1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền tiếp cận thông tin của công dân

98 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 198,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng tiếp cận thông tin trong việc giải quyết yêu cầucủa người dân nhà nước Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CHO NGƯỜI DÂN nước

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM QUANG HÒA

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

CỦA CÔNG DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM QUANG HÒA

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

CỦA CÔNG DÂN

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Kim Thoa

HÀ NỘI - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục

MỞ ĐẦU

Chương 1: KHÁI NIỆM THÔNG TIN VÀ NỘI DUNG CỦA QUYỀN

TIẾP CẬN THÔNG TIN

thế giới

pháp lý quốc tế

lý của Việt Nam

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

NƯỚC TA

dựng pháp luật

Trang 4

2.4.2 Thực trạng tiếp cận thông tin trong việc giải quyết yêu cầu

của người dân

nhà nước

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

ĐẾN QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CHO NGƯỜI DÂN

nước đối với quyền tiếp cận thông tin của công dân

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của conngười Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1992 đều qui định công dân có quyềnđược thông tin Nghĩa là công dân có quyền được biết những chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước, được thông tin những vấn đề cấp thiết, gắnliền với cuộc sống hằng ngày Quyền được thông tin của người dân phản ánhbản chất xã hội ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi việc của Nhànước phải được cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra

Hiện nay, vấn đề tiếp cận thông tin đang được quy định tại nhiều vănbản khác nhau Tuy nhiên, các quy định này chưa toàn diện và không đầy đủ.Còn nhiều nội dung chưa được quy định, nhất là về trình tự, thủ tục để cánhân, cơ quan, tổ chức tiếp cận thông tin Vì vậy, công dân cũng không biết làmình có quyền được tiếp cận thông tin hay không Ngược lại, các cơ quannắm giữ thông tin cũng không có cơ sở để công bố thông tin, cung cấp thông

tin cho những người quan tâm Do đó, để các quy định về tiếp cận thông tin

có thể điều chỉnh được trong các lĩnh vực khác nhau, bao quát hết được phạm

vicủa các văn bản hiện hành đang điều chỉnh về vấn đề tiếp cận thông tin, thìđòi hỏi phải có một văn bản có đủ hiệu lực pháp lý điều chỉnh các nội dung vềtiếp cận thông tin Văn bản đó chỉ có thể là Luật Tiếp cận thông tin và luậnvăn thạc sĩ này mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu đó

2 Tình hình nghiên cứu

Người viết đã được tiếp cận một số Văn bản Quy phạm pháp luật vàcác công trình khoa học về vấn đề quyền tiếp cận thông tin của người dân (cóthể là nội dung chính hoặc có đề cập đến) như:

- Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001;

Trang 6

- Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, trong Công ướcquốc tế về các quyền dân sự chính trị năm 1966 và các công ước khác củaLiên hợp quốc.

- Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chốngtham nhũng, lãng phí

- Luật Báo chí năm 1989

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999

- Luật về Xuất bản năm 2004

- Luật về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng dândân, Ủy ban nhân dân năm 2004

- Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005

- Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005

- Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005

- Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007

- Dự thảo Luật tiếp cận thông tin - Do Bộ Tư pháp xây dựng

- Các bài viết trên báo, tạp chí chuyên ngành

3 Mục đích của đề tài

- Làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của người dân;

Trang 7

- Phân tích thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về quyền tiếpcận thông tin của người dân; chỉ ra những hạn chế, bất cập của hệ thống phápluật này.

- Đề ra phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử: Xem xét pháp luật về tiếp cận thông tin trong

lịch sử Nhận định các quy định liên quan Từ đó tìm ra quy luật của sự pháttriển pháp luật cũng như nhu cầu về tiếp cận thông tin của công dân

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn kế thừa, phân tích và

tổng kết lại những kết quả các công trình nghiên cứu, khảo sát về quyền tiếpcận thông tin của người dân từ đó đưa ra những nhận xét riêng của mình vềviệc tiếp cận thông tin và chính thức thực hiện quyền đó

- Phương pháp so sánh: So sánh về quyền tiếp cận thông tin của nước

ta với các nước trên thế giới

- Các phương pháp thống kê xã hội học: Từ những kết quả thống

kê,

điều tra, khảo sát về thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân và nhucầu của người dân đối với quyền này để có những quy định phù hợp nhằm

Trang 8

3

Trang 9

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu sâu liên quan đến nhữngquy định của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin cho người dân Do đó, luậnvăn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên, sinhviên Đặc biệt luận văn chính là nguồn cung cấp thông tin cho các cơ quan, tổchức và cá nhân trong việc hoạch định và quyết định chính sách

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái niệm thông tin và nội dung của quyền tiếp cận thông tin Chương 2: Thực trạng của quyền tiếp cận thông tin ở nước ta.

Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến quyền

tiếp cận thông tin cho người dân

Trang 10

Chương 1

KHÁI NIỆM THÔNG TIN VÀ NỘI DUNG CỦA QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

1.1 KHÁI NIỆM THÔNG TIN

1.1.1 Khái niệm thông tin theo quy định của các nước trên thế

giới - Về thuật ngữ thông tin, khái niệm tiếp cận thông tin

Luật của các nước sử dụng thuật ngữ khác nhau để ghi nhận quyềntiếp cận thông tin công của cá nhân (right to access public information) Một

số nước sử dụng quyền được tiếp cận các hồ sơ, tài liệu chính thức hoặc cácfiles, dữ liệu văn bản, như Anbani, Bỉ, Colombo, Đan Mạch, Pháp, Hung Ga

ri, Nhật Bản Một số nước khác sử dụng quyền được thông tin (right toinformation), như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ… Những quốc gia khác ban hành luật

tự do thông tin, như Vương Quốc Anh, Israel, Iceland, Latvia, Nauy, Mỹ,Australia, Newzeland [67]…

Với tên gọi khác nhau nhưng trên thực tế, không có sự khác nhau lắm vềnội dung và phạm vi điều chỉnh của luật Hầu hết luật các nước đều xác địnhquyền được thông tin với nội hàm rộng bao gồm quyền của cá nhân, công nhânđược tiếp cận tất cả các thông tin đang được lưu giữ bởi cơ quan công quyền (cơquan thuộc nhánh quyền hành pháp) Thông tin lưu giữ bởi cơ quan công quyền,gọi là "thông tin công" Một số nước như Thụy Điển, Anbani, Kosovo,Newzeland sử dụng thuật ngữ tiếp cận "tài liệu chính thức" không bao gồm cáctài liệu đang trong quá trình chuẩn bị hoặc dự thảo không được sử dụng để banhành quyết định cuối cùng Nhìn chung, quyền tiếp cận thông tin chỉ áp dụng đốivới thông tin có trong hồ sơ chính thức Một khoảng trống mà luật các nướckhông mấy quan tâm điều chỉnh là các thông tin cụ thể khác, thông tin quatruyền miệng (như thông tin được thảo luận, kết luận trong các cuộc họp) có thểđược sử dụng để ban hành quyết định

Trang 11

Chỉ một số nước đưa ra một định nghĩa chính thức hoặc giải thíchthuật ngữ quyền tiếp cận thông tin/quyền được thông tin Chẳng hạn Luật vềquyền được thông tin của Ấn độ giải thích:

Quyền được thông tin có nghĩa là quyền được tiếp cận các thông tin theo quy định tại Luật này, mà đang được quản lý hoặc kiểm soát bởi bất kỳ nhà chức trách công cộng nào Quyền này bao gồm các quyền được: (a) Xem các tác phẩm, tư liệu, hồ sơ; (b) Ghi chép, trích dẫn, sao chụp các tư liệu hoặc hồ sơ; (c) Có các bản sao có chứng thực các tài liệu; (d) Thu thập thông tin dưới các dạng đĩa mềm, thẻ nhớ, băng ghi âm, băng hình hoặc bất kỳ dạng thiết bị điện

tử nào khác hoặc thông qua các việc in ra các tài liệu ở những nơi lưu trữ tư liệu bằng máy vi tính hoặc bằng các thiết bị khác [67].

- Về lịch sử phát triển khái niệm quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người Khái niệm này đã xuất hiện trong thời kỳ Ánh Sáng vào thế kỷ

18.Chính trong đạo Luật về Tự do báo chí của Thụy Điển được ban hành vàonăm 1766 đã thiết lập nguyên tắc các hồ sơ của Chính phủ không được thiếuvắng, mà sẽ phải công khai cho công chúng và trao cho người dân quyền đượcyêu cầu tiếp cận các văn bản của các cơ quan chính phủ Bản Tuyên ngônNhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 cũng xác lập nguyên tắc:

Việc tự do trao đổi về tư tưởng và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người; mọi công dân có thể phát ngôn, viết hay tiến hành in ấn một cách tự do, nhưng phải chịu trách nhiệm về sự lạm dụng quyền tự do đó (Điều 11)

Mọi công dân đều có quyền trực tiếp hoặc thông qua các đại diện của mình được xem xét cần thiết của thuế công cộng, được

tự do thỏa thuận đóng góp, được theo dõi việc sử dụng và được ấn

Trang 12

định chỉ tiêu thuế, cách thức và thời hạn đóng góp; xã hội có quyền bắt mọi công chức phải báo cáo về công việc quản lý của họ [26].

Các nguyên tắc này, một cách tương tự, cũng được quy định trongTuyên ngôn của Hà Lan năm 1795

Như vậy, khái niệm tiếp cận thông tin đã được quy định khá sớm, và đó

là một trong những quyền cơ bản của con người, nếu so sánh với sự phát triểncác quyền và tự do khác của con người Tuy nhiên, thời điểm đó, quyền tiếp cậnthông tin công mới chỉ được quy định trong phạm vi một vài quốc gia

Quyền tiếp cận thông tin chỉ trở thành mối quan tâm trên phạm viquốc tế, sau khi Liên hợp quốc ra đời Trong phiên họp thứ nhất, Đại hội đồng

Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 59(1), nơi quy định: "Tự do thông tin là quyền con người cơ bản và… nền tảng của tất cả các tự do khác…".

Tiếp đó, bản Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người được thông quavào năm 1948 đã liệt kê một loạt các quyền và tự do cơ bản của cá nhân, trong

đó có quyền tiếp cận thông tin và trách nhiệm của các chính phủ trong việctôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền này Quyền tiếp cận thông tin tiếp tụcđược quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm

1966 và trong một số công ước quốc tế khác như Công ước quốc tế về quyềntrẻ em năm 1989, Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúngtrong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trườngnăm 1998, Công ước quốc tế về chống tham nhũng năm 2003…[68]

Ở cấp độ khu vực và quốc gia, quyền tiếp cận thông tin được quy địnhtrong Công ước nhân quyền Châu Âu (ECHR), Công ước nhân quyền Châu

Mỹ (ACHR), và trong Chương trình Hành động Chống tham nhũng dành chokhu vực Châu Á - Thái bình dương cũng đã quy định rõ về tiếp cận thông tinbảo đảm rằng công chúng và các phương tiện truyền thông được tự do tiếpnhận và phổ biến thông tin về các vấn đề tham nhũng một cách phù hợp vớipháp luật trong nước [67]… Hiện nay, các nước trên thế giới dù khác nhau về

Trang 13

thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế hay sự khác biệt về văn hóa trongpháp luật quốc gia đều có quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân.Tính đến tháng 9/2007 đã có khoảng 70 quốc gia ban hành luật bảo đảmquyền tiếp cận thông tin công Ví dụ: Canađa ban hành năm 1983, Hunggarinăm 1992, Vương Quốc Anh năm 2000, Nam Phi năm 2000, Mỹ năm 1966,Liên bang Nga năm 2006 Ở Châu Á, một số nước cũng đã ban hành luật vềtiếp cận thông tin như Thái Lan năm 1997, Hàn Quốc năm 1998, Nhật Bảnnăm 2004, Ấn Độ năm 2005, Trung Quốc năm 2007…

- Các khía cạnh khác nhau của nội hàm khái niệm quyền tiếp cận

thông tin

+ Tự do thông tin hay tiếp cận thông tin, chính là mọi cá nhân, côngdân được quyền tiếp cận hồ sơ, tài liệu của cơ quan nhà nước, hoặc các tổchức có chức năng thực hiện nhiệm vụ công (cơ quan công quyền) Điều nàyphản ánh nguyên tắc cơ quan công quyền không được lưu giữ thông tin thaymặt chính họ, mà là thay mặt, hay xuất phát từ việc bảo đảm lợi ích của tất cảcác thành viên trong xã hội Do đó, cá nhân, công dân có quyền được tiếp cận

thông tin công, trừ khi những thông tin thuộc giới hạn không được phép tiếp cận Quyền tiếp cận thông tin của cá nhân còn có ý nghĩa thứ hai, là quyền

chủ động được yêu cầu, và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước là phải công bố,phổ biến rộng rãi các loại thông tin vì lợi ích của cộng đồng

+ Quyền tiếp cận thông tin, bắt đầu xuất hiện đó là quyền được biết sựthật Nó phản ánh nghĩa vụ của nhà nước bảo đảm cho mọi công dân biết sựthật về các vấn đề khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, đến quản

lý tư pháp, quản lý hành chính của đất nước; về các vấn đề liên quan đến quốc

kế, dân sinh nói chung; về bảo vệ quyền và các tự do của mọi cá nhân, côngdân Các thông tin này được xác định đó là thông tin công, được cơ quan côngquyền lưu giữ thay mặt nhân dân, do đó có trách nhiệm bảo quản, và tạo điềukiện thuận lợi để cá nhân, công dân được quyền tiếp cận hồ sơ chứa đựng cácthông tin này

Trang 14

1.1.2 Phạm vi sử dụng thông tin theo quy định của một số nước trên thế giới

Phạm vi của quyền tiếp cận thông tin được quy định trong luật tiếp cậnthông tin các nước là không hoàn toàn giống nhau Nhìn chung, phạm vi củaquyền tiếp cận thông tin được quy định trong luật theo hai cách chính sau đây:

- Cách thứ nhất, luật liệt kê một loạt các loại thông tin cơ quan công

quyền có trách nhiệm phải công bố trong thời hạn luật định và sau đó lànhững thông tin miễn trừ tiết lộ Những nước theo cách này, như Ấn Độ, Liênbang Nga, Trung Quốc…

Luật về quyền tiếp cận thông tin của Ấn Độ (Điều 4) quy định:

Các nhà chức trách công cộng phải lưu giữ hồ sơ và có trách nhiệm công bố trong vòng 120 ngày đối với những loại thông tin từ điểm (i) đến điểm (xvii) Những thông tin này, chủ yếu là liên quan tới tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và nghĩa vụ, thủ tục ra quyết định, quy tắc nội bộ, danh bạ điện thoại, ngân sách… các chính sách, quyết định quan trọng có ảnh hưởng tới công chúng…[67].

Bên cạnh đó, Luật quy định những thông tin mà nhà chức trách không

có nghĩa vụ cung cấp (Điều 8) Đó là các thông tin mà việc tiết lộ có thể gâynhững tác động tiêu cực tới chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ấn Độ, cho anninh chiến lược hoặc các lợi ích kinh tế, khoa học, quan hệ với nhà nước khác,hoặc khuyến khích tội phạm; thông tin về hoạt động của tòa án; thông tin mànếu tiết lộ có thể ảnh hưởng đến nghị viện, cơ quan lập pháp các bang; thôngtin về bí quyết thương mại, kinh doanh…

Tương tự Ấn Độ, Luật về Thông tin, công nghệ thông tin và bảo vệthông tin của Liên bang Nga cũng xác định các loại thông tin không được hạnchế tiếp cận Điều 8 quy định:

Trang 15

Không được hạn chế tiếp cận đối với: (1) Các văn bản pháp luật liên quan đến quyền, tự do và nghĩa vụ của con người và công dân và các văn bản pháp luật quy định địa vị pháp lý của các tổ chức và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, các cơ quan chính quyền địa phương; (2) Thông tin về trạng thái môi trường; (3) Thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan chính quyền địa phương và thông tin về sử dụng ngân sách (trừ các tin tức về bí mật quốc gia hoặc bí mật nghề nghiệp); (4) Thông tin được lưu trữ trong các thư viện công cộng, bảo tàng, tài liệu lưu trữ và trong các hệ thống thông tin của quốc gia, của các cơ quan nhà nước và của các hệ thống thông tin khác mà chúng được thiết lập nhằm phục vụ công dân (thể nhân) và tổ chức; (5) Các thông tin khác mà pháp luật Liên bang không hạn chế tiếp cận [67].

Điều 9 Luật quy định mục đích hạn chế tiếp cận thông tin, nhằm bảo

vệ chế độ Hiến pháp, đạo đức, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của mọingười, bảo đảm nền quốc phòng đất nước và an ninh quốc gia; các thông tinbắt buộc bảo mật, các thông tin mà pháp luật Liên bang hạn chế tiếp cận…

Pháp lệnh của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về công khai thông tincủa chính quyền ngày 17/1/2007 cũng quy định phạm vi công bố thông tin

Các cơ quan nhà nước phải công bố các thông tin của chính quyền liên quan đến bất kỳ vấn đề nào quy định dưới đây: (1) Lợi ích cốt yếu của công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác; (2) Các yêu cầu mở rộng kiến thức hoặc sự tham gia của công chúng; (3) Việc thành lập, nghĩa vụ hoặc các thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước; (4) Các thông tin khác phải được công bố theo quy định của các luật, văn bản pháp quy khác [12, Điều 9].

Điểm khác so với luật của một số các nước, pháp luật của Cộng hòanhân dân Trung Hoa quy định danh mục các vấn đề mà chính quyền các cấp(từ cấp xã đến cấp tỉnh) có trách nhiệm cung cấp thông tin cho nhân dân

Trang 16

Điều 10 quy định:

Chính quyền nhân dân và các văn phòng ở cấp huyện hoặc cao hơn phải căn cứ quy định ở Điều 8 Pháp lệnh này để quyết định những thông tin của chính quyền nào cần phải công bố phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của cơ quan mình, trong đó phải chú ý đến các dạng thông tin sau đây: (1) Các văn bản pháp quy, các quy tắc do cơ quan nhà nước lập ra; (2) Các kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia, các dự án đặc biệt ở cấp quốc gia và khu vực cùng các chính sách có liên quan; (3) Dữ liệu thống kê về sự phát triển kinh tế,

xã hội của quốc gia; (4) Các báo cáo về chi tiêu tài chính và kiểm toán; (5) Thông tin về các chương trình, cơ sở và các tiêu chuẩn liên quan đến các khoản lệ phí và chi phí cho hoạt động hành chính; (6) Thông tin về các dự án, hồ sơ, tiêu chuẩn và việc thực hiện chính sách chi trả tập trung của chính quyền; (7) Thông tin về các vấn đề liên quan đến các phê duyệt hành chính, bao gồm cơ sở của những quyết định phê duyệt đó, tình trạng, số lượng, thủ tục, giai đoạn và các hồ

sơ gồm tất cả tài liệu được cung cấp để xin phê duyệt phù hợp với các yêu cầu hành chính; (8) Thông tin liên quan đến việc phê duyệt các dự

án xây dựng lớn và bối cảnh thực hiện; (9) Thông tin về các chính sách và biện pháp liên quan đến việc xóa đói nghèo, giáo dục, y tế, trợ cấp xã hội và việc làm và bối cảnh thực hiện; (10) Thông tin về các kế hoạch hành động trong trường hợp xảy ra tình huống khẩn cấp

và các trật tự công cộng, thông tin về việc cảnh báo sớm và các biện pháp đối phó (11) Thông tin về thanh tra và giám sát việc bảo vệ môi trường, sức khỏe công cộng, an toàn lao động, an toàn thực phẩm, dược phẩm và chất lượng hàng hóa [12].

Điều 11 quy định:

Thông tin ưu tiên công bố do chính quyền nhân dân cấp tỉnh/ thành phố đưa ra cần bao gồm những dạng sau: (1) Thông tin liên quan

Trang 17

đến các dự án lớn về xây dựng, quản lý đô thị và nông thôn; (2) Thông tin liên quan đến tình hình thực hiện các dự án công ích; (3) Thông tin liên quan đến việc trưng dụng, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và việc đền bù, phân phối tiền trợ cấp và những bối cảnh áp dụng; (4) Thông tin liên quan đến quản lý, sử dụng và bối cảnh cần phân phát cứu trợ khẩn cấp, công tác cứu trợ thảm họa, trợ cấp cho cựu chiến binh, trợ cấp xã hội, những đóng góp thiện nguyện và các quỹ khác [12].

Điều 12 quy định:

Chính quyền nhân dân ở các xã, phường, thị trấn phải căn

cứ quy định ở Điều 9 Pháp lệnh này quyết định những thông tin cần phải công bố trong phạm vi thẩm quyền của mình, trong đó phải chú trọng đến những dạng thông tin sau: (1) Thông tin liên quan đến tình hình thực hiện các chính sách quốc gia về việc làm ở khu vực nông thôn; (2) Thông tin liên quan đến tình hình quản lý và sử dụng ngân sách, các khoản chi tiêu và các quỹ đặc biệt; (3) Thông tin về kế hoạch tổng thể về sử dụng đất ở địa phương, và tình hình kiểm tra việc sử dụng (4) Thông tin liên quan đến việc trưng dụng, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và việc đền bù, phân phối tiền trợ cấp và những bối cảnh áp dụng; (5) Thông tin liên quan đến tình hình thu nợ; (6) Thông tin liên quan đến quản lý, sử dụng và bối cảnh cần phân phát cứu trợ khẩn cấp, công tác cứu trợ thảm họa, trợ cấp cho cựu chiến binh, trợ cấp xã hội, những đóng góp từ thiện

và các quỹ khác; (7) Thông tin liên quan đến việc ký kết hợp đồng, cho thuê hoặc đấu thầu của các doanh nghiệp tập thể hoặc các chủ thể kinh tế khác ở cấp xã, phường, thị trấn; (8) Thông tin liên quan đến tình hình thực hiện các chính sách sinh sản [12].

Pháp lệnh của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về công khai thông tin

của chính quyền không liệt kê các dạng thông tin không được phép tiết lộ mà chỉ quy định nguyên tắc chung tại Điều 8 là: "Các cơ quan nhà nước không

Trang 18

được gây tổn hại tới an ninh quốc gia, trật tự công cộng; an ninh kinh tế và

sự ổn định xã hội khi công bố thông tin của chính quyền" [12].

Và tại Điều 14 quy định: "Cơ quan nhà nước phải thiết lập một cơ chế toàn diện để kiểm tra và bảo vệ bí mật thông tin của chính quyền trước khi công bố" [12].

- Cách thứ hai, luật xác định và liệt kê những loại thông tin không

công khai, hạn chế, miễn trừ tiếp cận

Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền năm 1996của Hàn Quốc (Điều 7) liệt kê danh mục thông tin không công khai, từ mục 1

- mục 8 [67], gồm những thông tin chứa đựng những bí mật hoặc được luậtkhác quy định không thể công khai; thông tin nếu tiết lộ sẽ gây nguy hại lớnđến quyền lợi quốc gia; đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người hoặclợi ích của cộng đồng; thông tin liên quan phòng chống, điều tra tội phạm,khởi tố, thi hành án; kiểm toán, giám sát điều tra, hợp đồng đấu thầu, pháttriển khoa học, quản lý nhân sự; thông tin nhận dạng cá nhân; thông tin liênquan tới bí mật thương mại của các công ty, hội đoàn hoặc cá nhân; hoặcthông tin nếu công khai sẽ có nguy hại đến cá nhân…

Tương tự như Hàn Quốc, Luật tiếp cận thông tin của cơ quan hànhchính năm 1999 của Nhật Bản xác định trách nhiệm cung cấp các văn bảnhành chính khi có yêu cầu Tuy nhiên, luật cũng liệt kê thông tin được cungcấp liền ngay các thông tin ngoại trừ không cung cấp

Điều 5 quy định nghĩa vụ cung cấp các văn bản hành chính, các thôngtin liên quan tới cá nhân (ngoại trừ thông tin mà việc công khai hóa có thể gây

ra những nguy cơ cho các quyền và lợi ích của cá nhân người có liên quan).Hoặc, mục (2) những thông tin liên quan đến một tập đoàn hoặc các chủ thểkhác khác (ngoại trừ nhà nước, các cơ quan hành chính phối hợp các cơ quancông cộng địa phương và các cơ quan hành chính phối hợp địa phương) hoặcthông tin liên quan đến nhiệm vụ của một cá nhân có trách nhiệm thực

Trang 19

thi nhiệm vụ đó, mà sẽ được nêu dưới đây Tuy nhiên, ngoại trừ những thôngtin được xác định là cần thiết phải được đưa ra công khai nhằm bảo vệ cuộcsống, sức khỏe, nghề nghiệp hoặc tài sản của một người Hoặc, khi việc đưathông tin ra công khai dẫn đến nguy cơ cho các quyền, vị thế cạnh tranh hoặccác lợi ích hợp pháp khác của tập đoàn hoặc gây tổn hại cho cá nhân đượcnói đến…

Khác với Hàn Quốc, Luật của Nhật Bản còn quy định việc cung cấpmột phần thông tin, nếu thông tin đó có thể tách ra khỏi văn bản một cách dễdàng và người đứng đầu cơ quan hành chính phải cung cấp cho người yêu cầucác phần văn bản không chứa đựng các thông tin không công khai hoá Vàđiều này không áp dụng nếu như sau khi tách thông tin không công khai hóa,các phần còn lại của văn bản chỉ chứa đựng những thông tin không có ýnghĩa Hoặc cung cấp văn bản khi cần thiết vì lý do lợi ích công cộng vàthông tin liên quan đến tình trạng của các văn bản hành chính

Luật về tiếp cận các tài liệu hành chính công của Đan Mạch năm 1985quy định quyền tiếp cận các tài liệu hành chính do cơ quan hành chính nắm giữ

sẽ phải cung cấp cho bất kỳ người nào, khi có yêu cầu, trừ các trường hợp ngoại

lệ đối với quyền tiếp cận Những ngoại lệ được xác định tại phần III của luật,

như tài liệu nội bộ của viên chức, tài liệu về sự việc nội bộ sẽ được hiểu là:

(1) Các tài liệu được viên chức soạn thảo để dùng vào việc riêng; (2) Thư tín giữa các phòng ban trong cùng một cấp; và (3) Thư tín giữa một hội đồng chính phủ địa phương với các phòng ban

và cơ quan khác, hoặc giữa các hội đồng chính phủ địa phương với nhau Ngoài ra các điểm từ 8 - 14 còn quy định một loạt các loại miễn trừ tiết lộ [2].

Tương tự, Luật về quyền tiếp cận tài liệu của cơ quan hành chính nhànước, gọi tắt là Luật tự do thông tin có hiệu lực năm 2009 của Na Uy, xácđịnh nguyên tắc chung là:

Trang 20

Các tài liệu công việc, chuyên san và các tài liệu đăng ký

dữ liệu tương tự của một cơ quan hành chính phải được công khai trừ trường hợp một đạo luật hoặc quy định hướng dẫn có quy định khác Bất kỳ người nào đều có thể nộp đơn cho một cơ quan hành chính đề nghị tiếp cận các tài liệu công việc, chuyên san và các tài liệu đăng ký tương tự của cơ quan hành chính đó (Điều 3) [9].

Chương 3 quy định các trường hợp ngoại lệ của quyền tiếp cận tài liệutại các điều từ 13 đến 27: các thông tin có nghĩa vụ giữ bí mật, không đượcphép tiếp cận; Tài liệu được soạn thảo trong quá trình chuẩn bị giải quyết mộtcông việc của cơ quan hành chính (tài liệu nội bộ); Các tài liệu gửi đến phục

vụ quá trình chuẩn bị công việc nội bộ; Tiếp cận tài liệu nội bộ của chínhquyền thành phố và chính quyền hạt; Các trường hợp ngoại lệ liên quan đếncác tài liệu nhất định của gia đình Hoàng gia; Các trường hợp ngoại lệ đối vớitài liệu tòa án; Các trường hợp ngoại lệ đối với các tài liệu được trao đổi trongquá trình tham vấn với Quốc hội; Các trường hợp ngoại lệ liên quan đến lợiích chính sách đối ngoại của Na Uy; Các trường hợp ngoại lệ liên quan đếnlợi ích quốc phòng và an ninh; Các trường hợp ngoại lệ đối với một số vấn đề

về ngân sách; Các trường hợp ngoại lệ liên quan đến đường lối đàm phán củaChính phủ; Các trường hợp ngoại lệ có liên quan đến các biện pháp kiểm soáthoặc quản lí, các tài liệu liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật và cácthông tin có khả năng thúc đẩy các hành vi vi phạm pháp luật; Các trường hợpngoại lệ liên quan đến việc bổ nhiệm; Các trường hợp ngoại lệ liên quan đếnđiểm thi và bài kiểm tra; Cơ sở ban hành quy định hướng dẫn

1.1.3 Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin

Chủ thể mang quyền tiếp cận thông tin có thể được xác định trong cácvăn kiện quốc tế (Công ước của Liên Hợp quốc về Chống tham nhũng, Côngước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định

và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường năm 1998), trong

Trang 21

Hiến pháp hoặc trong các đạo luật về tiếp cận thông tin hay về công khai hoạtđộng của chính quyền.

Pháp luật các nước

Tại các văn bản pháp luật quốc tế và một số quốc gia, chủ thể mangquyền tiếp cận thông tin có thể là cá nhân hoặc tổ chức Cá nhân có thể làcông dân, người không mang quốc tịch, người nước ngoài; cụ thể hơn, có thể

là trẻ em hay công chức nhà nước

Với quan niệm tiếp cận thông tin là một quyền dân sự - chính trị, Hiếnpháp, Luật các nước sử dụng các công thức như "mọi người", "bất kể ngườinào" hay "công chung", "người dân" để thể hiện tính phổ quát của quyền này

Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin có thể là công chúng nói chung.

Theo Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc

ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường (25/6/1998):

"…mỗi Bên tham gia Công ước sẽ bảo đảm các quyền được tiếp cận thông tin, quyền của công chúng được tham gia vào các tiến trình ra quyết định (Điều 1)".

Tại đây, "công chúng" được cắt nghĩa là một hoặc nhiều thể nhân hoặcpháp nhân và theo luật hoặc thông lệ quốc gia, là các tổ chức, hiệp hội hoặc

nhóm của họ "Trong phạm vi các điều khoản có liên quan đến Công ước này, công chúng sẽ tiếp cận thông tin, có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định và tiếp cận bình đẳng đối với các vấn đề về môi trường mà không phân biệt tư cách công dân, quốc tịch hay sinh quán…" (Khoản 9 Điều 3)".

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 10/2003 và có hiệu lực thi hành vào tháng 12/2005 nêu: Đảm bảo cho công chúng được tiếp cận thông tin một cách hiệu quả.

Hiến pháp một số nước sử dụng cụm từ "mọi người" khi đề cập chủthể của quyền tiếp cận thông tin:

Trang 22

Điều 44 của Hiến pháp Estonia quy định:

1 Mọi người có quyền tự do tiếp nhận thông tin được phổ biến để sử dụng chung.

2 Theo yêu cầu của công dân Estonia, trong phạm vi và phù hợp với các thủ tục do pháp luật quy định, tất cả các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương và các quan chức cơ quan

đó có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin về công việc của mình, trừ trường hợp thông tin đó bị pháp luật nghiêm cấm tiết lộ hoặc các thông tin nhằm mục đích sử dụng nội bộ.

3 Công dân Estonia có quyền tiếp cận với các thông tin về bản thân mình do các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương nắm giữ cũng như đang được lưu trữ ở các cơ quan trung ương và địa phương theo các thủ thục do pháp luật quy định Quyền này có thể bị pháp luật hạn chế nhằm mục đích bảo vệ các quyền và tự do của người khác cũng như bảo vệ bí mật về dòng họ của trẻ em cũng như là ngăn chặn tội phạm hoặc vì mục đích bắt giữ tội phạm hoặc để làm sáng tỏ sự thật trong một vụ án đang xét xử.

4 Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, các quyền quy định tại Khoản 2 và 3 sẽ được áp dụng một cách bình đẳng đối với công dân của Estonia, công dân của các quốc gia khác và những người không có quốc tịch đang hiện diện trên lãnh thổ Estonia [4].

Hiến pháp Anbani năm 1998 (Điều 23) quy định:

1 Quyền thông tin được đảm bảo.

2 Mọi người có quyền nhận thông tin về hoạt động của các

cơ quan Nhà nước cũng như người thực thi các chức năng của Nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật.

Trang 23

3 Mọi người được trao khả năng theo dõi các phiên họp của các cơ quan được hình thành từ bầu cử tập thể [5].

Cũng tại Hiến pháp Anbani (Điều 56) có quy định: "Mọi người có quyền được thông tin về tình trạng môi trường và việc bảo vệ môi trường".

Theo Luật về quyền tiếp cận thông tin trong các tài liệu chính thức củaAnbani năm 1999, "công chúng" là chỉ bất cứ người nào, "người" là bất kỳ cánhân nào, thể nhân và pháp nhân, là người Anbani hay người nước ngoài

Theo Luật tiếp cận thông tin của Canada năm 1985, bất kể ai là "công dân Canada; người thường trú dài hạn theo mục 2 (1) của Luật về nhập cư và bảo vệ người tị nạn đều có quyền và dựa theo yêu cầu sẽ được phép tiếp cận bất cứ tài liệu nào thuộc quyền kiểm soát của cơ quan Chính phủ".

Luật của Nhật Bản về tiếp cận thông tin của các cơ quan hành chính

năm 2001 quy định: "Bất kể người nào được quy định trong Luật này đều có thể yêu cầu người đứng đầu một cơ quan hành chính cung cấp các văn bản hành chính của các cơ quan đó (Điều 3)".

Luật còn quy định nghĩa vụ cung cấp văn bản hành chính trong trườnghợp cá nhân yêu cầu là quan chức Chính phủ (các công chức quốc gia đượcnêu tại Luật dịch vụ công cộng quốc gia, tại Luật về các quy tắc chung về các

cơ quan hành chính phối hợp được chỉ định) - điểm c Khoản 1 Điều 5

Luật Tự do thông tin Thụy Điển được ban hành vào năm 1949 và được

sửa đổi vào năm 1976, Điều 2 quy định: "Mọi chủ thể và người cư trú của Thụy Điển có quyền tự do tiếp cận các tài liệu chính thức".

Các cơ quan nhà nước phải trả lời ngay lập tức các yêu cầu tài liệu chínhthức Yêu cầu có thể được thực hiện dưới mọi hình thức và có thể vô danh

Luật về tiếp cận hồ sơ hành chính nhà nước của Đan Mạch năm 1985cho phép bất kỳ người nào được quyền tiếp cận các tài liệu trong một hồ sơhành chính Các cơ quan phải trả lời càng sớm càng tốt và nếu như việc trả

Trang 24

lời kéo dài hơn 10 ngày thì phải thông báo cho người yêu cầu biết lí do tại saolại trì hoãn và khi nào thì có câu trả lời.

Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền của HànQuốc năm 1996 dành Điều 6 quy định những người có quyền yêu cầu cungcấp thông tin, theo đó mọi người dân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin.Những vấn đề liên quan đến yêu cầu cung cấp thông tin đối với người nướcngoài được quy định ở Sắc lệnh của Tổng thống

Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin là cá nhân: Một số Luật Tự do thông tin hay Luật Bảo vệ dữ liệu cho phép các cá nhân được tiếp cận tài liệu

lưu trữ do các cá nhân và các tổ chức tư nhân nắm giữ cũng như cho phépthực hiện quyền được tiếp cận và quyền được sửa đổi các tài liệu lưu trữ cánhân và đảm bảo rằng các tài liệu này luôn chính xác và các quyết định đượcđưa ra không dựa trên các thông tin không có liên quan hoặc không được cậpnhật Quyền này cũng đảm bảo rằng mọi người có thể nhận thức một cách rõràng những lợi ích hoặc dịch vụ mà họ có quyền được hưởng và xem họ cóđược nhận đúng và đủ các lợi ích đó không

Ở Nam Phi, các quy định về tiếp cận thông tin trong Luật Tăng cường

tiếp cận thông tin đã được sử dụng bởi các cá nhân muốn biết tại sao đơn xin

vay tiền của họ bị ngân hàng từ chối hay trong trường hợp các cổ đông thiểu

số muốn xem hồ sơ lưu trữ của các công ty tư nhân hay một nhà lịch sử đangnghiên cứu về việc một công ty phúc lợi tư nhân hoạt động như thế nào trongthời kỳ phân biệt chủng tộc hay một nhóm hoạt động môi trường muốn tìmhiểu về các ảnh hưởng đến môi trường của các dự án

Hiến pháp và Luật một số nước quy định chủ thể là công dân: Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978 quy định: "Công dân có quyền tiếp cận các tài liệu hành chính và hồ sơ của nhà nước, ngoại trừ trường hợp ảnh hưởng tới

an ninh quốc gia, điều tra tội phạm và vi phạm và bí mật (Điều 105 khoản b)".

Trang 25

Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin là tổ chức, pháp nhân:

Ấn Độ, các nhóm hoạt động xã hội cơ sở đã sử dụng quyền được

biết để tiếp cận các thông tin về các dự án, về các công trình công cộng ở địaphương để biết về các khoản tiền đã được chi trả như thế nào và để người dân

có quyền hỏi về việc dự án đã hoàn thành hay chưa và các khoản tiền chi cho

dự án đó là bao nhiêu

Luật về Tự do tiếp cận thông tin Cộng hòa Séc (được ban hành vàotháng 5 năm 1999 và có hiệu lực thi hành vào tháng 1 năm 2000) [11] cho

phép các thể nhân và pháp nhân quyền tiếp cận các thông tin do các cơ quan

nhà nước, cơ quan cộng đồng và các tổ chức tư nhân quản lý công quỹ nắmgiữ Yêu cầu có thể bằng lời nói hoặc văn bản

Luật Liên bang Nga về thông tin, công nghệ thông tin và bảo vệ thông

tin năm 2006 quy định: "Công dân (thể nhân) và tổ chức (pháp nhân) (các tổ chức khác) có quyền tìm kiếm và nhận bất kỳ thông tin nào với bất kỳ hình thức nào từ bất kỳ nguồn nào với điều kiện tuân thủ các quy định của Luật này và các luật Liên bang" (Điều 8).

Pháp lệnh nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về công khai thông tincủa chính quyền năm 2007 (có hiệu lực từ 1/5/2008) tập trung quy định tráchnhiệm của các cơ quan nhà nước công bố thông tin của chính quyền, xác địnhphạm vi công bố thông tin

Điều 13 nêu:

Bên cạnh những dạng thông tin được các cơ quan nhà nước công bố công khai, các cơ quan nhà nước được nêu tại các Điều 9 đến 12 cũng như các công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác có thể, tùy thuộc vào nhu cầu sản xuất, sinh sống, nghiên cứu hoặc nhu cầu khác của mình, gửi đơn yêu cầu cung cấp thông tin của chính quyền tới các văn phòng của Hội đồng nhà nước hoặc của chính quyền nhân dân ở tất cả các cấp [12].

Trang 26

Một số chủ thể đặc biệt:

Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định:

Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ý kiến; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin và tư tưởng ở mọi lĩnh vực; bằng lời nói, văn bản viết tay hoặc bản in, hay dưới hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác mà trẻ em lựa chọn [6, Điều 13].

Ngoài các chủ thể như đã nêu, các văn kiện quốc tế còn đề cập đến một

số chủ thể được ưu tiên đặc biệt trong việc tiếp cận thông tin: Trong trường hợp

có bất kỳ mối đe dọa nào sắp xảy ra đối với sức khỏe của con người hoặc môitrường, , tất cả các thông tin có thể cho phép công chúng đưa ra các giải pháp

để ngăn cản hoặc làm giảm bớt thiệt hại phát sinh do mối đe dọa và tất cả cácthông tin này do một cơ quan công quyền nắm giữ, được phát tán ngay lập tức và

không trì hoãn đối với những người có thể bị ảnh hưởng Điều 5 Công ước về

tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếpcận tư pháp trong các vấn đề về môi trường (25/6/1998)

Công chúng liên quan sẽ được thông báo sớm, hoặc bằng việc thông

báo công khai hoặc thông báo cho từng cá nhân một cách phù hợp, thông báosớm trong quá trình ra quyết định về môi trường một cách đầy đủ, kịp thời.Điều 6 Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc

ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường (25/6/1998)

Luật Hành chính công Đan Mạch điều chỉnh việc tiếp cận hồ sơ tài

liệu trong trường hợp một người là một bên có liên quan đến quyết định hành chính Luật này quy định phạm vi tiếp cận tài liệu rộng hơn so với Luật Tiếp

cận Luật về Xử lý các dữ liệu cá nhân Đan Mạch cho phép các cá nhân đượcquyền tiếp cận hồ sơ tài liệu về bản thân mình do các cơ quan nhà nước hoặc

tổ chức tư nhân nắm giữ [8]

Trang 27

Pháp luật Việt Nam

Chủ thể tiếp cận thông tin là cá nhân, công dân

Hiến pháp (Điều 69) quy định chủ thể có quyền được thông tin là công dân.Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 quy định

những nội dung phải công khai để nhân dân biết (Điều 5).

Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định:

Kết quả điều tra về nguyên nhân, mức độ, phạm vi ô nhiễm

và thiệt hại về môi trường phải được công khai để nhân dân được biết (Điều 93) Cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ (theo quy định của Luật) có trách nhiệm cung cấp thông tin về môi trường liên quan đến hoạt động của mình cho cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp huyện hoặc cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường cấp xã nơi cơ sở hoạt động và công bố thông tin về môi trường để cộng đồng dân cư được biết [47, khoản 2 Điều 103].

Luật Cư trú 2006 quy định quyền của công dân được cung cấp thôngtin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền cư trú (Điều 9)

Theo Điều 46 Luật Điện lực 2004, khách hàng sử dụng điện đượccung cấp hoặc giới thiệu thông tin liên quan đến việc mua bán điện và hướngdẫn về an toàn điện

Luật Dược 2004 dành một Chương quy định về thông tin, quảng cáothuốc Thông tin thuốc phải đầy đủ, khách quan, chính xác, trung thực, dễhiểu Luật quy định trách nhiệm của cơ sở sản xuất, mua bán và cung ứngthuốc, của cơ sở y tế, cán bộ, nhân viên y tế, cơ quan quản lý nhà nước vềdược Đối tượng được thông tin là cán bộ, nhân viên y tế và người sử dụng

Luật phòng, chống tham nhũng 2005 quy định quyền yêu cầu cungcấp thông tin của cá nhân Cán bộ, công chức, viên chức và người lao độngkhác có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm

Trang 28

việc cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó Côngdân có quyền yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mình

cư trú cung cấp thông tin về hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, phường, thịtrấn đó (Điều 32)

Chủ thể tiếp cận thông tin là tổ chức

Luật Phòng, chống tham nhũng còn có quy định về quyền yêu cầu

cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức (Điều 31) Cơ quan nhà nước, tổ chức

chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệmcung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình theo quyđịnh của pháp luật (Điều 31)

Ngoài cá nhân, Luật Công nghệ thông tin 2006 còn quy định quyềncủa tổ chức tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tinnhư "sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, số hóa, duy trì và làm tăng giátrị các nguồn tài nguyên thông tin" (Điều 8) Theo Luật, cơ quan nhà nước làmột chủ thể được cơ quan nhà nước khác cung cấp và chia sẻ thông tin Hoạtđộng của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng bao gồm: cung cấp, traođổi, thu thập thông tin với tổ chức, cá nhân; chia sẻ thông tin trong nội bộ vàvới cơ quan khác của Nhà nước; cung cấp các dịch vụ công (Điều 27)

Luật Điện lực 2004 quy định quyền của đơn vị phát điện: "Được cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động phát điện" [45, Điều 39];

"Đơn vị truyền tải điện được cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động truyền tải điện" [45, Điều 40].

Tương tự như vậy với đơn vị phân phối điện (Điều 41), đơn vị bánbuôn điện (Điều 43), đơn vị bản lẻ điện (Điều 44)

Chủ thể khác

Theo Luật Trợ giúp pháp lý, một trong các hình thức trợ giúp pháp lý

là tư vấn pháp luật Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên, Luật sư, Tư vấn viên

Trang 29

pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý bằngviệc hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật (Điều28); Tư vấn pháp luật được thực hiện bằng miệng hoặc bằng văn bản tư vấntrực tiếp, bằng thư tín, điện tín hoặc thông qua các phương tiện thông tin khác(Điều 38) Người được trợ giúp pháp lý qua hình thức tiếp nhận thông tin làngười nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật

và trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng cóđiều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Điều 10)

Luật Kinh doanh bất động sản 2006 quy định quyền của bên thuêquyền sử dụng đất yêu cầu bên cho thuê cung cấp các thông tin đầy đủ, trungthực về quyền sử dụng đất được cho thuê (Điều 43) Tổ chức, cá nhân địnhgiá bất động sản có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu cóliên quan đến bất động sản làm cơ sở cho việc định giá (Điều 53)

Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí năm 1999 quy định quyền của nhà

báo: "Khai thác và được cung cấp thông tin trong hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật" [36, Điều 15].

Về vai trò và trách nhiệm của báo chí, Luật Phòng, chống tham nhũngquy định:

Cơ quan báo chí, phóng viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến hành vi tham nhũng (Điều 86) Cũng theo Luật này, khi cần thiết, các bộ, ngành, địa phương đề nghị Thanh tra Chính phủ cung cấp thông tin để phục vụ cho công tác phòng, chống tham nhũng của bộ, ngành, địa phương mình [58, Điều 18].

Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng

về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng đề cập đến

Trang 30

yêu cầu cung cấp thông tin của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổchức thành viên về vụ việc tham nhũng (Điều 6).

Trẻ em là chủ thể của quyền tiếp cận thông tin: Luật Bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định các quyền cơ bản của trẻ em (là công

dân Việt Nam dưới 16 tuổi), trong đó có "quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm" (Điều 20).

1.2 NỘI DUNG CỦA QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

1.2.1 Nội dung của quyền tiếp cận thông tin theo một số văn kiện pháp lý quốc tế

Xem xét các quy định liên quan đến quyền tiếp cận thông tin cho thấy,

quyền tiếp cận thông tin hay quyền tự do thông tin có phạm vi rộng, liên quan chặt chẽ với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Điều 19, Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền năm 1948 quy định:

"Mọi người có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp, và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện nào và không có biên giới" [26].

Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cũng quy định:

Trang 31

Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện thông tin đại chúng khác, tùy theo sự lựa chọn của họ [26].

Điều 13 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 quy định:

Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ý kiến; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin và tư tưởng ở mọi lĩnh vực, bằng lời nói, văn bản viết tay hoặc bản in, hay dưới hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác mà trẻ em lựa chọn [6].

Như vậy, cả Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền và Công ước quốc tế

về các quyền dân sự, chính trị, Công ước quốc tế về quyền trẻ em đều đề cập

khá rõ nội hàm của quyền tiếp cận thông tin, bao gồm: tự do tìm kiếm, nhận

và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, quyền tự do giữ quan điểm không có sựcan thiệp

Bên cạnh các quy định trên, nội dung quyền tiếp cận thông tin cònđược làm rõ trong một số văn kiện nhân quyền khu vực như Điều 10 (1) củaCông ước Nhân quyền Châu Âu, Điều 13(1) của Công ước Nhân quyền Châu

Mỹ và trong bản Tuyên bố liên Mỹ về các nguyên tắc của tự do bày tỏ ý kiến,Nguyên tắc 2 quy định:

Mọi người có quyền được tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin và quan điểm một cách tự do theo quy định tại Điều 13 của Công ước Nhân quyền Châu Mỹ Mọi người được có cơ hội bình đẳng để tiếp nhận, tìm kiếm và phổ biến thông tin bằng mọi hình thức tuyên truyền mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào

vì lý do chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm

Trang 32

chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, địa vị kinh tế, nơi sinh hay bất kỳ điều kiện xã hội nào khác [73].

Nghiên cứu quy định trong các văn kiện nhân quyền khu vực, quyềntiếp cận thông tin cũng nằm trong khái niệm quyền tự do ngôn luận như quyđịnh tại Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị Công

ước đã quy định nội hàm khái niệm "quyền tự do ngôn luận bao hàm cả quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin".

Tuyên bố về Nguyên tắc: Xây dựng xã hội Thông tin: một thách thức toàn cầu trong thiên niên kỷ mới, đã khẳng định: nền tảng thiết yếu của xã hội

thông tin như đã được quy định trong Điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyềnthế giới với bốn thành tố là: quyền tự do giữ quan điểm không bị sự can thiệp;quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến Và truyềnthông là một quá trình xã hội cơ bản, nhu cầu thiết yếu của con người, là nềntảng của tất cả tổ chức xã hội, mà trung tâm là xã hội thông tin Mọi người, ởbất kỳ đâu phải có cơ hội được tham gia và không ai bị loại ra khỏi lợi ích của

xã hội thông tin [71]

Như vậy, quyền tiếp cận thông tin có nội dung rộng và để thực hiệnquyền này, cá nhân có quyền tự do tìm kiếm; tự do tiếp nhận và tự do phổbiến thông tin

- Tự do tìm kiếm thông tin, thể hiện tính chủ động hơn là bị động của

mỗi cá nhân để có được thông tin cần thiết mà cá nhân, công dân quan tâm

Cá nhân, công dân có quyền yêu cầu, đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vịnắm giữ thông tin công, có nghĩa vụ cung cấp thông tin đó cho mình

- Tự do tiếp nhận thông tin, cá nhân, công dân được nhận thông tin

qua các kênh khác nhau (các phương tiện thông tin đại chúng như các loạihình báo chí: báo nói, báo viết, báo hình, báo điện tử ) và trách nhiệm nhànước là thường xuyên tổ chức cung cấp thông tin định kỳ mà nhà nước nắmgiữ để cho công chúng biết, kể cả khi công dân không có yêu cầu

Trang 33

- Tự do phổ biến thông tin, cá nhân, công dân có thông tin được

quyền truyền đạt, chia sẻ quan điểm, thông tin mà mình đang nắm giữ chomọi người mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về ranh giới hay các hìnhthức đưa tin

Ba nội dung trên chính là những nội dung cốt lõi của quyền tiếp cậnthông tin, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong việcđảm bảo cho cá nhân, công dân được thực hiện quyền này

- Bên cạnh mối quan hệ gắn bó giữa quyền tiếp cận thông tin vớiquyền tự do ngôn luận, báo chí, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin còn đòi hỏitính công khai, tính minh bạch trong hoạt động công quyền, và đặc biệt cần có

sự tham gia của người dân trong quá trình ra các quyết định Cách tiếp cậnnày thể hiện rõ nét trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng, lĩnh vực thông tinmôi trường…

Công ước quốc tế về chống tham nhũng năm 2003, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đòi hỏi (1) báo cáo công khai, và (2) sự tham gia của công chúng

+ Báo cáo công khai (Điều 10) xét đến sự cần thiết phải đấu tranh

chống tham nhũng có hiệu quả, cần tăng cường minh bạch trong quản lý hànhchính công, khi cần thiết kể cả trong hoạt động tổ chức, thực hiện chức năng

và ra quyết định

Các biện pháp đó, ngoài các biện pháp khác, bao gồm:

(a) Ban hành những trình tự thủ tục hoặc quy định cho phép công chúng, khi thích hợp, có được thông tin về việc tổ chức, thực hiện chức năng và ra quyết định của các cơ quan hành chính của

họ, mà sự riêng tư và thông tin cá nhân vẫn được bảo vệ, và thông tin về những quyết định và hành vi pháp lý liên quan đến công chúng; (b) Đơn giản hóa thủ tục hành chính ở những khâu thích hợp nhằm tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận với cơ quan ra quyết định có thẩm quyền; (c) Xuất bản thông tin, có thể bao gồm

Trang 34

báo cáo định kỳ, về nguy cơ tham nhũng trong các cơ quan hành chính nước mình [65].

+ Sự tham gia của công chúng (Điều 13): Mỗi quốc gia thành viên của Công ước, trong khả năng có thể và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản

của luật pháp nước mình, áp dụng các biện pháp thích hợp, nhằm thúc đẩy sựtham gia chủ động của các cá nhân và tổ chức ngoài khu vực công như xã hộidân sự, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức cộng đồng, vào công tácphòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng; và nhằm nâng cao nhận thức củacông chúng về sự tồn tại, nguyên nhân và tính chất nghiêm trọng cũng như sự

đe dọa của tham nhũng

Sự tham gia đó cần được tăng cường thông qua các biện pháp như: (a) Tăng cường tính minh bạch trong các quy trình ra quyết định, thúc đẩy đóng góp của công chúng vào các quy trình ra quyết định; (b) Đảm bảo cho công chúng được tiếp cận thông tin một cách hiệu quả; (c) Tổ chức các hoạt động thông tin cho công chúng góp phần đấu tranh không khoan nhượng chống tham nhũng, cũng như các chương trình giáo dục công chúng, bao gồm cả chương trình giảng dạy trong nhà trường và trường đại học; (d) Tôn trọng, tăng cường và bảo vệ sự tự do tìm kiếm, nhận, xuất bản và tuyên truyền thông tin về tham nhũng.

Tăng cường sự tham gia của công chúng, còn được đề cập trong lĩnhvực môi trường Tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp quốcnăm 1992, Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển đã được ban hành kêugọi các quốc gia tăng cường khả năng tiếp cận và tham gia của công chúng

Nguyên tắc số 10 quy định: "Các vấn đề môi trường sẽ được giải quyết một cách tốt nhất nếu như có sự tham gia của tất cả các công dân liên quan với các mức độ phù hợp".

Ngoài ra còn được quy định trong Công ước UNECE về tiếp cận thôngtin, Tham gia của công chúng vào quá trình ra quyết định và tiếp cận công lý

Trang 35

đối với các vấn đề môi trường (hay còn gọi là Công ước Aarhus) được thôngqua vào tháng 6/1998 và có hiệu lực vào tháng 10/2001.

1.2.2 Nội dung của quyền tiếp cận thông tin theo các văn kiện pháp lý của Việt Nam

Quyền tiếp cận thông tin (Right to access to information) là quyền củamọi công dân được quyền tiếp cận các thông tin, được ban hành và lưu giữ tạicác cơ quan, tổ chức công quyền đặc biệt là các cơ quan hành chính Nhà nước.Các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không vì bản thân họ mà với tư cách

là người bảo vệ lợi ích của công chúng Thông tin được coi là tài sản Quốc gia

và cũng như mọi tài sản khác không thể để cho một cá nhân hay tổ chức nào độcquyền chiếm đoạt nếu đó không phải là các thông tin liên quan đến bí mật quốcgia, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân Quyền tiếp cận thông tin được coi là mộttrong những quyền cơ bản của con người và công dân

Ở Việt Nam, quyền được thông tin đã được xác định trong Cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, trongHiến pháp năm 1992 và quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau

Trong các văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta hiện nay, chủyếu sử dụng khái niệm quyền được thông tin và trách nhiệm cung cấp thôngtin từ phía cơ quan nhà nước Có thể quy về một số quyền sau:

Quyền tìm kiếm, trao đổi thông tin

Theo Luật Công nghệ thông tin 2006, tổ chức, cá nhân tham gia hoạtđộng ứng dụng công nghệ thông tin có quyền tìm kiếm, trao đổi, sử dụngthông tin trên môi trường mạng (trừ một số thông tin có nội dung được Luậtquy định); yêu cầu khôi phục thông tin của mình hoặc khôi phục khả năngtruy nhập đến nguồn thông tin của mình; từ chối cung cấp hoặc nhận trên môitrường mạng sản phẩm, dịch vụ trái với quy định của pháp luật và phải chịutrách nhiệm về việc đó (Điều 8)

Trang 36

Quyền yêu cầu cung cấp thông tin

Luật Phòng, chống tham nhũng ghi nhận quyền yêu cầu cung cấpthông tin của cá nhân, cơ quan, tổ chức, cơ quan báo chí, phóng viên Cơquan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tàiliệu đó theo quy định của pháp luật; trường hợp không cung cấp thì phải trảlời bằng văn bản và nêu rõ lý do (Điều 86) Luật còn có quy định về việc cungcấp thông tin về phòng, chống tham nhũng cho bộ, ngành, địa phương Thanhtra Chính phủ có trách nhiệm cung cấp thông tin trong thời hạn 10 ngày kể từngày nhận được đề nghị cung cấp thông tin của bộ, ngành, địa phương (Điều18) Nghị định số 47/2007/NĐ-CP quy định trách nhiệm của cơ quan nhànước cung cấp thông tin về hoạt động của mình trong công tác phòng, chốngtham nhũng cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thànhviên; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấpthông tin cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về

vụ việc tham nhũng (Điều 6)

Quyền phổ biến thông tin

Thể chế hóa quan điểm của Đảng tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX và Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóaVIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc, Chỉ thị số 22/CT-TW ngày 17 tháng 10 năm 1997 của Bộ Chínhtrị về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí,xuất bản, Luật Xuất bản được sửa đổi năm 2004 Luật quy định nguyên tắcbảo đảm quyền phổ biến tác phẩm và bảo hộ quyền tác giả: Nhà nước bảođảm quyền phổ biến tác phẩm dưới hình thức xuất bản phẩm thông qua nhàxuất bản và bảo hộ quyền tác giả (Điều 5) Với việc đáp ứng mong muốn củacác tác giả (văn nghệ sĩ, nhà khoa học ) được truyền bá, phổ biến ý tưởngsáng tạo của mình, công chúng cũng được tiếp nhận các sản phẩm tinh thầnchứa đựng các giá trị thẩm mỹ, tri thức, thưởng thức, chia sẻ và áp dụng vàocuộc sống

Trang 37

Bảo đảm quyền được biết của nhân dân thông qua các quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức

Trách nhiệm công khai hóa

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định nguyên tắc xâydựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là bảo đảm tính công khai trongquá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm tính minhbạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật (Điều 3) Văn bảnquy phạm pháp luật phải được đăng tải toàn văn trên Trang thông tin điện tửcủa cơ quan ban hành văn bản chậm nhất là 2 ngày, kể từ ngày công bố hoặc

ký ban hành và phải đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản

có nội dung thuộc bí mật nhà nước Văn bản quy phạm pháp luật phải đượcđăng Công báo; văn bản quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không

có hiệu lực thi hành (trừ trường hợp do Luật định) Thời điểm có hiệu lực củavăn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản nhưng không sớmhơn 45 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành

Luật Ngân sách nhà nước 2002 quy định: "Ngân sách nhà nước được

quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch…"

[38, Điều 3]; "Dự toán, quyết toán, kết quả kiểm toán quyết toán ngân sách nhà

nước, ngân sách các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ phải công bố công khai [38, khoản 1 Điều 13].

Luật Kế toán 2003 quy định nội dung, hình thức và thời hạn công khaibáo cáo tài chính (các Điều 32, 33) Theo đó, đơn vị kế toán là cơ quan hànhchính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nướccông khai quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước năm và các khoản thu, chitài chính khác (Điều 32)

Luật Kiểm toán 2005 dành hai điều 58 và 59 quy định việc công khaikết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán Báo cáokiểm toán năm và báo cáo thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm

Trang 38

toán nhà nước sau khi trình Quốc hội được công bố công khai theo các hìnhthức họp báo, công bố trên Công báo và phương tiện thông tin đại chúng,đăng tải trên trang thông tin điện tử và các ấn phẩm của Kiểm toán nhà nước.Báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán sau khi phát hành được công bố côngkhai cùng với báo cáo tài chính.

Với quan niệm, thông tin thống kê là sản phẩm của hoạt động thống

kê, bao gồm số liệu thống kê và bản phân tích các số liệu đó, Luật Thống kê

2003 quy định nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê là: "Công khai về phương pháp thống kê, công bố thông tin thống kê; bảo đảm quyền bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin thống kê nhà nước đã được công bố công khai" (Điều 4).

Luật có quy định riêng về công bố và sử dụng thông tin thống kê.Thông tin thống kê do tổ chức thống kê nhà nước tiến hành phải được công bốcông khai, đúng thời hạn, trừ những thông tin thống kê phải được giữ bí mậttheo quy định của Luật; quy định thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan thống

kê trung ương, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dântối cao trong việc công bố thông tin thống kê thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách(Điều 25) và khẳng định giá trị pháp lý của thông tin thống kê do người cóthẩm quyền công bố (Điều 24)

Luật Đất đai 2003 quy định nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất, trong đó nhấn mạnh yêu cầu về dân chủ, công khai (Khoản 7 Điều21) Điều 28 quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan quản

lý đất đai các cấp công bố công khai quy hoạch sử dụng đất sau khi được cơquan có thẩm quyền quyết định hoặc xét duyệt Nghị quyết số 57/2006/QH11của kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI về kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006-

2011 nhấn mạnh: "Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong việc tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện quy hoạch,

Trang 39

kế hoạch sử dụng đất Việc tiếp cận thông tin là điều kiện bảo đảm thực hiện giám sát của nhân dân".

Luật Bảo vệ môi trường 2005 liệt kê các thông tin, dữ liệu về môi trườngphải được công khai: báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môitrường đã đăng ký, danh sách thông tin về các nguồn thải, các loại chất có nguy

cơ gây tới sức khỏe con người và môi trường; khu vực môi trường bị ô nhiễm,suy thoái ở mức độ nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơxảy ra sự cố môi trường; quy hoạch thu gom, tái chế, xử lý chất thải; báo cáohiện trường môi trường cấp tỉnh, báo cáo tác động môi trường của ngành, lĩnhvực và báo cáo môi trường quốc gia (Điều 104)

Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 quy định trách nhiệm công bốquy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng

Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của địa phương tại trụ sở Ủy ban nhân dân và trong suốt thời gian của kỳ quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng có hiệu lực [43, Điều 20].

Luật Xây dựng 2003 quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cáccấp công bố rộng rãi quy hoạch chi tiết xây dựng trong phạm vi địa giới hànhchính do mình quản lý để tổ chức, cá nhân trong khu vực quy hoạch biết,kiểm tra và thực hiện Người có trách nhiệm công bố quy hoạch xây dựngphải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc không thực hiện hoặc thực hiệnchậm việc công bố quy hoạch gây thiệt hại về kinh tế khi phải giải phóng mặtbằng để đầu tư xây dựng công trình (Điều 32)

Luật Cư trú 2006 quy định trách nhiệm của cơ quan đăng ký, quản lý

cư trú niêm yết công khai, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đìnhtrong việc thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú (Điều 35)

Trang 40

Luật Công nghệ thông tin quy định nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước bao gồm:

Xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ cho hoạt động của cơ quan nhà nước và hoạt động trao đổi, cung cấp thông tin giữa cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân; thiết lập trang thông tin điện tử; cung cấp, chia sẻ thông tin với cơ quan khác của Nhà nước [54, Điều 26].

Trang tin điện tử của cơ quan nhà nước phải bảo đảm cho tổ chức, cánhân truy cập thuận tiện và phải có các thông tin chủ yếu như tổ chức, chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó và của từng đơn vị trực thuộc, hệthống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành và văn bản pháp luật có liênquan; quy trình, thủ tục hành chính được thực hiện bởi các đơn vị trực thuộc,tên của người chịu trách nhiệm trong từng khâu thực hiện quy trình, thủ tụchành chính, thời hạn giải quyết các thủ tục hành chính; thông tin tuyên truyền,phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách, chiến lược, quyhoạch chuyên ngành; thông tin về dự án, hạng mục đầu tư, đấu thầu, mua sắmcông; mục lấy ý kiến góp ý của tổ chức, cá nhân (Điều 28)

Theo tinh thần Luật Phòng, chống tham nhũng, công khai, minh bạchtrong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị là một trong các biện phápphòng ngừa tham nhũng Luật quy định nguyên tắc, nội dung, hình thức côngkhai trong từng lĩnh vực: mua sắm công và xây dựng cơ bản; quản lý dự ánđầu tư xây dựng; tài chính và ngân sách nhà nước; huy động và sử dụng cáckhoản đóng góp góp của nhân dân; quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, việntrợ; quản lý doanh nghiệp nhà nước; cố phần hóa doanh nghiệp nhà nước…;công khai báo cáo hàng năm về phòng, chống tham nhũng

Trách nhiệm chủ động cung cấp thông tin

Với mục đích bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luậntrên báo chí của công dân, bên cạnh việc quy định quyền, Luật Báo chí vàLuật Sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí còn quy định nghĩa vụ của cơ quan báo

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:54

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w