Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin

Một phần của tài liệu Quyền tiếp cận thông tin của công dân (Trang 20 - 30)

Chủ thể mang quyền tiếp cận thông tin có thể được xác định trong các văn kiện quốc tế (Công ước của Liên Hợp quốc về Chống tham nhũng, Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường năm 1998), trong

Hiến pháp hoặc trong các đạo luật về tiếp cận thông tin hay về công khai hoạt động của chính quyền.

Pháp luật các nước

Tại các văn bản pháp luật quốc tế và một số quốc gia, chủ thể mang quyền tiếp cận thông tin có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Cá nhân có thể là công dân, người không mang quốc tịch, người nước ngoài; cụ thể hơn, có thể là trẻ em hay công chức nhà nước.

Với quan niệm tiếp cận thông tin là một quyền dân sự - chính trị, Hiến pháp, Luật các nước sử dụng các công thức như "mọi người", "bất kể người nào" hay "công chung", "người dân" để thể hiện tính phổ quát của quyền này.

Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin có thể là công chúng nói chung.

Theo Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường (25/6/1998):

"…mỗi Bên tham gia Công ước sẽ bảo đảm các quyền được tiếp cận thông tin, quyền của công chúng được tham gia vào các tiến trình ra quyết định (Điều 1)".

Tại đây, "công chúng" được cắt nghĩa là một hoặc nhiều thể nhân hoặc pháp nhân và theo luật hoặc thông lệ quốc gia, là các tổ chức, hiệp hội hoặc nhóm của họ. "Trong phạm vi các điều khoản có liên quan đến Công ước này, công chúng sẽ tiếp cận thông tin, có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định và tiếp cận bình đẳng đối với các vấn đề về môi trường mà không phân biệt tư cách công dân, quốc tịch hay sinh quán…" (Khoản 9 Điều 3)".

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 10/2003 và có hiệu lực thi hành vào tháng 12/2005 nêu: Đảm bảo cho công chúng được tiếp cận thông tin một cách hiệu quả.

Hiến pháp một số nước sử dụng cụm từ "mọi người" khi đề cập chủ thể của quyền tiếp cận thông tin:

Điều 44 của Hiến pháp Estonia quy định:

1. Mọi người có quyền tự do tiếp nhận thông tin được phổ biến để sử dụng chung.

2. Theo yêu cầu của công dân Estonia, trong phạm vi và phù hợp với các thủ tục do pháp luật quy định, tất cả các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương và các quan chức cơ quan đó có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin về công việc của mình, trừ trường hợp thông tin đó bị pháp luật nghiêm cấm tiết lộ hoặc các thông tin nhằm mục đích sử dụng nội bộ.

3. Công dân Estonia có quyền tiếp cận với các thông tin về bản thân mình do các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương nắm giữ cũng như đang được lưu trữ ở các cơ quan trung ương và địa phương theo các thủ thục do pháp luật quy định. Quyền này có thể bị pháp luật hạn chế nhằm mục đích bảo vệ các quyền và tự do của người khác cũng như bảo vệ bí mật về dòng họ của trẻ em cũng như là ngăn chặn tội phạm hoặc vì mục đích bắt giữ tội phạm hoặc để làm sáng tỏ sự thật trong một vụ án đang xét xử.

4. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, các quyền quy định tại Khoản 2 và 3 sẽ được áp dụng một cách bình đẳng đối với công dân của Estonia, công dân của các quốc gia khác và những người không có quốc tịch đang hiện diện trên lãnh thổ Estonia [4].

Hiến pháp Anbani năm 1998 (Điều 23) quy định:

1. Quyền thông tin được đảm bảo.

2. Mọi người có quyền nhận thông tin về hoạt động của các cơ quan Nhà nước cũng như người thực thi các chức năng của Nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật.

3. Mọi người được trao khả năng theo dõi các phiên họp của các cơ quan được hình thành từ bầu cử tập thể [5].

Cũng tại Hiến pháp Anbani (Điều 56) có quy định: "Mọi người có quyền được thông tin về tình trạng môi trường và việc bảo vệ môi trường".

Theo Luật về quyền tiếp cận thông tin trong các tài liệu chính thức của Anbani năm 1999, "công chúng" là chỉ bất cứ người nào, "người" là bất kỳ cá nhân nào, thể nhân và pháp nhân, là người Anbani hay người nước ngoài.

Theo Luật tiếp cận thông tin của Canada năm 1985, bất kể ai"công dân Canada; người thường trú dài hạn theo mục 2 (1) của Luật về nhập cư và bảo vệ người tị nạn đều có quyền và dựa theo yêu cầu sẽ được phép tiếp cận bất cứ tài liệu nào thuộc quyền kiểm soát của cơ quan Chính phủ".

Luật của Nhật Bản về tiếp cận thông tin của các cơ quan hành chính năm 2001 quy định: "Bất kể người nào được quy định trong Luật này đều có thể yêu cầu người đứng đầu một cơ quan hành chính cung cấp các văn bản hành chính của các cơ quan đó (Điều 3)".

Luật còn quy định nghĩa vụ cung cấp văn bản hành chính trong trường hợp cá nhân yêu cầu là quan chức Chính phủ (các công chức quốc gia được nêu tại Luật dịch vụ công cộng quốc gia, tại Luật về các quy tắc chung về các cơ quan hành chính phối hợp được chỉ định) - điểm c Khoản 1 Điều 5.

Luật Tự do thông tin Thụy Điển được ban hành vào năm 1949 và được sửa đổi vào năm 1976, Điều 2 quy định: "Mọi chủ thể và người cư trú của Thụy Điển có quyền tự do tiếp cận các tài liệu chính thức".

Các cơ quan nhà nước phải trả lời ngay lập tức các yêu cầu tài liệu chính thức. Yêu cầu có thể được thực hiện dưới mọi hình thức và có thể vô danh.

Luật về tiếp cận hồ sơ hành chính nhà nước của Đan Mạch năm 1985 cho phép bất kỳ người nào được quyền tiếp cận các tài liệu trong một hồ sơ hành chính. Các cơ quan phải trả lời càng sớm càng tốt và nếu như việc trả

lời kéo dài hơn 10 ngày thì phải thông báo cho người yêu cầu biết lí do tại sao lại trì hoãn và khi nào thì có câu trả lời.

Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền của Hàn Quốc năm 1996 dành Điều 6 quy định những người có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, theo đó mọi người dân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin.

Những vấn đề liên quan đến yêu cầu cung cấp thông tin đối với người nước ngoài được quy định ở Sắc lệnh của Tổng thống.

Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin là cá nhân: Một số Luật Tự do thông tin hay Luật Bảo vệ dữ liệu cho phép các cá nhân được tiếp cận tài liệu lưu trữ do các cá nhân và các tổ chức tư nhân nắm giữ cũng như cho phép thực hiện quyền được tiếp cận và quyền được sửa đổi các tài liệu lưu trữ cá nhân và đảm bảo rằng các tài liệu này luôn chính xác và các quyết định được đưa ra không dựa trên các thông tin không có liên quan hoặc không được cập nhật. Quyền này cũng đảm bảo rằng mọi người có thể nhận thức một cách rõ ràng những lợi ích hoặc dịch vụ mà họ có quyền được hưởng và xem họ có được nhận đúng và đủ các lợi ích đó không.

Ở Nam Phi, các quy định về tiếp cận thông tin trong Luật Tăng cường tiếp cận thông tin đã được sử dụng bởi các cá nhân muốn biết tại sao đơn xin vay tiền của họ bị ngân hàng từ chối hay trong trường hợp các cổ đông thiểu số muốn xem hồ sơ lưu trữ của các công ty tư nhân hay một nhà lịch sử đang nghiên cứu về việc một công ty phúc lợi tư nhân hoạt động như thế nào trong thời kỳ phân biệt chủng tộc hay một nhóm hoạt động môi trường muốn tìm hiểu về các ảnh hưởng đến môi trường của các dự án.

Hiến pháp và Luật một số nước quy định chủ thể là công dân: Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978 quy định: "Công dân có quyền tiếp cận các tài liệu hành chính và hồ sơ của nhà nước, ngoại trừ trường hợp ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, điều tra tội phạm và vi phạm và bí mật (Điều 105 khoản b)".

Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin là tổ chức, pháp nhân:

Ở Ấn Độ, các nhóm hoạt động xã hội cơ sở đã sử dụng quyền được biết để tiếp cận các thông tin về các dự án, về các công trình công cộng ở địa phương để biết về các khoản tiền đã được chi trả như thế nào và để người dân có quyền hỏi về việc dự án đã hoàn thành hay chưa và các khoản tiền chi cho dự án đó là bao nhiêu.

Luật về Tự do tiếp cận thông tin Cộng hòa Séc (được ban hành vào tháng 5 năm 1999 và có hiệu lực thi hành vào tháng 1 năm 2000) [11] cho phép các thể nhân và pháp nhân quyền tiếp cận các thông tin do các cơ quan nhà nước, cơ quan cộng đồng và các tổ chức tư nhân quản lý công quỹ nắm giữ. Yêu cầu có thể bằng lời nói hoặc văn bản.

Luật Liên bang Nga về thông tin, công nghệ thông tin và bảo vệ thông tin năm 2006 quy định: "Công dân (thể nhân) và tổ chức (pháp nhân) (các tổ chức khác) có quyền tìm kiếm và nhận bất kỳ thông tin nào với bất kỳ hình thức nào từ bất kỳ nguồn nào với điều kiện tuân thủ các quy định của Luật này và các luật Liên bang" (Điều 8).

Pháp lệnh nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về công khai thông tin của chính quyền năm 2007 (có hiệu lực từ 1/5/2008) tập trung quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước công bố thông tin của chính quyền, xác định phạm vi công bố thông tin.

Điều 13 nêu:

Bên cạnh những dạng thông tin được các cơ quan nhà nước công bố công khai, các cơ quan nhà nước được nêu tại các Điều 9 đến 12 cũng như các công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác có thể, tùy thuộc vào nhu cầu sản xuất, sinh sống, nghiên cứu hoặc nhu cầu khác của mình, gửi đơn yêu cầu cung cấp thông tin của chính quyền tới các văn phòng của Hội đồng nhà nước hoặc của chính quyền nhân dân ở tất cả các cấp [12].

Một số chủ thể đặc biệt:

Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định:

Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ý kiến; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin và tư tưởng ở mọi lĩnh vực; bằng lời nói, văn bản viết tay hoặc bản in, hay dưới hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác mà trẻ em lựa chọn [6, Điều 13].

Ngoài các chủ thể như đã nêu, các văn kiện quốc tế còn đề cập đến một số chủ thể được ưu tiên đặc biệt trong việc tiếp cận thông tin: Trong trường hợp có bất kỳ mối đe dọa nào sắp xảy ra đối với sức khỏe của con người hoặc môi trường,..., tất cả các thông tin có thể cho phép công chúng đưa ra các giải pháp để ngăn cản hoặc làm giảm bớt thiệt hại phát sinh do mối đe dọa và tất cả các thông tin này do một cơ quan công quyền nắm giữ, được phát tán ngay lập tức và không trì hoãn đối với những người có thể bị ảnh hưởng. Điều 5 Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường (25/6/1998).

Công chúng liên quan sẽ được thông báo sớm, hoặc bằng việc thông báo công khai hoặc thông báo cho từng cá nhân một cách phù hợp, thông báo sớm trong quá trình ra quyết định về môi trường một cách đầy đủ, kịp thời.

Điều 6 Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường (25/6/1998).

Luật Hành chính công Đan Mạch điều chỉnh việc tiếp cận hồ sơ tài liệu trong trường hợp một người là một bên có liên quan đến quyết định hành chính. Luật này quy định phạm vi tiếp cận tài liệu rộng hơn so với Luật Tiếp cận. Luật về Xử lý các dữ liệu cá nhân Đan Mạch cho phép các cá nhân được quyền tiếp cận hồ sơ tài liệu về bản thân mình do các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức tư nhân nắm giữ [8].

Pháp luật Việt Nam

Chủ thể tiếp cận thông tin là cá nhân, công dân

Hiến pháp (Điều 69) quy định chủ thể có quyền được thông tin là công dân.

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết (Điều 5).

Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định:

Kết quả điều tra về nguyên nhân, mức độ, phạm vi ô nhiễm và thiệt hại về môi trường phải được công khai để nhân dân được biết (Điều 93). Cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ (theo quy định của Luật) có trách nhiệm cung cấp thông tin về môi trường liên quan đến hoạt động của mình cho cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp huyện hoặc cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường cấp xã nơi cơ sở hoạt động và công bố thông tin về môi trường để cộng đồng dân cư được biết [47, khoản 2 Điều 103].

Luật Cư trú 2006 quy định quyền của công dân được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền cư trú (Điều 9).

Theo Điều 46 Luật Điện lực 2004, khách hàng sử dụng điện được cung cấp hoặc giới thiệu thông tin liên quan đến việc mua bán điện và hướng dẫn về an toàn điện.

Luật Dược 2004 dành một Chương quy định về thông tin, quảng cáo thuốc. Thông tin thuốc phải đầy đủ, khách quan, chính xác, trung thực, dễ hiểu. Luật quy định trách nhiệm của cơ sở sản xuất, mua bán và cung ứng thuốc, của cơ sở y tế, cán bộ, nhân viên y tế, cơ quan quản lý nhà nước về dược. Đối tượng được thông tin là cán bộ, nhân viên y tế và người sử dụng.

Luật phòng, chống tham nhũng 2005 quy định quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm

việc cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó. Công dân có quyền yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mình cư trú cung cấp thông tin về hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đó (Điều 32).

Chủ thể tiếp cận thông tin là tổ chức

Luật Phòng, chống tham nhũng còn có quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức (Điều 31). Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình theo quy định của pháp luật (Điều 31).

Ngoài cá nhân, Luật Công nghệ thông tin 2006 còn quy định quyền của tổ chức tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin như "sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, số hóa, duy trì và làm tăng giá trị các nguồn tài nguyên thông tin" (Điều 8). Theo Luật, cơ quan nhà nước là một chủ thể được cơ quan nhà nước khác cung cấp và chia sẻ thông tin. Hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng bao gồm: cung cấp, trao đổi, thu thập thông tin với tổ chức, cá nhân; chia sẻ thông tin trong nội bộ và với cơ quan khác của Nhà nước; cung cấp các dịch vụ công (Điều 27).

Luật Điện lực 2004 quy định quyền của đơn vị phát điện: "Được cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động phát điện" [45, Điều 39];

"Đơn vị truyền tải điện được cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động truyền tải điện" [45, Điều 40].

Tương tự như vậy với đơn vị phân phối điện (Điều 41), đơn vị bán buôn điện (Điều 43), đơn vị bản lẻ điện (Điều 44).

Chủ thể khác

Theo Luật Trợ giúp pháp lý, một trong các hình thức trợ giúp pháp lý là tư vấn pháp luật. Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên, Luật sư, Tư vấn viên

Một phần của tài liệu Quyền tiếp cận thông tin của công dân (Trang 20 - 30)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(98 trang)
w