SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT BẮC SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT BẮC SƠN SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH, BẢO V
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT BẮC SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT BẮC SƠN
SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC ĐỂ SẢN XUẤT
PHÂN HỮU CƠ VI SINH, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
VÀ CẢI TẠO ĐẤT
Người thực hiện: Lưu Thị Hằng Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Công nghệ NN
Trang 2MỤC L ỤC
Trang
I MỞ ĐẦU 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm: 3
2.1.1 Đặc điểm chung về CPSH 3
2.1.2 Những ưu điểm nổi trội của CPSH 3
2.1.3 Những tiêu chuẩn đánh giá chế phẩm sinh học là tốt 3
2.1.4 Khái niệm phân vi sinh, phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ vi sinh 4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4
2.2.1 Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các xã có HS học trường THPT Bắc Sơn - là các xã thuần nông 4
2.1.2 Nhận thức của HS đối với các CPSH 5
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5
2.3.1 Tuyên truyền cho học sinh về CPSH và vai trò của CPSH trong nông nghiệp, đời sống hàng ngày 5
2.3.2 Tổ chức cho học sinh lớp 10A2 đi tham quan, thực nghiệm ở làng Đệch, xã Ngọc Trung 7
2.3.3 Khảo sát thực tế ở làng Đệch, xã Ngọc Trung 7
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 7
2.4.1 Đối với học sinh 7
2.4.2 Đối với giáo viên 8
III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 9
3.1 Kết luận 9
3.2 Kiến nghị 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TÊN VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ
Trang 5I MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
- Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nông nghiệp, nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại… gây hại cho cây trồng Do vậy, để tăng năng suất và sản lượng trong trồng trọt, người dân thường
sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc hóa học Tuy nhiên, việc sử dụng này chỉ đem lại lợi ích trước mắt mà không bảo đảm thâm canh cây trồng bền vững, vì các sản phẩm có nguồn gốc từ chất hóa học làm cho đất đai ngày càng thoái hóa, dinh dưỡng bị mất cân đối, mất cân bằng hệ sinh thái trong đất, hệ vi sinh vật trong đất bị phá hủy, tồn dư các chất độc hại trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại không dự báo trước, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường
- Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu, sản xuất và sử dụng chế
phẩm sinh học (CPSH), phân bón hữu cơ dùng trong trồng trọt được đẩy mạnh
để thay thế dần phân bón hóa học và thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc hóa học
đã được hầu hết các nước quan tâm Việc sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ trong canh tác cây trồng đang là xu hướng của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung nhằm bảo đảm an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường mà cây vẫn phát triển tự nhiên, vẫn đảm bảo năng suất, chất lượng của nông sản, đạt chuẩn xuất khẩu cũng như nâng tầm nông sản Việt trên thị trường quốc tế, hướng đến một nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững Do
đó, việc ứng dụng CPSH dùng trong nông nghiệp là điều không thể thiếu
- Qua số liệu thống kê của Nhà trường Trung học phổ thông (THPT) Bắc Sơn, đa số các em học sinh (HS)có bố mẹ đều làm nông nghiệp, là con em dân tộc thiểu số, có điểm xét tuyển vào lớp 10 rất thấp, địa bàn sinh sống rộng, đời sống vật chất còn nhiều khó khăn nên chưa có điều kiện tìm hiểu và vận dụng chế phẩm sinh học trong cuộc sống và nông nghiệp Trong quá trình giảng dạy môn công nghệ 10, tôi thường xuyên giáo dục cho học sinh việc nâng cao nhận thức và ứng phó với ô nhiễm hóa chất từ thuốc hóa học bảo vệ thực vật (BVTV)
và phân bón hóa học, sản xuất nông nghiệp phải theo các tiêu chí hiệu quả và an toàn qua các câu hỏi, ví dụ thực tế có liên quan đến nội dung bài học, nhưng thời lượng không nhiều nên các em vẫn chưa biết “chế phẩm sinh học là gì?”, “tác dụng của CPSH như thế nào?”, “CPSH được dùng trong lĩnh vực nào?”, “sử dụng CPSH có tốt hơn các sản phẩm khác có cùng tác dụng không?”, ưu điểm
và lợi ích của CPSH?, các em đã vận dụng được các chế phẩm sinh học trong thực tiễn chưa?
Vì những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Hướng dẫn cho học sinh lớp 10 trường THPT Bắc Sơn sử dụng chế phẩm sinh học để sản xuất phân hữu cơ
vi sinh, bảo vệ môi trường và cải tạo đất”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- HS thấy được những lợi ích của CPSH trong sản xuất nông nghiệp
1
Trang 6- HS biết yêu lao động, biết sản xuất ra những sản phẩm an toàn và chất lượng từ các CPSH trong nông nghiệp
- Thông qua các em HS tuyên truyền đến các bậc phụ huynh, người dân
về ưu điểm và lợi ích của CPSH, biết bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, bảo vệ chính mình, gia đình và xã hội
- HS ý thức được phòng bệnh hơn chữa bệnh
- Các em có cơ hội thể hiện sự hiểu biết cũng như gia tăng kiến thức của bản thân khi trả lời các câu hỏi, tình huống về CPSH
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề chung của CPSH
- Phân loại và tác dụng của CPSH
- Quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh, bảo vệ môi trường và cải tạo đất nhờ CPSH
- Ưu điểm và lợi ích của CPSH
- Vận dụng được các chế phẩm sinh học khác trong thực tiễn
- Sáng kiến kinh nghiệm này được áp dụng sau bài : “Ứng dụng công nghệ vi sinh trong sản xuất phân bón” thuộc chương trình Công nghệ lớp 10, ở lớp 10A4, 10A5 và 10A2 trường Trung Học Phổ Thông Bắc Sơn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
+ Tôi tiến hành khảo sát thực tế bằng phiếu khảo sát của 113 HS ở 3 lớp 10A2 (33HS), 10A4 (41 HS), 10 A5 (39 HS)
+ Gặp gỡ, trao đổi, thu thập thông tin với cán bộ xã phụ trách về hội nông dân tập thể xã Ngọc Trung, huyện Ngọc Lặc để biết được những hộ nông dân đã ứng dụng CPSH để sản xuất và sử dụng phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh Rồi đến những hộ nông dân đó để tìm hiểu về cách làm kinh tế của mỗi hộ gia đình
đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho họ khi sử dụng CPSH
+ Tổ chức cho học sinh lớp 10A2 đi tham quan, thực nghiệm xã Ngọc Trung là nơi tự sản xuất nhiều phân hữu cơ vi sinh để sử dụng và bán
- Phương pháp tìm kiếm thông tin trên mạng internet: Tôi tìm kiếm thông
tin trên các trang mạng internet để có cơ sở thực hiện đề tài
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Phát phiếu khảo sát, để các em
hoàn thành, tôi thu lại, sau đó thống kê, phân tích số liệu, đánh giá mức độ nhận thức của các em về CPSH
2
Trang 7II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Đặc điểm chung về CPSH
a Khái niệm CPSH: tên tiếng anh Probiotic – là các chế phẩm chiết suất
sinh học và chế phẩm vi sinh được sử dụng nhằm mục đích khác nhau
- Chế phẩm vi sinh hay còn gọi là men vi sinh chúng chứa vi sinh vật sống (bao gồm những vi khuẩn có lợi/nhóm vi khuẩn hữu ích)
- Chế phẩm chiết xuất sinh học bao gồm những chế phẩm chiết xuất từ sinh vật như: chiết xuất Yucca, Beta-Glucan, Bokashi trầu, cỏ mực, tỏi [1].
b Các nhóm chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp
- Nhóm CPSH phòng trừ dịch hại trên cây trồng: chế phẩm được sản xuất
từ nguyên liệu chính là những vi sinh vật (VSV) sống, có tác dụng gây bệnh cho sâu để diệt sâu nên không gây ảnh hưởng cho môi trường, giữ cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp; đảm bảo an toàn thực phẩm Những VSV sống có nguồn gốc
thảo mộc, nấm, Pheromone, vi sinh, virut, tuyến trùng[2].
- Nhóm CPSH dùng cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, phân bón vi sinh: chế phẩm được sản xuất từ nguyên liệu chính là những VSV sống có tác dụng cố định đạm, chuyển hóa lân, phân giải chất hữu cơ
- Nhóm CPSH cho cải tạo đất, xử lý phế thải nông nghiệp:
+ Có khả năng cải tạo lý hóa tính của đất (kết cấu, hữu cơ, độ ẩm, pH…) + Giải phóng đất khỏi các yếu tố bất lợi (hóa chất, kim loại nặng…)
+ Cải tạo cho đất tốt hơn để sử dụng làm đất trồng cây.[1].
2.1.2 Những ưu điểm nổi trội của CPSH
- Không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây
trồng như thuốc bảo vệ thực vật
- Cân bằng hệ sinh thái trong môi trường đất Đảm bảo môi trường sống cho cây trồng
- Cải thiện tình trạng thoái hóa đất Góp phần tăng độ phì nhiêu cho đất
- Cây trồng hấp thu chất dinh dưỡng dễ hơn Giúp tăng năng suất và chất lượng nông phẩm
- Tăng sức đề kháng cho cây trồng, giảm thiểu bệnh hại
- Có khả năng phân hủy, chuyển hóa các chất thải sinh học, phế thải nông nghiệp, công nghiệp Từ đó góp phần làm sạch môi trường
- Tiết kiệm chi phí, sử dụng dễ dàng, nhanh chóng, rộng rãi.[1].
2.1.3 Những tiêu chuẩn đánh giá chế phẩm sinh học là tốt
- Chế phẩm chứa vi sinh vật sống
- Xác định cụ thể chi, loài, chủng loại và được phân lập rõ ràng
- Đảm bảo liều lượng lợi khuẩn cho đến hết hạn sử dụng
- Hiệu quả được chứng minh qua nghiên cứu lâm sàng
- Có bằng chứng về độ an toàn
- Sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng, được nhiều người sử dụng.[1].
3
Trang 82.1.4 Khái niệm phân vi sinh, phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ vi sinh
- Phân vi sinh là loại phân có chứa hàm lượng vi sinh vật có ích cao (≥ 1x108CFU/g) Thường không có hàm lượng chất dinh dưỡng kèm theo
- Phân hữu cơ sinh học được tạo ra từ quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau thành mùn Không có yêu cầu chủng
vi sinh vật phải đạt bao nhiêu
- Phân hữu cơ vi sinh là loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu hữu
cơ Có chứa ít nhất 1 chủng vi sinh vật sống có ích với hàm lượng cao (≥
1x106CFU/g) và sẽ hoạt động khi được bón vào đất.[2]
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các xã có HS học trường THPT Bắc Sơn - là các xã thuần nông
- Đa số gia đình HS trường THPT Bắc sơn sinh sống bằng nghề trồng trọt
và chăn nuôi Hoạt động sản xuất nông nghiệp đã tạo ra một lượng lớn chất thải
+ Trong chăn nuôi, chất thải rắn là nguồn gây ô nhiễm chính 70% các hộ gia đình chưa có bất kỳ biện pháp nào xử lý hợp vệ sinh đối với phân và nước tiểu chăn nuôi tại gia đình Phương pháp truyền thống mà người dân sử dụng là: toàn bộ chất thải rắn cũng như nước thải chăn nuôi được thải trực tiếp ra vườn; hoặc đổ trực tiếp
ra đồng ruộng hoặc lưu giữ tại các hố phân hở của gia đình không có gì che đậy; đa
số người dân làm chuồng cho gia súc, gia cầm và các chất thải của chúng được cho
ra ngay bên cạnh chuồng, cứ thế ngày qua ngày khác những chất thải này được phân huỷ và người dân lấy đó làm nguồn phân bón cho đồng ruộng Song điều đáng nói ở đây là những chất thải này để lâu ngày khi chưa kịp sử dụng nó đã đầy lên và trào ra ngoài Hiện tượng này gây ra rất nhiều ô nhiễm như mùi hôi thối, chất thải ngấm vào nguồn nước nhất là khi trời mưa Do đó, chất thải chăn nuôi tác động đến môi trường
và sức khỏe con người như: Gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường khí, môi trường đất và các sản phẩm nông nghiệp Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hóa, do trong chất thải chứa nhiều VSV gây bệnh, trứng giun
+ Trong trồng trọt: Phế phẩm nông nghiệp thường được người dân tận dụng lại; Chất thải từ sản xuất nông nghiệp: Rơm rạ, thân cây ngô, đậu, sắn, khoai lang sau khi thu hoạch thường được các hộ tái sử dụng: cho gia súc, gia cầm ăn, phơi làm củi đun nấu nên lượng rác thải phát sinh là không đáng kể Do tập quán canh tác tại địa phương, cánh đồng trồng lúa và hoa màu nằm giáp với khu nhà ở của người dân nên hoạt động sản xuất, sử dụng thuốc BVTV hàng năm có ảnh hưởng trực tiếp đối với đời sống và sức khỏe của người dân Theo điều tra tại hộ gia đình, đối với lúa và hoa màu mỗi năm người dân phun thuốc BVTV ít nhất từ 4-5 lần trên vụ, người dân sử dụng cả thuốc nước và thuốc gói Đối với thuốc gói thường 50-100 g/gói/sào (sào bắc bộ), nếu thuốc nước thường
sử dụng loại 100ml cho 1 sào 5 thước và loại 250ml cho 3 sào; sau mỗi vụ thường phun thuốc diệt cỏ dại, ngoài ra giữa các lứa người dân thường phải phun thuốc trừ sâu, bọ dầy…
4
Trang 92.1.2 Nhận thức của HS đối với các CPSH
Trước khi khảo sát bằng phiếu khảo sát, qua thăm dò ý kiến ngẫu nhiên của 133 HS ở 3 lớp: 10A2 (33HS), 10A4 (41 HS), 10 A5 (39 HS) về khái niệm, vai trò, lợi ích của CPSH về mức độ ghi nhớ kiến thức và nhận thức về bảo vệ môi trường (phụ lục số 1), tôi thu được kết quả như sau:
Ph n I.ần I
Số lượng/tỉ lệ
Câu Trả lời đạt Trả lời chưa đạt Trả lời sai (hoặc không trả lời)
Ph n II.ần I
Sốlượng/tỉ lệ
Chọn không (hoặc chưa)
qua ti vi: 106 HS (79,72%);
đài phát thanh: 27 HS (20,28%)
0 HS
Kết quả trên cho thấy đa số HS đều chưa hiểu biết đầy đủ về CPSH
và ứng dụng của nó; các em chưa được tiếp cận với những sản phẩm từ CPSH
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Tuyên truyền cho học sinh về CPSH và vai trò của CPSH trong nông nghiệp, đời sống hàng ngày
Để giúp các em học sinh hiểu rõ hơn về CPSH, vai trò của CPSH trong nông nghiệp tôi đã tiến hành khảo sát trên 133 em học sinh ở ba lớp : 10A2 (33HS), 10A4 (41 HS), 10 A5 (39 HS)
* Tôi sử dụng phương pháp thống kê, xử lí số liệu
* Hình thức tổ chức: ba buổi sinh hoạt 15 phút; một buổi ở nhà để các em học sinh trả lời phiếu khảo sát; một tiết ở trên lớp
- Buổi sinh hoạt 15 phút thứ nhất:
+ Phát phiếu khảo sát cho các em học sinh trả lời vào phiếu mà không cần ghi tên
+ Nội dung phiếu khảo sát: phụ lục số 4
+ Ở buổi sinh hoạt 15 phút thứ nhất, các em chưa hoàn thành được phiếu khảo sát mà chỉ làm được 2 trong 7 câu Do đó, tôi cho các em mang phiếu khảo sát về nhà và hoàn thành phiếu khảo sát Khi trả lời phiếu khảo sát ở nhà, các em
có thể tìm kiếm thông tin trên mạng internet với từ khóa là CPSH là gì, vai trò
và ứng dụng của CPSH trong trồng trọt, vai trò và ứng dụng của CPSH trong nông nghiệp…, các em có thể trao đổi ý kiến với nhau, hỏi ý kiến của phụ huynh
và người dân Như vậy, các em học sinh đã tuyên truyền đến các bậc phụ huynh,
5
Trang 10người dân về CPSH, vai trò và ứng dụng của CPSH trong nông nghiệp, biết bảo
vệ môi trường đất
- Buổi sinh hoạt 15 phút thứ hai và buổi sinh hoạt 15 phút thứ ba:
+ Tôi hướng dẫn các em chấm chéo phiếu khảo sát giữa các tổ Tổ 1: chấm phiếu khảo sát của tổ 4 Tổ 2: chấm phiếu khảo sát của tổ 3 Tổ 3: chấm phiếu khảo sát của tổ 1 Tổ 4: chấm phiếu khảo sát của tổ 2
+ Đối với mỗi câu hỏi, tôi gọi một em học sinh trả lời, các em học sinh khác đều có thể bổ sung cho câu trả lời Khi các em không còn ý kiến trả lời nữa, tôi sẽ đưa ra đáp án của câu hỏi bằng cách trình chiếu trên máy chiếu Các
em cùng xem lại câu trả lời ở phiếu khảo sát của bạn và nhận xét về câu trả lời theo kết luận của tôi
- Sau 45 phút (3 buổi sinh hoạt 15 phút) tôi sẽ thu phiếu khảo sát, chấm và thống kê điểm
- Tôi sử dụng một tiết trên lớp là tiết 14 theo phân phối chương trình của môn công nghệ 10, đây là tiết thực hành nhưng giáo viên có thể cho học sinh xem băng hình hoặc đi tham quan hoặc tham gia các hoạt động ngoại khóa Trong tiết này, tôi:
+ Trình chiếu một số hình ảnh gây ô nhiễm môi trường khi tôi đi khảo sát thực tế ở xã Ngọc Trung (Phụ lục số 2)
+ Trình chiếu một số loại phân hữu cơ sinh học và một số CPSH dùng trong nông nghiệp (Phụ lục số 3)
+ Trình chiếu nội dung của phiếu khảo sát (Phụ lục số 4)
+ Trình chiếu kết quả của phiếu khảo sát: Bảng thống kê mức độ ghi nhớ kiến thức của học sinh và bảng thống kê nhận thức của học sinh về bảo vệ môi trường.(Phụ lục số 5)
+ Trình chiếu các hình ảnh của một số hộ gia đình ở xã Ngọc trung sử dụng CPSH trong sản xuất nông nghiệp (Phụ lục số 6)
Ảnh: Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận câu hỏi, tình huống
6