2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm 2009 , cá Mè Vinh là loài cá ăn tạp nhưng thức ăn thích hợp cho cá lúc trưởng thành là thực vật thủy sinh thượng đẳng, mùn b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
05/2010
Trang 3Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản trường Đại học Cần Thơ
Thầy cô trong bộ môn kỹ thuật nuôi cá nước ngọt
Cùng các cô, chú, anh, chị trong trại sản xuất cá giống Minh Trang – Cái Răng – TP.Cần Thơ
Các bạn lớp nuôi trồng thủy sản khóa 32 đã động viên khuyến khích cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp chúng tôi hoàn thành đề tài này
Do thời gian thực hiện đề tài có giới hạn, lần đầu làm quen với công việc nghiên cứu khoa học, trang thiết bị còn thiếu thốn, nên việc nghiên cứu sẽ gặp những khó khăn nhất định, cũng như kinh nghiệm bản thân ít ỏi, chắc hẳn sẽ có những thiếu sót trong quá trình thực hiện Chúng tôi rất mong được sự đóng góp, bổ sung ý kiến của thầy cô cùng các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Cần thơ, ngày 10 tháng 05 năm 2010
Trang 4MỤC LỤC
Chương I Mở đầu: 1
1.1 Giới thiệu: 1
1.2 Mục tiêu đề tài: 2
1.3 Nội dung đề tài: 2
Chương II Lược khảo tài liệu: 3
2.1 Đặc điểm sinh học cá Mè Vinh ( Barbodes gonionotus ): 3
2.1.1 Vị trí phân loại: 3
2.1.2 Đặc điểm phân bố: 3
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng: 4
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng: 4
2.1.5 Đặc điểm sinh sản: 4
2.2 Một số nghiên cứu về sinh sản cá Mè vinh: 5
2.3 Một số vấn đề liên quan đến kích thích sinh sản ở cá: 7
2.3.1 Nguyên tắc chung khi kích thích cá sinh sản: 7
2.3.2 Sử dụng kích tố LH-RHa cho cá sinh sản: 7
2.3.3 Cơ sở của việc dùng chất kháng Domperidone cho cá sinh sản: 8
2.4 Một số vấn đề liên quan đến sinh truởng, dinh dưỡng và sinh sản ở cá: 9
2.5 Một số vấn đề ảnh hưởng đến sinh trưởng, dinh dưỡng và sinh sản ở cá: 13
Chương III Vật liệu và phương pháp nghiên cứu: 16
3.1 Vật liệu nghiên cứu: 16
3.1.1 Vật liệu: 16
3.1.2 Các loại hoá chất và kích tố: 16
3.2 Phương pháp nghiên cứu: 17
3.2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu: 17
3.2.2 Cá bố mẹ dùng trong thí nghiệm: 17
3.2.3 Nuôi vỗ cá bố mẹ trong ao đất: 17
3.2.3.1 Điều kiện ao nuôi vỗ: 18
3.2.3.2 Hình thức nuôi vỗ: 19
Trang 53.2.3.3 Thả cá bố mẹ vào ao nuôi: 20
3.2.3.4 Chế độ chăm sóc và quản lý ao nuôi: 21
3.2.3.5 Kiểm tra chế độ thành thục của cá bố mẹ: 22
3.2.3.6 Theo dõi điều kiện ao nuôi vỗ cá bố mẹ: 22
3.2.4 Kích thích cá đẻ bằng kích tố LH - RHa + DOM: 22
3.2.4.1 Chỉ tiêu chọn cá bố mẹ tham gia sinh sản: 22
3.2.4.2 Tiến hành thí nghiệm: 22
3.2.5 Một số chỉ tiêu trong sinh sản và ấp trứng: 23
3.2.5.1 Một số chỉ tiêu sinh sản: 23
3.2.5.2 Một số chỉ tiêu ấp trứng: 23
3.2.5.3 Một số yếu tố môi trường trong quá trình sinh sản, ấp trứng: 24
3.2.5.4 Theo dõi thời gian hiệu ứng thuốc: 24
3.2.5.5 Phương pháp tính toán xử số liệu và đánh giá kết quả: 24
Chương IV Kết quả và thảo luận: 25
4.1 Một số yếu tố môi trường trong ao nuôi vỗ cá bố mẹ: 25
4.1.1 Kết quả theo dõi và phân tích một số yếu tố thuỷ lý hoá của các ao nuôi vỗ cá bố mẹ qua các tháng: 25
4.1.1.1 Nhiệt độ: 26
4.1.1.2 Oxy: 26
4.1.1.3 pH: 27
4.1.2 Kiểm tra sự thành thục của cá bố mẹ trong quá trình nuôi vỗ: 28
4.2 Kích thích cá sinh sản: 29
4.2.1 Đợt sinh sản lần thứ nhất: 29
4.2.2 Đợt sinh sản lần thứ hai: 32
4.2.3 Đánh giá khả năng sinh sản cá Mè Vinh với các liều lượng kích dục tố LH-RHa ở các thí nghiệm: 33
4.2.4 Kết quả ảnh hưởng của kích dục tố LH-RHa + DOM đến một số chỉ tiêu kỹ thuật trong quá trình ấp: 35
Chương V Kết luận và đề xuất: 36
5.1 Kết luận: 36
Trang 65.2 Đề xuất: 36
Tài liệu tham khảo: 37
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1 Điều kiện ao nuôi vỗ cá bố mẹ
Bảng 2 Một số thành phần giống loài được nuôi trong ao nuôi vỗ cá bố mẹ Bảng 3 Thả cá bố mẹ
Bảng 4 Khẩu phần ăn cho cá bố mẹ qua các tháng nuôi vỗ
Bảng 5 Kích tố và liều lượng kích thích cá Mè Vinh sinh sản
Bảng 6 Một số yếu tố môi trường trong ao nuôi vỗ cá bố mẹ
Bảng 7 Sự thành thục của cá bố mẹ trong quá trình nuôi vỗ
Bảng 8 Kết quả cho cá Mè Vinh đẻ với kích tố LH – RHa + DOM lần 1
Bảng 9 Kết quả cho cá Mè Vinh đẻ với kích tố LH – RHa + DOM lần 2
Bảng 10 Kết quả trung bình cho cá Mè Vinh đẻ với liều lượng kích dục tố khác nhau
Bảng 11 Kết quả trung bình một số chỉ tiêu trong ấp trứng ở các nghiệm thức
Trang 8CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu
Cá Mè Vinh ( Barbodes gonionotus ) là loài cá nhiệt đới, phân bố ở nhiều nước
Đông Nam Á như: Thái Lan, Campuchia, Mã Lai, Indonesia, Nam Việt Nam…và chủ yếu là ở Đồng bằng sông Cửu Long Đây là loài cá có giá trị kinh
tế cao, cá có tốc độ tăng trưởng trung bình 0,05 – 0,25 kg/năm Đặc biệt thức ăn của cá đơn giản như thực vật thủy sinh thượng đẳng, cũng như thực vật trên cạn Ngoài ra còn có khả năng sử dụng mùn bã hữu cơ và các loại thức ăn do con người cung cấp Đặc biệt cá có thể sống và phát triển ở vùng nước lợ có nồng độ muối từ 5 – 7 ‰ ( Hora, 1962 được trích dẫn bởi Huỳnh Tấn Đạt, 2009 )
Nhân dân ta từ xưa đã có câu “ Muốn giàu nuôi cá ” đã nói lên thế mạnh của ngành Thủy sản Trong những năm gần đây, sản lượng xuất khẩu thủy sản ngày càng tăng, đã giải quyết được nhiều công ăn việc làm và đem lại thu nhập đáng
kể cho nhiều nông- ngư dân Nhiều nơi người dân đã chuyển hẳn từ trồng lúa sang nuôi thủy sản hoặc xen canh giữa trồng lúa với nuôi thủy sản
Tuy nhiên, việc nuôi các loài cá nói chung và cá Mè Vinh nói riêng đến nay vẫn chưa phổ biến rộng rãi trong nhân dân do nguồn giống phần lớn vẫn chủ yếu khai thác từ tự nhiên, vào những mùa mưa lũ ngư dân tập trung ở ven những con sông lớn: Sông Hồng, Sông Cửu Long… vớt cá bột để ương thành giống các loài cá nuôi có giá trị kinh tế Việc làm này không những làm suy giảm nguồn cá nuôi từ sông mà còn giết đi hàng loạt các loài cá sông khác không thể sống được, có thể dẫn đến nguy cơ biến mất của nhiều loài cá quý trên sông
Do đó nhu cầu đặt ra là phải tìm biện pháp nâng cao sản xuất cá giống bao gồm
từ khâu nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích cho cá sinh sản đạt hiệu quả cao và đặc biệt hơn nữa là nghiên cứu sâu hơn các biện pháp kỹ thuật dùng kích tố nhân tạo cho
cá sinh sản Nó vừa chủ động được thời gian và giống loài, phong phú về số lượng, có giá trị thương phẩm cao, vừa đáp ứng được nhu cầu về cá giống của các loại vùng nước nuôi
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi được sự đồng ý của Khoa Thủy Sản – trường Đại học Cần Thơ tiến hành thực hiện đề tài: “ Sinh sản nhân tạo cá Mè Vinh ”
Trang 91.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích :
Đánh giá khả năng kích thích sinh sản cá Mè Vinh bằng các liều lượng LH-RHa khác nhau; góp phần bổ sung tư liệu cho quá trình sản xuất cá giống tại Đồng bằng sông Cửu Long
1.3 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu, chúng tôi thực hiện một số nội dung nghiên cứu sau:
Nuôi vỗ cá bố mẹ trong ao đất
Kích thích sinh sản nhân tạo cá Mè Vinh
Một số chỉ tiêu trong sinh sản - ấp trứng
Trang 10CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ MÈ VINH ( Barbodes gonionotus )
Hình 2.1 Cá Mè Vinh Barbodes gonionotus
( Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương , 1993)
2.1.2 Đặc điểm phân bố
Lê Như Xuân và ctv ( 1994 ), cá Mè Vinh thuộc bộ Cypriniformes, là loài đặc trưng cho vùng nhiệt đới như: Đông Nam Á và một số khu vực lân cận Ở Việt Nam cá phân bố rộng rải trong các loại hình thủy vực nước ngọt Cá Mè Vinh là đối tượng thích hợp nuôi trong ruộng lúa và các ao có diện tích vừa , kể cả việc nuôi trong mương, vườn
Trang 11Cá thích sống ở nước ấm, nhiệt độ thích hợp 25 - 30 0C, nhưng cá cũng sống ở nhiệt độ 15 - 33 0C Cá thích sống trong nước ngọt nhưng cũng nuôi được ở nước
lợ với nồng độ muối 7 ‰, pH thích hợp là 7 – 8 nhưng cũng chịu đựng được ở
pH bằng 5,5 – 9
Trong thủy vực cá hoạt động ở mọi tầng nước, cá thích sống ở nước trong sạch
có hàm lượng oxy cao
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm ( 2009 ), cá Mè Vinh là loài cá ăn tạp nhưng thức ăn thích hợp cho cá lúc trưởng thành là thực vật thủy sinh thượng đẳng, mùn bả hữu cơ, một số loài động vật trong nước và thực vật trên cạn Ngoài ra cũng có khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn nhân tạo và một số loại thức ăn khác
Lê Như Xuân và ctv ( 1994 ), cơ quan tiêu hóa của cá gồm: miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột và tuyến tiêu hóa Ở mang có xương cung mang cứng, lược mang dạng que xếp khít nhau dùng lọc thức ăn Răng hầu lớn nằm trong lộ ra ngoài hình khối chử nhật, ruột dài cuộn thành nhiều vòng
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Lê Như Xuân và ctv ( 1994 ), cá Mè Vinh có tốc độ tăng trưởng nhanh ở năm thứ nhất, nuôi trong ao có thể đạt trọng lượng 150 – 250 g/con/năm Nếu nuôi trong ruộng lúa với mật độ vừa phải ( 1 – 2 con/m2 ) thì cá có thể đạt 0,3 – 0,35 kg/con Tốc độ tăng trưởng theo chiều dài, tăng nhanh vào 1 - 2 năm đầu và giảm dần ở những năm sau
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm ( 2009 ), cá Mè Vinh thành thục lần đầu khi được 10 - 12 tháng tuổi Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá tập trung vào tháng 5 - 7 hàng năm
Sức sinh sản của cá rất cao có thể đạt tới 800.000 - 1.000.000 trứng/kg cá cái Trong ao nuôi cá Mè Vinh có thể đẻ 4 - 5 lần trong năm Khi đẻ cá đực thường phát ra tiếng kêu u.u nhiệt độ thích hợp cho cá Mè Vinh đẻ từ 26 -29 0C
Trang 12Trứng cá Mè Vinh thuộc loại bán trôi nổi, trứng trương nước đường kính 2,7 – 3,2 mm Thời gian phát triển của phôi khoảng 12 giờ Thời gian nở hết lứa trứng kéo dài trong vòng 5 – 6 giờ Cá bột mới nở rất nhỏ và trong suốt
2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ SINH SẢN CÁ MÈ VINH
Nguyễn Duy Thanh ( 1980 ), đã sử dụng 2 phương pháp tiêm là 1 liều và 2 liều Khi sử dụng một liều thì tác giả đã tiêm : 3,5 não thùy cá Chép kết hợp 3000 UI HCG cho 1kg cá cái Khi sử dụng phương pháp tiêm 2 liều thì tác giả tiêm : liều
1 là 1 não cá Chép/kg cá cái và liều 2 là 1500 UI HCG/kg cá cái Kết quả trên cho thấy ở hai phương pháp tiêm, cá rụng trứng nhưng không đẻ
Mã Thanh Huệ và Huỳnh Quốc Hùng ( 1981 ), đã sử dụng 2 phương pháp tiêm
là 1 liều và 2 liều
- Khi sử dụng phương pháp tiêm 1 liều tác giả đã tiêm 30 – 60 não họ cá Chép/kg cá cái Kết quả rụng trứng và đẻ tốt
- Còn khi dùng HCG với liều 1000 UI/kg cá cái, kết quả cá không rụng trứng
- Khi sử dụng phương pháp tiêm 2 liều thì tác giả tiêm liều 1 ( sơ bộ ) 25 - 70 não/kg cá cái và liều 2 ( quyết định ) 29 - 35 não thùy/kg cá cái Kết quả cá rụng trứng và đẻ
Trần Văn Anh ( 1982 ), đã kích thích cá Mè Vinh sinh sản bằng phương pháp tiêm 1 liều và 20 não thùy họ cá Chép/kg cá cái Kết quả cá rụng trứng và đẻ tốt Còn khi sử dụng HCG với liều lượng 15.000 UI/kg cá cái Kết quả cá không rụng trứng Tuy nhiên sau một thời gian nghiên cứu, tiếp tục cho cá đẻ bằng điều kiện sinh thái không cần tiêm kích dục tố, mà cho dòng nước chảy tràn trong bể, khoảng 2 giờ kích thích 1 lần, mỗi lần 15 – 20 phút, đồng thời kết hợp làm mưa nhân tạo Kết quả cá đẻ tốt sau thời gian kích thích 31 – 55 ngày, tỷ lệ thụ tinh, tỷ
lệ nở cũng cao
Nguyễn Thùy Nhiên và Nguyễn Bạch Loan ( 1983 ), đã sử dụng 3 loại kích dục
tố khác nhau bằng phương pháp tiêm 1 liều
- Khi tiêm 1 liều 4,8 mg não thùy cá Chép/kg cá cái Kết quả cá rụng trứng và đẻ tốt
- Khi tiêm 1 liều 25 não thùy cá Chép kết hợp với 6.500 UI/kg cá cái Kết quả cá rụng trứng nhưng không đẻ
Trang 13- Khi tiêm 1 liều 8 mg cá Trê Phi/kg cá cái Kết quả cá rụng trứng và đẻ 100 %
và 3,2 mg não cá Trê Phi/kg cá cái Kết quả cũng đẻ 100 %
Lê Như Xuân và ctv ( 1994 ), sử dụng não thùy họ cá Chép để kích thích cho cá
Mè Vinh sinh sản là 5 – 6 mg não/ kg cá cái
Phạm Văn Khánh ( 1994 ), dùng não thùy họ cá Chép kích thích cho cá Mè Vinh sinh sản 6 – 10 mg não/ kg cá cái, LH-RHa kết hợp DOM với liều lượng 30 -50 µg/kg cá cái
Mai Đình Yên ( 1983 ), cá Mè Vinh đẻ bằng cách chọn cá bố mẹ thành thục sắp
đẻ, chuẩn bị ao cho đẻ 0,1 – 0,2 ha sau đó cho phun mưa nhân tạo, ở giữa ao đào một hố có kích thước 4 x 4 m để cho cá đẻ ở đó, sau một thời gian gây mưa cho
ao, cá bố mẹ sẽ đẻ Cá Mè Vinh nuôi trong ao 3 – 4 tháng lại đẻ một lứa
Trang 142.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN KÍCH THÍCH SINH SẢN Ở CÁ 2.3.1 Nguyên tắc chung khi kích thích cá sinh sản
Nguyễn Văn Kiểm ( 2005 ), việc sử dụng các kích tố kích thích cho cá sinh sản đúng với tiến trình thành thục của cá sẽ đem lại hiệu quả cao và ngược lại sẽ đem lại kết quả âm Do đó, nguyên tắc cơ bản trong vấn đề kích thích cá sinh sản nhân tạo là phải sử dụng đúng chủng loại kích tố, đúng liều lượng theo nguyên cứu và đúng thứ tự trước sau theo bản chất tác dụng của kích tố
Trong sinh sản nhân tạo tùy từng trường hợp cụ thể, tùy từng đối tượng sinh sản
mà tiêm kích tố với số lần tiêm và liều lượng kích tố khác nhau Những biện pháp tiêm nhiều lần với liều lượng thấp phù hợp với từng giai đoạn thành thục của tế bào trứng được coi là nguyên tắc chung khi kích thích cá sinh sản
2.3.2 Sử dụng kích tố LH-RHa cho cá sinh sản
Nhà khoa học pháp ( 1937 ) được trích dẫn bởi Lâm Chí Danh ( 1996 ), cho rằng:
đã có nhiều kết quả nghiên cứu từ động vật có vú cho thấy, nội tiết tố thần kinh điều khiển việc tiết ra kích dục tố Cụ thể là Hypothalamus ( tuyến dưới đồi ) khống chế não thùy tiết ra kích dục tố
Kết quả nghiên cứu trên đã chỉ ra tiềm lực lớn và khả năng cảm ứng làm cho cá tiết ra kích dục tố nội sinh hơn là dùng kích dục tố ngoại sinh như HCG, não thùy thể
Nguyễn Tường Anh ( 1999 ) được trích dẫn bởi Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm ( 2009 ), hormone LH-RHa Viết tắc chử ( Luteotropin Hormone Releasing Hormone – analog ) là hormone nhân tạo được sử dụng rộng rải cho cá
và động vật nói chung, là hormone giải phóng LH và FSH từ não thùy thể Loại LH-RHa cung cấp trên thị trường của Trung Quốc dạng bột để hòa tan trong nước Được đóng gói trong chai thủy tinh với liều lượng 200 µg, 500 µg,
1000 µg
LH-RHa có tác dụng làm chuyển hóa buồng trứng và đồng thời gián tiếp gây rụng trứng
Đã có nhiều cuộc nghiên cứu chi tiết hơn về phương pháp dùng LH-RHa cho cá
đẻ Khi sử dụng loại hormone này nên sử dụng kèm với thụ thể nhân tạo kháng Dopamine là Domperidone ( DOM ), tên thương mại là Motilium
Trang 15Ở nước ta LH-RHa và Motilium được sử dụng gần 20 năm gần đây, hiện nay được sử dụng rất nhiều trên nhiều loại cá, được nhập từ Trung Quốc có giá rẻ lại không gây phản ứng phụ và phản ứng miễn dịch ở cá ( nếu sử dụng hợp lý ) Tuy nhiên khi sử dụng LH-RHa kích thích cá sinh sản thì có nhược điểm là kéo dài thời gian tái thành thục của cá so với sử dụng HCG hoặc não thùy
Nguyên nhân chính là LH-RHa đã làm cho cá sử dụng cạn kiệt FSH và LH từ não thùy cho quá trình chín và rụng trứng
2.3.3 Cơ sở của việc dùng chất kháng Domperidone cho cá sinh sản
Peter và ctv ( 1986 ) được trích dẫn bởi Lâm Chí Danh ( 1996 ), khi nghiên cứu sâu về sinh sản của cá đã phát hiện ra Dopamine hoạt động như một yếu tố ngăn cản sự tổng hợp kích dục tố
Nguyễn Văn Kiểm và Phạm Minh Thành ( 2009 ), thì Domperidone là tên hóa học của thụ thể nhân tạo, có tên thương mại khác nhau nhưng tên thường dùng là Motilium ( viên DOM ), 1 viên DOM có khối lượng 10 mg
Khi nghiên cứu sâu hơn về sinh sinh của cá người ta đã phát hiện ra cơ chế ngăn cản sự tổng hợp và phóng thích của não thùy đó là cơ chế kháng Dopamine là Domperidone ( DOM ) cơ chế này đã làm hạn chế sự hoạt động của Dopamine vì chính cơ chế Dopamine đã làm hạn chế tác dụng của kích tố đối với sự hoạt động tiết kích tố của não thùy từ đó làm ảnh hưởng tới quá trình sinh sản của cá
Phạm Văn Khánh ( 1998 ), cho rằng trong não thùy cá có hai loại hormone sinh dục là Folicite Stilumating Hormone ( FSH ) và Lutenisine Hormone ( LH ) có tác dụng thúc đẩy quá trình chín sản phẩm sinh dục và kích thích sự rụng trứng
Nguyễn Văn Kiểm và Phạm Minh Thành ( 2009 ), hormone của tuyến yên kích thích sự hoạt động, phát triển tuyến sinh dục, sinh trưởng, chín và rụng trứng Tuyến yên còn chức năng điều hòa hoạt động của các tuyến nội tiết khác ( các
tuyến nội tiết ngoại vi ) Thường được sử dụng ở liều quyết định
Trang 162.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN SINH TRƯỞNG, DINH DƯỠNG
cá không ổn định mà thường xuyên thay đổi nên sự sinh trưởng của cá cũng thay đổi theo để có sự tương thích theo mối liên hệ nhân – quả
Bùi Lai và ctv ( 1985 ), sự gia tăng chiều dài của cá trong suốt thời kỳ sống là đặc điểm có sự khác biệt rất lớn với những động vật có xương sống bậc cao Sự khác biệt này, đã đưa đến nhận định rất sinh học rằng: cá là động vật có xương sống không có tuổi già
Vinberg ( 1968 ) được trích dẫn bởi Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (
2009 ), trong quá trình sinh trưởng, có sự liên hệ mật thiết giữa chiều dài ( L ) và khối lượng ( W ), được thể hiện bằng công thức: W = aLb; Trong đó a và b là những hệ số tỷ lệ, thay đổi theo đặc trưng sinh trưởng của cá Giá trị của a và b trong khoảng 2,0 – 4,0, thường từ 2,5 – 3,5 Khi có sự sinh trưởng điều hòa ( hình thái cơ thể không thay đổi – tỷ lệ giữa các bộ phận không đổi ) thì b dao động rất gần với 3 và người ta thường lấy giá trị b = 3 trong các phép tính tương đối về sinh trưởng
Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm ( 2009 ), những loài cá có kích thước lớn, thường là tuổi thọ cao thì tốc độ sinh trưởng nhanh kéo dài hơn những loài
cá có kích thước nhỏ, tuổi thọ ngắn Đây là vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho các nhà nuôi trồng thủy sản lựa chọn loài cá làm đối tượng nuôi và xác định thời điểm thu hoạch cá thịt, xác định tuổi và kích thước cần thiết của cá để lựa chọn làm cá bố mẹ
Thông thường ở nước ngọt, trong cùng loài, cá cái có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn cá đực Tuy nhiên có một số ít loài, cá đực sinh trưởng nhanh hơn cá cái Nguyên nhân chủ yếu là do nhịp điệu sinh sản
Trang 17Vatnexov ( 1953 ) được trích dẫn bởi Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (
2009 ), đã chỉ ra rằng: Trong một chu kỳ sống, sự phát triển cơ thể cá trải qua 5 giai đoạn Mỗi giai đoạn có đặc trưng dinh dưỡng riêng
Giai đoạn phôi, đây là giai đoạn đầu tiên của chi kỳ sống, được bắt đầu khi trứng thụ tinh và tiến hành phân cắt Đặc trưng dinh dưỡng của giai đoạn này là dinh dưỡng bên trong ( dinh dưỡng tự cung tự cấp ), có hệ số sử dụng năng lượng cao nhất ( tới 50 % ) so với các giai đoạn khác trong chu kỳ sống Vật chất dinh dưỡng là noãn hoàng, có được là do bố mẹ để lại từ trứng Giai đoạn phôi được chia làm 2 thời kỳ phụ là thời kỳ trứng và thời kỳ phôi tự do
Thời kỳ trứng, phôi phát triển trong võ trứng, thời gian cần thiết để hoàn thành thời kỳ trứng khác nhau theo loài, khác nhau theo điều kiện sống ( nhất là nhiệt
độ ) Trong thời kỳ này sự phát triển phôi diễn ra nhẹ nhàng không ầm ĩ và năng lượng tiêu hao ít
Thời kỳ phôi tự do, phôi phát triển ngoài võ trứng, thường gọi là thời kỳ trứng
nở, được tính từ lúc phôi thoát khỏi võ trứng ( trứng nở ) đến khi sử dụng hết noãn hoàng Noãn hoàng là nguồn vật chất dinh dưỡng chính cung cấp năng lượng cho quá trình phát triển và tiêu thụ ở thời kỳ này Những loài cá có khối lượng noãn hoàng lớn so với khối lượng chung của phôi thì thời gian kéo dài ( như cá Tai Tượng, Thát Lát có khi tính bằng tuần ), những loài cá có khối lượng noãn hoàng nhỏ thì thời gian ngắn ( Mè Vinh, He Vàng, Bống Tượng có khi chỉ một hai ngày ) Vào cuối thời kỳ phôi tự do, noãn hoàng đã sử dụng đến mức gần hết thì ở cá xuất hiện phase hỗn dưỡng ( phase chuyển tính ăn lần 1 ); cá vừa dinh dưỡng bằng năng lượng từ noãn hoàng, lại vừa dinh dưỡng bằng năng lượng
từ thức ăn được cá tiếp nhận trong môi trường Trong thời gian rất ngắn, đánh dấu bằng sự xuất hiện phase hỗn dưỡng, cá đã tập luyện thành công và nhanh chóng sử dụng tốt thức ăn từ bên ngoài Khả năng đó là đặc tính vốn có của cá và thể hiện sự thích nghi với điều kiện sống mới Trong phase hỗn dưỡng, thức ăn phù hợp, tốt được cá ưa thích nhất là động vật phiêu sinh có kích thước phù hợp với khả năng bắt mồi của cá Tuy nhiên phase hỗn dưỡng chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn
Giai đoạn ấu trùng, được chuyển tiếp nhanh chóng từ sau phase hỗn dưỡng của giai đoạn phôi, bắt đầu từ khi cá sử dụng hết noãn hoàng ( kết thúc giai đoạn dinh dưỡng bên trong ) và được kết thúc bằng sự hình thành phase chuyển tính
ăn lần 2 Giai đoạn này cá phải tự tìm kiếm thức ăn trong môi trường nước, các
bộ phận và các cơ quan bên trong cơ thể còn rất đơn giản Hình thái cơ thể thay
Trang 18đổi nhiều chưa ổn định, chưa có nét đặc trưng của cơ thể trưởng thành Thức ăn thích hợp và được cá ưa thích là động vật phiêu sinh Giai đoạn này các nhà nuôi trồng thủy sản gọi là cá bột, được kéo dài 2, 3 hoặc 4 tuần tùy thuộc loài, tùy độ lớn của noãn hoàng và kích thước trứng và tùy thuộc vào môi trường ( chủ yếu là nhiệt độ )
Giai đoạn ấu trùng, cá đã hoàn toàn sử dụng thức ăn bên ngoài ( từ môi trường ); phải tự tìm kiếm thức ăn để sống, trong khi cơ thể còn rất non yếu, khả năng thích nghi với môi trường còn rất thấp, có rất nhiều môi trường xấu tác động có thể ảnh hưởng xấu đến cá Trong số đó, giữ vai trò chủ đạo có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển của cá là thức ăn Sự thiếu hụt thức ăn ( lượng và chất ) là nguyên nhân chính làm cho cá có tỷ lệ sống sót thấp ở cả trong
tự nhiên và trong nhân tạo Giai đoạn ấu trùng, cá sử dụng được thức ăn tinh do con người cung cấp ở dạng bột mịn và hạt nhỏ nhưng hiệu quả không cao
Giai đoạn tiền trưởng thành, đặc trưng của giai đoạn tiền trưởng thành là cá bắt đầu biểu hiện và tiến tới ổn định tính ăn của loài ( tính ăn của cá trưởng thành ) Thời gian đầu, mới bước qua giai đoạn tiền trưởng thành từ ấu trùng, cá sử dụng thức ăn của loài ở mức độ “ tập tành ” để một khoảng thời gian sau đó ( tính bằng tuần ) cá ổn định được tính ăn của loài
Giai đoạn tiền trưởng thành, cá có hệ số sử dụng năng lượng thức ăn và cường độ dinh dưỡng cao Thời kỳ đầu của giai đoạn tiền trưởng thành ( thời kỳ cá hương,
cá giống nhỏ ) tuy cá đã sử dụng thức ăn của loài nhưng không phải là tất cả các loại thức ăn của loài, do kích thước cơ thể và cơ quan tiêu hóa chưa hoàn toàn thích ứng Vấn đề được đặc biệt quan tâm là kích thước, chất lượng và độ mềm của thức ăn Có như vậy mới phù hợp với nguyên tắc “ khả năng sử dụng được ” của cá khi được cung cấp thức ăn nhất là đối với những loài cá ăn thực vật bậc cao ( Trắm Cỏ ), những loài cá ăn động vật ( cá Lóc ) Người nuôi trồng thủy sản không nên sử dụng cây cỏ vừa dài, vừa dai lại vừa cứng để cho cá trắm cỏ ăn ở giai đoạn cá hương, mà nên cung cấp các loại thức ăn như bèo tắm, bèo cám, bèo hoa dâu vừa mềm vừa nhỏ để cá có thể sử dụng tốt Đối với cá Lóc, người ta đã băm nhỏ hoặc xoay cá tạp tươi chứ không để nguyên con cho cá hương ăn khi cá
đã lớn
Giai đoạn trưởng thành, cá đã hoàn chỉnh sự phát triển các cơ quan, các bộ phận
cơ thể Đặc biệt, giai đoạn này được đánh dấu bằng sự hoàn thiện cơ quan sinh dục; cá có khả năng thành thục sinh dục và sinh sản Tính ăn của cá ổn định theo loài Các hoạt động sống của cá ưu tiên cho những vấn đề liên quan đến sinh sản
Trang 19Có sự tích lũy dinh dưỡng trong cơ thể ( chủ yếu là lipid ) phục vụ cho sự phát triển, tạo sản phẩm sinh dục và các hoạt động trong sinh sản Cá có dấu hiệu giảm hệ số sử dụng năng lượng và cường độ dinh dưỡng so với giai đoạn tiền trưởng thành Trong tự nhiên, cá có khả năng điều chỉnh cường độ và nhu cầu dinh dưỡng cho phù hợp với đặc tính phát triển sản phẩm sinh dục
Giai đoạn già, đặc trưng dinh dưỡng của cá ở giai đoạn này là cường độ dinh dưỡng và hệ số sử dụng năng lượng đã giảm rõ rệt, tiến tới giảm nghiêm trọng vào cuối giai đoạn già Cá có sự mất cân bằng giữa đồng hóa và dị hóa trong trao đổi chất, quá trình dị hóa chiếm ưu thế hơn đồng hóa Ít hoặc nhiều cá cũng thay đổi hình thái; khả năng sinh sản giảm dần tới ngừng hẳn, có biểu hiện giảm thể trọng và hiệu suất sinh trưởng có trị số âm Khi đã xác định cá bước vào giai đoạn già, những hiểu biết về những đặc điểm dinh dưỡng của cá giúp người nuôi
cá cần thay thế hoặc thu hoạch
Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm ( 2009 ), mỗi loài cá ăn một số loại thức ăn ( nhóm thức ăn ) nhất định, được người ta gọi là phổ thức ăn Có nhiều căn cứ làm cơ sở cho những hình thức phân chia tính ăn của cá Theo số loại thức ăn thì tính ăn của cá có thể là đơn thực ( ăn một loại thức ăn ), có thể là hẹp thực ( ăn một số loại thức ăn ), có thể là rộng thực ( ăn nhiều loại thức ăn ) Tuy nhiên hiện nay ( nhất là trong nuôi trồng thủy sản ), tính ăn của cá được chia theo các nhóm: cá ăn thực vật, cá ăn động vật và cá ăn tạp
Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm ( 2009 ), sinh sản là đặc trưng cơ bản của sinh vật ( cá ) để tạo ra thế hệ mới duy trì và phát triển nòi giống, là hoạt động biểu hiện cao nhất thích nghi với điều kiện môi trường sống
Hầu hết các loài cá, đực – cái dị thể, đẻ trứng thụ tinh ngoài Ngoài ra còn một số loài đẻ con, một loài lưỡng tính, nhưng những trường hợp này không phải là phổ biến
Tuổi thành thục là tuổi nhỏ nhất trong đời ( lần đầu tiên ) cá có sản phẩm sinh dục thành thục Tuổi thành thục của cá tùy vào loài và điều kiện sống Thông thường, sống trong cùng một vùng địa lý những loài có kích thước lớn có tuổi thành thục cao hơn những loài có kích thước nhỏ Cùng loài nhưng sống ở những
vĩ độ khác nhau thì tuổi thành thục khác nhau
Trang 202.5 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, DINH DƯỠNG VÀ SINH SẢN CỦA CÁ
Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm ( 2009 ), điều kiện khí tượng thủy văn
có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của cá Trong các nhân tố khí tượng thủy văn thì nhiệt độ nước chiếm vai trò chủ yếu nhất
Cá là động vật biến nhiệt nên trong giới hạn nhiệt độ thích ứng của loài, tốc độ tăng trưởng cá gia tăng theo chiều thuận cùng sự gia tăng của nhiệt độ Vấn đề này liên quan đến cường độ trao đổi chất Quy luật chung là trong giới hạn nhiệt
độ thích nghi cường độ trao đổi chất tăng 2 – 4 lần khi nhiệt độ nước tăng 10 0C Tuy nhiên, mỗi loài cá có vùng nhiệt độ thích nghi riêng Tại đó khi nhiệt độ tăng nhưng cường độ trao đổi chất không tăng là cá có khả năng tự điều hòa trao đổi chất rất tốt ở vùng nhiệt độ thích nghi
Thông thường mỗi loài cá có độ lớn của biên độ vùng nhiệt độ thích nghi từ 5 – 7
Nguyễn Văn Kiểm ( 2005 ), ngoài yếu tố sinh thái như nhiệt độ, vĩ độ, trong môi trường nước còn có rất nhiều yếu khác chi phối sự sinh trưởng của cá Một số trong chúng có thể đóng vai trò kích thích, số khác có thể đóng vai trò ức chế sinh trưởng cá Cũng có thể tùy giá trị thực của chúng trong môi trường nước mà
có chức năng kích thích hoặc ức chế Trong số các yếu tố đó, các nhà nghiên cứu
và nuôi trồng thủy sản thường quan tâm tới hàm lượng oxy hòa tan, độ pH, các chất hữu cơ, các chất có thể gây hại cho cá, không gian sống của cá Biểu hiện mức độ tác động của những yếu tố này đến sinh trưởng cá, ở trong tự nhiên và trong nhân tạo có rất nhiều điểm không hoàn toàn giống nhau
Trang 21Có rất nhiều yếu tố sinh thái thuộc điều kiện sống có ảnh hưởng đến cường độ dinh dưỡng của cá Trong đó, các yếu tố nhiệt độ, cơ sở thức ăn trong nước giữ vai trò quan trọng cả trong tự nhiên và trong nhân tạo Ngoài ra, trong nuôi trồng thủy sản yếu tố quan trọng thường được nhắc tới nữa là hàm lượng oxy hòa tan
và pH nước
Yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động sống của cá trong suốt chu
kỳ sống Trong phạm vi nhiệt độ thích hợp, cường độ dinh dưỡng tăng theo sự gia tăng của nhiệt độ, nhưng sự gia tăng này sẽ tạm bị dừng lại khi nhiệt độ trong vùng nhiệt độ thích nghi
Cường độ dinh dưỡng của cá tăng khi cơ sở thức ăn phong phú, bao gồm những loại thức ăn ưa thích, chất lượng thức ăn chi phối rất lớn cường độ dinh dưỡng; Thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao thì cá có cường độ dinh dưỡng không cao, cá chỉ ăn một lượng thức ăn không nhiều đã đủ cho nhu cầu dinh dưỡng của cá
Cá sẽ giảm cường độ dinh dưỡng khi hàm lượng oxy hòa tan và pH thấp, thậm chí có thể ngừng ăn khi các yếu tố này có giá trị không thích hợp cho cá Cường
độ dinh dưỡng của cá tương đối ổn định trong phạm vi thích của oxy và pH, chỉ tăng nhẹ tại giá trị cực thuận ( optimum ) của hai chỉ số này Hầu hết các loại cá nuôi ở nước ta có cường độ dinh dưỡng cao khi hàm lượng oxy hòa tan từ 4 mg/l trở lên và pH từ 7 – 8
Các yếu tố có khả năng gây độc hại trong nước khi tồn tại ở hàm lượng nhất định, chưa có ngưỡng gây hại thì không ảnh hưởng xấu, không cản trở cường độ dinh dưỡng của cá Khi đã tới giới hạn gây hại thì cường độ dinh dưỡng cá giảm khi hàm lượng các yếu tố độc hại tăng Nghiên cứu cường độ dinh dưỡng của cá tạo cơ sở xác định loại thức ăn cần cung cấp và khẩu phần ăn cho cá trong điều kiện nhất định của bản thân cá và môi trường nước nuôi cá
Chung Lân ( 1965 ) được trích dẫn Lâm Chí Danh ( 1996 ), nhiệt độ ấp của các loài cá nói chung từ 25 – 29 0C là thích hợp, nếu lớn hơn 31 0C thì tỉ lệ dị hình nhiều
Mã Thanh Huệ và Huỳnh Quốc Hùng ( 1981 ), ở nhiệt độ 27,7 – 30 0C vẫn thích hợp cho việc ương ấp trứng cá Mè Vinh
Nguyễn Thùy Nhiên và Nguyễn Bạch Loan ( 1983 ), ở nhiệt độ 27,7 – 29,8 0C thì thích hợp cho ương ấp cá Mè Vinh
Trang 22Phạm Văn Khánh ( 1994 ), nhiệt độ thích hợp ấp trứng cá Mè Vinh là 27 – 30 0C, nếu nhiệt độ lớn hơn 31 0C thì trứng ung nhiều, tỷ lệ nở thấp, cá con dị hình nhiều Ở nhiệt độ 28 – 30 0C phôi phát triển trong khoảng 11 – 13 giờ
Phạm Văn Khánh ( 1994 ), nước để ấp cho trứng cá Mè Vinh tối thiểu oxy lớn hơn hoặc bằng 3 mg/l, nếu oxy thấp hơn 2 mg/l thì trứng có tỉ lệ nở thấp
Chung Lân ( 1961 ) được trích dẫn Lâm Chí Danh ( 1996 ), thì pH 7 – 8 thích hợp nhất cho việc nuôi cá và trong quá trình sinh sản cá
Swinggle ( 1961 ) được trích dẫn bởi Huỳnh Tấn Đạt ( 2009 ), thì pH 6 – 9 thích hợp cho đa số loài cá tôm nuôi, điểm pH gây chết cho hầu hết các loài cá nước ngọt là 4 và 11 Tuy nhiên nếu duy trì pH ≤ 6,5 hay pH ≥ 9 – 9,5 một thời gian dài sẽ làm cho cá tăng trưởng chậm
Nguyễn Lộc và Phạm Văn Khánh ( 1993 ), cá Mè Vinh trưởng thành có ngưỡng
pH là 5,8 – 10,2, còn oxy là 1,52 mg/l
Mã Thanh Huệ và Huỳnh Quốc Hùng ( 1981 ), trứng cá Mè Vinh có thể ấp trong
bể vòng, bocal sục khí Trong đó bocal sục khí là dụng cụ ấp trứng có tỷ lệ nở và
tỷ lệ sống cao nhất
Chung Lân ( 1969 ), đối với cá ở những ao nước tĩnh, nếu trước khi kích thích cho cá đẻ không có sự rèn luyện thích dạng hoặc không có xử lý bằng dòng nước chảy nhẹ và chất lượng nước xấu nói chung tỉ lệ rụng trứng, tỉ lệ nở kém
Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm ( 2009 ), ở Đồng bằng sông Cửu Long
cá tập chung sinh sản vào đầu mùa mưa ( tháng 5 ) Tuy nhiên, do đặc tính khí hậu nhiệt đới của nước ta ( nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long ) nên vào những tháng khác ( khác mùa ) vẫn thấy cá sinh sản nhưng đó không phải là mùa chính, năng suất và hiệu quả không cao