THỰC NGHIỆM SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) TẠI TRUNG TÂM GIỐNG TỈNH AN GIANG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THÀNH TUÂN
THỰC NGHIỆM SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) TẠI TRUNG TÂM GIỐNG TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trang 2THỰC NGHIỆM SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) TẠI TRUNG TÂM
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã tạo điều kiện, truyền đạt cho tôi
kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong thời gian đào tạo tại trường
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến đối với thầy hướng dẫn, Thầy Nguyễn Văn Kiểm đã tận tình hướng dẫn tạo điều kiện tốt cho tôi hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn các cô chú, anh chị trong trại giống Bình Thạnh thuộc trung tâm giống thủy sản An Giang đã hết lòng giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài
Trang 3cá tra
Trang 4iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH HÌNH v
DANH SÁCH BẢNG vi
Chương 1: GIỚI THIỆU………1
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU………2
2.1 Khái quát tình hình sản xuất giống cá tra ở ĐBSCL 2
2.2 Sơ lược đặc điểm sinh học của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) 3
2.3 Phân bố 4
2.4 Đặc điểm hình thái 4
2.5 Đặc điển sinh trưởng 5
2.6 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.7 Đặc điểm sinh sản 6
2.8 Một số kết quả kỹ thuật sản xuất giống cá tra 6
2.8.1 Ao nuôi vỗ cá bố mẹ 6
2.8.2 Vấn đề tiêu chuẩn cá bố mẹ 7
2.8.3 Vấn đề nuôi vỗ và kích thích sinh sản 8
2.8.4 Vấn đề quản lí ao nuôi vỗ cá bố mẹ 8
2.9 Vấn đề kích thích cá tra sinh sản 9
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 11
3.1 Thời gian nghiên cứu 11
3.2 Đối tượng nghiên cứu 11
3.3 Vật liệu nghiên cứu 11
3.4 Phương pháp nghiên cứu 11
3.4.1 Biện pháp nuôi vỗ 12
3.4.2 Kích thích sinh sản 12
3.4.3 Ấp trứng 12
3.5 Xử lý số liệu 13
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN……… 14
4.1 Đặc điểm của ao và cơ cấu đàn cá bố mẹ 14
4.1.1 Đặc điểm của ao nuôi vỗ 14
Trang 54.1.2 Đặc điểm đàn cá bố mẹ 16
4.1.3 Chế độ nuôi vỗ 17 iv 4.2 Kết quả nuôi vỗ cá tra 18
4.2.1 Sự thành thục của cá tra 18
4.2.2 Kết quả kích thích sinh sản 18
4.3 Kết quả ấp trứng 21
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……… 22
5.1 Kết luận 22
5.2 Đề xuất 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO………23
v DANH SÁCH HÌNH
Trang Hình 2.1 Cá tra (Pangasiannodon hypophthalmus Sauvage, 1878)…… 4
Hình 3.1 Hệ thống bể ấp trứng 12
Hình 4.1 Cảnh quang xung quanh ao nuôi vỗ 14
Hình 4.2 Tiêm kích thích tố 18
Hình 4.3 Vuốt trứng và thụ tinh 19
Trang 6vi
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Liều lượng kích thích cá sinh sản 12
Bảng 4.1 Kết quả xác định các yếu tố môi trường ao nuôi vỗ 15
Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu kỹ thuật của ao nuôi vỗ cá bố mẹ 15
Bảng 4.3 Cơ cầu đàn cá bố mẹ 16
Bảng 4.4 Tỷ lệ rụng trứng của cá ở các thời điểm khác nhau 20
Bảng 4.5 Sức sinh sản của cá trên từng trọng lưọng cá 20
Bảng 4.6 Kết quả ấp trứng qua các đợt sinh sản 21
1
Chương 1: GIỚI THIỆU
Trong nhiều năm trở lại đây nghề nuôi thuỷ sản ở ĐBSCL đã có bước phát triển to lớn và đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho đất nước Trong số các đối tượng nuôi nước ngọt ở ĐBSCL thì Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) (Sauvage
Trang 71878) là đối tượng được phát triển rất sớm Đây là đối tượng được nuôi phổ biến
ở ĐBSCL và có giá trị kinh tế rất cao, một trong những đối tượng xuất khẩu thuỷ sản chủ lực của đất nước do được thị trường nhiều nước tiêu thụ ưa chuộng Cá Tra là loài dễ nuôi, có tính ăn rộng, có khả năng sống được trong môi trường khắc nghiệt, tăng trọng nhanh và có thể nuôi với mật độ cao Vì vậy nghề nuôi
Cá Tra ngày càng được mở rộng nên có những cơ hội và thử thách mới
Trước đây nguồn giống cá tra chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Do
khai thác quá mức những năm gần nguồn cá tra giống ngoài tự nhiên suy giảm nghiêm trọng
Trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống Cá
Tra đạt được những thành công đáng kể từ mốc quan trọng là từ năm 1995 và đưa vào cho sản xuất đại trà từ năm 1998 Từ đây nguồn cá giống được chủ động
và giống cho nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL gần như được hoàn toàn cung cấp từ sản xuất giống nhân tạo Tuy nhiên kết quả sinh sản nhân tạo cá thường biến đổi
và phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân Trong đó vấn đề nuôi vỗ kích thích sinh sản vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện trong tương lai
Vì những lí do trên mà đề tài: “Thực nghiệm sinh sản nhân tạo cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus) tại trung tâm giống tỉnh An Giang” được
tiến hành
Mục tiêu đề tài
Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho bản thân sinh viên trước khi trở thành người cán bộ kỹ thuật thực thụ
Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên đề tài tiến hành một số nội dung sau:
Thu thập thông tin về đàn cá tra bố mẹ
Tìm hiểu và thực hiện biện pháp nuôi vỗ cá bố mẹ
kích thích cá tra sinh sản
2
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Khái quát tình hình sản xuất giống cá tra ở ĐBSCL
ĐBSCL là 1 trong 7 vùng trọng điểm của cả nước, có diện tích xấp xỉ 4 triệu
ha, chiếm 12% tổng diện tích cả nước ĐBSCL là vùng hạ lưu châu thổ sông Mekong, đây là vùng trù phú nhất, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở cả Đông Nam Á Là vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước, sản lượng thủy sản của vùng chiếm 50%, diện tích nuôi trồng chiếm 60%, sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm 65% và giá trị xuất khẩu thủy sản vùng chiếm 51% cả nước Trong đó
Trang 8nghề nuôi cá tra năm 2002 là 200.000 tấn, 2004 là 315.000 tấn và dự báo 2010 đạt 500.000 tấn (BTS, 2004)
Năm 2002 sản lượng cá tra và basa nuôi của ĐBSCL đạt hơn 200.000 tấn, sản
lượng xuất khẩu đạt 56.000 tấn, kim nghạch xuất khẩu khoảng 135 triệu USD (Ngô Thị Thúy An, 2007) Đến năm 2003, việc xuất khẩu cá tra, basa gặp nhiều nhiều khó khăn do vụ kiện chống bán phá giá cá tra và basa của mỹ đã làm nghề nuôi bất ổn, nhưng cũng qua vụ kiện này làm cho thị trường thế giới biết đến cá tra và basa nhiều hơn và từ đây cá tra Việt Nam có thi trường tiêu thụ rộng hơn
và nghề nuôi phát triển mạnh hơn Năm 2006 xuất khẩu cá tra, Basa đạt 286600 tấn thu về 736872503 USD, 8 tháng đầu năm 2007 đạt 213576 tấn thu về
564762570 USD (Fistenet.gov.vn, 20.05.09)
Do trong thời gian đây cá tra được nhiều quốc gia ưa chuộng, là đối tượng
xuất khẩu chủ lực của ĐBSCL nên trở thành đối tượng có giá trị kinh tế cao và được nuôi phổ biến ở nhiều địa phương Trước đây nguồn cá giống nuôi chủ yếu khai thác tự nhiên ở các địa phương nên nguồn giống không ổn định và do lợi nhuận mà nó mang dẫn đến việc thác bừa bãi làm cho nguồn giống ngày càng cạn kiệt Chính vì thế yêu cầu đặt ra là phải có đủ nguồn cá giống phục vụ cho nghề nuôi cá ngày càng phát triển mạnh trong khi nguồn cá tự nhuên không còn
đủ Trước những khó khăn đó, sự ra đời của kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá tra được xem như bước ngoặt lớn đánh dấu cho sự phát triển nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL
Ở Việt Nam, một số trường và viện nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu cho
nuôi vỗ và sinh sản loài cá này từ những năm 1980 Tuy nhiên trong giai đoạn đầu kỹ thuật còn chưa ổn định Mãi đến năm 2000 mới đưa vào sản xuất đại trà Nếu như trước đây nguồn cá giống được cung cấp chủ yếu từ hệ thống sông
Tiền, sông Hậu thì từ nay nguồn cá giống sinh sản nhân tạo đã trở thành trở thành nguồn cung cấp chính cho người nuôi Viếc chủ động cung cấp nguồn giống đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người sản xuất và mở ra một hướng đi mới cho nghề nuôi cá tra vốn dĩ là một phần cuộc sống của người dân ĐBSCL
3
Qua 4 tháng thực hiện đề tài tại trung tâm giống thủy sản An Giang đã giúp
cho bản thân sinh viên thực tập hoàn thiện kỹ năng trong sinh sản nhân tạo cá tra
và có cái nhìn tống quát hơn về tình hình sản xuất giống cá tra hiên nay nhất là ở
An Giang
Tỉnh An Giang hiện nay có nhiều cở sở sản xuất giống cá tra nhân tạo trong
đó trung tâm giống thủy sản của tỉnh là nơi cung con giống cá tra chất lượng cao hàng năm cung cấp khoảng 225 triệu cá bột Được thành lấp từ năm 1999 ban
đầu với 10 ha sau đó trung tâm ngày càng mở rộng 3 cơ sở Trung tâm nhiều
năm qua đã mở nhiều lớp tạp huấn cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật tuyến cơ sở và
các trại giống về qui trình sản xuất giống, ương và nuôi cá tra theo tiêu chuẩn
SQF CM, chuyển giao công nghệ cho các tỉnh Trại giống Bình Thạnh của trung tâm với diện tích khoảng 10 ha là nơi cho nuôi vỗ và sinh sản nhiều đối tượng, trong đó chủ lực hiện nay là sản xuất giống cá tra bột với số lượng khoảng 600
Trang 9triệu bột mỗi năm
2.2 Sơ lược đặc điểm sinh học của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Loài cá tra nuôi Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878) được mô tả lần đầu tiên bởi Sauvage 1878 Tên khoa học của cá tra theo các tác giả trước đây là Pangasius micronemus beeker, 1847 (Dương Thúy Yên, 2003) Ở Việt Nam đã được một số tác giả đề cập đến và các tác giả đều thống nhất có 9 loài cá tra trong giống cá tra có mặt ở miền nam Việt Nam, trong đó cá tra có tên khoa học theo khóa phân loại của Smith(1945) là Pangasius microneus Beeker Tuy nhiên theo Tyson R Roberts và Chavalilit Vidthayanon(1991 thì cá Tra Việt Nam có tên khoa học là Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878) ( Phạm Văn Khánh, 1996)
Theo hệ thống phân loại mới của WJ Rainboth (1996) thì cá Tra được phân
loại như sau:
Lớp Cá Pisces
Bộ Cá nheo Siluriformes
Họ Cá tra Pangasiidae
Giống Cá tra Pangasianodon
Loài Cá tra Pangasianodon
hypophthalmus (Sauvage 1878)
Tên địa phương của cá tra Việt Nam và một số nước khác như sau:
Indonesia: Wagal, Wakal, Juaru, Djuata, Lawang, Rio, Rios
Thái Lan: Plasawai, Pla Sangkawart tong
Campuchia: Trey Pra
Việt nam: cá tra
4
2.3 Phân bố
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mekong, có mặt ở cả 4 nước nước Lào, Việt
Nam, Campuchia, Thái Lan Ở Thái Lan còn gặp ở lưu vực sông Mekloong và Chao Phraya (VINAFIS, 2004)
Tại Campuchia, cá tra có mặt ở hầu hết các thuỷ vực ( sông, hồ, bưng) Ngày nay các tra được di nhập tới nhiều nước Cá tra cũng được tìm thấy ở nhiều thuỷ vực của các sông lớn ở các nước Malaysia, Indonesia, Myanmar, Sumatra và Trung Quốc (VINAFIS, 2004)
Ở Việt Nam cá tra hoang dã xuất hiện tự nhiên ở vùng hạ lưu sông Mekong
Cá tra cũng có mặt ở hầu hết các sông rạch như Đồng Nai, Vàm Cỏ, hồ biển Lạc, sông La Ngà (Nguyễn Chung, 2007)
2.4 Đặc điểm hình thái
Trang 10Hình 2.1 Cá tra (Pangasiannodon hypophthalmus Sauvage, 1878)
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) mô tả cá tra có một
số đặc điếm:
D.II,(6-7), P.I,(9-10), V.1(7-8), A.32-34
Dài chuẩn/dài đầu = 4,04 (3,5-6,2), dài chuẩn/cao thân = 4,2 (3,4-3,9), dài
đầu/cao vòm miệng = 5,3 (4,7-10,9), dài đầu/đường kính mắt = 4,4 (2,9-7,8), dài đầu/khoảng cách 2 mắt =1,7 (1,5-2,3), dài c đuôi/cao c Đuôi = 1,3-2,27
Đầu rộng, dẹp bằng, mõm ngắn, miệng cận dưới, rộng ngang, không co duỗi
được dang hình vòng cung và nằm trên mặt phẵng ngang Răng nhỏ mịn, răng vòm miệng chia thành 4 nhóm mhỏ, mỏng nằm trên đường vòng cung
Có 2 đôi râu, râu mép kéo dài chưa chạm đến gốc vi ngực, râu mép ngắn hơn Thân thon dài, phần sau dẹp hơn Đường bên hoàn toàn và phân nhánh bắt
đầu từ mép trên của lỗ cung mang đến điểm giữa của gốc vi đuôi 5
Vây ngực có gai cứng, vây bụng có 8 tia mềm phân nhánh, trong khi các loài
2.5 Đặc điển sinh trưởng
Cá tra sống ở vùng nước ấm, nhiệt độ thích hợp 26-320
c, pH = 4-5, và nơi có
độ mặn 7 - 100
/00, chịu được nhiệt độ 30o
c nhưng dễ chết ở nhiệt độ thấp hơn
150
c (Nguyễn Chung, 2007)
Cá có cơ quan hô hấp phụ, có thể thở bằng bong bóng khí và da nên có khả
năng sống trong điều kiện ao tù, nước đọng, nhiều chất hữu cơ, oxy hòa tan thấp
và có thể nuôi với mật độ cao do khả năng tiêu hao oxy thấp (104,42mg/1kg.h) (Trương Tấn Toàn, 1985)
Trang 11Trong tự nhiên hoang dã, cá 1 năm tuổi có thể đạt 0.7kg/con, 2 năm tuổi có
thể lớn 1-5-2 kg/con và 3 năm tuổi có thể đạt 3-4 kg/con (Nguyễn Chung, 2007)
Cá tra mới nở, sau khi sử dụng hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống Một tài liệu về sinh sản nhân tạo cá tra ở Thái Lan cho biết cá 3 - 4 ngày tuổi có thể ăn lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng liên tục ăn lẫn nhau nếu cá ươngkhông được cho ăn đầy đủ (Nguyễn Hoàng Vũ, 2008 ) Khi khảo sát cá bột vớt trong tự nhiên trên sông Tiền vẫn thấy chúng ăn lẫn nhau ngay trong các đáy chứa cá bột vớt được (Nguyễn Tường Anh, 1979)
Cá còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài, cá bột ương sau 2 tháng đạt 10-12cm
Trong tự nhiên, 1 năm đạt 0,7kg/con, 2 tuổi 1,5-2kg/con, 3 năm 3-4kg/con Cá nuôi trong ao có thể đạt 25kg ở cá 10 tuổi (Dương Nhựt Long, 2003)
2.6 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá có tính ăn tạp thiên về động vật, thích ăn mồi có nguồn gốc động vật và
cũng dễ dàng chuyển đổi loại thức ăn Khi nuôi trong ao, cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức như mùn bã hữu cơ, cám, rau, động vật đáy, thức
ăn hỗn hợp và rất thích phân cầu (vietlinh.com, 22.1.09)
6
Cá tra bột khi tiêu hết noãn hoàng chúng tích cực tìm mồi ăn các loại tảo, luân trùng, trứng nước và các loại cá bột khác trong tự nhiên như cá bột cá mè vinh, cá he
Theo Nguyễn Chung (2007), Cá trá bột thích ăn mồi tươi sống, chúng ăn thịt
lẫn nhau khi mới nở đươc vài ngày và vẫn tiếp tục ăn lẫn nhau nếu không kiếm được mồi ăn Thức ăn có nguồn gốc động sẽ giúp cá lớn nhanh (Dương Nhựt Long, 2003)
2.7 Đặc điểm sinh sản
Cá tra không đẻ trong ao nuôi Cá không có bãi đẻ tự nhiên ở Việt Nam, cá đẻ
ở Campuchia, cá bột theo dòng nước ngược về Việt Nam Trong tự nhiên mùa sinh sản của cá bắt đầu từ tháng 5 - 7 (Dương Nhựt Long, 2003)
Bãi đẻ của cá nằm ở khu vực từ địa phận tỉnh Cratie của Campuchia trở lên
Tại đây có thể bắt được những cá bố mẹ 15kg với buồng trứng đã thành thục Tại bãi đẻ, cá bố mẹ đẻ trứng thụ tinh tự nhiên, trứng dính vào cây cỏ thủy sinh ven
bờ Sau khi nở, cá bột trôi theo dòng nước về hạ lưu đến các vùng ngập nước ở Campuchia và xuôi theo sông Mêkông về phía Việt Nam (vietlinh.com, 22.1.09) Khi thành thục cá có tập tính bơi ngược dòng tìm đến bãi đẻ nơi có điều kiện
sinh thái phù hợp để đẻ trứng Sức sinh sản tương đối có thể tới 135000 trứng/kg
cá cái (Nguyễn Chung, 2007)
Trong sinh sản nhân tạo, cá bố mẹ được nuôi vỗ thành thục và được cho đẻ
sớm hơn ngoài tự nhiên (tháng 3 dương lịch hàng năm), cá có thể tái thành thục 1-3 lần trong năm Trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính, trứng giai đoạn IV
Trang 12có đường kính trung bình 1mm (VINAFIS, 2004)
2.8 Một số kết quả kỹ thuật sản xuất giống cá tra
2.8.1 Ao nuôi vỗ cá bố mẹ
Ao nuôi vỗ cá bố mẹ phải được bố trí nơi có nguồn nước dồi dào, chất nước tốt tốt nhất là ao được gần với nước sông Ao phải giữ nước trong mùa khô và không ngập nước trong mùa lũ, Ao có diện tích ít nhất 500 m2
7
Đáy ao không nên có nhiều bùn vì dễ làm ô nhiễm và gây bệnh cho cá (tốt nhất có lớp bùn đáy dày 10 - 15 cm) Đáy ao nghiêng về phía cống thoát với độ dốc khoảng 0,3 - 0,4% Nên để mặt ao thoáng, không để tán cây lớn che khuất ao (VINAFIS, 2004)
Trước khi thả cá bố mẹ để nuôi vỗ, phải tiến hành các công việc chuẩn bị
và cải tạo lại ao như: tát hoặc tháo cạn nước ao, bắt hết cá tạp, cá dữ, vét bớt bùn đáy ao (chỉ nên để lớp bùn đáy dày 10 - 15 cm) Dọn sạch cỏ, đắp lại những chỗ sạt lỡ và hang hốc cua, ếch, chuột … Để diệt cá tạp và nhất là cá dữ trong ao thường dùng rễ cây thuốc cá, cứ 1 kg rễ cây thuốc cá dùng cho 100 m3
từ các ao khác nhau nhằm tránh sự cận huyết làm giảm sức sống của các thế hệ con cháu, bị chậm lớn, nhiều dị hình, sức đề kháng với bệnh tật kém (VINAFIS, 2004)
Theo Nguyễn Chung (2007) do cá tra bố mẹ chưa thành thục rất khó phân biệt đực cái, nên chọn cá bố mẹ dựa theo các tiêu chuẩn sau:
Trang 13Cá trên 3 năm tuổi
Cá có trọng lượng 3-4 kg/con, cá càng lớn sức sinh sản càng cao
Cá mập khoẻ, đầu và thân mình phát triển cân đối không dị tật
Cá không có vết trầy, không bị ký sinh trùng đeo bám
Mật độ nuôi cá bố mẹ dao động từ 4-6 kg/10 m2
(Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
Để theo dõi được chặt chẽ và chính xác từng cá thể, nên dùng biện pháp đánh số cho cá
Trong sinh sản nhân tạo, lượng tinh dịch vuốt được trong con đực tương đối
cao 60-70% lượng tinh dịch có trong túi tinh Trung bình lượng tinh dịch 1 lần vuốt ra của cá đực nặng 5 - 10kg đạt 2 - 4ml, khối lượng này đủ gieo tinh cho 3 -
4 triệu trứng Do đó trong quá trình nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ, thường áp dụng
tỉ lệ cá đực/cái là 1/1(Phạm Văn Khánh, 1996)
8
2.8.3 Vấn đề nuôi vỗ và kích thích sinh sản
Đối với cá tra ở các tỉnh Nam Bộ thời gian nuôi vỗ bắt đầu từ tháng 10 - 11
năm trước, các tỉnh miền trung thời gian bắt đầu có thể chậm hơn khoảng một tháng Ở các tỉnh Nam Bộ thời gian cá thành thục bắt đầu bước vào sinh sản từ tháng 3 và có thể kéo dài tới tháng 9 Khu vực miền trung thời gian cá thành thục
và cho sinh sản muộn hơn (từ tháng 4 và kéo dài đến tháng 9 hàng năm) (VINAFIS, 2004)
Tuy nhiên, khí hậu ở ĐBSCL nóng quanh năm, nên có thể cho cá đẻ sớm và
kéo dài thời gian đẻ đến cuối tháng 11 mỗi năm Để có cá tra giống vào đầu mùa mưa thì phải cho cá đẻ ngay từ tháng 3 - 4 hàng năm (Nguyễn Chung, 2007)
Nhu cầu dinh dưỡng của cá tra bố mẹ rất cao, các chất dinh dưỡng và vitamin được cung cấp chủ yếu từ thức ăn Hàm lượng Protein trong thức ăn cá tra phải đảm bảo trên 20% và phải cân đối với hàm lượng glucid, lipid, vitamin và khoáng Hàm lượng lipid không thấp hơn 10% (Nguyễn Chung, 2007)
Đối với thức ăn tự chế nguyên liệu để chế biến thức ăn cho cá bao gồm phụ
phẩm nộng nghiệp (cám, tấm, bột, .) cá tạp, cá vụn, đầu tôm cá rau xanh (rau muống, rau khoai lang, rau cải) Ngoài ra nên bổ sung thêm các loại vitamin (A,C,D,E), đặc biệt là Vitamin C, khoáng, các thành phần chứa nguyên tố vi lượng cho cá Nguyên liệu trộn phải đảm bảo sạch, tuyệt đối không sử dụng các hóa chất hoặc chất kháng sinh bị cấm sử dung để trộn vào thức ăn chế biến cho
cá, theo quyết định số 01-2001/BTS ngày 22/01/2001 của bộ thủy sản (VINAFIS, 2004)
Thức ăn viên công nghiệp cho cá tra bố mẹ phải có hàm lượng đạm 30% Thức ăn viên sử dụng phải đảm bảo hoàn không có chứa các hóa chất hoặc thuốc