Nội dung của quyền tiếp cận thông tin theo một số văn kiện pháp lý quốc tế

Một phần của tài liệu Quyền tiếp cận thông tin của công dân (Trang 30 - 35)

Xem xét các quy định liên quan đến quyền tiếp cận thông tin cho thấy, quyền tiếp cận thông tin hay quyền tự do thông tin có phạm vi rộng, liên quan chặt chẽ với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Điều 19, Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền năm 1948 quy định:

"Mọi người có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, quyền này bao gồm quyền tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp, và tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện nào và không có biên giới" [26].

Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cũng quy định:

Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện thông tin đại chúng khác, tùy theo sự lựa chọn của họ [26].

Điều 13 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 quy định:

Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ý kiến; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin và tư tưởng ở mọi lĩnh vực, bằng lời nói, văn bản viết tay hoặc bản in, hay dưới hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác mà trẻ em lựa chọn [6].

Như vậy, cả Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, Công ước quốc tế về quyền trẻ em đều đề cập khá rõ nội hàm của quyền tiếp cận thông tin, bao gồm: tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, quyền tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp.

Bên cạnh các quy định trên, nội dung quyền tiếp cận thông tin còn được làm rõ trong một số văn kiện nhân quyền khu vực như Điều 10 (1) của Công ước Nhân quyền Châu Âu, Điều 13(1) của Công ước Nhân quyền Châu Mỹ và trong bản Tuyên bố liên Mỹ về các nguyên tắc của tự do bày tỏ ý kiến, Nguyên tắc 2 quy định:

Mọi người có quyền được tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin và quan điểm một cách tự do theo quy định tại Điều 13 của Công ước Nhân quyền Châu Mỹ. Mọi người được có cơ hội bình đẳng để tiếp nhận, tìm kiếm và phổ biến thông tin bằng mọi hình thức tuyên truyền mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì lý do chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm

chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, địa vị kinh tế, nơi sinh hay bất kỳ điều kiện xã hội nào khác [73].

Nghiên cứu quy định trong các văn kiện nhân quyền khu vực, quyền tiếp cận thông tin cũng nằm trong khái niệm quyền tự do ngôn luận như quy định tại Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Công ước đã quy định nội hàm khái niệm "quyền tự do ngôn luận bao hàm cả quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin".

Tuyên bố về Nguyên tắc: Xây dựng xã hội Thông tin: một thách thức toàn cầu trong thiên niên kỷ mới, đã khẳng định: nền tảng thiết yếu của xã hội thông tin như đã được quy định trong Điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới với bốn thành tố là: quyền tự do giữ quan điểm không bị sự can thiệp;

quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến. Và truyền thông là một quá trình xã hội cơ bản, nhu cầu thiết yếu của con người, là nền tảng của tất cả tổ chức xã hội, mà trung tâm là xã hội thông tin. Mọi người, ở bất kỳ đâu phải có cơ hội được tham gia và không ai bị loại ra khỏi lợi ích của xã hội thông tin [71].

Như vậy, quyền tiếp cận thông tin có nội dung rộng và để thực hiện quyền này, cá nhân có quyền tự do tìm kiếm; tự do tiếp nhận và tự do phổ biến thông tin.

- Tự do tìm kiếm thông tin, thể hiện tính chủ động hơn là bị động của mỗi cá nhân để có được thông tin cần thiết mà cá nhân, công dân quan tâm.

Cá nhân, công dân có quyền yêu cầu, đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị nắm giữ thông tin công, có nghĩa vụ cung cấp thông tin đó cho mình.

- Tự do tiếp nhận thông tin, cá nhân, công dân được nhận thông tin qua các kênh khác nhau (các phương tiện thông tin đại chúng như các loại hình báo chí: báo nói, báo viết, báo hình, báo điện tử...) và trách nhiệm nhà nước là thường xuyên tổ chức cung cấp thông tin định kỳ mà nhà nước nắm giữ để cho công chúng biết, kể cả khi công dân không có yêu cầu.

- Tự do phổ biến thông tin, cá nhân, công dân có thông tin được quyền truyền đạt, chia sẻ quan điểm, thông tin mà mình đang nắm giữ cho mọi người mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về ranh giới hay các hình thức đưa tin.

Ba nội dung trên chính là những nội dung cốt lõi của quyền tiếp cận thông tin, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo cho cá nhân, công dân được thực hiện quyền này.

- Bên cạnh mối quan hệ gắn bó giữa quyền tiếp cận thông tin với quyền tự do ngôn luận, báo chí, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin còn đòi hỏi tính công khai, tính minh bạch trong hoạt động công quyền, và đặc biệt cần có sự tham gia của người dân trong quá trình ra các quyết định. Cách tiếp cận này thể hiện rõ nét trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng, lĩnh vực thông tin môi trường…

Công ước quốc tế về chống tham nhũng năm 2003, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đòi hỏi (1) báo cáo công khai, và (2) sự tham gia của công chúng.

+ Báo cáo công khai (Điều 10) xét đến sự cần thiết phải đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả, cần tăng cường minh bạch trong quản lý hành chính công, khi cần thiết kể cả trong hoạt động tổ chức, thực hiện chức năng và ra quyết định.

Các biện pháp đó, ngoài các biện pháp khác, bao gồm:

(a) Ban hành những trình tự thủ tục hoặc quy định cho phép công chúng, khi thích hợp, có được thông tin về việc tổ chức, thực hiện chức năng và ra quyết định của các cơ quan hành chính của họ, mà sự riêng tư và thông tin cá nhân vẫn được bảo vệ, và thông tin về những quyết định và hành vi pháp lý liên quan đến công chúng; (b) Đơn giản hóa thủ tục hành chính ở những khâu thích hợp nhằm tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận với cơ quan ra quyết định có thẩm quyền; (c) Xuất bản thông tin, có thể bao gồm

báo cáo định kỳ, về nguy cơ tham nhũng trong các cơ quan hành chính nước mình [65].

+ Sự tham gia của công chúng (Điều 13): Mỗi quốc gia thành viên của Công ước, trong khả năng có thể và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp nước mình, áp dụng các biện pháp thích hợp, nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động của các cá nhân và tổ chức ngoài khu vực công như xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức cộng đồng, vào công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng; và nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về sự tồn tại, nguyên nhân và tính chất nghiêm trọng cũng như sự đe dọa của tham nhũng.

Sự tham gia đó cần được tăng cường thông qua các biện pháp như: (a) Tăng cường tính minh bạch trong các quy trình ra quyết định, thúc đẩy đóng góp của công chúng vào các quy trình ra quyết định; (b) Đảm bảo cho công chúng được tiếp cận thông tin một cách hiệu quả; (c) Tổ chức các hoạt động thông tin cho công chúng góp phần đấu tranh không khoan nhượng chống tham nhũng, cũng như các chương trình giáo dục công chúng, bao gồm cả chương trình giảng dạy trong nhà trường và trường đại học; (d) Tôn trọng, tăng cường và bảo vệ sự tự do tìm kiếm, nhận, xuất bản và tuyên truyền thông tin về tham nhũng.

Tăng cường sự tham gia của công chúng, còn được đề cập trong lĩnh vực môi trường. Tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp quốc năm 1992, Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển đã được ban hành kêu gọi các quốc gia tăng cường khả năng tiếp cận và tham gia của công chúng.

Nguyên tắc số 10 quy định: "Các vấn đề môi trường sẽ được giải quyết một cách tốt nhất nếu như có sự tham gia của tất cả các công dân liên quan với các mức độ phù hợp".

Ngoài ra còn được quy định trong Công ước UNECE về tiếp cận thông tin, Tham gia của công chúng vào quá trình ra quyết định và tiếp cận công lý

đối với các vấn đề môi trường (hay còn gọi là Công ước Aarhus) được thông qua vào tháng 6/1998 và có hiệu lực vào tháng 10/2001.

Một phần của tài liệu Quyền tiếp cận thông tin của công dân (Trang 30 - 35)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(98 trang)
w