàng dịch vụ mọc lên phục vụ cho hàng ngàn công nhân công nghiệp Đây là một ưu thế của các xã này không chỉ trong kinh tế mà còn cả trong văn hóa do huy động được sự hỗ trợ từ các cơ sở kinh tế đóng trên địa bàn

¾ Các xã này hầu hết có đăng ký là xã văn hóa, có phong trào văn hóa mạnh, đặc biệt là phong trào văn hóa của các tổ chức văn hóa dân lập (tổ chức phi chính thức) phát triển rất mạnh Mức đầu tư kinh phí cao hơn hẳn so với các xã thuộc nhóm một

Trang 33

Như thế ngoài phần lớn trong 16 xã trong diện nghèo (theo danh sách của Ban xóa đói giảm nghèo thành phố), nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu ở một số xã thuộc diện khá gỉa và có phong trào văn hóa mạnh (đăng ký là xã văn hóa) Cách thức chọn này sẽ cho phép nhóm nghiên cứu thực hiện được phương pháp so sánh giữa các xã khác nhau trong các bối cảnh kinh tế - văn hóa khác nhau

Khi chọn mẫu chúng tôi đã có tham khảo thêm ý kiến của các cán bộ phòng văn hóa thuộc sở VH - TT và phó chủ tịch văn xã của các huyện, đặc biệt là ý kiến góp ý của các chuyên gia văn hóa

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁCH THỨC TIẾN HÀNH

Cuộc nghiên cứu diễn ra trên sáu hình thức:

Thứ nhất, phỏng vấn sâu theo bảng hỏi với 16 câu về nhân học xã hội và

25 câu có nội dung liên quan trực tiếp đến cuộc nghiên cứu

Có 4 loại bảng hỏi được sử dụng trong cuộc nghiên cứu này:

• Bảng hỏi thứ nhất dành cho phó chủ tịch phụ trách văn xã

• Bảng hỏi thứ hai dành cho chuyên viên văn hóa xã

• Bảng hỏi thứ ba về các cơ sở vật chất, tài chính của xã,

• Bảng hỏi thứ tư được sử dụng ngay trong buổi hội thảo như là các thông tin bổ xung sau khi các đại biểu cấp huyện và xã thảo luận với nhau về các giải pháp do nhóm nghiên cứu đề xuất

• Bảng hỏi thứ năm dành cho nghiên cứu bổ xung sau nghiệm thu giữa kỳ

Các cuộc phỏng vấn của bảng hỏi thứ nhất và thứ hai chủ yếu diễn ra tại văn phòng UBND xã và tại văn phòng văn hóa xã/ấp

Cuộc phỏng vấn thứ ba được thực hiện tại thực địa theo phương pháp quan trắc, quan sát và đếm đầu theo từng hạng mục như sân khấu, thư viện, đài phát thanh, nhà bưu điện-văn hóa, văn phòng ấp văn hóa

Bảng hỏi thứ tư thực hiện tại hội thảo với 45 cán bộ văn hóa cơ sở (xem các bảng hỏi có ở phần phụ lục)

Tổng số người trong diện phỏng vấn sâu:

- Phó chủ tịch phụ trách văn xã: 24 (49%)

- Chuyên viên phụ trách văn hóa: 25 (51%)

- Ngoài ra còn có 5 trưởng hoặc phó phòng văn hóa huyện

Trang 34

Một số các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện với những người dân tham gia hoạt động văn hóa không trong biên chế (mỗi xã 2-3 người) như các tổ trưởng ấp văn hóa, chủ nhiệm các câu lạc bộ, tổng khoảng 40 người trong diện phỏng vấn này

Thứ hai, tổ chức các cuộc thảo luận nhóm bổ xung với người dân ở 2 địa

điểm của xã Thái Mỹ huyện Củ Chi ( 12 người) và xã Xuân Thới Thượng huyện Hóc Môn (15 người) để nhận được sự góp ý của nhân dân về các giải pháp của nhóm nghiên cứu đề xuất Những thông tin này rất bổ ích cho việc hoàn thiện các giải pháp có tính khả thi

Thứ ba, tiến hành quan sát thực địa, chụp ảnh thực tế, đo đạc diện tích,

đếm đầu hiện vật (sách, băng đĩa, nhạc cụ) bằng cách đưa nhóm nghiên cứu tỏa đi khắp xã để khảo sát các cơ sở văn hóa của xã như: bưu điện văn hóa, văn phòng ấp văn hóa, các văn phòng của các câu lạc bộ, các điểm internet, các điểm cho thuê băng đĩa,v.v Các kết qủa nghiên cứu được ghi chép lại bằng ghi âm và bảng mẫu theo qui ước ( xem phụ lục)

Thứ tư phỏng vấn nhanh có định hướng các trưởng phó phòng văn hóa của

các huyện (5 người), cán bộ văn hóa ấp văn hóa, các chủ tiệm cho thuê băng đĩa, điểm internet, các chủ quán cà phê điểm sáng văn hóa và chủ nhiệm các câu lạc bộ (khoảng 40 người)

Thứ năm, tổ chức hội thảo khoa học Hội thảo được tổ chức tại sở VH-TT

vào ngày 21-9-2005 với sự tham gia của 55 người, trong đó có 25 phó chủ tịch xã phụ trách văn hóa, 10 cán bộ là trường, phó phòng vắn hóa, giám đốc nhà văn hóa của các huyện và một số cán bộ của sở VH-TT, trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn TP HCM, và các nhà khoa học hiểu biết về lĩnh vực này Chủ tọa của tọa đàm là bà Nguyễn Thế Thanh, phó GĐ sở VH-TT, Ông Nguyễn Quang Vinh trưởng phòng văn hóa (sở VH-TT), và PGS TS Nguyễn Minh Hòa chủ nhiệm đề tài nghiên cứu

Thứ sáu, ban chủ nhiệm đề tài đã đưa các cán bộ nghiên cứu tham gia vào các hoạt động thực tiễn ở các cấp độ khác nhau Trong thời gian nghiên

cứu, chúng tôi đã tham gia một số các hoạt động văn hóa liên quan đến đề tài:

Tham gia hội nghị sơ kết công tác xây dựng xã văn hóa trên địa bàn TP Hồ Chí Minh tổ chức tại huyện Củ Chi ngày 11-8-2004 Hội nghị tổng kết

10 năm cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở

Trang 35

khu dân cư” (1995-2005) ngày 22-04-2005 tại TP HCM Hội thảo “Các tiêu chí xây dựng quận Văn Hóa” tổ chức tại quận 4, ngày 16-08-2005

Thứ bảy, tiến hành toạ đàm và trao đổi với các chuyên gia có liên quan đến đề tài Cụ thể là có 4 lần toạ đàm với cán bộ của sở VH-TT tại sở VH-

TT và mời các chuyên viên của sở đến nhà trường báo cáo; gặp gỡ và trao đổi với các chuyên gia về văn hóa của trường ĐH KHXH và NV, của trường ĐH văn hoá của bộ VH-TT

1 CÁC KHÁI NIỆM LÀM CƠ SỞ CHO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong phần này chúng tôi muốn thao tác hóa một số khái niệm cơ bản để làm cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu6 Một số khái niệm sẽ được phân tích trong bối cảnh cụ thể của xã hội Viêt Nam để phù hợp với nghiên cứu

6Thao tác hoá khái niệm là yêu cầu bắt buộc của nghiên cứu xã hội ứng dụng nhằm mục đích tách từ một khái niệm lớn hay một nhóm các khái niệm ra các chỉ số, chỉ báo, thang đo và các nội dung chủ yếu theo bối cảnh kinh tế-xã hội để cho mọi người tham gia nghiên cứu và người đọc hiểu về một khái niệm như

Trang 36

1.1 Khái niệm về thiết chế và thiết chế văn hóa

• Thiết chế (insititution): theo từ điển tiếng Việt thì thiết chế và thể

chế được hiểu như nhau, trong khi tra cứu từ “thể chế” sẽ được chỉ dẫn xem “thiết chế” và ngược lại Các định nghĩa sau đây được trích dẫn từ các nguồn tài liệu khác nhau Theo Nguyễn Lân, tác gỉa của Từ điển từ và ngữ Việt Nam (NXB TP HCM 1998, trang 1717-1718;

1733) có viết:”Thể chế (thể: cách thức, chế: phép định ra) còn thiết

chế (thiết là sắp đặt, chế: định ra, đặt ra)”; Theo từ điển tiếng Việt

của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (NXB Trung tâm Từ

điển ngôn ngữ, Hà Nội 1992, trang 916; 926) có định nghĩa:”Thể chế

(dùng như thể chế) là những qui định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo” Trong từ điển tiếng việt (in lần thứ

ba) do Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm biên soạn (NXB Khoa học xã

hội, Hà Nội 1994, trang 745) có viết:”Thể chế còn gọi là thiết chế: là

toàn bộ cơ cấu xã hội do luật pháp tạo nên”

Như thế thiết chế và thể chế xã hội ở đây được định nghĩa ở tầm xã hội vĩ mô mang tính tổng quát mà không xác định trong một bối cảnh cụ thể nào hay một hoạt động xã hội nào

Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng có thể hiểu thiết chế là thuộc tính về cơ cấu tổ chức, bộ máy vận hành, cấu trúc hệ thống (structure), còn thể chế được hiểu là các chính sách, chế độ, nguyên tắc do bộ máy đó ban hành ra (policies) (ý kiến của GS Bùi Khánh Thế)

Trong từ điển Xã hội học của G.Endruweit và G.Trommsdorff7 có định nghĩa “thể chế” và “thiết chế” (institution) trong cùng một ý nghĩa như nhau Mặc dù các tác gỉa định nghĩa theo chiều kích của xã hội học, nhưng họ vẫn tập trung để phản ánh rằng: “ Nói một cách tổng quát chúng (tức các thể chế/thiết chế) chỉ ra những điểm trong khả năng, đồng thời điều chỉnh (a) việc tái sinh (gia đình, họ hàng), (b) việc truyền thụ những năng lực, kĩ năng và kiến thức chuyên biệt (giáo dục, đào tạo), (c) việc cung cấp về thực phẩm và hàng hóa (kinh tế), (d) sự giữ vững trật tự xã hội, hiện hành về bên

trong và bên ngoài (thống trị, chính trị), (e) việc đính hướng hành

7 Từ điển Xã hội học Nhà xuất bản Thế giới 2004 trang 472-473

Trang 37

động trong khuôn khổ các quan hệ gía trị (văn hóa, biểu tượng văn hóa)

• Trong các gíao trình của các nước phát triển, chẳng hạn như ở Mỹ và Canada thì thiết chế được hiểu một cách đa dạng hơn Trong tác phẩm “xã hội học nhập môn” (Introduction to Sociology) của hai nhà khoa học Mỹ ở trường ĐH TH Michigan là GS.TS Bruce J Cohen và GS.TS Terri L Orbuch có viết

“Thiết chế là một hệ thống các qui tắc, giá trị và cơ cấu tổ chức

nhằm hướng tới một mục đích xác định”8 Ở các nước phương Tây năm thiết chế thường được nhắc tới là: thiết chế chính trị, tôn giáo, giáo dục, gia đình, kinh tế Trong mỗi lĩnh vực cụ thể thì khái niệm thiết chế lại được thao tác hóa ra với các chỉ số, chỉ báo, đặc trưng riêng Trong quan niệm của các nước phương Tây thì hoạt động văn hóa không tách rời ra một cách độc lập mà có mặt trong tất cả các thiết chế, có nghĩa là trong bản thân tôn giáo, giáo dục, chính trị, gia đình, kinh tế đã có văn hóa rồi Nhưng điều quan trọng nhất rút ra được ở đây là thiết chế nào

cũng có hai phần: một là các nguyên tắc, gía trị và thứ hai cơ cấu

tổ chức Chúng ta cần khẳng định về nguyên tắc bất cứ một thiết

chế hay thể chế nào cũng phải gắn với một loại hình tổ chức, không bao giờ và không thể nào có một thiết chế tồn tại phi tổ chức, phi cấu trúc (non-structure) nếu thiết chế đó muốn tồn tại trong một xã hội được định danh, và bất kỳ một tổ chức nào được coi là thiết chế cũng sẽ có (một cách tất yếu và tự nhiên) các nguyên tắc, tiêu chuẩn gía trị, và chức năng

• Ở Việt Nam, khái niệm thiết chế văn hóa và cơ cấu tổ chức của nó có một ý nghĩa rất đặc biệt Ở Việt Nam, Lào và Trung Quốc (có thể có một vài quốc gia khác nữa), hoạt động văn hóa (hiểu theo cả nghĩa tổ chức lẫn hành động) được tách ra thành một hệ thống riêng biệt bao gồm nhiều tổ chức, đơn vị hoạt động hướng tới thực hiện các chức năng thuộc về văn hóa Theo tổ chức của thiết chế này trong hệ thống của Đảng Cộng Sản thường có Ban văn hoá- Tư tưởng Trung ương, sau đó là tới các ban văn hóa- tư

Trang 38

tưởng của cấp Tỉnh, thành Trong hệ thống của chính phủ thì có bộ văn hóa-thông tin và các tổ chức phụ thuộc theo ngành dọc từ cấp bộ đến tỉnh thành, quận huyện, phường xã Các tổ chức này đều có tên gọi thống nhất là sở văn hóa thông tin (cấp tỉnh), phòng văn hóa thông tin (cấp huyện), chúng có chức năng như nhau chỉ khác về qui mô và cấp độ Ngoài ra có các trường đào tạo chuyên nghiệp về văn hóa ở bậc đại học, cao đẳng và trung học Hệ thống tổ chức văn hóa này (Đảng và chính quyền) sẽ xây dựng và ban hành các chính sách văn hoá dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn tuỳ thuộc vào quyền hạn và chức năng của mình Như thế ở Việt Nam, do đặc thù của mình mà các hoạt động văn hóa trở thành một thiết chế rất quan trọng và tồn tại tương đối đôc lập Trong trường hợp này thì rõ ràng thiết chế hay thể chế văn hóa được hiểu gần như là trùng khớp lên nhau

Trong các văn bản chính thức của Việt Nam, thiết chế văn hóa được

hiểu là “toàn bộ các hoạt động văn hóa tư tưởng có tổ chức trong khuôn khổ

của hiến pháp và pháp luật” Tuy nhiên trong thực tế xã hội quan niệm

“thiết chế văn hóa” trong nhiều trường họp được hiểu một cách hạn hẹp hơn, chẳng hạn trong các văn bản của bộ VH-TT, sở VH-TT thường sử dụng những cụm từ như “thiết chế nhà văn hóa”, “thiết chế văn hóa ngoại thành”, “thiết chế văn hóa cơ sở” “thiết chế nhà văn hóa-thể dục thể thao” Qua các văn bản của Bộ VH-TT và sở VH-TT thành phố Hồ chí Minh và các phòng văn hóa-TT của huyện cũng như các xã đã cho thấy việc sử dụng khái niệm “thiết chế văn hóa” không nhất quan nhau, trong nhiều trường hợp làm cho chúng ta hiểu thiết chế như là một “tổ chức vật chất cứng” thiên về hình thể chẳng hạn như “thiết chế nhà văn hóa”, “thiết chế thư viện” hay “thiết chế văn hóa đội nhóm” mà không thấy các phần khác trong thiết chế xuất hiện như sự điều phối, sự kết nối Chẳng hạn trong tài liệu “sơ kết công tác xây dựng xã văn hóa trên địa bàn TP HCM”

của sở VH-TT lưu hành ngày 11-8-2004 có ghi rõ:”Về hệ thống thiết chế

văn hóa: thống nhất cần phải có hệ thống thiết chế văn hóa-thể thao đồng bộ ở cấp xã, phường, thị trấn như: nhà văn hóa, sân bãi thể dục thể thao, trạm (đài) truyền thanh, phòng đọc sách, điểm bưu điện văn hóa xã, cụm cổ động, bảng tin…Các thiết chế trên được xây dựng củng cố và từng bước hoàn thiện về số lượng và không ngừng nâng cao chất lượng”

Trang 39

Tập hợp các văn bản các cấp đã ban hành và qua thảo luận chúng tôi nhân thấy có thể hiểu khái niệm “thiết chế văn hóa” trong các trường hợp sau9:

- Nó là bộ phận vật chất quan trọng đảm bảo cho hoạt động văn hóa được thực hiện Bộ phần này thường được gán cho là thiết chế văn hóa như nhà văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, khu vui chơi giải trí, nói một cách khác thì đó là bộ khung vật chất

- Bộ máy tổ chức khung cho một đơn vị văn hóa chuyên biệt như cán bộ, nhân viên làm việc trong lĩnh vực văn hóa, trong khi liệt kê các thành phần của thiết chế văn hóa thì con người được nhắc đến như một bộ phận hữu cơ Chẳng hạn chúng ta có thể đọc thấy trong các thông báo hay văn bản gửi các phường, xã có nội dung như “các đồng chí hoạt động trong thiết chế …”

- Các chính sách, qui định mà các cơ quan văn hóa có thẩm quyền ban hành, chẳng hạn “ chính sách xây dựng nhà văn hóa cấp xã”

Có thể nói các khái niệm về thiết chế văn hóa chưa có sự thống nhất và nhận thức khác nhau về nội hàm của khái niệm Chúng tôi nhận thấy nếu

sa vào những định nghĩa rắc rối và đầy mâu thuẫn này thì đề tài sẽ bị bế tắc và lạc hướng Do vậy trên cơ sở lý thuyết chung và thực tế của Việt Nam chúng tôi cho rằng thiết chế văn hóa ít nhất là bao gồm những thành tố sau:

- Cán bộ, nhân viên hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa với các đặc

tính nhân học-xã hội (độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp, địa bàn cư trú, điều kiện sống và làm việc, thu nhập, tình trạng hôn nhân)

- Cấu trúc của tổ chức mà con người làm việc trong đó, điều này thể

hiện ra ở các bộ phận của tổ chức như số lượng, qui mô, cách thức xắp xếp, mạng lưới phân bố theo theo chiều dọc và chiều ngang, các tầng nấc lớp lang theo từng phân đoạn Các tổ chức bên trong và bên ngoài, các tổ chức chính thức và không chính thức

- Cơ chế vận hành, các nguyên tắc hoạt động của hệ thống Ở đây

được hiểu là các nguyên tắc làm việc, qui chế, chính sách, chế độ Chẳng hạn các nguyên tắc vận hành thường được nhắc đến như

9 Xem các tài liệu và văn bản của ngành văn hóa thông tin; các tài liệu về “toàn

Trang 40

- Điều kiện vật chất đảm bảo cho thiết chế đó tồn tại và phát triển

Điều kiện vật chất được đề cập đến trong thiết chế văn hóa chính là kinh phí hoạt động (tài chính), cơ sở vật chất (nhà văn hóa, thư viện, sách, nhạc cụ, dụng cụ, mặt bằng,v v )

Như vậy trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ sử dụng các khái niệm và nội dung các khái niệm đã được địa phương hóa nhằm phản ánh đúng với bối cảnh kinh tế-xã hội mà các “thiết chế văn hóa” đang vận hành Có thể có một vài khía cạnh chưa thật đúng với nội dung “hàn lâm” so với các định nghĩa trong các từ điển, nhưng chúng tôi thấy cần thiết thao tác như vậy để đảm bảo cho nghiên cứu được triển khai và điều quan trọng nhất là để cho mọi người cùng hiểu như nhau về nội dung của một (hay một nhóm) khái niệm Việc triển khai nghiên cứu theo hướng này mới có hy vọng thu nhận được những thông tin cần thiết phục vụ cho thực tiễn

1.2 Các khái niệm khác có liên quan

Trong nghiên cứu này có một số khái niệm phụ cần phải làm rõ, những khái niệm này được đưa vào nghiên cứu do yêu cầu của thực tiễn, hơn thế nữa các khái niệm chính của thiết chế văn hóa sẽ được làm sáng tỏ hơn khi các khái niệm phụ trợ này được đưa vào trong nghiên cứu Có thể hiểu các khái niệm này như là phần mở rộng của các khái niệm trung tâm

• Các tổ chức văn hóa không chính thức

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có một lực lượng tiềm năng tham gia rất hữu hiệu vào hoạt động văn hóa cấp cơ sở Đó là các câu lạc bộ, các đội nhóm văn hóa do người dân lập ra, các tổ chức này đóng góp rất nhiều vào đời sống văn hóa ở nông thôn, góp phần làm thay đổi đáng kể bộ mặt văn hóa ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh Trên thực tế chưa có một đề tài nào nghiên cứu về loại hình này và chưa có những

Ngày đăng: 28/10/2018, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w