TÓM TẮT Thí nghiệm “Thử nghiệm sử dụng Ovaprim để kích thích sinh sản nhân tạo cá tra pangasianodon hypophthalmus” thu được một số kết quả chỉ tiêu sinh sản như sau: Sử dụng chất kích t
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ Đặc biệt là các thầy, cô ở bộ môn Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước ngọt đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Bùi Minh Tâm, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Xin cảm ơn đến Thầy cố vấn học tập, đã tận tâm dạy bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tại trường
Xin cảm ơn các anh, em trong trại cá – Khoa Thủy Sản và tập thể lớp Nuôi Trồng Thủy Sản K32 đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành đề tài
Và tôi hoàn thành luận văn này là nhờ sự động viên và giúp đỡ rất lớn từ phía gia đình tôi, xin được cám ơn tất cả những người thân
Một lần nữa tôi xin gởi những lời cảm ơn chân thành nhất, những lời tri ân sâu sắc nhất đến tất cả những người đã giúp đỡ tôi Nhờ được sự quan tâm hướng dẫn tận tình của quý thầy cô đã giúp tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Và tôi hứa sẽ trân trọng, gìn giữ tất cả những gì thầy cô đã truyền đạt, không ngừng học tập rèn luyện để bổ sung kiến thức cho bản thân, phục vụ cho xã hội
Trong quá trình thực hiện luận văn, chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp của quý thầy
cô
Chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thị Ngọc Tiên
Trang 4TÓM TẮT
Thí nghiệm “Thử nghiệm sử dụng Ovaprim để kích thích sinh sản nhân tạo cá
tra (pangasianodon hypophthalmus)” thu được một số kết quả chỉ tiêu sinh sản
như sau:
Sử dụng chất kích thích Ovaprim ở 3 nồng độ (0,5, 0,75 và 1 ml/kg cá cái) đều
có tác dụng gây chín và rụng trứng Đối với nồng độ Ovaprim là 0,5 ml/kg cá cái có sức sinh sản thực tế là 25.751 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh là 43,2% và
tỷ lệ nở là 54,5%, nồng độ 0,75 ml/kg cá cái thì sức sinh sản thực tế 11.428 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh 3% và tỷ lệ nở 38,8%, còn nồng độ 1 ml/kg cá cái đạt sức sinh sản thực tế là 19.564 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh 12,9% và tỷ
lệ nở 63,4% Thời gian hiệu ứng thuốc của 3 nồng độ trên lần lượt là 6h10, 7h30 và 13h Đường kính trứng đo được nằm trong khoảng từ (0,92 – 1,07 mm) Thời gian phát triển phôi từ 21h10 – 23h30 ở nhiệt độ 27 – 29oC
Trang 5MUC LỤC
CHƯƠNG I: 1
GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG II: 3
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Phân bố 4
2.1.3 Hình thái, sinh lý 4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.2.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 6
2.2 Sơ lược về kích thích tố để kích thích sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi 7
2.2.1 Não thùy thể (Hypophysis – tuyến yên) 7
2.2.2 HCG (Human Chorionic Gonadotropin) 8
2.2.3 GnRH-a 8
2.2.4 LRH-a (Luteotropin Releasing hormone - Analog) 9
2.2.5 Ovaprim 9
2.3 Một số kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá trơn 10
CHƯƠNG III: 13
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13
3.1.1 Thời gian 13
3.1.2 Địa điểm 13
3.2 Vật liệu nghiên cứu 13
3.2.1 Dụng cụ 13
3.2.2 Thuốc và hoá chất sử dụng 13
3.3 Phương pháp nghiên cứu 13
3.3.1 Chọn cá bố mẹ để tiến hành cho sinh sản nhân tạo 13
3.3.2 Thí nghiệm dùng Ovaprim ở 3 nồng độ khác nhau để kích thích sinh sản nhân tạo cá tra 14
Trang 63.3.4 Kỹ thuật thụ tinh, khử dính và ấp trứng 16
3.3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 16
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 17
CHƯƠNG IV: 18
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 Kết quả kích thích sinh sản nhân tạo cá tra 18
4.1.1 Đường kính trứng 18
4.1.2 Kết quả một số chỉ tiêu sinh sản nhân tạo cá tra sử dụng kích thích tố Ovaprim 19
4.2 Thụ tinh nhân tạo và ấp trứng 23
4.2.1 Thụ tinh nhân tạo 23
4.2.2 Quá trình ấp trứng 26
CHƯƠNG V: 30
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 30
5.1 Kết luận 30
5.2 Đề xuất 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 PHỤ LỤC
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) 3
Hình 3.1: Vị trí tiêm cá tra trong quá trình nghiên cứu 15
Hình 4.1: Lọ đựng mẫu trứng 18
Hình 4.2: Lấy mẫu trứng đo 18
Hình 4.3: SSS thực tế của cá tra khi tiêm Ovaprim ở những nồng độ khác nhau (0,5, 0,75, 1 ml/kg cá cái 20
Hình 4.4: Tỷ lệ thụ tinh của cá tra ở 3 nghiệm thức 22
Hình 4.5: Tỷ lệ nở của cá tra ở 3 nghiệm thức 23
Hình 4.6: Vuốt trứng cá Tra 24
Hình 4.7: Vắt tinh cá Tra 24
Hình 4.8: Khử dính trứng cá tra bằng dd muối urea 25
Hình 4.9: Khử dính với Tanin 25
Hình 4.10: Hệ thống ấp trứng bằng bình Zoug Jar 26
Hình 4.11: Ấp trứng bố trí thí nghiệm 26
Hình 4.12.1 – 4.12.19: Quá trình phát triển phôi cá tra ở nhiệt độ 27-29oC 28
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Nồng độ Ovaprim dùng tiêm ở 3 nghiệm thức 14
Bảng 4.1: Đường kính cá Tra qua các lần tiêm kích thích tố 19
Bảng 4.2: Kết quả một số chỉ tiêu sinh sản cá tra 19
Bảng 4.3: Điều kiện môi trường ấp trứng 26
Bảng 4.4: Thời gian và các giai đoạn phát triển phôi cá tra ở điều kiện nhiệt độ 27 – 29oC 27
Trang 10CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
Cá tra là loài cá có giá trị kinh tế khá cao, từ lâu đã được nuôi phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Thịt cá tra thơm ngon, bổ dưỡng Thịt cá tra fillet thương phẩm của ĐBSCL đã có mặt ở hầu hết các siêu thị, cửa hàng và quầy bán lẻ thủy sản của khoảng 65 nước với một thương hiệu riêng, mang lại nguồn ngoại tệ lớn mỗi năm (Nguyễn Chung, 2008)
Sinh sản nhân tạo cá là lĩnh vực có vai trò quan trọng trong khoa học, là khâu đầu tiên và mang tính quyết định đến sự phát triển nghề nuôi thủy sản Để chủ động điều khiển quá trình sinh sản của đối tượng nào đó, ngoài đặc điểm sinh học, sinh học sinh sản và nguyên lý sinh sản cá ngoài tự nhiên cần có những hiểu biết về các loại kích dục tố và hiệu quả của các loại kích dục tố trên từng loài
Ngày nay trong sinh sản nhân tạo cá tra có nhiều loại kích dục tố có thể sử dụng, nhưng phố biến nhất và có hiệu quả là những loại kích dục tố như: HCG (Human Chorionic Gonadotropin), LHRH-a (Luteotropin Hormon Releasing Hormone Analog) kết hợp với Domperidone LHRH-A và Domperidone được
sử dụng rất phổ biến trên nhiều loài cá Hormone này được nhập từ Trung Quốc có giá rẻ lại không gây phản ứng phụ và phản ứng miễn dịch ở cá Nhưng hiện nay chất lượng của kích thích tố này không ổn định và ít được các
cơ sở sản xuất giống sử dụng Bên cạnh đó khi sử dụng LHRH-a kích thích sinh sản cá thì có nhược điểm là kéo dài thời gian tái thành thục của cá so với
sử dụng HCG và não thùy (Nguyễn Tường Anh, 1999)
Ở Việt Nam, các kết quả thu được cho thấy cá tra có khả năng sinh sản bằng phương pháp nhân tạo Tuy nhiên trong giai đoạn đầu kỹ thuật còn chưa ổn định và có nhiều khó khăn cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện Mãi đến năm
1998 nước ta mới thành công trong việc sinh sản nhân tạo cá tra và đưa vào
sản xuất đại trà (Dương Thúy Yên và ctv, 2006) Sự phát triển mạnh mẽ của
nghề nuôi cá tra đã đặt ra một đòi hỏi rất cao về con giống, cả về số lượng cũng như chất lượng Do vậy mà thị trường cá tra giống có tiềm năng rất lớn
và sự thành công của nghề sản xuất cá tra ngày nay gần như đặt trọng tâm vào
kỹ thuật sản xuất để có con giống tốt
Hiện nay nghề nuôi cá tra trên đà phát triển, nó đã trở thành một phong trào
Trang 11phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên vớt trên sông Tiền và sông Hậu Nhưng hiện nay đã cho sinh sản nhân tạo cá tra thành công Như vậy sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kính tế cho nghề sản xuất giống
Ovaprim là một hỗn hợp của chất tương tự hormone giải phóng kích dục tố cá Hồi và kháng dopamin là domperidone Ở nước ta việc sử dụng Ovaprim để kích thích sinh sản nhân tạo cho cá còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trên cá tra Nhưng ở một số nước trên thế giới, Ovaprim đã được kiểm tra thành công đối
với một số loài cá như nhóm cá chép lớn Ấn Độ ở Ấn Độ, cá tra (Pangasius
hypophthalmus), cá da trơn đuôi lươn (Neosilurus ater), cá da trơn tại Mỹ, cá
chép Thái tại Thái Lan, cá Trê trắng (Clarias batrachus) ở Malaysia và trên
một số loài cá cảnh (http://www.fda.gov)
Xuất phát từ những lý do trên đề tài nghiên cứu “Thử nghiệm sử dụng Ovaprim để kích thích sinh sản nhân tạo cá tra” được thực hiện
Mục tiêu của đề tài
Xác định nồng độ Ovaprim thích hợp để kích thích sinh sản nhân tạo cá tra nhằm làm phong phú thêm vấn đề sử dụng kích thích tố trong kích thích sinh sản cá tra
Nội dung của đề tài
Thử nghiệm dùng Ovaprim ở những nồng độ khác nhau để kích thích sinh sản nhân tạo cá tra
Xác định các chỉ tiêu sinh sản
Trang 12CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Hình 2.1: Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
(Nguồn: http://www.jjphoto.dk/fish_archive/warm_freshwater/pangasius_hypophthalmus.htm)
2.1.1 Phân loại
Theo hệ thống phân loại gần đây của Komarudin và Pariselle, 2000; Tana,
2000 cá tra có hệ thống phân loại như sau:
Trước đây, cá Tra được xếp vào họ Schilbeidae với tên khoa học là Pangasius
micronemus Bleeker, 1847 (Mai Đình Yên và ctv, 1992; Trương Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hương, 1993) Ngoài ra cá tra còn có tên khoa học là Pangasius
hypophthalmus được mô tả lần đầu bởi Sauvage năm 1878 ở Campuchia Nhìn
chung, tên khoa học của cá tra thì có nhiều tài liệu công bố nhưng có sự khác
nhau Tuy nhiên, gần đây thì tên Pangasianodon hypophthalmus (Komarudin
và Pariselle, 2000; Tana, 2000) đã được nhiều tác giả sử dụng rộng rãi trong các báo cáo khoa học và nhiều tài liệu công bố trên thế giới
Trang 13Cá tra là một loài cá nuôi truyền thống trong ao của nông dân các tỉnh ĐBSCL
2.1.2 Phân bố
Cá Tra phân bố ở lưu vực sông Mekong, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Mekong và Chao Phraya Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo cá tra bột và giống được vớt chủ yếu trên sông Tiền và sông Hậu Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên địa phận Việt nam, do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mekong để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm (Bộ Thủy sản, 2007)
Theo Cacot (1999), ở hạ lưu sông Cửu Long có 11 loài chủ yếu thuộc giống Pangasius, trong đó có 8 loài có kích thước lớn (chiều dài lớn hơn 50 cm) Đặc
biệt có 2 loài là cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá Basa (Pangasius bocourti) được nuôi rất nhiều ở ĐBSCL
2.1.3 Hình thái, sinh lý
Cá có kích thước tương đối lớn, là loài cá da trơn không vẩy, thân dài, dẹp ngang, màu xám hơi xanh ở trên lưng, hai bên hông và bụng nhạt Đầu nhỏ vừa phải, miệng rộng, mắt tương đối to, có 2 đôi râu dài Vây lưng và vây ngực có gai cứng, có vây mỡ nhỏ Phần cuối đuôi vây hơi đỏ (Mai Đình Yên
2.1.4 Ðặc điểm dinh dưỡng
Miệng cá tra có răng sắc nhọn trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái Dạ dày của cá tra bột và cá tra trưởng thành có hình chử U và co dãn được, ruột cá ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bong khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn, với đặc điểm này thì
Trang 14cá tra có tính ăn thiên về động vật Điều đó được thể hiện ngay sau khi cá bột tiêu hết noãn hoàng là cá ăn thịt và ăn lẫn nhau Cá tra là loài cá có phổ thức
ăn rộng (Nguyễn Chung, 2008)
Theo Trần Thanh Xuân (1994), khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày của cá tra đánh bắt trong tự nhiên có tỷ lệ thành phần thức ăn trong dạ dày như sau: Cá tạp (37,8%), ốc (23,9%), thực vật (6,67%) và mùn bã hữu cơ (31,6%)
Cá tra là loài ăn tạp Trong tự nhiên, cá ăn được mùn bả hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, ốc,…cá nuôi trong ao có thể sử dụng các loại thức
ăn như: cá tạp, thức ăn viên, cám, tấm, rau muống,…thức ăn có nguồn gốc từ động vật sẽ giúp cá lớn nhanh hơn (Dương Nhựt Long, 2003)
Cá tra khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho
ăn đầy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột Ngoài ra khi khảo sát cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các loài cá khác (Bộ Thủy sản, 2007)
2.1.5 Ðặc điểm sinh trưởng
Cá Tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài, cá 2 tháng đã đạt chiều dài 10 – 12 cm (14 – 15 gam) Cá từ 0,30 – 0,40 kg/con tăng nhanh về chiều dài và trọng lượng, cá từ 2,5 kg/con trở đi mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể và cá trên 10 tuổi tăng trọng rất ít (Nguyễn Chung, 2008)
Theo Trần Thanh Xuân (1994), cá tra bột hết noãn hoàng có chiều dài trung bình từ 1 – 1,1 cm, sau 14 ngày ương đạt 2,0 – 2,3 cm và trọng lượng là 0,25g
Cá 5 tuần tuổi đạt 1,28 – 1,5g, chiều dài 5 – 6 cm Sau một năm cá đạt 0,7 – 1,5 kg và đến 3 – 4 tuổi đạt 3 – 4 kg Cá còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài, khi đạt 2,5 kg là bước vào thời kỳ tích lũy mỡ, cần có chế độ nuôi dưỡng thích hợp để phát dục tốt Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng còn tùy thuộc vào mật độ nuôi, chất lượng và số lượng thức ăn cung cấp Độ béo cũng tăng dần theo sự phát triển của cá, ở năm đầu tiên độ béo tăng nhanh nhất, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể: cá có trọng lượng 11,2 kg có độ béo là 0,99%, cá 560g có độ béo 1,6%, nhưng cá 3 tuổi nặng 3,62 kg có độ béo 1,62% Cá đực
có độ béo cao hơn cá cái
Trang 15Theo Nguyễn Văn Kiểm (2005) Cá tra có tốc độ sinh trưởng khá nhanh, sau 1 năm cá đạt trọng lượng 1 – 1,5 kg/con, trong những năm sau cá lớn nhanh hơn, có thể đạt 25 kg ở 10 tuổi
Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm Ðã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18
kg hoặc có mẫu cá dài tới 1,8 m Ðộ béo Fulton của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản (Bộ Thủy sản, 2007)
2.1.6 Ðặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5 – 3 kg Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ở địa phận của Campuchia và Thái Lan Ngay từ năm 1966, Thái Lan đã bắt cá tra thành thục trên sông trong đầm Bung Borapet và kích thích sinh sản nhân tạo thành công Sau đó họ nghiên cứu nuôi vỗ cá tra trong ao Ðến năm 1972 Thái Lan công bố quy trình sinh sản nhân tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố
mẹ thành thục trong ao đất (Bộ Thủy Sản, 2007)
Cá Tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cái Ở thời kỳ thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đọan II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều Các giai đọan sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa Hệ số thành thục của cá tra khảo sát được trong tự nhiên từ 1,76 – 12,94 (cá cái) và từ 0,83 – 2,1 (cá đực) ở cá đánh bắt tự nhiên trên sông cỡ từ 8 – 11kg Trong ao nuôi vỗ,
hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,5% (Hội nghề cá Việt Nam VINAFIS, 2004)
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 – 6 dương lịch, cá
có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái Lan, không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam Bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mekong và Tonlesap, từ thị xã Kratie (Campuchia) trở lên đến thác Khone, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào Nhưng tập trung nhất từ Kampi đến hết Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng Tại đây có thể bắt được những cá tra nặng tới 15 kg với buồng trứng đã thành thục Cá đẻ trứng
dính vào giá thể thường là rễ của loài cây sống ven sông Gimenila asiatica,
Trang 16sau 24 giờ thì trứng nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn (Nguyễn Chung, 2008)
Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá gọi là sức sinh sản tuyệt đối Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng Sức sinh sản tương đối là số trứng có được của 1 kg cá cái, thường dao động từ 70 ngàn đến 130 ngàn trứng Kích thước trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1mm Sau khi đẻ ra và hút nước đường kính trứng khi trương nước có thể tới 1,5 – 1,6 mm Trong tự nhiên, không gặp tình trạng cá tái phát dục Chỉ có trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá tra có thể tái phát dục 1-2 lần trong năm (Phạm Văn Khánh, 2003)
Theo Bộ Thủy sản (2007) Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1-3 lần trong một năm
2.2 Sơ lược về kích thích tố để kích thích sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi
2.2.1 Não thùy thể (Hypophysis – tuyến yên)
Người ta lấy não thùy từ những cá thuộc họ cá chép, trắm, mè, trê… đã thành thục còn tươi sống Ở cá chết sau vài giờ, hoạt tính kích dục chỉ còn 50% Trong cùng trường hợp và thể trọng và mức độ thành thục thì não thùy của cá chép cái có hoạt tính của GTH II cao gấp 2 lần so với não thùy thể cá đực cùng loài Cá có hệ số thành thục càng cao, càng gần điểm sinh sản thì hoạt tính kích dục tố của não thùy càng cao (Nguyễn Tường Anh, 1999)
Não thùy cá xương là khối nhiều tuyến nằm sát não trung gian, có nhiều sợi hoặc ống của tế bào nằm trong lớp đệm bằng mô liên kết Đây là loại kích dục
tố sử dụng rộng rãi nhất vì bảo quản vận chuyển dể dàng và khi sử dụng ít xảy
ra phản ứng phụ (Nguyễn Văn Kiểm, 2000) Não thùy thể tiết ra các kích dục
tố kích thích nang trứng hoạt động, biến nang trứng thành thể vàng, gây rụng trứng ở cá cái và kích thích tạo tinh của cá đực Có thể sử dụng não thùy dạng tươi hoặc khô (Bộ Thủy sản – Trung tâm khuyến ngư quốc gia, 2005)
Não cá sau khi lấy xong phải ngâm trong acetol hoặc cồn 96o để nơi khô ráo, thoáng mát Não thùy cá thành thục tốt hơn não thùy cá chưa thành thục, não thùy lấy từ cá có tuyến sinh dục thoái hóa không có hoạt tính Não thùy cá cái
có hoạt tính kích dục gấp 2 – 2,5 lần não thùy cá đực cùng loài (Nguyễn
Trang 17Trong quá trình sử dụng não thùy để kích thích sinh sản cá còn có một số hạn chế: Phải giết những cá đã thành thục có thể làm cá bố mẹ hoặc làm giảm giá trị thương phẩm của cá bị lấy não thùy, sự không ổn định hoạt tính của não thùy có thể gây ra những tổn thất về cá bố mẹ và não thùy là hổn hợp của nhiều loại hormone nếu sử dụng không thích hợp có thể gây ra phản ứng phụ
có hại, thậm chí làm chết cá bố mẹ (Nguyễn Tường Anh, 1999)
2.2.2 HCG (Human Chorionic Gonadotropin)
HCG (Human Chorionic Gonadotropin) có tên là hormone màng đệm, hormone nhau thai, có chức năng như LH của tuyến yên, được chiết xuất từ nước tiểu phụ nử có thai và dịch nạo thai Khi bào thai được 2 – 3 tháng thì hàm lượng HCG cao nhất HCG được sử dụng kích thích cá sinh sản thành công lần đầu tiên ở Trung Quốc (Phạm Minh Thành – Nguyễn Văn Kiểm, 2008)
HCG có tác dụng chuyển hóa buồng trứng và gây rụng trứng trên rất nhiều loài cá Thuốc được sản xuất và đóng gói trong lọ thủy tinh với lượng chứa 5.000 UI hoặc 10.000 UI (UI viết tắt của đơn vị quốc tế - Unit International) Khi dùng chỉ cần pha với nước cất hoặc nước muối sinh lý (Hội nghề cá Việt Nam VINAFIS, 2004)
Theo Nguyễn Tường Anh (1999) Có thể nói HCG là loại kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều loài cá nhất, ngoài các loài cá mè, các loài cá trê HCG còn có tác dụng gây rụng trứng cho các loài cá khác ở nước ta như
cá chày, cá vền, cá trôi, cá bống, cá vàng…
2.2.3 GnRH-a
GnRH-a là những chất tổng hợp tương tự như hormone phóng thích kích dục
tố từ tuyến yên Trong nghề cá, người ta thường dùng mGnRH-a (hay còn gọi
là LH-RH-a là chất tương tự GnRH-a của động vật có vú) và sGnRH-a (chất tương tự GnRH của cá hồi) và một chất kháng dopamin Dopamin là chất dẫn truyền thần kinh ngăn cản sự tiết kích dục tố từ tuyến yên Các chất kháng dopamin thường được dùng nhất là domperidon, pimozid, metoclopramid GnRH-a có tác dụng gây phóng thích kích dục tố ở cá, vì thế chúng có thể được dùng làm chất kích thích sinh sản cho tất cả các loài (Nguyễn Tường Anh, 1999)
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2005) GnRH-a được sử dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay vì có một số ưu điểm: Có thể tổng hợp được nên hoạt tính luôn ổ
Trang 18định, tránh được sự lan truyền của bệnh và sử dụng được trên nhiều loài cá khác nhau
2.2.4 LRH-a (Luteotropin Releasing Hormone -Analog)
LRH-a (Luteotropin Releasing Hormone Analog) là hormone nhân tạo, có tác dụng như GnRH Loại hormon nhân tạo này được sử dụng kèm theo với thụ thể nhân tạo kháng Dopamine là Domperidone Domperidone là tên hóa học của thụ thể nhân tạo, có tên thương mại là Motilium Ở nước ta LRH-a và Domperidon được sử dụng trong khoảng 20 năm gần đây, hiện nay được dùng phổ biến trên nhiều loài cá, được nhập từ Trung Quốc, có giá rẻ lại không gây phản ứng phụ và phản ứng miễn dịch ở cá Tuy nhiên khi sử dụng LRH-a kích thích sinh sản cá thì có nhược điểm là kéo dài thời gian tái thành thục của cá
so với sử dụng HCG hoặc não thùy Nguyên nhân cơ bản là LRH-a đã làm cho
cá sử dụng cạn kiệt FSH và LH từ não thùy cho quá trình chín và rụng trứng (Phạm Minh Thành – Nguyễn Văn Kiểm, 2008)
LRH-a là hormone tổng hợp và được sản xuất ở nhiều nước Sản phẩm này của Trung Quốc sản xuất ở dạng bột chứa trong ống thủy tinh Ngoài ra còn ở dạng nước đóng trong chai gọi là Ovaprim do Canada sản xuất LHRH-a có tác dụng chuyển hóa buồng trứng, đồng thời gián tiếp gây rụng trứng Khi sử dụng phải dùng kèm thêm Domperidon (Bộ Thủy sản – Trung tâm khuyến ngư
quốc gia, 2005)
2.2.5 Ovaprim
Kích thích phóng kích thích tố và ức chế sự tiết dopamine 1ml Ovaprim chứa 20µ sGnRH-a và 10mg Domperidon (Nguyễn Văn Kiểm, 2005) Ovaprim là hỗn hợp của các chất sGnRH (Salmon GnRH – tiền kích dục tố của cá hồi) và glycol propylen chứa chất tổng hợp Ovaprim kích thích rụng trứng và tạo tinh trong quá trình sinh sản của hầu hết các loài cá Khi tiêm sẽ kích thích phóng những hormone tự nhiên trong não và tuyến sinh dục kích thích sinh sản bình
thường (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2008)
Ovaprim là một hỗn hợp của chất tương tự hormone giải phóng kích dục tố cá Hồi và kháng dopamin là domperidone Sử dụng Ovaprim dựa vào phương pháp Linpe, phương pháp này được phát triển sau khi nghiên cứu mở rộng về những tác động kết hợp của chất LHRH, sGnRH kết hợp với kháng dopamin như domperidone hay pimozide Ovaprim đã được kiểm tra thành công đối với một số loài cá như nhóm cá chép Ấn Độ ở Ấn Độ, cá Nheo Mỹ ở Mỹ và cá trê
Trang 19tiết chất kích dục nội sinh ngược lại với phương pháp tiêm thùy não, chất kích dục ngoại sinh được đưa vào cơ thể Chất kích dục nội sinh xuất hiện làm tăng đáng kể steroid, cho phép trứng chín để sinh sản Ovaprim có tác dụng gấp 17 lần so với LHRHa của động vật có vú Việc tăng hiệu quả của SGnRHa là do tuyến yên có nhiều sự tương đồng hơn (http://vst.vista.gov.vn)
2.3 Một số kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá trơn
Kích thích sinh sản đóng vai trò quan trọng trong thực tiển sản xuất đối với các loài cá nuôi, trong điều kiện nuôi nhiều loài cá không sinh sản tự phát Sinh sản nhân tạo cho cá là tiêm các hoạt chất hoặc hormone có khả năng trực tiếp hay gián tiếp đưa đa số noãn bào chuyển sang giai đoạn chín và rụng trứng, việc kích thích sinh sản cá bằng các chế phẩm hormone ngày càng mở rộng Việc sử dụng nhiều loại hormone để kích thích sinh sản cá đã thu được nhiều kết quả tốt như cung cấp đầy đủ, kiệp thời lượng cá giống đúng theo nhu cầu người nuôi Tuy nhiên việc sử dụng hormne để kích thích sinh sản cũng cần chú ý đến các yếu tố như sau: thời vụ - kích cỡ cá bố mẹ - số lần tiêm - chất lượng kích dục tố Nhằm đánh giá chính xác hiệu quả của việc sử dụng hormone trong kích thích sinh sản nhân tạo cá cần quan sát kết quả sử dụng thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ cá đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, sức sống của cá con và ảnh hưởng của kích dục tố đối với cá bố mẹ Mặt khác, tùy loài cá khác nhau mà liều lượng có tác dụng đối với quá trình sinh sản của cá cũng khác nhau
Sinh sản cá tra lần đầu tiên được báo cáo tại Thái Lan vào năm 1959, sau đó là
ở Indonesia vào năm 1981 và ở Malaysia năm 1983 Ở Việt Nam, sinh sản nhân tạo cá tra vào năm 1981 nhưng kết quả đạt được rất thấp Cá bố mẹ nuôi
vỗ trong ao hay bè đều cho kết quả sinh sản nhân tạo tốt với các loại hormone thông thường là HCG và Ovaprim (Cacot, 1999)
Vấn đề sinh sản và lai tạo cá đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới nhưng áp dụng các tiến bộ này cho sinh sản cá trơn chỉ mới bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XX Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy, đa số các loài cá da trơn có thể sinh sản bằng hình thức bán nhân tạo hoặc nhân tạo Biện pháp này cần sử dụng hormone để kiểm soát quá trình chín và rụng trứng theo trình tự nhất định Khi trứng đã thành thục (đường kính trứng trung bình 1,1 – 1,5mm) có thể sử dụng nhiều loại kích thích tố kích thích quá trình chín và rụng như GnRH, HCG, LRHa, Ovaprim, một số kích tố có bản chất là Steroid và não thùy cá chép, họ cá trê,… Liều lượng kích thích tố được sử dụng cho một đơn
vị trọng lượng cá phụ thuộc vào nhiều vấn đề như mức độ thành thục của cá,
Trang 20hoạt tính của kích thích tố, điều kiện môi trường khi kích cá sinh sản (Nguyễn Tường Anh, 1999)
Năm 1960 Thái Lan đã đẩy mạnh đầu tư cho chương trình nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra và đến năm 1966 đã thành công Thái Lan đã trở thành quốc gia đầu tiên sản xuất giống cá tra nhân tạo Năm 1974 quy trình sản xuất giống
cá tra đã tương đối hoàn chỉnh Sự ra đời của kỹ thuật sinh sản cá tra được xem như một bước ngoặc lớn đánh dấu sự phát triển của nghề nuôi cá tra trên
thế giới (Dương Thúy Yên và ctv, 2006)
Từ sau năm 1997 cộng nghệ sản xuất giống cá tra ngày càng hoàn chỉnh và đến năm 2000 thì việc sản xuất giống cá tra đã được xã hội hóa, nhiều nhất tại
2 tỉnh Đồng Tháp và An Giang Trong thời gian này trường Đại học Cần Thơ, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, Sở Khoa học, Công nghệ An Giang, Công ty Agifish An Giang nghiên cứu và cho sinh sản thành công cá basa
Tiếp theo là các đối tượng cá da trơn như cá vồ đém (P larnaudii), cá tra bần
(P kunyit) và cá hú (P conchophilus) cũng đã được thử nghiệm sinh sản
nhưng các kết quả còn hạn chế (Đỗ Minh Tri, 2008)
Lê Sơn Trang và ctv (1999) Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Hú (P
concophilus) và cá Tra bần (P kunyit) bằng kích dục tố HCG với 3 liều tiêm,
liều lượng lần lượt là: 500 UI/kg, 1500 UI/kg, 2000 UI/kg Kết quả sinh sản thu được của cá hú về tỷ lệ sinh sản là 70,83%, sức sinh sản 46.148 trứng/kg
cá, tỷ lệ thụ tinh 83,5% và tỷ lệ nở đạt 81,2%, kết quả về chỉ tiêu của cá tra bần: về tỷ lệ sinh sản 56,7%, sức sinh sản 23.004 trứng/kg cá, tỷ lệ thụ tinh 85,4% vả tỷ lệ nở 80,4%
Cá Basa (Pangasius bocouti) kích thích sinh sản sử dụng kích kích dục tố là
HCG, liều sơ bộ 500UI/kg cá cái, liều quết định là 3000UI/kg cá cái, đối với
cá đực chỉ tiêm một lần với liều lưọng 1/5 – 1/4 so với liều quyết định của cá cái và tiêm cùng lúc với liều quyết định của cá cái Sức sinh sản thực tế 30.000
– 60.000 trứng/kg cá cái (Nguyễn Tuần và ctv, 1997)
Ở cá lăng (Mystus wyckii) cho sinh sản nhân tạo kết hợp các loại kích dục tố
HCG, não thùy cá chép, LHRH-a và Motilium Kết quả ghi nhận với liều 3mg não+80µg LHRH-a+3,5mg Motilium cá cho tỷ lệ rụng trứng 44,44%, tỷ lệ thụ tinh 32,14% và tỷ lệ nở 84,31% và với liều 3mg não + 3000 UI/kg cá không sinh sản (Nguyễn Văn Kiểm và Nguyễn Văn Triều, 2007)
Khi thử nghiệm gây rụng trứng cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus) bằng các
Trang 21nhau thì cá Lăng cái rụng trứng ở liều tiêm phối hợp 25mg (NTC) + 3000UI HCG/kg cá cái Ở điều kiện nhiệt độ nước từ 25 – 26oC, sau liều quyết định 12 – 18 giờ thì 100% cá rụng trứng (Nguyễn Văn Kiểm, 2008)
Hiện nay đã có một số nghiên cứu dùng chất 17,20P trong liều quyết định cho
cá tra sinh sản cho kết quả khả quan Tiêm liều sơ bộ là 800 UI/kg và liều quyết định: 5 mg 17,20P kết hợp với 0,6mg não thùy cá chép/kg cá hoặc 5 mg 17,20P kết hợp với 500 UI HCG/kg cá, thời gian tiêm giữa liều sơ bộ với liều quyết định là 8 – 10 giờ và thời gian hiệu ứng rụng trứng sau khi tiêm liều quyết định 8 -12 giờ Kết quả tỷ lệ rụng trứng róc là 100%, tỷ lệ thụ tinh 74 – 80% ± 7 – 10 và tỷ lệ nở là 90 – 93% ± 4 (Nguyễn Chung, 2008)
Trang 22CHƯƠNG III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian
Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 2/2010 đến tháng 6/2010
3.1.2 Địa điểm
Trại cá thực nghiệm Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Dụng cụ
Cá bố mẹ được nuôi vỗ từ trại cá của khoa Thủy Sản – Đại học Cần Thơ Que thăm trứng, cân đồng hồ và cân điện tử
Kính hiển vi, kính nhìn nổi
Nhiệt kế, đĩa Petri
Hệ thống bình Zoug Jar, bể composite, lọ đựng trứng
Ống tiêm, kim tiêm, thau nhựa, xô, lông gà, băng ca, cốc thủy tinh, hệ thống sục khí và các dụng cụ khác
3.2.2 Thuốc và hoá chất sử dụng
Ovaprim, mỗi lọ 10 ml (sản phẩm của Canada)
Dung dịch Urea + muối NaCl (3g Urea + 4g muối)/1 lít nước
Tanin 1‰ (1g/1 lít nước)
Dung dịch Gilson
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn cá bố mẹ để tiến hành cho sinh sản nhân tạo
Trang 23Đối với cá cái: Chọn cá khỏe mạnh không dị hình, dị tật, lỗ sinh dục có
màu hồng hơi lồi, bụng to mềm kết hợp với que thăm trứng để đánh giá chính xác hơn
Đối với cá đực: Có lỗ niệu sinh dục hơi lồi, khi vuốt nhẹ vùng bụng thì
thấy tinh có màu trắng như sữa chảy ra Nên chọn những cá đực có sẹ đặc để tham gia sinh sản
3.3.2 Thí nghiệm dung Ovaprim ở 3 nồng độ khác nhau để kích thích sinh sản nhân tạo cá tra
Thí nghiêm được chia thành 3 nghiệm thức:
Bảng 3.1: Nồng độ Ovaprim dùng tiêm ở 3 nghiệm thức
Vị trí tiêm: Tiêm ở gốc vây ngực, ở cơ lưng hoặc trực tiếp vào xoang bụng
đều được Nhưng trong sản xuất giống thường tiêm trên cơ lưng và vị trí tiêm nên khác nhau ở mỗi lần tiêm
Nghiệm
thức Liều