TÓM LƯỢCĐể đánh giá chất lượng tinh dịch của đực giống và khả năng sinh sản của đàn nái ở trại... CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀNước ta là một nước nông nghiệp sản phẩm chính là trồng trọt, tuy nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
-oOo-
LÊ PHẠM HOÀNG VIỆT
KHẢO SÁT QUY TRÌNH SẢN XUẤT TINH
NHÂN TẠO VÀ NĂNG SUẤT SINH SẢN TRÊN ĐÀN HEO NÁI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI THỰC NGHIỆM
HÒA AN, TỈNH HẬU GIANG
Luận Văn Tốt Nghiệp BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
-oOo-
Luận văn tốt nghiệp BÁC SỸ THÚ Y
KHẢO SÁT QUY TRÌNH SẢN XUẤT TINH
NHÂN TẠO VÀ NĂNG SUẤT SINH SẢN TRÊN ĐÀN HEO NÁI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI THỰC NGHIỆM
HÒA AN, TỈNH HẬU GIANG
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 3064562 Lớp: CN0667A1 (Thú Y K32)
Cần Thơ – 2010
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, ngày tháng năm 2010 Cần Thơ, ngày tháng năm 2010
Cần Thơ, ngày tháng năm 2010 Duyệt Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu và kết quả là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả luận văn
Lê Phạm Hoàng Việt
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Trong suốt 4.5 năm học đại học là khoảng thời gian vô cùng quý báu đối với bản thân tôi, cung cấp một nền tảng vững chắc cho tôi bước vào đời Thời gian qua tôi được sự dạy dỗ tận tình của thầy cô, được sự quan tâm giúp đỡ của bạn bè và gia đình
Tôi xin gửi lời cám ơn đến :
+ Thầy Phạm Hoàng Dũng đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
+ Thầy cô bộ môn chăn nuôi thú y, Khoa nông nghiệp và sinh học ứng dụng, Trường đại học Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức cho tôi
+ Gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học đại học
Xin chúc tất cả luôn mạnh khoẻ!
Trang 7
2.7.1 Quá trình đường phân 10
Trang 84.4.1 Môi trường pha loãng 26
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.2 Hệ số di truyền một số tính trạng kinh tế quạn trọng 6 Bảng 2.3 Nhiêt độ thích hợp các hạng heo vùng nhiệt đới (theo Precis
Delevage Du Pore En Zone Tropical)
7
Bảng 2.6 Thành phần hóa học tinh dịch của heo (Trần Tiến Dũng và ctv,
Bảng 3.3 Thức ăn hỗn hợp Hi-gro cho heo nái sinh sản và heo con theo
mẹ
19
Bảng 4.4 Lượng tinh dịch của heo đực theo giống trong cùng điều kiện
nhiệt độ - ẩm độ
28
Trang 11TÓM LƯỢC
Để đánh giá chất lượng tinh dịch của đực giống và khả năng sinh sản của
đàn nái ở trại Chúng tôi tiến hành đề tài “ Khảo sát quy trình sản xuất tinh nhân
tạo và năng suất sinh trên đàn heo nái tại trại chăn nuôi thực nghiệm Hòa An, Tỉnh Hậu Giang.”
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/ 2010 – 10/ 2010
Kết quả tôi có được sau khi thực hiện đề tài :
+ Nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi:
Nhiệt độ của chuồng nuôi là khá cao : Từ 29-32 o C
Ẩm độ của chuồng nuôi là 73-87%
+ Thể tích tinh dịch của heo đực ở trại cao nhất là 171.33ml, thấp nhất là 147.78ml
+ Về các chỉ tiêu sinh sản của heo nái ở trại:
Tỷ lệ phối đậu thai tháng 8/2010 là khá cao 84.21%
Giống heo Landrace có tỷ lệ đậu thai là 80%, cao hơn giống heo Yorshire
là 68%
+ Về năng suất sinh sản :
Heo Landrace có số con sơ sinh và cai sữa (10.33 con/ổ và 8.2 con/ổ) cao hơn heo Yorshire (7.84 con/ổ và 6.8 con/ổ)
Trọng lượng toàn ổ lúc sơ sinh và cai sữa của heo Landrace lần lượt là (14.65kg/ổ và 58.4kg/ổ) cao hơn heo Yorshire là (11.45kg/ổ và 47.1kg/ổ)
Trọng lượng bình quân lúc sơ sinh và cai sữa của heo Yorshire (1.46kg/con
và 5.94kg/con) cao hơn heo Landrace (1.40kg/con và 6.57kg/con)
Trang 12CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta là một nước nông nghiệp sản phẩm chính là trồng trọt, tuy nhiên những năm gần đầy các sản phẩm của ngành chăn nuôi không ngừng phát triển cả
về số lượng và chất lượng Sự hình thành và phát triển chăn nuôi trang trại là một bước đột phá về phương thức chăn nuôi, chuyển từ hình thức chăn nuôi gia đình nhỏ lẻ manh mún phân tán thành chăn nuôi tập trung, công nghiệp với sô lượng lớn Phương thức chăn nuôi trang trại góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, chất lượng sản phẩm vệ sinh an toàn thực phẩm được cải thiện, thời gian chăn nuôi được rút ngắn, đồng thời hạn chế tình hình dịch bệnh và ô nhiễm môi trường do chăn nuôi phân tán ở hộ gia đình Thời gian qua kỹ thuật gieo tinh nhân tạo đã trở nên phố biến trong lĩnh vực chăn nuôi heo đã góp phần phát triển ngành chăn nuôi truyền thống này
Với các ưu điểm : giảm số đực giống/nái, kéo dài thời gian sử dụng đực giống, hạn chế một bệnh lây qua đường sinh dục so với phương thức phối trực tiếp, đẩy nhanh công tác giống và cải thiện chất lượng đàn heo giống của nước ta
Trại chăn nuôi thực nghiệm Hòa An là trại thuộc bộ môn chăn nuôi-thú y, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường đại học Cần Thơ Trại là nơi để sinh viên ngành chăn nuôi- thú y học tập, ngoài ra trại còn sản xuất tinh để cung cấp cho thị trường Để có cơ sở đánh giá chất lượng tinh dịch của trại Chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài : “ Khảo sát quy trình sản xuất tinh nhân tạo và năng suất sinh sản trên đàn heo nái tại trại chăn nuôi thực nghiệm Hòa An, tỉnh hậu Giang”, được sự cho phép của quý thầy, cô bộ môn chăn nuôi-thú y và ban lãnh
đạo của trại
Mục tiêu đề tài :
Khảo sát quy trình sản xuất tinh nhân tạo
Xác định được năng suất sinh sản của heo nái tại trại
Trang 13CHƯƠNG 2
CƠ SƠ LÝ LUẬN
2.1 Giới thiệu một số giống heo nuôi ở trại
2.1.1 Giống heo Yorkshire
Giống heo này có nguồn gốc từ Anh, ngày nay đã có mặt ở các nước trên thế giới Heo Yorkshire có khả năng thích nghi với những điều kiện khí hậu khác nhau nên được nhiều nơi chọn làm giống nền Trên cơ sở chọn lọc định hướng, các nhà chọn giống đã tạo ra được các giống đặc trưng: heo Đại Bạch (Large White Yorkshire) có tầm vóc lớn con Heo Trung Bạch (Middle White Yorkshire) có tầm vóc nhỏ con Heo Đại Bạch được nuôi phổ biến ở nước ta và được nhập vào nước ta năm 1964 từ Liên Xô cũ Đặc điểm ngoại của giống heo này là : toàn thân có màu trắng, lông dày mềm, tai thẳng đứng, vai đầy đặn, mình dài, ngực sâu, 4 chân khoẻ, mỗi lứa đẻ từ 11-12 con, cai sữa lúc 60 ngày tuổi đạt trọng lượng 16-20kg/con, 10 tháng tuổi đạt 126kg/con, heo trưởng thành nặng 400- 500kg/con Ngoài ra nước ta còn nhập heo Yorkshire Cu Ba, với những đặc điểm như : toàn thân màu trắng, đầu
to, trán rộng, mõm dài hơi cong, tai đứng nghiêng về phía trước Mỗi lứa đẻ từ 8-10 con Lúc cai sữa khối lượng toàn ổ đạt 120kg/ổ, 6 tháng tuổi nặng 100kg/con Heo Yorkshire có ưu điểm là dòng đực tỷ lệ nạc cao, dòng nái sinh sản cao, cả đực và cái có thân hình chữ nhật, bộ phận sinh dục lộ rõ, đẻ sai con chống chịu với những điệu kiện thay đổi của môi trường Heo Yorkshire được dùng để lai kinh tế với giống heo địa phương để cải tạo con lai nuôi thịt
Hình 2.1 Heo nái giống Yorkshire
Trang 142.1.2 Giống heo Landrace
Có nguồn gốc từ Đan Mạch : toàn thân có lông màu trắng tuyền, tầm vóc to, thân dài, ngực nông, thể chất không vững chắc, tai to dài che phủ mặt, lưng thẳng, sườn tròn, bụng gọn, phần sau rất phát triển, mông xuôi thể hiện rõ heo hướng nạc Heo có từ 14 vú trở lên, đẻ từ 10-11 con/lứa, mỗi năm đẻ từ 2-2,2 lứa, khối lượng
sơ sinh 1,31,4kg/con, 6 tháng tuổi đạt 100kg/con, heo trưởng thành đạt từ 259 350kg/con Heo Landrace được dùng trong lai kinh tế với giống heo nội địa để nâng cao khối lượng và tỷ lệ nạc cho heo nuôi thịt
-Hình 2.2 Heo nái giống Landrace
2.1.3 Giống heo lai
Các giống heo thuần có năng suất cao đều có nguồn gốc từ nước ngoài, nhưng do thích nghi không hoàn toàn với điều kiện khí hậu và chăn nuôi của nước
ta nên năng suất thường thấp hơn 5-10% Để nâng cao năng suất các giống heo ngoại nuôi ở trong nước các nhà chọn giống đã tiến hành lai giống để tận dụng ưu thế lai nhằm nâng cao năng suất đàn heo trong nước Ở nước ta thường cho lai giữa Yorkshire với heo địa phương, heo Landrace với heo địa phương, Yorkshire với Landrace…Mục tiêu tạo ra giống heo lại là kết hợp các đặc điểm tốt của các giống heo, mang lại hiệu quả kinh tế cao.Ưu điểm của con lai là có những đặc điểm tốt hơn so với bố mẹ : số con đẻ ra trên lứa tăng từ 8-10%, khối lượng toàn ổ lúc cai sữa tăng 10%, khối lượng cai sữa tăng 10-12% Về năng suất thịt thì phụ thuộc nhiều vào tính di truyền của bố, mẹ có thể bằng trung bình của bố, mẹ, còn chỉ tiêu tiêu tốn thức ăn có thể bằng hoặc thấp hơn bố, mẹ
Trang 152.2 Đặc điểm sinh lý heo nái
2.2.1 Sinh lý sinh sản heo nái
Heo nái hậu bị thành thục vào khoảng 6-7 tháng tuổi khi heo đạt trọng lượng 65-70kg Lúc này heo phát triển chưa đầy đủ đặc biệt là cơ quan sinh dục như : trứng chín chưa hoàn chỉnh, chất dinh dưỡng dự trữ cho bào thai không đủ Những heo tăng trưởng nhanh sẽ thành thục sinh dục sớm (Nguyễn Thiện, 2008)
Tỷ lệ thụ thai có liên quan đến lần phối đầu tiên hay tổng số lần phối Tỷ lệ thụ thai lần phối đầu tiên ở heo hậu bị và nái có thể chấp nhận được là 70% Tỷ lệ thụ thai đánh giá khả năng phối giống được thụ thai ở heo trong một năm (Trần Văn Phùng, 2005)
Số con sơ sinh chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền thấp, nhưng việc chọn lọc những heo đẻ sai con giúp tăng số con sơ sinh trên ổ Ngoài ra việc phối giống cũng tạo ra ưu thế lai sẽ làm tăng số con sơ sinh (Nguyễn Xuân Bình, 2008)
Tuổi động dục đầu tiên : Giống heo nội lên giống lần đầu lúc 4-5 tháng tuổi, heo lai F1 (50% máu ngoại và 50% máu nội) lên giống lần đầu lúc 6 tháng tuổi, đối với heo ngoại là 7 tháng tuổi Người chăn nuôi thường bỏ qua lần lên giống đầu tiên
vì lúc này cơ thể heo phát triển chưa đầy đủ, chưa tích luỹ đủ chất dinh dưỡng để nuôi bào thai và trứng chín chưa đều Người chăn nuôi sẽ phối ở lần động dục kế tiếp Tuy nhiên cũng sẽ không phối muộn hơn 8 tháng tuổi, vì sẽ làm lãng phí công chăm sóc, thức ăn ảnh hưởng đến kinh tế của người chăn nuôi (Hội Chăn Nuôi Việt Nam, 2004)
Chu kỳ động dục heo nái : Chu kỳ động dục của heo kéo dài từ 18-21 ngày, nếu chưa cho phối hoặc phối không đậu thai thì chu kỳ sau sẽ phối lại Heo nái sau khi đẻ 3- 4 ngày hoặc 320 ngày nuôi con thường có hiện tượng động dục trở lại, lúc này không cho phối vì bộ phận sinh chưa phục hồi và trứng chưa rụng đều Nếu cho phối lúc này sẽ dễ dẫn đến sảy thai, vì lúc này heo mẹ còn phải sản suất sữa để nuôi con không đủ chất dinh dưỡng để nuôi bào thai mới Sau khi cai sữa 3-5 ngày (heo con 45-50 ngày tuổi), thì heo nái động dục trở lại, lúc này phối giống sẽ rất dễ đậu thai, vì cơ thể heo đã tích luỹ đầy đủ chất dinh dưỡng, số lượng trứng rụng cũng nhiều hơn số con sinh ra sẽ cao (Hội Chăn Nuôi Việt Nam, 2004)
Tuổi đẻ lứa đầu : Tính từ lúc heo mới sinh đến lần đẻ đầu tiên, tốt nhất là 12 tháng tuổi, không được quá 18 tháng tuổi
Tỷ lệ hao mòn cơ thể khi nuôi con : Khi nuôi con cơ thể heo mẹ sẽ bị hao mòn từ 15-20% so với lúc có chửa, nếu tỷ lệ hao mòn cao hơn người chăn nuôi cần phải xem lại chế độ chăm sóc nuôi dưỡng heo mẹ trong thời gian nuôi con Lúc này
Trang 16phải bỏ qua một chu kỳ để heo lấy lại sức mới cho phối thì tỷ lệ đậu thai sẽ cao hơn (Hội Chăn Nuôi Việt Nam, 2004)
2.2.2 Sinh lý tiết sữa
Sự tiết sữa của heo nái phụ thuộc vào : giống, tuổi, lứa đẻ của nái, thời kỳ tiết sữa trong chu kỳ, số con đẻ ra trong một lứa Heo nái thường cho sữa từ 6-8 tuần, sản lượng sũa sản suất cao nhất vào giữa tuần thứ ba của chu kỳ cho sữa Trung bình lượng sữa sản xuất trong 8 tuần là 300-400kg sữa Sản lượng sữa hằng ngày tăng theo số con bú, từ 0.9-1kg sữa/con của ổ có 8 heo con, từ 0.7-0.8kg sữa/con đối với ổ có 9-12 con Người ta tính rằng heo nái có trọng lượng 150 kg, đẻ 10 con, lượng sữa tiết ra tuần đầu là 5 lít/ngày, tuần thứ tư là 7 lít/ngày Nếu đẻ 12 con thì lượng sữa có thể lên tới 8 lít/ngày Sự thay đổi thành phần của sữa trong chu kỳ cho sữa tương tự như ở bò, ngoại trừ hàm lượng chất béo tăng cao nhất giữa kỳ cho sữa Việc đo lượng sữa sản xuất của heo nái rất khó nên người ta thường tính dựa trên sự tăng trọng hằng ngày của heo con Mỗi kg tăng trọng của heo con cần 3-3.5
kg sữa mẹ (Nguyễn Tuân và Trần Thị Dân, 2000)
Lượng sữa trung bình mỗi ngày heo tiết ra khoảng 5-6 lít Lượng sữa tiết ra nhiều hay ít, tốt hay xấu, phụ thuộc vào các yếu tố như : di truyền, lứa đẻ, tuổi heo
mẹ, lượng thức ăn tiêu thụ trong thời gian nuôi con, tình trạng sức khoẻ của heo mẹ, chăm sóc nuôi dưỡng Sản lượng sữa biến động theo lứa đẻ, sản lượng sữa tăng dần
từ lứa đẻ thứ 2-3 và giảm dần từ lứa đẻ thứ 4-6 (Nguyễn Xuân Bình, 2008)
Bảng 2.1 Thành phần sữa đầu của heo (%) ( Trương Lăng và Nguyễn Văn Hiền, 2000)
Protein Sau khi đẻ
Albumin (%)
ít có hiệu quả, do phải chịu ảnh hưởng của môi trường Vì sự thay đổi lớn của các
Trang 17tính trạng sinh sản nên các nhà sản xuất bỏ qua chúng trong quá trình chọn lọc Không thể chọn lọc cho một tính trạng mà phải chọn lọc nhiều tính trạng trên mỗi
cá thể do sự liên quan giữa các tính trạng là rất quan trọng Chọn lọc theo gia đình hoặc theo dòng thì thành công hơn so với chọn lọc cá thể khi hệ số di truyền của tính trạng thấp Hầu hết các tính trạng có hệ số di truyền thấp trong khi đó tăng trọng và thân thịt có hệ số di truyền cao
Hệ số di truyền giữa các đàn là khác nhau, để tăng hệ số di truyền cần phải kiểm tra tất cả gia súc trong đàn, ghi chép theo dõi đồng bộ, chính xác
Bảng 2.2 Hệ số di truyền một số tính trạng kinh tế quạn trọng (Cẩm Nang Chăn Nuôi
Heo, 1996)
Số con sống đến cai sữa 0
2.4.1 Sức sinh sản của gia súc
Là một chỉ tiêu mang tính di truyền của giống về mặt sinh sản Gia súc đa thai (heo, cừu), khả năng sinh sản phụ thuộc vào số lượng trứng rụng ở mỗi chu kỳ động dục
Trong công tác giống, để đánh giá sức sinh sản của gia súc ta dựa vào : chu
kỳ động dục, tuổi thành thục sinh lý, số con đẻ ra trên lứa, số con còn sống/lứa, trọng lượng sơ sinh, đặc tính tốt sữa Muốn đánh giá sức sinh sản của nái cơ bản ta lấy bình quân của 3 lứa khá nhất Đối với nái tơ thì lấy kết quả ở lứa đẻ đầu tiên (Trần Đình Miên, 1977)
2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản
Năng suất heo nái giống
Theo TCVN 1280-81 năng suất heo nái giống được tính trên 4 chỉ tiêu: Tuổi đẻ lứa đầu tiên đối với heo đẻ lứa đầu Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ đối
Trang 18Số con đẻ ra còn sống sau khi nái đẻ ra con cuối cùng với trọng lượng sơ sinh trên 0.2kg (heo nội), trên 0.5kg (heo ngoại hoặc lai)
Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi : là tổng khối lượng các con nuôi đến 21 ngày tuổi (kể cả những con ghép đàn)
Khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi
Giá trị từng phần của tiêu chuẩn được quy định hệ số
Số con sơ sinh còn sống 24%
Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi 46%
Tuổi đẻ lứa đẻ lần đầu hoặc khoảng cách giữa 2 lứa đẻ 10%
Khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi 20%
Trên thế giới đánh giá năng suất nái giống dựa vào : số con sơ sinh còn sống,
số con và khối lượng tiết sữa, tuổi đẻ lứa đầu hoặc khoảng cách giữa 2 lần đẻ, số lứa đẻ/nái/năm
Năng suất heo đực giống
Trên thế giới dựa vào
Khả năng thụ tinh của con đực giống (tỷ lệ thụ thai trong năm)
Số con sơ sinh còn sống trên ổ (Trương Lăng, 1994)
2.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ,ẩm độ đến heo nái
Trang 19Heo càng lớn khả năng chịu nhiệt càng yếu vì lớp mỡ dưới da dày, mặc khác
ở heo tuyến mồ hôi không phát triển do đó khả năng thoát nhiệt của cơ thể là rất hạn chế
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng, nhiệt
độ cao (> 30oC) sẽ làm chậm hoặc ngăn cản sự xuất hiện động dục, giảm mức độ rụng trứng và làm tăng hiện tượng chết thai sớm
Theo kết quả nghiên cứu của Michigan cho thấy nhiệt độ môi trường 40oC kéo dài 2 giờ trong 13 ngày sau sau khi phối giống thì tỷ lệ phôi sống chỉ còn 35-40
% Ngoài ra ẩm độ kéo dài cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai (Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp, 1996)
Theo Varnic và cs (1996) cho biết: những heo nái nuôi ở nhiệt độ 32.2oC có
xu hướng giảm các phôi sống vào ngày thứ 25 sau khi phối Khi nhiệt độ cao ở các giai đoạn nái chửa thì thân nhiệt cũng tăng làm giảm lượng ăn vào và thở nhanh…
số heo không động dục cũng tăng Như vậy đối với heo thì sự hầm, nóng của chuồng trại sẽ làm giảm khả năng thụ thai, giảm các phôi thai, giảm số heo con sơ sinh/ổ (Xaoep, 1985)
Nhiệt độ môi trường cao (33oC) sẽ làm giảm số trứng rụng nhưng không ảnh hưởng đến độ dài của thời gian lên giống (d ‘ Arce et al, 1970 theo Pond W G, 1974)
Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng mạnh đến tỷ lệ thụ thai ở con cái Stress do nhiệt độ lạnh (- 25oC) không can thiệp đến sự thụ tinh (Swierstra, 1970 theo Pond, W.G, 1974) Stress nhiệt trên 7 ngày sau khi phối làm chết toàn bộ phôi thai và con cái lên giống trở lại Vào những lúc stress nên cung cấp đầy đủ nước, chuồng trại phải thông thoáng (Lưu Tấn Phước, 1999)
Nhiệt độ môi trường cao trên 30oC sẽ làm giảm tỷ lệ đậu thai, số phôi chết sẽ tăng (Omtvedt et al, 1971) Nền chuồng nhám, lồi lõm ứ nước làm tăng tỷ lệ sảy thai Mật độ nái nuôi trong chuồng cao sẽ làm tỷ lệ đậu thai thấp (ăn không đều, đánh nhau, dễ lây bệnh) (Morron,1986) Giữ heo nái yên tĩnh, nhốt riêng sau khi phối 30 ngày sẽ làm tăng tỷ lệ đậu thai từ 10-15 % Heo nái nuôi con gặp thời tiết nóng thì giảm mức độ tiêu thụ thức ăn nên dễ bị mất sữa (Võ Văn Ninh, 2001)
Theo Huỳnh Tấn Phước (1977) : Thí nghiệm cho thấy khi nhiệt độ chuồng là
30oC heo vẫn ăn uống bình thường, trên 30oC thì kém ăn, 35oC heo vẫn ăn nhưng giảm tăng trọng, trên 35oC thì cảm nóng và thân nhiệt là 40oC Nếu không khí nóng khô, cơ thể dễ mất nước qua đường hô hấp để đều hoà thân nhiệt Vì vậy nhu cầu nước cho heo tăng cao, nếu cung cấp không đủ heo rất dễ mắc bệnh Trường hợp
Trang 20nếu tình trạng này kéo dài sẽ rất nguy hiểm cho heo Thông thường những cơn mưa đầu mùa hoặc mật độ nuôi quá đông vào thời điểm nóng ẩm làm cho nhiều heo con chết đột ngột (Võ Văn Ninh, 2001)
2.5.2 Ẩm độ
Ngoài yếu tố nhiệt độ thì ẩm độ cũng ảnh hưởng đáng kể đến năng sinh sản của heo nái Ẩm độ trong chuồng nuôi do nhiều nguyên nhân gây ra như : nước thải, chuồng nuôi không thông thoáng… là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật có hại phát triển Nếu ẩm độ cao nhiệt độ cao làm cho cơ thể heo khó bốc hơi không chống được nóng Nếu ẩm độ cao nhiệt độ thấp lúc này cơ thể heo tăng sự toả nhiệt làm cho heo bị lạnh Heo sống trong điều kiện chuồng nuôi ẩm ướt thường xuyên sẽ dễ mắc một số bệnh như : đóng dấu, tụ huyết trùng, tiêu chảy phân trắng ở heo con, làm chậm sinh trưởng và phát dục (Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp, 1996)
Ẩm độ cao, nhiệt độ cao sẽ cản trở sự toả nhiệt sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ đàn nái làm heo nái giảm ăn, năng suất giảm, heo con dễ bị bệnh ở đường hô hấp và tiêu hoá (Châu Bá Lộc, 1989) Độ ẩm tương đối 50-70 % là thích hợp với hầu hết các loại chuồng nuôi (Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp, 1996) Ẩm độ cao là cơ hội để vi sinh vật có hại phát triển, ẩm độ trên 80 % sẽ làm giảm tăng trọng heo, (Châu Bá Lộc, 1989)
Những đàn heo nuôi ở chuồng trại ẩm ướt, sinh trưởng và phát dục kém, dễ mắc bệnh tiêu chảy phân trắng ở heo con (Trịnh Văn Thịnh, 1974)
Bảng 2.4 Ẩm độ thích hợp cho từng lưa tuổi heo (Plafon, 1974)
Độ ẩm cao không gây phản ứng rõ rệt như nhiệt độ cao nhưng tác hại kéo dài
và nặng hơn Chịu ảnh hưởng rõ nhất là heo con theo mẹ
2.6 Tinh dịch – Thành phần tinh dịch
Tinh dịch = tinh trùng (3-5%) + tinh thanh (95-97%)
Tinh trùng được sản sinh ra từ những ống sinh tinh ở dịch hoàn, còn tinh thanh do các tuyến sinh dục phụ sinh ra
Bảng 2.5 Lượng tinh dịch và nồng độ tinh trùng (Milovanov, 1938)
Trang 21Theo Vauquelin (1971) thì trong tinh thanh chủ yếu là nước (90-95.3%) còn lại là vật chất khô Trong vật chất khô của tinh thanh thì 8.76% có gốc hữu cơ và 0.9 có gốc vô cơ
Tinh dịch của các loài gia súc khác nhau thì thành phần hóa học của chúng cũng khác nhau
Bảng 2.6 Thành phần hóa học tinh dịch của heo ( Trần Tiến Dũng và ctv, 2002)
PH : 6.8-8.1 (theo tiêu chuẩn Việt Nam, 1976)
Màu sắc : màu trắng đục màu sắc tinh dịch được quyết định bởi :
Nồng độ tinh trùng chứa trong đó
Nồng độ các hạt hữu cơ lơ lửng
Lượng Lipoit trong các dịch tiết của các tuyến sinh dục phụ Đặc biệt trong tinh dịch lợn có chứa một lượng lớn hạt thể Selatin, chiếm 20-30% lượng tinh dịch, chúng là sản phẩm của tuyến Cowper Dịch tiết của tuyến này có bản chất Anbumonoit, đặc quánh, trong suốt
Khi xuất tinh, những hạt thể Selatin gặp men Vegikinasa của tuyến tinh nang rồi đông lại, tạo thành những thể lớn hơn Sau đó, các thể này hấp thu nước và tăng lên về thể tích nên người ta gọi là keo phèn
Trong giao phối tự nhiên keo phèn có tác dụng “bịt lỗ cổ tử cung” không cho tinh dịch chảy ra ngoài Còn trong thụ tinh nhân tạo người ta lọc bỏ keo phèn do nó hấp thụ nước tinh và một số lượng lớn tinh trùng
2.7 Trao đổi chất của tinh trùng
Tinh trùng sống và hoạt động được thì phải tiến hành quá trình trao đổi chất
để lấy năng lượng Tinh trùng lấy năng lượng trực tiếp từ ATP, năng lượng ATP là
Trang 22sản phẩm của quá trình đường phân và quá trình hô hấp của tinh trùng Đây là hai quá trình trao đổi chất cơ bản của tinh trùng
- Quá trình đường phân được thực hiện dưới điều kiện yếm khí
- Quá trình hô hấp được thực hiện dưới sự có mặt của oxy
2.7.1 Quá trình đường phân
- Với sự vắng mặt của oxy, nhờ hoạt động của hệ thống men, đường được biến đổi và cuối cùng tạo ra acid lactic và một số năng lượng dưới dạng ATP Ngoài fuctoz, các đường khác như, manoz, glucoz, maltoz,… cũng được tinh trùng sử dụng để lấy năng lượng
2.7.2 Quá trình hô hấp của tinh trùng
Quá trình này xảy ra ở tinh dịch của heo là rất mạnh, tế bào sinh dục đực hô hấp rất mạnh mẽ và thậm chí hơn các tế bào khác rất nhiều
Quá trình hô hấp của tinh trùng chủ yếu là quá trình sử dụng oxy để đốt cháy
cơ chất có trong bản thân nó
Trong quá trình hô hấp đường cũng như các cơ chất khác bị phân giải triệt để hơn để tạo thành CO2 và H2O
C6H12O6 + 6O2 6CO2 +6 H2O +Q (670 Kcal) Khi không có fuctoz, nguồn năng lượng chính do tinh trùng đốt cháy cơ chất hay nói một cách khác là các chất dự trữ của chính bản thân nó Tinh trùng có thể oxy hóa một số acid amin (Tirosin, Phenylalamin, Triptophan) với sự giúp đỡ của men amino aicd-oxydaza giải phóng ra H2O2 (độc cho tinh trùng, theo Mann (1954) làm ngừng hoạt động của tinh trùng