1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiếp cận thông tin của công chúng nam định về vấn đề xây dựng nông thôn mới qua báo chí

151 134 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- ĐINH THỊ THU HIỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG NAM ĐỊNH VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI QUA BÁO CHÍ LUẬN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH THỊ THU HIỀN

TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG NAM ĐỊNH

VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI QUA BÁO CHÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH THỊ THU HIỀN

TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG NAM ĐỊNH

VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI QUA BÁO CHÍ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học

Mã số: 60320101

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Anh Đức

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là Đinh Thị Thu Hiền, học viên cao học K19 Báo chí, chuyên ngành

Báo chí học, khóa 2015 - 2017 Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Tiếp cận thông

tin của công chúng Nam Định về vấn đề xây dựng nông thôn mới qua báo chí”là

công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu nghiên cứu thu đƣợc từ thực nghiệm và

không sao chép

Học viên

Đinh Thị Thu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện tại 2 địa bàn thuộc tỉnh Nam Định là T.p Nam Định và huyện Mỹ Lộc Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Anh Đức đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình

Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ vô cùng có ích trong khóa học K19 Báo chí sau Đại học trong thời gian vừa qua

Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Ban Chủ nhiệm khoa Báo chí và Truyền thông đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 22 tháng 9 năm 2017

Đinh Thị Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

CÁC BẢNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 6

MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài 12

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 15

3.1 Mục đích nghiên cứu: 15

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu. 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

4.1 Đối tượng nghiên cứu 16

4.2 Phạm vi nghiên cứu 16

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 17

5.1 Cơ sở lý luận 17

5.2 Phương pháp nghiên cứu 17

6 Cơ sở lý thuyết của đề tài 17

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 18

7.1 Ý nghĩa lý luận 18

7.2 Ý nghĩa thực tiễn 19

8 Kết cấu của luận văn 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 22

1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liện quan tới đề tài 22

1.1.1 Tiếp cận thông tin 22

1.1.2 Công chúng và công chúng báo chí 25

1.1.3 Nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 28

1.1.4 Quyền tiếp cận thông tin 30

1.1.4.1 Nội dung cơ bản của quyền tiếp cận thông tin 30

Trang 6

1.1.4.2 Những quy định về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của Việt Nam

hiện nay 32

1.1.4.3 Quyền tiếp cận thông tin trong hoạt động báo chí 35

1.1.4.4 Ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin 36

1.2 Cơ sở lý thuyết nền tảng 37

1.2.1 Quá trình truyền thông 37

1.2.2 Lý thuyết tâm lý học báo chí - truyền thông 40

1.2.3 Lý thuyết “Sử dụng và hài lòng” 42

1.2.4 Lý thuyết “Dòng chảy hai bước” 45

1.3 Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. 46

1.4 Vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền xây dựng NTM 48

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CÔNG CHÚNG NAM ĐỊNH TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI QUA BÁO CHÍ 52

2.1 Đặc điểm của công chúng báo chí Nam Định 52

2.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm công chúng Nam Định 52

2.1.2 Đặc điểm công chúng báo chí Nam Định 55

2.2 Các yếu tố tác động đến việc tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về vấn đề xây dựng nông thôn mới 57

2.2.1 Các nhân tố nhân khẩu học tác động đến việc tiếp cận thông tin về xây dựng NTM của công chúng Nam Định 57

2.2.2 Các yếu tố đặc điểm cá nhân tác động đến việc tiếp cận thông tin của công chúng 60

2.3 Khảo sát việc tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về xây dựng nông thôn mới qua báo chí. 63

2.3.1 Tần suất tiếp cận thông tin 63

2.3.2 Phương thức tiếp cận 68

2.3.3 Mục đích tiếp cận 76

2.3.4 Các nội dung thông tin mà công chúng tiếp cận về vấn đề xây dựng nông thôn mới 81

Trang 7

2.3.5 Việc chia sẻ và phản hồi thông tin của công chúng khi tiếp cận 90

2.3.6 Đánh giá, nhận xét của công chúng đối với những thông tin mà họ được tiếp cận. 97

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ CẢI THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG NAM ĐỊNH VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI QUA BÁO CHÍ 101

3.1 Một số kết luận về TCTT của công chúng Nam Định về XDNTM 101

3.1.1 Phương thức TCTT về XDNTM qua báo chí của công chúng Nam Định hiện nay rất đa dạng và có sự chọn lọc. 101

3.1.2 Việc cung cấp thông tin trên báo chí Nam Định nhìn chung mới chỉ đáp ứng được một phần nào đó trước nhu cầu thông tin về XDNTM ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng của người dân. 103

3.1.3 Tính tương tác của công chúng Nam Định dù đã ở mức cao nhưng vẫn còn hạn chế trong cách thức tương tác. 105

3.2 Một vài giải pháp cơ bản 106

3.2.1 Kích thích sự phát triển nhu cầu tiếp cận thông tin về xây dựng nông thôn mới của công chúng Nam Định 106

3.2.2 Nâng cao tính chủ động của công chúng trong tiếp cận thông tin về xây dựng nông thôn mới 109

3.2.3 Tăng cường nhận thức và trách nhiệm của báo chí, đặc biệt là báo chí địa phương trong việc phát huy quyền tiếp cận thông tin của công chúng về xây dựng nông thôn mới 111

3.2.4 Tăng cường cơ chế giám sát và phản biện xã hội của báo chí nhằm nâng cao hiệu quả TCTT của công chúng Nam Định về xây dựng NTM 114

3.3 Một số kiến nghị cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức, ban ngành của tỉnh Nam Định 116

3.3.1 Đối với các cơ quan báo chí tỉnh 116

3.3.2 Đối với các Sở, ban, ngành của tỉnh 119

3.3.2.1 Với Sở Thông tin và Truyền thông 119

Trang 8

3.2.2.2 Với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Sở Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn tỉnh Nam Định 122

KẾT LUẬN 128

1 Những kết quả mới của luận văn 128

2 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

PHỤ LỤC 136

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CĐ, ĐH : Cao đẳng, đại học

CN, TTCN : Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

CT MTQG : Chương trình Mục tiêu quốc gia HĐND : Hội đồng nhân dân

GĐVH : Gia đình văn hóa NTM : Nông thôn mới NXB : Nhà xuất bản PTTH : Phổ thông trung học TCTT : Tiếp cận thông tin TDTT : Thể dục thể thao T.p : Thành phố TTĐC : Truyền thông đại chúng

TW : Trung ương UBND : Ủy ban nhân dân XDNTM : Xây dựng nông thôn mới

Trang 10

CÁC BẢNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

1

Bảng 2.1: Bảng tần suất tiếp cận

thông tin của công chúng Nam Định

qua các loại hình báo chí phân theo

trình độ học vấn (số người)

2.2.2 Các yếu tố đặc điểm cá nhân tác động đến việc tiếp cận thông tin của công chúng 61

2

Bảng 2.2 : Cơ cấu nghề nghiệp của

công chúng Nam Định

2.2.2 Các yếu tố đặc điểm cá nhân tác động đến việc tiếp cận thông tin của công chúng

62

4

Bảng 2.3: Tần suất tiếp cận thông tin

về vấn đề xây dựng NTM của công

tuổi của công chúng Nam Định (tính

trên toàn mẫu)

2.3.1 Tần suất tiếp cận thông

6

Bảng 2.5: Tần suất tiếp cận thông tin

theo nghề nghiệp của công chúng

Nam Định

2.3.1 Tần suất tiếp cận thông

7

Bảng 2.6: Tần suất tiếp cận thông tin

theo trình độ học vấn của công

Biểu đồ 2.2: Mức độ lựa chọn loại

hình báo chí của công chúng Nam

Định

2.3.2 Phương thức tiếp cận

70

Trang 11

trung ương và báo địa phương của

công chúng Nam Định (chỉ tính trên

những người TCTT trên cả 2 kênh

báo trung ương và địa phương)

Biểu đồ 2.5: Mức độ quan tâm đến

nội dung xây dựng NTM của công

chúng T.p Nam Định

2.3.4 Các nội dung tiếp cận về vấn đề xây dựng nông thôn mới 82

19 Bảng 2.14: Mức độ quan tâm đến

nội dung xây dựng NTM của công

2.3.4 Các nội dung tiếp cận về vấn đề xây dựng nông thôn mới 83

Trang 12

chúng huyện Mỹ Lộc

20

Biểu đồ 2.6: Mức độ quan tâm đến

nội dung xây dựng NTM của công

chúng huyện Mỹ Lộc

2.3.4 Các nội dung tiếp cận về vấn đề xây dựng nông thôn mới 83

21 Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ chia sẻ thông tin

của công chúng Nam Định

2.3.5 Việc chia sẻ và phản hồi thông tin của công chúng khi tiếp cận

92

22

Bảng 2.15: Tần suất chia sẻ thông

tin của công chúng Nam Định phân

theo trình độ học vấn

2.3.5 Việc chia sẻ và phản hồi thông tin của công chúng khi tiếp cận

95

24 Bảng 2.17: Các hình thức phản hồi

của công chúng Nam Định

2.3.5 Việc chia sẻ và phản hồi thông tin của công chúng khi tiếp cận

96

25

Biểu đồ 2.8: Đánh giá của công

chúng Nam Định về nội dung đƣợc

tiếp cận

2.3.6 Đánh giá, nhận xét của công chúng đối với những thông tin mà họ đƣợc tiếp cận

98

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các phương tiện truyền thông hiện đại đang là công cụ tốt nhất để giúp cho báo chí chuyển tải một lượng thông tin khổng lồ đến với công chúng Và ngược lại, công chúng quyết định vai trò, vị thế và sức mạnh xã hội của báo chí và nhà báo Đây là mối quan hệ biện chứng có tác động mạnh mẽ với nhau, bổ trợ cho nhau trong quá trình đưa thông tin, kiểm chứng, sàng lọc thông tin Nếu không có công chúng thì sản phẩm báo chí coi như không

có tác dụng bởi vì sản xuất ra không có người đọc, chương trình phát sóng không có người nghe, người xem.Thực tế cho thấy nhóm đối tượng tham gia càng nhiều thì hiệu quả truyền thông càng cao Công nghệ đã tạo cho công chúng nhiều cơ hội để tiếp cận với báo chí Tiện ích của các phương tiện truyền thông mới đã góp phần tạo

ra những nhóm công chúng mới với những nhu cầu ngày càng cao hơn Còn các cơ quan báo chí đang phải tự làm mới mình để phục vụ công chúng, Do đó, việc nghiên cứu công chúng đang là một vấn đề rất cần thiết, làm căn cứ để hoạch định hoạt động của các cơ quan báo chí

Trong lĩnh vực nghiên cứu truyền thông đại chúng (trong đó có báo chí), giới nghiên cứu trên thế giới đi theo ba hướng chính: nghiên cứu công chúng – người tiếp nhận (ứng xử của người đọc, người xem, người nghe đối với các phương tiện truyền thông đại chúng); nghiên cứu nội dung thông điệp của truyền thông và nghiên cứu ảnh hưởng (hay tác động) của truyền thông đại chúng đối với đời sống

xã hội Trong đó, nghiên cứu công chúng – đối tượng tiếp cận thông tin được đánh giá là một hình thức, một phương pháp để kiểm tra, đánh giá hiệu quả của việc đầu

tư cho hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng

Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống

ở nông thôn Phát triển nông nghiệp, nông thôn đã, đang và sẽ luôn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây dựng

nông thôn mới là: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công

Trang 14

bằng, văn minh, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020; Quyết định số 1980/QĐ-TG ngày 17/10/2016 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai trên phạm vi cả nước nhằm phát triển nông thôn toàn diện Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đạt được thành tựu khá toàn diện Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc

độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp

Những hạn chế trên là do nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn, chưa hình thành một cách có

hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức chưa đầy đủ về

Trang 15

trách nhiệm, vai trò của chủ thể trong xây dựng nông thôn mới Và bản chất của vấn

đề này có nguyên nhân căn bản chính là việc tiếp cận thông tin của công chúng về vấn đề xây dựng nông thôn mới còn chưa được đầy đủ, sâu sắc và toàn diện

Tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản của công dân Thông tin công khai và bảo đảm quyền tiếp cận công bằng sẽ củng cố lòng tin của người dân đối với nhà nước, làm cho đất nước ngày một phồn thịnh Trong đó, một công cụ hữu hiệu nhất

sẽ bảo đảm cho người dân được đó là báo chí.Thực tế, qua báo chí người dân đã được TCTT trên rất nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề về xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, việc tiếp cận TCTT của công chúng lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giới tính, lứa tuổi, địa bàn sinh sống, nhu cầu tiếp cận Công chúng ở mỗi một địa phương khác nhau sẽ có cách tiếp cận khác nhau về cùng một vấn đề

Nam Định là tỉnh nông nghiệp ven biển với gần 80% dân số sống ở nông thôn, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp.Trong những năm qua, chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai quyết liệt và đồng bộ, trở thành phong trào quần chúng sâu rộng và hiệu quả, làm thay đổi diện mạo nông thôn, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần nâng cao đời sống người dân.Sau 5 năm triển khai toàn tỉnh có 112 xã, thị trấn (53,6%) đạt và cơ bản đạt 19 tiêu chí nông thôn mới Huyện Hải Hậu được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015 Nam Định được Trung ương đánh giá là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới, là 1 trong 13 tỉnh được Chủ

tịch nước tặng Huân chương Lao động Hạng nhất trong phong trào “Cả nước chung

tay xây dựng nông thôn mới”

Bên cạnh những kết quả đạt được, chương trình XDNTM ở Nam Định bộc lộc những hạn chế như: kết quả thực hiện chưa đồng đều giữa các huyện, xã; chất lượng một số tiêu chí chưa thật bền vững, chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, một số xã chưa chủ động tạo nguồn lực XDNTM, vẫn còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của cấp trên… Nguyên nhân chính của những hạn chế trên là cũng do nhận thức của một số cán bộ, Đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu

và người dân về Chương trình XDNTM chưa đầy đủ, toàn diện; năng lực, trình độ

Trang 16

của một bộ phận cán bộ trực tiếp thực hiện Chương trình XDNTM còn hạn chế Do vậy, khảo sát việc TCTT của công chúng Nam Định về XDNTM ở khía cạnh định lượng, định tính, có cơ sở khoa học, khách quan… là một nhu cầu cấp thiết đối với không chỉ các cơ quan báo chí mà còn cả với các cấp quản lý Nhà nước về vấn đề NTM Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hiệu quả của truyền thông đại chúng phụ thuộc vào sự tiếp cận thông tin của công chúng Và việc nghiên cứu nắm rõ đặc điểm, nhu cầu của đối tượng luôn là một trong những yếu tố hàng đầu bảo đảm hiệu

quả của công tác truyền thông.Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về vấn đề xây dựng Nông Thôn Mới qua báo chí ”

cho Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu công chúng truyền thông được tiến hành từ lâu và thường xuyên ở nhiều quốc gia phát triển Công chúng đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành khoa học như xã hội học, báo chí, văn hóa học…

Những công trình nghiên cứu về TTĐC được bắt đầu tiến hành từ trên 100 năm nay Nghiên cứu công chúng thực sự đã trở thành một chuyên ngành (audience research) của nghiên cứu truyền thông

Ở Việt Nam, lĩnh vực này còn khá mới mẻ, nhưng cũng đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu báo chí, truyền thông, bởi tính thiết thực của vấn đề từ bình diện lý thuyết xã hội học công chúng, nghiên cứu khảo sát thực nghiệm, tâm lý học đến báo chí học…

Trước hết là từ bình diện xã hội học Nghiên cứu lý thuyết về xã hội học công

chúng của tác giả Mai Quỳnh Nam và Trần Hữu Quang Tác giả Mai Quỳnh Nam

từ năm 1996 đến nay đã công bố trên tạp chí Xã hội học và một số tạp chí khoa học nhiều công trình liên quan đến công chúng truyền thông, mối quan hệ giữa công chúng truyền thông với sự hình thành của văn hóa giao tiếp đại chúng Tác giả Trần

Hữu Quang với Xã hội học báo chí (2006) có thể nói là công trình có hệ thống khá

đầy đủ về xã hội học báo chí ở Việt Nam

Trang 17

Hướng nghiên cứu khảo cứu thực nghiệm, xuất hiện nhiều hơn: Đỗ Thái Đồng

(1982), Mai Văn Hai (1992), Vũ Tuấn Huy (1994), Trần Hữu Quang (1998), Trương Xuân Trường (2001), Đài Truyền hình Việt Nam (2002), Đài Tiếng nói Việt Nam (2001, 2005), Từ bình diện tâm lý học có một số công trình của Viện Tâm lý

học (2002), Lê Ngọc Hùng (2000), và một số tác giả khác

Tiếp cận công chúng từ bình diện báo chí học, tập trung chủ yếu là những công trình của các giảng viên, nhà nghiên cứu phục vụ công tác giảng dạy, biên

soạn giáo trình… tại các cơ sở đào tạo báo chí ở Việt Nam Đáng chú ý có: Tạ Ngọc

Tấn (2001), Nguyễn Văn Dững (2002, 2006), Đài Tiếng nói Việt Nam (2003), và một số tác giả khác, Trong cuốn Truyền thông đại chúng (tác giả Tạ Ngọc Tấn, 2001), khi bàn về cơ chế tác động, về hiệu quả xã hội của truyền thông đại chúng,

Tạ Ngọc Tấn đã phân tích sự phụ thuộc của hiệu quả xã hội đối với sự tiếp nhận của công chúng Việc nghiên cứu, nắm rõ tính chất, đặc điểm, nhu cầu của đối tượng tác động bao giờ cũng là một trong những yếu tố hàng đầu bảo đảm hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Một số nghiên cứu khác chọn các nhóm công chúng đặc trưng theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp hoặc giới tính, hoặc nghiên cứu nhóm công chúng của một loại hình báo chí: nghiên cứu thính giả của đài, nghiên cứu bạn đọc của một tờ báo

Khi nghiên cứu công chúng – người tiếp nhận, giới nghiên cứu đều coi công chúng không chỉ là đối tượng tác động mà còn là lực lượng xã hội quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo chí truyền thông Sức mạnh của tờ báo trước hết

thể hiện ở “sức mạnh của công chúng, của dư luận xã hội mà nó tạo ra”

Từ năm 2000 trở lại đây, TTĐC giành được nhiều quan tâm hơn trong hoạt động nghiên cứu Báo chí truyền thông cũng bắt đầu tiếp cận nhiều hơn nghiên cứu TTĐC từ góc nhìn xã hội học Một số luận văn, luận án nghiên cứu chọn các nhóm công chúng đặc trưng theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp hoặc giới tính … hoặc nghiên

cứu nhóm công chúng của một loại hình báo chí

Luận văn thạc sỹ báo chí của Nguyễn Thu Giang “Công chúng Hà Nội với

việc đọc báo in và báo điện tử” (2007) xem xét nhu cầu, cách thức tiếp cận và tiếp

Trang 18

nhận của công chúng đối với hai loại hình báo chí Điểm nổi bật của luận văn là thông qua những đặc điểm tương quan giữa hai nhóm công chúng để đánh giá tác động đối với công chúng cũng như xu hướng phát triển của hai loại hình báo chí

Luận án tiến sĩ báo chí của Trần Bá Dung “Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo

chí của công chúng Hà Nội” (2008) đưa ra thực trạng nhu cầu thể hiện qua mô thức

tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội, xem xét nhu cầu của công chúng như là một nguyên nhân chi phối vơ bản đối với quá trình truyền thông, chỉ

ra các mối quan hệ có tính quy luật, những nhân tố tác động tới nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội

Luận văn thạc sỹ báo chí của Nguyễn Thị Hoàng Yến “Nhu cầu tiếp nhận

thông tin báo chí của công chúng hiện nay” (2014, Đại học Khoa học xã hội và

Nhân văn Hà Nội) cung cấp được những số liệu điều tra mới nhất về nhu cầu của công chúng đối với báo chí

“Nghiên cứu công chúng báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ của báo

Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu và Bình Dương” (2011, Đại học Khoa học xã hội và

Nhân văn Hà Nội) với mục đích điều tra, khảo sát, tìm hiểu để đo lường mức độ đọc báo Đảng, quan điểm thái độ của công chúng báo chí các tỉnh Đông Nam Bộ

Một số cuộc điều tra có quy mô lớn đối với công chúng như cuộc điều tra xã hội học do Đài tiếng nói Việt Nam và Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương tiến hành năm 2001 trên địa bàn 30 tỉnh với 2615 người trả lời Kết quả thực nghiệm cho thấy mức độ, cách thức nghe đài của thính giả thay đổi theo giới tính, độ tuổi, mức sống, đại bàn sinh sống, trình độ học vấn và nguyện vọng, đề xuất của thính giả

Cuộc điều tra có quy mô lớn từ trước đến nay đối với công chúng truyền hình được Đài truyền hình Việt Nam tiến hành năm 2002 xem xét thói quen, sở thích xem truyền hình của khán giả, mức độ tiếp cận, ứng xử của khán giả đối với truyền hình

Tuy nhiên, những đề tài này chưa nhìn nhận được tính chủ động của công chúng trong quá trình tiếp cận thông tin Chủ động lựa chọn những thông tin mà bản thân quan tâm, lựa chọn kênh thông tin yêu thích Công chúng không chỉ tiếp nhận

Trang 19

thông tin mà còn chia sẻ, phản hồi, bày tỏ quan điểm, thái độ với những thông tin

mà mình tiếp nhận

Những hạn chế nói trên có thể được khắc phục khi kết hợp tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ góc độ xã hội học truyền thông đại chúng và sử dụng phương pháp điều tra xã hội học Và việc nghiên cứu công chúng của những học giả trên cũng là những gợi mở ban đầu cho tác giả luận văn khi chọn nghiên cứu việc TCTT của công chúng Nam Định với một vấn đề chuyên biệt là xây dựng nông thôn mới

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của luận văn là khảo sát cách thức tiếp cận thông tin, mức độ thỏa mãn và hài lòng khi TCTT của công chúng Nam Định về vấn đề xây dựng NTM qua báo chí trong mối liên hệ với các yếu tố giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn Từ đó góp phần hình thành cơ sở khoa học và thực tiễn để đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả TCTT của công chúng Nam Định

Sau đây là những mục tiêu cụ thể của luận văn:

- Đo lường cách thức và tần suất TCTT của các nhóm công chúng về vấn đề xây dựng nông thôn mới

- Tìm ra được những mục đích và nội dung cụ thể về vấn đề XDNTM mà công chúng theo dõi

- Nghiên cứu mức độ chia sẻ và phản hồi thông tin của công chúng sau khi tiếp cận thông tin

- Đánh giá được mức độ hài lòng của công chúng khi tiếp cận thông tin về vấn

đề XDNTM

- Trên cơ sở đó, đưa ra đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của việc TCTT của công chúng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Trang 20

- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với công chúng Nam Định TCTT qua báo chí về XDNTM Mẫu nghiên cứu được tiến hành khoảng 300 người (300 phiếu điều tra)

- Tìm hiểu mức độ thỏa mãn và hài lòng của công chúng khi tiếp cận vấn đề xây dựng nông thôn mới trên báo chí

- Đánh giá được vai trò của báo chí trong quá trình TCTT của công chúng về vấn đề XDNTM

- Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả TCTT của công chúng Nam Địnhqua báo chí nói chung và báo Nam Định nói riêng trong việc thỏa mãn nhu cầu thông tin về vấn đề XDNTM

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về vấnđề xây dựng nông thôn mới

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu đối tượng này được thực hiện thông qua khách thể nghiên cứu là một nhóm công chúng đại diện cho công chúng Nam Định qua điều tra xã hội học vào tháng 7/2017 tại2 địa bàn đại diện là thành phố Nam Định và huyện Mỹ Lộc Số lượng khảo sát ý kiến thực hiện đề tài là 300 người

Đề tài khảo sát việc TCTT của công chúng Nam Định về vấn đê XDNTM qua báo chí gồm các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử

Đề tài giới hạn phạm vi trong một khâu trong mô hình truyền thông Đó là tập trung nghiên cứu khâu người nhận thông tin (receiver) Qua đó phân tích mối quan

hệ khác có liên quan đến người nhận gồm nguồn (source), thông điệp (message), kênh (channel), hiệu quả (effect)

Trang 21

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài là dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước

về báo chí và lý thuyết khoa học liên ngành gồm xã hội học về truyền thông, tâm lý học, truyền thông đại chúng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu đã nêu ở phần trên, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra xã hội học (bằng bảng hỏi): phương pháp này được sử dụng trong chương 2 của luận văn nhằm khảo sát, điều tra việc TCTT của công chúng về vấn đề XDNTM Công chúng được khảo sát về cách thức TCTT; mức độ

và tần suất TCTT, mục đích và nội dung mà công chúng thường tiếp cận Chọn mẫu ngẫu nhiên trên địa bàn Nam Định Dung lượng mẫu là 300, được lấy ngẫu nhiên tại

2 địa điểm là thành phố Nam Định và huyện Mỹ Lộc

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu một số người dân nhằm điều tra

để xem họ có thỏa mãn với những thông tin về vấn đề XDNTM mà báo chí cung cấp hay không? Và đánh giá của họ ra sao đối với những TT đó; những yêu cầu, đòi hỏi của họ khi TCTT trên báo chí.Tùy theo điều kiện chủ quan và khách quan, tác giả sẽ thực hiện phỏng vấn sâu theo cách thức phỏng vấn trực tiếp hoặc phỏng vấn gián tiếp (qua điện thoại, email )

- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: phân tích, tổng hợp những tài liệu khoa học, các tài liệu tham khảo (Văn bản luật; các bài viết đăng trên báo hoặc tạp chí nghiên cứu…) có liên quan đến đề tài nghiên cứu tạo cơ sở lý luận vững chắc cho luận văn

6 Cơ sở lý thuyết của đề tài

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết TTĐC và xã hội học TTĐC; Lý thuyết tâm lý học báo chí – truyền thông; lý thuyết truyền thông Sử dụng và hài lòng

Trang 22

- Các lý thuyết TTĐC được vận dụng để đưa ra những đánh giá, nhận định về cách tiếp cận vấn đề của công chúng với từng loại hình báo chí, cách thức, nội dung

và hình thức tiếp cận cụ thể Các quan điểm lý thuyết được vận dụng là lý thuyết về

mô hình truyền thông Lịch sử nghiên cứu truyền thông từ đầu thế kỷ XX đến nay,

dù theo mô hình nào cũng đều đề cập đến khâu người nhận, xem người nhận là một khâu, một mắt xích trong quá trình truyền thông.Người nhận có vai trò tích cực, chủ động tham gia vào quá trình truyền thông trong việc xây dựng ý nghĩa cho thông điệp, tác động trở lại của chủ thể truyền thông, đối thoại, cùng đi tìm chân lý, để có thể đẩy nhanh quá trình truyền thông hoặc tạo ra một hiệu quả mới của kênh truyền thông

- Lý thuyết xã hội học TTĐC: dựa vào kết quả điều tra để tìm ra các phương thức tiếp cận thông tin của công chúng Những phản ứng của công chúng sau khi tiếp nhận thông điệp sẽ trở thành yếu tố tham gia quyết định những hành vi truyền thông tiếp theo của nguồn phát

- Lý thuyết tâm lý học báo chí – truyền thông: thông qua quá trình khảo sát để thấy được sự phân khúc về nhu cầu, tân lý, điều kiện, khả năng, phương thức tiếp cận thông tin của công chúng

- Lý thuyết sử dụng và hài lòng: dựa vào kết quả nghiên cứu để có thể đưa ra những đánh giá bước đầu về quan điểm, thái độ của công chúng trong việc tiếp cận thông tin của công chúng Lý thuyết cung cấp cơ sở lý luận quan trong trong phân tích của luận văn, đặc biệt là việc công chúng chủ động trong tiếp cận thông tin trên báo chí

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

- Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu đến những vấn đề TCTT của

công chúng Luận văn góp phần bổ sung và phát triển hệ thống lý thuyết về nghiên cứu công chúng báo chí

Trang 23

- Đây có thể coi là một nguồn tài liệu tham khảo dành cho những thế hệ sinh viên, học viên của các ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung và ngành báo chí truyền thông nói riêng cũng như những ai có quan tâm đến lĩnh vực này

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn đóng góp ở lĩnh vực nghiên cứu công chúng báo chí Luận văn nếu hoàn thành sẽ cung cấp được những số liệu điều tra mới nhất về việc tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định qua báo chí

- Trong giới hạn nhất định, những kết quả nghiên cứu xuất phát từ lý luận và thực tiễn của luận văn sẽ cung cấp thông tin về những nhận định, đánh giá của công chúng Nam Định khi TCTT về vấn đề XDNTM tới các cơ quan báo chí trung ương nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các kênh thông tin thì điều này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược và kế hoạch truyền thông nhằm chuyển tải thông tin về XDNTM tới công chúng một cách hiệu quả nhất

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo,phụ lục thì luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tiếp cận thông tin của công chúng về vấn đề xây dựng nông thôn mới

1.1.Một số khái niệm, thuật ngữ liện quan tới đề tài

1.1.1.Tiếp cận thông tin

1.1.2 Công chúng và công chúng báo chí

1.1.3 Nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới

1.1.4 Quyền tiếp cận thông tin

1.2 Cơ sở lý thuyết nền tảng

1.2.1 Quá trình truyền thông

1.2.2 Lý thuyết tâm lý học báo chí - truyền thông

1.2.3 Lý thuyết “Sử dụng và hài lòng”

1.2.4 Lý thuyết “Dòng chảy hai bước”

Trang 24

1.3 Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

1.4 Vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền xây dựng nông thôn mới Chương 2: Kết quả điều tra công chúng Nam Định tiếp cận thông tin về vấn đề xây dựng nông thôn mới qua báo chí

2.1 Đặc điểm của công chúng báo chí Nam Định

2.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm công chúng Nam Định

2.1.2 Đặc điểm của công chúng báo chí Nam Định

2.2 Các yếu tố tác động đến việc tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định

về vấn đề xây dựng nông thôn mới

2.2.1 Các nhân tố nhân khẩu học tác động đến việc tiếp cận thông tin về xây dựng NTM của công chúng Nam Định

2.2.2 Các yếu tố đặc điểm cá nhân tác động đến việc tiếp cận thông tin của công chúng

2.3 Khảo sát việc tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về xây dựng nông thôn mới qua báo chí

2.3.1 Tần suất tiếp cận thông tin

2.3.2 Phương thức tiếp cận

2.3.3 Mục đích tiếp cận

2.3.4 Các nội dung thông tin mà công chúng tiếp cận về vấn đề xây dựng nông thôn mới

2.3.5 Việc chia sẻ và phản hồi thông tin của công chúng khi tiếp cận

2.3.6 Đánh giá, nhận xét của công chúng đối với những thông tin mà họ được tiếp cận

Chương 3: Một số kết luận và đề xuất giải pháp cải thiện và nâng cao hiệu quả tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về vấn đề xây dựng nông thôn mới qua báo chí

3.1 Một số kết luận về tiếp cận thông tin của công chúng Nam Định về xây dựng NTM

Trang 25

3.1.1 Phương thức tiếp cận thông tin về xây dựng NTM qua báo chí của công chúng Nam Định hiện nay rất đa dạng và có sự chọn lọc

3.1.2 Việc cung cấp thông tin trên báo chí Nam Định nhìn chung mới chỉ đáp ứng được một phần nào đó trước nhu cầu thông tin về xây dựng nông thôn mới ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng của người dân

3.1.3 Tính tương tác của công chúng Nam Định dù đã ở mức cao nhưng vẫn còn hạn chế trong cách thức tương tác

3.2 Một vài giải pháp cơ bản

3.2.1 Kích thích sự phát triển nhu cầu tiếp cận thông tin về xây dựng NTM của công chúng Nam Định

3.2.2 Nâng cao tính chủ động của công chúng trong tiếp cận thông tin về xây dựng nông thôn mới

3.2.3 Tăng cường nhận thức và trách nhiệm của báo chí, đặc biệt là báo chí địa phương trong việc phát huy quyền TCTT của CC về xây dựng NTM

3.2.4 Tăng cường cơ chế giám sát và phản biện xã hội của báo chí nhằm nâng cao hiệu quả TCTT của công chúng Nam Định về xây dựng NTM

3.3 Một số kiến nghị cụ thể đối với cá cơ quan, tổ chức, ban ngành của tỉnh Nam Định

3.3.1 Đối với các cơ quan báo chí tỉnh

3.3.2 Đối với các Sở, ban, ngành của tỉnh

3.3.2.1 Với Sở Thông tin và Truyền thông

3.3.2.2 Với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định

Trang 26

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNGNÔNG THÔN MỚI Dựa vào lý do thực hiện đề tài, cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài và các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu trong phần mở đầu, trong chương này, tác giả luận văn sẽ đi vào giải thích một vài khái niệm cơ bản liên quan tới đề tài Đồng thời trình bày Chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ về XDNTM và tìm hiểu việc chuyển tải vấn đề này được trên báo chí

1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liện quan tới đề tài

1.1.1 Tiếp cận thông tin

Thông tin là nhu cầu thiết yếu trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, là công cụ để điều hành quản lý, lãnh đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu

để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia dân tộc, là nguồn cung cấp trí thức, cũng là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội Thông tin được coi là yếu tố quyết định cho cơ hội phát triển, thành đạt và tự chủ của mỗi quốc gia, tổ chức và mỗi con người

Trong bài viết “Các nguyên tắc của Luật tự do Thông tin”, nhóm nghiên cứu

định nghĩa về “thông tin” như sau: “Thông tin bao gồm tất cả các tài liệu được nắm

giữ bởi một tổ chức, cơ quan nào đó Thông tin không phân biệt hình thức và cách thức được lưu trữ (văn bản, băng, bản ghi âm điện tử”, nguồn gốc thông tin (bất cứ đâu có thể tạo ra thông tin, ở các cơ quan công hay những nơi khác) và ngày sản xuất.” [50, trg 41]

Theo “Luật tiếp cận thông tin”: “Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng

trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra”

Còn ở góc độ ngữ nghĩa thì “tiếp cận” là một động từ có nghĩa là từng bước, bằng những phương pháp nhất định, tìm hiểu về một vấn đề, công việc nào đó.Tiếp cận và tự do thông tin là quyền cơ bản với mỗi con người, của công dân thuộc nhóm

Trang 27

quyền dân sự - chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên Ở nước ta, Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên xác định quyền được thông tin là quyền cơ bản của công dân Cụ thể hóa Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của công dân trong một số lĩnh vực

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng quy định tại điều 25: “Công dân có

quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”

Theo James D Wolfenshn, Chủ tịch nhóm Ngân hàng thế giới: Tiếp cận thông tin là một phần then chốt của chiến lược phát triển hiệu quả vì việc làm này sẽ phổ biến kiến thức và tăng cường tính minh bạch Báo chí, truyền thông là cốt lõi

của sự phát triển công bằng Nó cho phép người dân bày tỏ quan điểm khác nhau về

sự quản lý của nhà nước và cải cách, cũng góp phần tạo ra sự đồng thuận trong công chúng để tạo ra sự thay đổi Tuy nhiên, hiệu quả của truyền thông, báo chí có thể bị hạn chế do con người có học vấn thấp, công nghệ nghèo nàn Như vậy, công nghệ

có vai trò rất quan trọng trong vấn đề tiếp cận thông tin nói chung, thông tin báo

chí, truyền thông nói riêng

Tiếp cận thông tin được quy định tại Khoản 3 Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin

2016(có hiệu lực ngày 01/07/2018) như sau: “Tiếp cận thông tinlà việc đọc, xem,

nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin”.[40]

Tiếp cận thông tin hiện đã trở thành một nhu cầu và một quyền cấp thiết cần phải bảo đảm không chỉ đối với các tổ chức và doanh nghiệp mà còn đối với mọi công dân bởi thông tin, đặc biệt là thông tin về pháp luật, chính sách và hoạt động của các cơ quan nhà nước được coi là yếu tố cốt yếu trong mọi hoạt động

Quyền tiếp cận thông tin hay quyền được thông tin là quyền cơ bản của con người Đây không phải là khái niệm mới nhưng nó chỉ trở thành mối quan tâm trên phạm vi quốc tế sau khi Liên Hợp Quốc ra đời Tính đến nay, trên thế giới đã có

Trang 28

khoảng 103 nước ban hành Luật TCTT Theo Tony Mendel (chuyên gia quốc tế về quyền tiếp cận thông tin) thì xu hướng ngày càng có nhiều luật về tự do thông tin được ban hành bởi quan điểm phổ biến trên thế giới hiện nay là các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin không phải cho chính bản thân họ mà là vì lợi ích công

cộng [22]

Ở Việt Nam, QTCTT là một trong những quyền cơ bản của con người được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Hiến pháp 1946

và Hiến pháp 1992 của Nhà nước ra đã khẳng định: “Công dân có quyền tự do

ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” Mười năm sau hiến pháp 1992, trong điều kiện

đất nước, xã hội có nhiều thay đổi nhưng quyền được thông tin tiếp tục được khẳng

định trong Hiến pháp năm 2013 Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Công

dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp "

[38] QTCTT của công dân là quyền hiến định, được pháp luật ghi nhận đầy đủ và

rõ ràng Theo đó, công dân có quyền được biết những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, được TT những vấn đề cấp thiết, gắn liền với cuộc sống hàng ngày Trước đây, vì nhiều lý do, nhất là trải qua chiến tranh nên việc tạo điều kiện cho công dân được TT còn hạn chế Đến nay, chúng ta nhận thấy QTCTT là quyền rất cần thiết và quyền đó phải được thể hiện một cách chính thống thông qua một

đạo luật để quy định cụ thể những gì người dân được TT, những gì hạn chế cấm TT

Ngày 6 tháng 4 năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin đã chính thức được Quốc

hội nước CHXHCNVN khóa XVIII, kỳ họp thứ 11 thông qua, trong đó nêu rõ “Mọi

công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện QTCTT Thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ…”[40] Từ đó cho thấy, QTCTT

được quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta Quyền tiếp cận thông tin giúp hình thành nên các quan điểm ngôn luận, khách quan, giảm thiểu sự thiên vị, sai lệch Đó là việc tiếp cận những thông tin mới hoặc góc tiếp cận mới về một vấn đề hoặc sự kiện diễn ra trong xã hội

Trang 29

1.1.2 Công chúng và công chúng báo chí

1.1.2.1 Công chúng

Khái niệm:

Công chúng là một tập hợp xã hội rộng lớn, được cấu thành bởi nhiều giới, nhiều tầng lớp xã hội khác nhau và đang sống trong những mối quan hệ xã hội nhất định

Công chúng là khái niệm dùng để chỉ đối tượng tác động của truyền thông đại chúng Họ là độc giả, khán giả hay thính giả của các phương tiện truyền thông đại chúng Công chúng chính là đối tượng tiếp cận thông tin Khi nghiên cứu công chúng của một phương tiện truyền thông nào đó thì phải tìm hiểu họ gắn liền với bối cảnh điều kiện sống và các mối quan hệ xã hội của họ

Những đặc điểm của công chúng:

Công chúng bao gồm những người thuộc mọi thành phần xã hội, bất kể địa vị, nghề nghiệp, trình độ học vấn hay tầng lớp xã hội nào

Công chúng là những cá nhân nặc danh Khi hướng đến đại chúng không thể biết cụ thể là ai cũng có nghĩa là truyền thông đại chúng có thể đến với bất cứ ai, không riêng một cá nhân nào

Các thành viên của công chúng thường cô lập nhau xét về mặt không gian, không ai biết ai, mà cũng không có những sự tương tác hay những mối quan hệ gì gắn bó với nhau

Hầu như không có hình thức tổ chức gì, hoặc nếu có thì cũng rất lỏng lẻo, và

do đó nó khó mà có thể tiến hành một hoạt động xã hội chung nào được

Có thể nói, công chúng của các phương tiện truyền thông đại chúng không bao giờ là một khối người thuần nhất, đồng dạng với nhau Đây là một thực thể rất phức tạp, bao gồm nhiều nhóm, nhiều giới, nhiều tầng lớp và giai cấp xã hội khác nhau, với những đặc trưng đa dạng và những quyền lợi dị biệt và nhiều khi mâu thuẫn nhau Chính vì thế việc nghiên cứu công chúng đòi hỏi người nghiên cứu phải có cái nhìn tổng hợp, đặt đối tượng nghiên cứu trong môi trường xã hội – văn hóa

Trang 30

tương ứng và có thái độ khách quan khi xem xét các mối quan hệ xã hội phức tạp của đối tượng nghiên cứu

1.1.2.2 Công chúng báo chí

Công chúng báo chí là quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí hướng tác động của mình vào để cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin, thuyết phục gây ảnh hưởng để có thể làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của họ theo mục đích thông tin nhất định Về khía cạnh kinh tế, công chúng báo chí là khách hàng của cơ quan báo chí Xét rên khía cạnh xã hội thì công chúng chính là lực lượng quan trọng, quyết định vai trò, vị thế xã hội của cơ quan báo chí

Công chúng quyết định vai trò, vị thế và sức mạnh xã hội của báo chí và nhà báo Đây là mối quan hệ biện chứng có tác động mạnh mẽ với nhau, bổ trợ cho nhau trong quá trình đưa thông tin, kiểm chứng, sàng lọc thông tin; là sự trao đổi hàng hóa, là nguồn lực vô tận, nguồn lực sáng tạo để báo chí tồn tại và phát triển Nếu không có công chúng thì sản phẩm báo chí coi như không có tác dụng, bởi vì sản xuất ra không có người đọc, chương trình phát sóng không có người nghe, người xem Nhà báo mà không có công chúng thì có thể coi như không hành nghề Duy trì tốt mối quan hệ này, sẽ đem lại cho cơ quan báo chí những lợi nhuận sau:

- Thực hiện được lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội, bởi trên cơ sở số lượng, chất lượng và đặc điểm nhóm công chúng mà sản phẩm báo chí gây ảnh hưởng, cơ quan báo chí sẽ có cơ hội phát triển quảng cáo, kinh doanh dịch vụ và gây ảnh hưởng chính trị - xã hội Đây là điều rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định vị thế xã hội và bản chất của hoạt động của cơ quan báo chí

- Tăng nguồn thu để bù đắp chi phí sản xuất Trên thực tế nếu không bán được sản phẩm hoặc tăng doanh thu quảng cáo, không mở rộng được khách hàng báo chí thì khó có điều kiện phát triển sự nghiệp báo chí Phát triển theo cơ chế thị trường, bắt buộc các cơ quan báo chí phải tự cân đối tài chính Vì vậy mối quan hệ của công chúng với tư cách là khách hàng sẽ phổ biến trong giai đoạn hiện nay của các cơ quan báo chí

Trang 31

- Công chúng báo chí là đối tác của cơ quan báo chí, là nguồn cung cấp dữ liệu

và nguồn nuôi dưỡng báo chí Công chúng không chỉ là đối tượng tác động, đối tượng thuyết phục và lôi kéo mà còn là chủ thể tham gia tích cực trong các quá trình ấy; mặt khác, họ còn là lực lượng đánh giá, giám sát và cổ vũ động viên mọi hoạt động của báo chí Thực tế cho thấy, sản phẩm báo chí (báo in, PTTH, báo mạng điện tử ) công chúng tham gia càng nhiều thì uy tín, năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao

Khác với báo chí thời bao cấp, trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay, công chúng có điều kiện tương tác, họ không đơn thuần là người tiếp nhận thông tin của báo chí, hoặc người cung cấp thông tin cho nhà báo, mà thậm chí còn cùng nhà báo xây đắp, phát triển những câu chuyện thông qua các thư từ, điện thoại, góp ý, bình luận

Nhà báo Nguyễn Văn Hải, Phó trưởng phòng đại diện phía Bắc của báo Tuổi

Trẻ cho biết, vấn đề dự kiến làm một tác phẩm báo chí dù hay tới đâu cũng mới chỉ

là nhận định chủ quan của nhà báo và cơ quan báo chí Còn cần thêm một kênh nữa

là vấn đề đó có nằm trong sự quan tâm của công chúng, của dư luận xã hội thời điểm đó hay không, có tầm ảnh hưởng đến các vùng miền khác ngoài phạm vi của địa phương nơi vấn đề đó phát sinh hay không ? Tòa soạn sẽ cân nhắc điều này trên

cơ sở các ý kiến đóng góp, phản hồi của bạn đọc hàng ngày, hàng giờ Thậm chí có

nhiều đề tài được khởi xướng xuất phát từ ý kiến của bạn đọc Ví dụ tuyến bài Góp

đá xây Trường Sa xuất phát từ sổ tay phóng viên của nhà báo Cầm Văn Kình khi

chứng kiến một bạn sinh viên ở TP.HCM nâng niu một nắm đất từ đất liền ra Trường Sa để góp phần bồi đắp cho quần đảo này Sau khi báo đăng bài, bạn đọc phản hồi rất nhiều, đòi hỏi báo phải đứng ra làm một điều gì đó, và thế là chiến dịch truyền thông ra đời, lôi kéo và tác động rộng lớn trong xã hội Cũng chính từ phản

hồi và sáng kiến của bạn đọc, sự chung tay của bạn đọc, Tuổi Trẻ mới làm được

những điều lớn lao hơn, và điều này cũng lý giải vì sao sự tiếp nối của những tuyến bài nhiều kỳ vẫn luôn được bạn đọc quan tâm

Trang 32

Ngày nay, người ta đánh giá cao tính tương tác vì nó thúc đẩy đa chiều thông tin Cạnh tranh của báo mạng điện tử (và cả của mạng xã hội) với tính tương tác cao làm cho báo chí truyền thống phải điều chỉnh để thu hút công chúng Truyền hình vì thế, không đơn thuần tuyên truyền một chiều cho khán giả (nói cho dân nghe), mà còn phải tiếp nhận và chuyển tải thông tin của khán giả (lắng nghe dân nói) Tương tác làm dân chủ hóa thông tin; dân chủ hóa thông tin góp phần thúc đẩy dân chủ hoá đời sống xã hội

Thực tế cho thấy, người dân mua báo, nghe đài, xem ti vi vì trong đó có điều

mà họ quan tâm Công chúng quyết định sự tồn vong của một tòa báo Có thể nói, công chúng ngày nay đã và đang tham gia trực tiếp vào xây dựng tác phẩm báo chí Muốn cho vấn đề sớm được giải quyết, công chúng cần chủ động hơn nữa trong chia sẻ, cung cấp thông tin, phản hồi thông tin, bổ sung thông tin nhằm xây dựng được những tác phẩm hấp dẫn, sát với cuộc sống thực Trên thực tế, có tờ báo thu hút được nhiều phản hồi, có tờ không Vì vậy, khuyến khích sự vào cuộc tích cực của công chúng, quyết định không phải là phía công chúng, mà chính là bản thân các nhà báo và tòa báo Đây không chỉ là nhiệm vụ của mỗi phóng viên mà còn thể hiện cái tâm, cái tầm của cả một cơ quan báo chí

1.1.3 Nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới

1.1.3.1 Khái niệm nông thôn

Đến nay, khái niêm nông thôn được thống nhất với quy định tại Theo Thông

tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các

thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã"

1.1.3.2 Khái niệm nông thôn mới

Nông thôn mới là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn

và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Trang 33

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội

1.1.3.3 Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);

có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của

cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn

đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

1.1.3.4 Đặc trưng của nông thôn mới

Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản Lao

động 2010), đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn

- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;

- An ninh tốt, quản lý dân chủ

- Chất lương hệ thống chính trị được nâng cao

1.1.3.5 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Trang 34

- Nội dung xây dựng NTM hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được qui định tại Quyết định 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ

- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện [43, tr.17]

-Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư [43, tr.17]

- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch

và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế,

kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành).[43, tr.17]

- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ

chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới" do

Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.[43, tr.18]

1.1.4 Quyền tiếp cận thông tin

1.1.4.1 Nội dung cơ bản của quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin là quyền của mọi công dân tiếp cận các thông tin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân

sự, chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của

Liên hợp quốc năm 1948, tại Điều 19 của Tuyên ngôn này quy định: “Mọi người

đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà

Trang 35

không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không có giới hạn về biên giới”; và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (tên viết tắt

tiếng anh là ICCPR), tại khoản 2 Điều 19 của Công ước này quy định: “Mọi người

đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi thông tin, ý kiến, bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩn dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy

theo sự lựa chọn của họ”

Trong tiến trình hội nhập quốc tế thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước ta cũng luôn quan tâm, chú trọng đến các vấn đề thuộc quyền con người và luôn có các biện pháp cụ thể nhằm bảo đảm không ngừng nâng cao quyền TCTT của người dân, coi đây là một giải pháp hữu hiệu bảo đảm quyền con người được thực thi ở Việt Nam, cũng như thể hiện thái độ tích cực hội nhập quốc tế theo xu thế nhân quyền và hòa bình

Ở Việt Nam, quyền được thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 1992 và quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013 tuy đã được ghi nhận nhưng về khái niệm và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích một cách chính thức và đầy đủ Đa số các văn bản pháp luật chỉ quy định về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc công khai, minh bạch một số thông tin trong một số lĩnh vực cụ thể thuộc phạm vi hoạt động của cơ quan, tổ chức đó Tham chiếu Điều 19 của ICCPR thì nội hàm của quyền tiếp cận thông tin bao gồm tối thiểu ba bộ phận: Tự do tìm kiếm, tự do tiếp nhận và tự do truyền đạt thông tin dưới mọi hình thức Pháp luật hiện hành của Việt Nam đã ghi nhận quyền tiếp cận thông tin ở những mức độ khác nhau trong các lĩnh vực cụ thể như:

(1) Quyền tự do tìm kiếm, trao đổi thông tin: Cá nhân, tổ chức có thể tìm kiếm thông tin thông qua môi trường mạng internet, bên cạnh việc tìm kiếm thông tin bằng các phương tiện nghe, nhìn và trong sách, báo truyền thống

Trang 36

(2) Quyền tiếp cận thông tin thông qua việc các cơ quan nhà nước công bố, công khai thông tin do mình nắm giữ hoặc bằng cách yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin (trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước)

1.1.4.2 Những quy định về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của Việt nam hiện nay

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin là quá trình thúc đẩy công bằng và thực thi pháp luật, củng cố nhà nước pháp quyền Việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, làm tăng tính hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước Quyền tiếp cận thông tin

có vai trò tích cực và tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân

Nhà nước phải bằng mọi nỗ lực để bảo đảm tiếp cận những thông tin của cá nhân và tổ chức được dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả và thực tiễn Phải xây dựng những thủ tục cần thiết để một người có thể tiếp cận được thông tin như bằng các biện pháp lập pháp về tự do thông tin Những thủ tục ấy phải tạo điều kiện xử lý nhanh chóng các yêu cầu thông tin theo những nguyên tắc rõ ràng và phù hợp Trong thời gian qua, để bảo đảm quyền được thông tin, điều 69, Hiến pháp

năm 1992 đã ghi nhận: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có

quyền được thông tin theo quy định của pháp luật” [34] Đến Hiến pháp năm 2013

quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định một cách chủ động thay vì quy định quyền được thông tin của công dân như trong Hiến pháp năm 1992 Tại

Điều 25 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo

chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” [38] Đồng thời, lần đầu tiên, Hiến pháp năm 2013 đã hiến định

các nguyên tắc thực hiện quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền tiếp cận thông tin Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, thực hiện chủ trương của Đảng, đồng thời nội luật hóa một số quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhiều văn bản pháp luật và văn bản dưới luật đã được ban hành quy định

Trang 37

về quyền được thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra và nắm giữ

Tuy nhiên, các quy định về điều kiện bảo đảm công khai thông tin còn tương đối mờ nhạt, chưa cụ thể, chưa thể hiện đúng tinh thần của Hiến pháp đã quy định như:

- Một số văn bản pháp luật đã quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về thiết lập cơ sở dữ liệu quốc giatrong một số lĩnh vực hoạt động cụ thể để lưu giữ, quản lý và công bố công khai thông tin tại cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc quy định trách nhiệm phải trang bị các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin, đáp ứng kịp thời và hiệu quả các yêu cầu tiếp cận, nghiên cứu và xử lý các thông tin liên quan phục vụ hoạt động quản lý của ngành, lĩnh vực hoạt động Một số lĩnh vực quy định rõ việc công bố, công khai thông tin thông qua các hình thức phải bảo đảm thuận tiện để người dân có thể dễ dàng tiếp cận

- Các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc giao một đơn vị đầu mối hoặc có cán bộ đầu mối thực hiện trách nhiệm công bố công khai thông tin hoặc cung cấp thông tin theo yêu cầu

- Trong một số lĩnh vực báo chí, xuất bản, bưu chính, viễn thông, y tế pháp luật đã có quy định cụ thể về các hành vi bị cấm, chủ thể công bố thông tin phải chịu mọi trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp, quy định về hành vi vi phạm

và chế tài xử lý vi phạm liên quan đến trách nhiệm cung cấp thông tin của các chủ thể có trách nhiệm công bố công khai thông tin

Chính vì vậy mà việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam còn nhiều

hạn chế như:

+ Trên thực tế, việc công bố, công khai thông tin còn chậm và hình thức, thiếu hiệu quả Trong nhiều trường hợp, việc khai thác, tìm kiếm thông tin từ các cơ quan nhà nước thường bị gây phiền hà Quyền làm chủ, quyền được thông tin của người dân có lúc, có nơi bị hạn chế, thậm chí bị vi phạm nghiêm trọng Ví dụ như trường hợp một người dân cần thông tin về quy hoạch để mua đất nhưng bị UBND quận từ chối và giải thích đó là thông tin nội bộ; trường hợp một nhà báo công bố thông tin

Trang 38

trong một văn bản lên báo, sau đó bị kiện với lý do văn bản đó có đóng chữ “mật”, trong khi chưa có quy định đáng tin cậy nào cho việc đóng chữ “mật” đó Một địa phương đóng chữ “mật” cả lên danh bạ đại biểu HĐND, trong khi những đại biểu

đó là do dân bầu lên để đại diện cho mình…

+ Việc tiếp cận thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ vẫn còn khó khăn, dẫn tới tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan công quyền chưa được thực hiện, biểu hiện rõ nhất là trên lĩnh vực đất đai, đền bù giải tỏa, các dự án

ưu đãi…Hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch trong cơ quan nhà nước vẫn còn phổ biến, dẫn đến khiếu kiện đông người kéo dài, khiếu kiện vượt cấp

+ Việc công khai các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công việc làm

ăn, sinh sống của doanh nghiệp, đến người dân không được đầy đủ, đồng bộ và không gắn liền với việc tuyên truyền rộng rãi, giải thích, giải đáp thắc mắc cụ thể để mọi người đều biết, đều hiểu được một cách cụ thể

+ Công khai mà không minh bạch là nhận định của nhiều doanh nghiệp, chuyên gia về cách thức lấy ý kiến văn bản pháp luật của nhiều cơ quan nhà nước hiện nay Nhiều ý kiến đóng góp, phản hồi về văn bản, chính sách từ doanh nghiệp, hiệp hội đối với cơ quan nhà nước như rơi vào khoảng không thinh lặng Không phản hồi, không giải trình, không lập luận, không phản biện tại sao không tiếp thu

từ chính cơ quan lấy ý kiến Đây thường là cách thức lấy ý kiến cho đủ thủ tục, tỏ ra cầu thị mà không đạt mục tiêu như mong muốn là văn bản pháp luật cần phản ánh được và cân nhắc đầy đủ các quan điểm khác nhau trong xã hội

+ Việc cung cấp thông tin theo yêu cầu còn phức tạp, phiền hà, do trình tự, thủ tục chưa được luật hoặc văn bản của Chính phủ quy định, nên việc cung cấp thông tin theo yêu cầu cá nhân, tổ chức còn phổ biến tình trạng gây khó khăn, phiền hà + Thái độ không thiện chí trong cung cấp thông tin cũng phần nào xuất phát từ tình trạng thông tin gì cũng có thể dễ dàng quy là thông tin mật

Những hiện tượng này cho thấy, Việt Nam chưa có quy định cụ thể về quyền tiếp cận thông tin của người dân, chưa quy định rạch ròi thông tin nào được phép

Trang 39

cung cấp, thông tin nào không Như vậy, chưa có khuôn khổ pháp lý để đẩy mạnh công khai, minh bạch, góp phần vào việc phát triển xã hội Để mọi người dân, tổ chức có thể tiếp cận những thông tin này cần phải có cơ chế bảo đảm việc thực hiện quyền được thông tin của người dân, quy định rõ cơ chế bảo đảm quyền yêu cầu tiếp cận thông tin của người dân cũng như việc bảo đảm thực hiện tốt việc công khai thông tin thuận tiện cho người cần sử dụng Cung cấp được các thông tin cơ bản, tin cậy để mọi công dân, tổ chức có thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình sẽ mang lại rất nhiều lợi ích, sẽ khuyến khích sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước một cách chủ động, thực chất và hiệu quả hơn… Thông tin phản hồi từ phía người dân sẽ giúp các cơ quan nhà nước cân nhắc, lựa chọn và đưa ra những chính sách, quyết định đúng đắn hơn, phù hợp với lòng dân hơn, tăng hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước

1.1.4.3 Quyền tiếp cận thông tin trong hoạt động báo chí

Nhìn chung, các quy định về quyền TCTT của người dân đều hướng tới việc hiện thực hóa các quy định yêu cầu cơ quan, cá nhân khối công quyền buộc phải thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm cho người dân được TCTT Trong đó, một công cụ hữu hiệu nhất sẽ bảo đảm cho người dân được TCTT đó là báo chí

Theo Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ban hành kèm theo

Quyết định số 25/2013/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ còn quy định, các cơ quan nhà nước thực hiện việc cung cấp thông tin cho báo chí thông qua người phát ngôn, các Bộ,Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí về hoạt động của

cơ quan mình, về lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình

Điều 2 Luật Báo chí năm 1999 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để

công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí [39]

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định trách nhiệm của báo chí là: đăng, phát sóng tác phẩm, ý kiến của công dân; trong trường hợp không đăng, phát sóng, phải trả lời và nói rõ lý do Bên cạnh việc thông tin cho công chúng, các cơ quan báo chí còn đóng vai trò là cầu nối để đưa yêu cầu cung cấp thông tin của công chúng tới các cơ quan

Trang 40

nhà nước và chuyển tiếp câu trả lời của các cơ quan nhà nước tới công chúng Điều

này thể hiện ở việc hầu hết các cơ quan báo chí đều có các chuyên mục như “Trả lời

bạn đọc”, “Chính sách mới, quyết định mới”, “Văn bản pháp luật”, “Đường dây nóng”, “Trả lời thư bạn đọc”, “Trả lời bạn xem truyền hình”, “Trả lời bạn nghe đài”, “ý kiến bạn đọc” nhằm mục đích này

Ngoài các hình thức yêu cầu cung cấp thông tin một cách trực tiếp và thông qua báo chí như đã nêu, công chúng còn có thể đưa ra yêu cầu tiếp cận với thông tin của các cơ quan nhà nước qua một số kênh khác, ví dụ như thông qua các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp, hoặc thông qua các cuộc họp dân (họp đại diện gia đình trong thôn, tổ dân phố, họp cử tri…) hay thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo Đây là những kênh gián tiếp nhưng đang đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền tìm kiếm thông tin ở nước ta, vì đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn còn chưa quen với việc gửi đơn trực tiếp yêu cầu các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin

1.1.4.4 Ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin

Tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản của công dân, không chỉ là công cụ, phương tiện thiết yếu để công dân có điều kiện tham gia vào công việc nhà nước, quản lý, giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền, vừa nâng cao tính minh bạch, tính trách nhiệm trong hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừa bệnh quan liêu, phòng ngừa tham nhũng Thông tin công khai

và bảo đảm quyền tiếp cận công bằng sẽ giảm thiểu sự độc quyền và lũng đoạn thông tin; tăng cường khả năng cạnh tranh lành mạnh trong xã hội, qua đó, củng cố lòng tin của người dân đối với nhà nước và chế độ xã hội, mở rộng các hoạt động chính trị, xã hội và làm cho đất nước ngày một phồn thịnh, an ninh trật tự được giữ vững; các nhóm lợi ích trong xã hội được duy trì và bảo đảm công bằng, phát triển hài hòa Bên cạnh đó, tự do thông tin còn giúp cho việc nâng cao tính trách nhiệm của nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền khác của con người được tốt hơn Đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng, tiếp cận thông tin giúp cho các nhà đầu tư, nhà sản xuất, kinh doanh lựa chọn

Ngày đăng: 27/12/2018, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Quốc Anh – Vũ Công Giao (2011), “Quyền tiếp cận thông tin và vấn đề phòng chống tham nhũng”, trong sách Tiếp cận thông tin pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tiếp cận thông tin và vấn đề phòng chống tham nhũng”, trong sách "Tiếp cận thông tin pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Quốc Anh – Vũ Công Giao
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
2. Dương Thị Bình (2009), “Thực trạng về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam”, Nghiên cứu lập pháp, (số 17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Dương Thị Bình
Năm: 2009
3. Lê Bí Bo (2008), “Quyền tiếp cận thông tin lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Hội thảo khoa học: Quyền tiếp cận thông tin – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Viện nghiên cứu quyền con người – Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh – Đại sứ quán Anh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tiếp cận thông tin lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Hội thảo khoa học: "Quyền tiếp cận thông tin – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Tác giả: Lê Bí Bo
Năm: 2008
4. Bộ Tƣ Pháp, “Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin” (2016), Số chuyên đề Dự án Luật tiếp cận thông tin, Dân chủ và Pháp luật, tr.169-197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin” (2016), Số chuyên đề" Dự án Luật tiếp cận thông tin
Tác giả: Bộ Tƣ Pháp, “Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin”
Năm: 2016
5. Lương Chí Công (2011), Luận văn thạc sỹ về “Luật tiếp cận thông tin ở một số nước – những kinh nghiệm kế thừa, phát triển, hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam”, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật tiếp cận thông tin ở một số nước – những kinh nghiệm kế thừa, phát triển, hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam”
Tác giả: Lương Chí Công
Năm: 2011
6. Trần Bá Dung (2008), Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội, Luận án tiến sĩ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội
Tác giả: Trần Bá Dung
Năm: 2008
7. Nguyễn Đăng Dung (2010), “Pháp luật về bảo đảm quyền đƣợc thông tin của công dân”, trong sách: Tiếp cận thông tin pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo đảm quyền đƣợc thông tin của công dân”, trong sách: "Tiếp cận thông tin pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2010
8. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Văn Huân (2016), “Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật”, Nghiên cứu lập pháp, (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Văn Huân
Năm: 2016
9. Thái Thị Tuyết Dung (2014), Luận án TS Luật học của “Quyền được thông tin của công dân Việt Nam hiện nay”, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền được thông tin của công dân Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Thái Thị Tuyết Dung
Năm: 2014
10. Trương Văn Dũng (2010), “Về vấn đề tiếp cận thông tin của người dân”, Nghiên cứu con người, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề tiếp cận thông tin của người dân”, "Nghiên cứu con người
Tác giả: Trương Văn Dũng
Năm: 2010
11. Nguyễn Thu Giang (2007), Công chúng Hà Nội với việc đọc báo in và báo điện tử, Luận văn Thạc sỹ Truyền thông đại chúng, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chúng Hà Nội với việc đọc báo in và báo điện tử
Tác giả: Nguyễn Thu Giang
Năm: 2007
12. Vũ Công Giao (2011), “Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam”, trong sách: Tiếp cận thông tin pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam”, trong sách: "Tiếp cận thông tin pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Công Giao
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
13. Nguyễn Thị Hạnh, “Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam nhìn dưới góc độ pháp luật so sánh” (2014), Số chuyên đề: Bảo đảm quyền con người và quyền công dân bằng thiết chế tư pháp, Dân chủ và Pháp luật, tr.147-160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam nhìn dưới góc độ pháp luật so sánh” (2014), Số chuyên đề: "Bảo đảm quyền con người và quyền công dân bằng thiết chế tư pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh, “Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam nhìn dưới góc độ pháp luật so sánh”
Năm: 2014
14. Phạm Quang Hòa (2010), Luận văn thạc sỹ về “Quyền tiếp cận thông tin của công dân”,Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền tiếp cận thông tin của công dân”
Tác giả: Phạm Quang Hòa
Năm: 2010
15. Nguyễn Tôn Hoàn, (2011), Luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu công chúng báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ của báo Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu và Bình Dương” (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu công chúng báo Đảng các tỉnh miền Đông Nam Bộ của báo Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu và Bình Dương”
Tác giả: Nguyễn Tôn Hoàn
Năm: 2011
16. Ngô Việt Hồng (2016), “Giám sát việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin và hướng hoàn thiện quy định này trong Dự thảo Luật tiếp cận thông tin”, Số chuyên đề: Dự án Luật Tiếp cận thông tin, Dân chủ và Pháp luật, tr.82-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin và hướng hoàn thiện quy định này trong Dự thảo Luật tiếp cận thông tin”, Số chuyên đề: "Dự án Luật Tiếp cận thông tin
Tác giả: Ngô Việt Hồng
Năm: 2016
17. Đỗ Thu Hương (2012), Luận văn thạc sỹ “Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Thu Hương
Năm: 2012
18. Nguyễn Lan Hương (2013), Bàn về tên gọi của “Quyền tiếp cận thông tin” trong Hiến pháp năm 2013, Khoa học Pháp lý, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tên gọi của “Quyền tiếp cận thông tin” trong Hiến pháp năm 2013
Tác giả: Nguyễn Lan Hương
Năm: 2013
19. Nguyễn Thành Lợi (2013), Từ sự thay đổi của vai trò công chúng đến chuyển đổi mô hình điều tra trong môi trường truyền thông hội tụ, Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Báo chí trong quá trình toàn cầu hóa: cơ hội, thách thức và triển vọng”, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ sự thay đổi của vai trò công chúng đến chuyển đổi mô hình điều tra trong môi trường truyền thông hội tụ, Kỷ yếu hội thảo quốc tế" “Báo chí trong quá trình toàn cầu hóa: cơ hội, thách thức và triển vọng
Tác giả: Nguyễn Thành Lợi
Năm: 2013
20. Khoa học xã hội học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2009), Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, NXB Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tác giả: Khoa học xã hội học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w