Đứng trước thực trạng như vậy Nhà nước ta cũng đã bước đầu quan tâm hơnđiến quyền lợi ích, đặc biệt là quền được tiếp cận thông tin của các nhà đầu tư.Đều đó được thể hiện qua viêc Nhà n
Trang 1MỤC LỤC:
MỤC LỤC: 1
A PHẦN MỞ ĐẦU: 2
1.Lý do chọn đề tài: 2
2 Phạm vi nghiên cứu: 3
3 Phương pháp nghiên cứu: 3
B PHẦN NỘI DUNG: 4
CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CỔ ĐÔNG 4
1.1 Lịch sử hình thành quyền tiếp cận thông tin 4
1.2 Khái niệm về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 5
1.2.1 Quyền tiếp cận thông tin là gì ? 5
1.2.2 Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 6
1.3 Đặc điểm quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 6
1.3.1 Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông là một điều kiện để thực hiện quyền con người 6
1.3.2 Chủ thể tham gia tiếp cận thông tin 6
1.3.3 Hình thức thực hiện quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 7
1.4 Các quy định hiện hành của luật doanh nghiệp về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 8
1.4.1 Phạm vi thực hiện quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 9
1.4.2 Quản lý Nhà nước và cơ chế giải quyết tranh chấp, vi phạm, khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 10
1.4.3 Những điểm mới của Luật doanh nghiệp 2005 so với Luật doanh nghiêp 1999 về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CỔ ĐÔNG 15
2.1 Thực trạng quyền tiếp cận thông tin của cổ đông theo Luật doanh nghiệp hiện hành:.15 2.1.1 Thành tựu đạt được 15
2.1.2 Một số hạn chế còn tồn tại 16
2.2 Một số giải pháp hoàn thiện 21
2.2.1 Xây dựng hệ thống Luật tiếp cận thông tin 22
2.2.2 Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước: 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 23
C PHẦN KẾT LUẬN: 25
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU:
1.Lý do chọn đề tài:
Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới Nhucầu hợp tác, đầu tư đã trở thành nhu cầu bất thiết Bất cứ một nước nào muốn pháttriển nền kinh tế thì phải chú trọng đến quyền và lợi ích của các nhà đầu tư Ở cácdoanh nghiệp cũng vậy, các nhà đầu tư hay các cổ đông có vai trò quan trọng trong
sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy mà họ luôn được các chủ doanh nghiệpquan tâm, quyền và lợi ích của họ luôn được coi trọng
Ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà chúng ta đã tham giavào sân chơi lớn đó là Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế ( WTO ) Đã tạo nhiều điềukiện phát triển cho các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên cũng mang lại cho họkhông ít những khó khăn về cạnh tranh, kỹ thuật và đặc biệt là thiếu vốn đầu tư
Do đó, giải pháp cho các doanh nghiệp trong nước là phải đoàn kết sát nhập vàonhau tạo thành một công ty mạnh, hoặc lả phải thu hút được nhiều vốn đầu tư để cóđiều kiện phát triển doanh nghiệp Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn ở nước ta đó
là quyền của các nhà đầu tư chưa được chú trọng hay quan tâm đúng mức Trong
dó phải kể đến quyền được tiếp cận các thông tin của công ty như: tìm hiểu tìnhhình hoạt động của công ty, tình hình tài chính…lại chưa được các chủ doanhnghiệp quan tâm một cách đúng mức hoặc nếu có cùng chỉ là bề nổi của vấn đề.Đều này vô tình đã làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư, các cổ đông vào doanhnghiệp mà mình đầu tư
Đứng trước thực trạng như vậy Nhà nước ta cũng đã bước đầu quan tâm hơnđiến quyền lợi ích, đặc biệt là quền được tiếp cận thông tin của các nhà đầu tư.Đều đó được thể hiện qua viêc Nhà nước ta đã bước đầu đưa vấn đề này vào trongluật doanh nghiệp tạo cơ sở pháp lý cho các nhà đầu tư bảo vệ quyền lợi cho mình,thúc đẩy họ đầu tư mạnh mẽ hơn đối với các hoạt động kinh doanh trong nước
Trước những vấn đề mang tính cấp bách và quan trọng trên, em xin chọn đềtài “Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông theo luật doanh nghiệp 2005” để tiếnhành nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra được những giải pháp khắc phục
Trang 32 Phạm vi nghiên cứu:
Do quyền và lợi ích của các nhà đầu tư là một vấn đề tương đối rộng vàđược quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau nên việc tìm hiểu và phân tich
tương đối khó khăn Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài nghiên cứu chỉ giới
hạn trong quyền tiếp cận thông tin của các cổ đông theo Luật doanh nghiệp ViệtNam 2005 chứ chưa thể đi sâu vào phân tích tất cả các vấn đề Đề tài chỉ đi sâu vàophân tích và đánh giá các quy định của Luật doanh nghiêp về vấn đề quyền tiếpcận thông tin của các cổ đông, thực trạng quyền tiếp cận thông tin của cổ đông…
3 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài quyền tiếp cận thông tin của cổ đông theo Luật doanh nghiệp 2005,thực trạng và giải pháp được nghiên cứu dựa trên phương pháp thu thập tài liệu cóliên quan, tổng hợp, phân tích, so sánh các tài liệu và đưa ra đánh giá
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CỔ ĐÔNG
1.1 Lịch sử hình thành quyền tiếp cận thông tin.
* Ở Việt Nam.
Ở nước ta trải qua thời kỳ phong kiến kéo dài, chiến tranh liên miên và khinhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời cũng vậy Do đó mà khái niệm quyền tiếp cậnthông tin là một khái niệm còn khá là mới mẻ và chưa hề được biết đến Mãi đếnhiến pháp 1992 thì quyền tiếp cận thông tin nói chung mới được nhắc đến như mộtquyền công dân Tuy nhiên, hiến pháp 1992 mới chỉ quy định về quyền tiếp cậnthông tin nói chung chứ chưa đề cập đến quyền tiếp cận thông tin của cổ đông Tuynhiên trước nhu cầu cấp thiết của vấn đề này thì 1999 khi Luật doanh nghiệp đầutiên của Việt Nam ra đời, quyền tiếp cận thông tin của cổ đông đã được quy địnhtrong chương 4_ công ty cổ phần ở điều 53, mới lần đầu tiên được đề cập tới Sau
đó Luật doanh nghiêp 2005 một lần nữa tái khẳng định quyền tiếp cận thông tincủa cổ đông tại điều 79 Luật doanh nghiệp Và để hoàn thiện các quy định phápluật về quyền tiếp cận thông tin thì Nghị định Số: 102/2010/NĐ-CP ngày01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp liên
Trang 5quan đến thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổ chức lại và giải thể doanhnghiệp Đã quy định một số chế tài để bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của cổ đông
đó là: Quyền được cung cấp thông tin về những người có liên quan và các giaodịch của họ với công ty và quyền khởi kiện đối với người quản lý công ty khi họ viphạm nghĩa vụ trung thành, trung thực và cẩn trọng theo quy định của Luật Doanhnghiệp Đã tạo ra một hành lang pháp lý để cổ đông thực hiện quyền tiếp cận thôngtin của mình
1.2 Khái niệm về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông.
1.2.1 Quyền tiếp cận thông tin là gì ?
Cho đến nay, vẫn chưa có định nghĩa một cách thống nhất về quyền tiếp cậnthông tin là gì Vì vậy, trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quyềntiếp cận thông tin Do đó, theo tác giả tựu chung lại thì quyền tiếp cận thông tin là
một quyền cơ bản của con người, trong đó bao gồm: tự do tìm kiếm, nhận, quyền
tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp.
Như vậy, với cách hiểu trên thì quyền tiếp cận thông tin có nội dung hẹp và
để thực hiện quyền này, cá nhân có quyền tự do tìm kiếm; tự do tiếp nhận thôngtin
Tự do tìm kiếm thông tin thể hiện tính chủ động hơn là bị động của mỗi cá
nhân để có được thông tin cần thiết mà cá nhân, công dân quan tâm Cá nhân, côngdân có quyền yêu cầu, đề nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị nắm giữ thông tincông, có nghĩa vụ cung cấp thông tin đó cho mình
Tự do tiếp nhận thông tin : cá nhân, công dân được nhận thông tin qua các
kênh khác nhau (các phương tiện thông tin đại chúng như các loại hình báo chí) vàtránh nhiệm Nhà nước là thường xuyên tổ chức cung cấp thông tin định kỳ mà Nhànước nắm giữ để cho công chúng biết, kể cả khi công dân không có yêu cầu
Và thông tin được tiếp nhận ở dây là tin tức, dữ liệu có trong hồ sơ, tài liệu
do cơ quan nhà nước tạo ra hoặc nhận được trong quá trình thực hiện chức năng,nhiệm vụ của mình và đang được các cơ quan này nắm giữ
Trang 61.2.2 Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông.
Từ định nghĩa trên về quyền tiếp cận thông tin ta có thể hiểu quyền tiếp cận thông tin của cổ đông là quyền của các cổ đông được tiếp cận những thông tin về tình hình, hoạt động của công ty Từ cách hiểu này ta có thể thấy đây là quyền
được trải rộng trên tất cả các mặt hoạt động của công ty và cũng không có sự phânbiệt đối xử giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số Nghĩa là dù là cổ đông thiểu sốhay cổ đông lớn thì đều có quyền bình đẳng, đều có quyền được tiếp cận mọi thôngtin về tình hình, hoạt động của công ty Đó là các quyền được quy định tại cáckhoản 1 và khoản 2
1.3 Đặc điểm quyền tiếp cận thông tin của cổ đông.
1.3.1 Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông là một điều kiện để thực hiện
quyền con người.
Như đã nói quyền tiếp cận thông tin của cổ đông là một bộ phận của quyềntiếp cận thông tin Quyền này đã được quy định cụ thể hóa ở điều 69 hiến pháp
1992, nên nó là một quyền mang tính hiến định Do đó quyền tiếp cận thông tincủa cổ đông cũng được hiểu là một trong những quyền cơ bản của con người, màcác doanh nghiệp phải có trách nhiệm đáp ứng
1.3.2 Chủ thể tham gia tiếp cận thông tin.
Nếu trong quyền tiếp cận thông tin, chủ thể tham gia quyền này là toàn thểnhân dân Thì ở quyền tiếp cận thông tin của cổ đông thì chủ thể tham gia vaoquyền này đó là một chủ thể đặc biệt_ cổ đông
Theo quy định tại khoản 11 điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 thì “cổ đông là
người sở hữu ít nhất một cổ phần phát hành của công ty cổ phần” Như vậy, cũngxuất phát từ địa vị pháp lý là người đồng chủ sở hữu công ty, nhưng trong công ty
cổ phần thì người sở hữu phần vốn góp trong công ty lại được gọi là cổ đông chứkhông phải là thành viên góp vốn như trong công ty trách nhiệm hữu hạn Đâycũng là khái niệm đặc trưng, duy nhất chỉ có ở loại hình doanh nghiệp công ty cổphần
Trang 7Ngoài ra theo khoản 1 điều 77 Luật doanh nghiệp số lượng cổ đông trongcông ty cổ phần tối thiểu là ba (03) và không hạn chế số lượng tối đa Cổ đông cóthể là tổ chức hoặc cá nhân và phải sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành củacông ty Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, để xác lập tư cách cổ đông của công ty cổphần, tổ chức, cá nhân phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện: (i) Tổ chức, cá nhânphải sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần và (ii) nhữngthông tin về nhân thân quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 86 Luật doanh nghiệp
2005 bao gồm: Họ, tên, địa chỉ thường chú, quốc tịch, số chứng minh nhân dân,
Hộ chiếu hoặc giấy chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường chú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối với cổ đông là tổ chức, được công ty hoặc thành viên của Trung
tâm Lưu ký Chứng khoán ghi đúng và đủ vào Sổ cổ đông của công ty Như vậy,
theo các quy định của pháp luật hiện hành, cổ đông là người (tổ chức, cá nhân) sở hữu cổ phần của công ty cổ phần và được đăng ký vào Sổ cổ đông của công ty.
1.3.3 Hình thức thực hiện quyền tiếp cận thông tin của cổ đông.
Trước hết phải khẳng định cổ đông thực hiện quyền tiếp cận thông tin củamình thông qua yêu cầu và đây là một yêu cầu mang tính chủ động, theo đó:
Hình thức yêu cầu cung cấp thông tin, thông thường cổ đông có thể yêu cầu
cung cấp thông tin bằng các hình thức sau đây:
a) Yêu cầu bằng lời nói qua điện thoại hoặc trực tiếp đến trụ sở cơ quan đểyêu cầu;
b) Yêu cầu bằng văn bản gửi qua mạng điện tử, đường bưu điện, fax hoặccách thức khác
Văn bản yêu cầu cung cấp thông tin phải được thể hiện bằng tiếng Việt vớicác nội dung chính sau đây:Tên, địa chỉ của cá nhân yêu cầu hoặc đại diện của tổ
Trang 8chức yêu cầu; số fax, điện thoại, địa chỉ thư điện tử (nếu có);Thông tin yêu cầuđược cung cấp; Hình thức cung cấp thông tin.
Và khi nhận được yêu cầu tiếp cận thông tin của cổ đông, thì doanh nghiêp
có thể thực hiện việc cung cấp thông tin theo yêu cầu bằng một trong các hình thứcsau đây:
a) Trả lời trực tiếp bằng lời nói qua điện thoại hoặc trả lời trực tiếp tại trụ sở
cơ quan;
b) Người yêu cầu được đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp, trích dẫnnội dung của hồ sơ, tài liệu;
c) Cung cấp thông tin qua mạng điện tử;
d) Cung cấp bản sao chép, bản chụp hồ sơ, tài liệu;
đ) Các hình thức hợp pháp khác
1.4 Các quy định hiện hành của luật doanh nghiệp về quyền tiếp cận
thông tin của cổ đông.
Hiện nay, hành lang pháp lý cho việc tiếp cận thông tin của cổ đông ở ViệtNam về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu tiếp cận thông tin của các cổ đông tại cácdoanh nghiệp Luật doanh nghiệp năm 1999 đã đặt nền móng đầu tiên về các quyđịnh pháp lý bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin của cổ đông Tiếp đó, Luậtdoanh nghiệp 2005 một lần nữa tương đối an toàn cho các cổ đông có thể tiếp cậnthông tin tại các doanh nghiệp, đảm bảo quyền và lợi ích của họ Ngoài ra, Nghịđịnh 102/20010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điềucủa Luật Doanh nghiệp liên quan đến thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổchức lại và giải thể doanh nghiệp là một cơ chê bảo đảm cho quyền tiếp cận thôngtin của cổ đông Từ nhũng văn bản trên ta có thể khái quát thành những nội dung
cơ bản sau:
Trang 91.4.1 Phạm vi thực hiện quyền tiếp cận thông tin của cổ đông.
Căn cứ theo khoản 1 điều 79 luật doanh nghiệp 2005 thì các loại thông tin
mà cổ đông được tiếp cận bao gồm: Được xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; Xem xét, tra cứu và chích lục hoặc sao chụp Điêu lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.
Ngoài ra, theo khoản 2 điều 79 thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một
tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty có quyền: Xem xét và trích lục số biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hàng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát.
Như vây, quyền tiếp cận thông tin của cổ đông theo Luật doanh nghiệp hiệnhành lả quyền của cổ đông công ty cổ phần và được quy định trong chương vềcông ty cổ phần Quyền này về cơ bản là quyền được xem xét, tra cứu và trích lụccác văn bản Và phạm vi xem xet, tra cứu trích lục là các văn bản như theo quyđịnh của Luật doanh nghiệp là tương đối hẹp và có sự phân biệt giữa cổ đông lớn
và cổ đông nhỏ Theo đó cổ đông nhỏ chỉ được tiếp cận các thông tin liên quan đến
lý lịch cổ đông, xem xet các văn bản như điều lệ công ty, các nghi quyết cũng nhưbiên bản họp của Đại hội cổ đông chứ không có quyền xem xét, tra cứu, trích lụccác văn liên quan dến hoạt động của công ty, tình hình tài chính của công ty.Những loại văn bản này chỉ có cổ đông lớn hoặc nếu các cổ đông nhỏ có trên 10%tổng số cổ phần mới được tiếp cận Có thể nói đây là một bất cập của luật hiệnhành, đều này thể hiện sự bất bình đẵng giữa các cổ đông nhở và các cổ đông lớn.Như ta đã biết trong bất kỳ hoạt động kinh doanh nào thì vấn đề tài chính là mộtvấn đề vô cùng quan trọng quyết định đên sự phát triển của công ty cũng như lợinhuận mà họ có thể thu được khi đầu tư vào công ty Tuy nhiên, theo quy định của
Trang 10luật thì cổ đông nhở hơn 10% cổ phần lại không được xem xét các báo cáo tàichính của công ty là một thiệt thòi vô cùng lớn với họ Đều này đã vô hình chungtạo điều kiện để các cổ đông lớn chèn ép cổ đông nhỏ, là một kẻ hở của luật mà xétthấy cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp hơn nữa.
1.4.2 Quản lý Nhà nước và cơ chế giải quyết tranh chấp, vi phạm, khiếu nại,
tố cáo liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của cổ đông.
Luật doanh nghiệp 2005 mới chỉ dừng lại ở việc quy định phạm vi cổ đôngthực hiện quyền tiếp cận thông tin chứ chưa có quy định về các biện pháp bảo đảmthực hiện quyền này Tuy nhiên, để bổ sung cho khiếm khuyết này, năm 2010 Nhànước ta đã ban hành Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 Trong đóhướng dẫn cụ thể các biện pháp bảo đảm cho cổ đông thực hiện quyền tiếp cậnthông tin của mình Theo đó:
Các cổ đông được quyền được cung cấp thông tin về những người có liênquan và các giao dịch của họ với công ty Tại điều 28 Nghị định 102 quy định :
Nếu Điều lệ công ty không quy định khác, việc công khai hóa những người có liên quan và các giao dịch của họ với công ty thực hiện theo quy định sau đây:
1 Công ty phải tập hợp và cập nhật danh sách những người có liên quan của công ty theo quy định tại khoản 17 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp và các giao dịch tương ứng của họ với công ty; Danh sách này phải được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty; trường hợp cần thiết có thể lưu giữ một phần hoặc toàn bộ nội dung Danh sách nói trên tại các chi nhánh của công ty;
2 Tất cả các cổ đông, những người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của công ty và những người đại diện theo ủy quyền của họ có quyền xem, trích lục và sao một phần hoặc toàn bộ nội dung Danh sách nói trên trong giờ làm việc.
3 Công ty phải tạo điều kiện để những người nói tại khoản 2 Điều này tiếp cận, xem, trích lục và sao danh sách những người có liên quan của công ty và
Trang 11những nội dung khác một cách nhanh nhất, thuận lợi nhất Không ai có quyền ngăn cản, gây khó khăn đối với họ trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin quy định tại khoản 2 Điều này.
Với việc luật đã có quy định phải công khai hóa nhưng người có liên quan
và các giao dịch của họ với công ty, đã tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư cóthể nắm bắt được các mối quan hệ của những người có liên quan với những người
có vai trò lớn trong công ty Do bắt buộc phải công khai nên với việc có thể đượctiếp cận nguồn thông tin này có thể giúp cho các nhà đầu tư phat hiện được các saipham của những người điều hành công ty, là một công cụ hữ ích để tự bảo vệmình Tuy nhiên, ở một mặt nào đó, những quy định trên lại trở thành gánh nặng,gây áp lực cho công ty Cụ thể, theo điều 28 Nghị định 102, trong trường hợp điều
lệ công ty không quy định khác (thường là không quy định) thì công ty phải tậphợp, cập nhật danh sách những người có liên quan của công ty và các giao dịchtương ứng của họ với công ty; danh sách này phải được lưu giữ tại trụ sở chính củacông ty, phải tạo điều kiện để tất cả các cổ đông được quyền tiếp cận, sao lục…
Người có liên quan của công ty, theo Luật Doanh nghiệp, bao gồm tới támloại, trong mỗi loại lại có rất nhiều đối tượng Ví dụ: vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ,
mẹ nuôi, anh, chị, em ruột của những người quản lý doanh nghiệp, thành viên, cổđông sở hữu phần vốn góp hay có cổ phần chi phối; công ty mẹ, người quản lýcông ty mẹ và người có thẩm quyền bổ nhiệm người đó đối với công ty con; công
ty con; người hoặc nhóm người có khả năng chi phối việc ra quyết định, hoạt độngcủa doanh nghiệp đó thông qua các cơ quan quản lý doanh nghiệp…
Riêng các giao dịch tương ứng của những người này với công ty thì không
rõ gồm những giao dịch nào vì luật chưa quy định Tuy nhiên, có thể thấy rằng tất
cả những thông tin nói trên đều thuộc diện nhạy cảm, nếu không nói là chuyện
“thâm cung bí sử” của các công ty
Trang 12“Nếu một doanh nghiệp muốn tìm hiểu nội tình của đối thủ, chỉ cần chongười bỏ ra ít tiền mua vài cổ phiếu để trở thành cổ đông của công ty đối thủ đó.Sau đấy, cổ đông sẽ yêu cầu công ty cung cấp toàn bộ thông tin về những người cóliên quan và giao dịch của họ với công ty Điều gì sẽ xảy ra?”, chủ một doanhnghiệp đặt vấn đề.
Trong trường hợp sau khi thực hiện quền tiếp cận thông tin của mình mà cổđông nhận thấy doanh nghiệp hay Hội đồng quản tri công ty, tổng Giám đốc vànhững người quản lý khác tại các công ty vi phạm nghĩa vụ đối với công ty hoăcxâm phạm quyền tiếp cận thông tin của cổ đông thì theo điều 19 và điều 25 Nghịđịnh 102 thì họ còn có quyền khởi kiện đối với người quản lý công ty khi họ viphạm nghĩa vụ trung thành, trung thực và cẩn trọng theo quy định của Luật Doanhnghiệp
Tại diều 19 nghị định 102 có quy định:
1 Thành viên có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc) trong các trường hợp sau đây:
a) Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc) không thực hiện đúng các quyền và nhiệm vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời quyết định của Hội đồng thành viên; thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty;
b) Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
Trang 13c) Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
2 Trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện tương ứng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Ngoài ra trong trường hợp là cổ đông nhỏ sau khi tiếp cận thông tin đối vớicông ty mà nhận thấy có những sai phạm như trên, không thể trực tiếp thực hiệnquyên như đối với cổ đông lớn ở điều 19 thì họ có thể thông qua ban kiểm soát
thực hiện quyền của mình Đó là: Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền yêu cầu Ban kiểm soát khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) trong các trường hợp sau đây:
a) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) không thực hiện đúng các quyền và nhiệm vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy
đủ, không kịp thời quyết định của Hội đồng quản trị; thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao trái với quy định của pháp luật, Điều lệ công ty hoặc Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;
b) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
c) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
Trang 14d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu khởi kiện của cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 1 Điều này, Ban kiểm soát phải trả lời bằng văn bản xác nhận đã nhận được yêu cầu khởi kiện và tiến hành các thủ tục khởi kiện theo yêu cầu.
Trường hợp Ban kiểm soát không khởi kiện theo yêu cầu quy định tại khoản
2 Điều này hoặc trong công ty cổ phần không có Ban kiểm soát thì cổ đông, nhóm
cổ đông quy định tại khoản 1 Điều này có quyền trực tiếp khởi kiện thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc).
Trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện tương ứng theo quy định của pháp luật
về tố tụng dân sự.
Như vậy, với quy định mới này sẽ khiến cho việc các doanh nghiệp phảithận trọng hơn trong việc quan lý công ty để đảm bảo công vi phạm cácnghĩa vụ của mình đối với công ty Nó đã mang đến cho các cổ đông một
“chiếc khiên” bảo vệ vô cùng hiệu quả để bảo vệ lợi ích của bản thân mình.Bên cạnh đó quy định này còn cho thấy một điêm mói đáng khen ngợi đó
là không chi có các cổ đông lớn mà ngay cả các cổ đông nhỏ cũng cóquyền tham gia khiếu kiên nếu họ sau quá trình tiếp cận thông tin mà họphát hiện có sự vi pham Tuy nhiên, khác với các cổ đông lớn các cổ đôngnhỏ nếu muốn thực hiện quyền này thì phải thông qua một cơ quan đại diện
đó là Ban kiểm soát Đều này đã phản ánh đúng vài trò của Ban kiểm soáttrong các doanh nghiệp
1.4.3 Những điểm mới của Luật doanh nghiệp 2005 so với Luật doanh nghiêp
1999 về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông.
Như đã nói ở trên, Luật doanh nghiệp 1999 là văn bản pháp lý đầu tiên củaNhà nước ta quy định về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông Tuy nhiên từ khi có