1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Di chúc chung của vợ chồng

97 27 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 199,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều công trình nghiêncứu có đề cấp đến vấn đề này đã được công bố như: các bài viết đăng trên các tạp chí về luật học như: “Một số trao đổi về di chúng của một bên vợ, chồng định đoạt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Quốc Nguyên

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trung Thị Quỳnh Anh

Trang 4

1.1.2 Khái niệm di chúc chung của vợ chồng

1.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng

1.3 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

1.3.1 Điều kiện về mục đích và nội dung

1.3.2 Điều kiện về hình thức

1.4 Hiệu lực di chúc chung của vợ chồng

1.5 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật quy định về di

Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TẠI TOÀ ÁN

VÀ NGUYÊN NHÂN KHI BÃI BỎ QUY ĐỊNH NÀY

Trang 5

TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

chồng tại Toà án

chồng trong Bộ luật dân sự năm 2015 Kết luận chương 2

Chương 3: SỰ CẦN THIẾT CỦA DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG VÀ KIẾN NGHỊ ÁP DỤNG TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

3.1 Sự cần thiết của di chúc chung của vợ chồng trong pháp

luật dân sự Việt Nam

Kết luận chương 3

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật Dân sự

LHN GĐ: Luật hôn nhân và gia đình

TAND: Toà án nhân dân

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thừa kế là một trong những chế định quan trọng trong hệ thống phápluật dân sự Việt Nam Dọc theo chiều dài lịch sử thế giới, từ nhà nước chủ

nô đến nhà nước xã hội chủ nghĩa đang được hình thành, vấn đề thừa kếluôn được coi trọng và là một trong những vấn đề cốt lõi của mỗi nhà nước,

là hình thức chủ yếu để bảo vệ các quyền công dân Ngoài ra, quyền thừa

kế chính là sự thể hiện quyền tự định đoạt tài sản của mình trước khi chếtbằng việc chuyển tài sản của mình cho người còn sống, quyền và nghĩa vụcủa người sống đối với khối di sản của người chết, là động lực để các cánhân lao động, sáng tạo tích luỹ tài sản mà không phải lo sợ sau khi mìnhchết đi, khối tài sản đó sẽ không được để lại theo ý muốn của bản thân hoặccho những người thân của mình

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành có hai hình thức thừa

kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Đối với hình thức thừa kếtheo di chúc, đây chính là sự thể hiện ý chí của người chết đối với khối di sảncủa mình, được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ Ngoài việc các cá nhân để lại

di sản của mình thông qua thừa kế theo di chúc thì pháp luật Việt Nam trướcđây cũng đã quy định về di chúc chung của vợ chồng Nguyên nhân của quyđịnh này là do quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọngđạo nghĩa vợ chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong giađình, do vậy khuyến khích việc vợ chồng cùng nhau lập di chúc chung để địnhđoạt tài sản chung Chính vì lẽ đó, ngay từ nhà nước Đại Việt thời Lê Sơ, Bộluật Quốc Triều hình luật hay Bộ luật Hồng Đức đã ghi nhận khả năng vợchồng “cùng lập di chúc chung” Tiếp đó, “việc dùng chúc thư chung để sửdụng gia sản” đã được bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và bộ Dân luật Trung

Kỳ năm 1936 công nhận Sau năm 1975, pháp luật nước ta cũng đã có quy

Trang 8

định cho loại di chúc này, từ Thông tư số 81 năm 1981 của TAND tối caođến BLDS năm 2005 [3] Tuy nhiên, BLDS năm 2015 đang có hiệu lựcđược Quốc hội thông qua vào ngày 24/11/2015 với tên gọi là Luật số91/2015/QH13 đã không giữ lại những quy định về di chúc chung của vợchồng.

Sau một thời gian BLDS năm 2015 được áp dụng trong thực tiễn, dùcác nhà làm luật đã đưa ra những hướng xử lý khi không còn quy định về dichúc chung của vợ chồng nhưng đó cũng không phải cách giải quyết triệt

để và hiệu quả, đồng thời phủ nhận những ưu việt của di chúc chung của vợchồng và được người viết phân tích cụ thể tại phần sau của luận văn

Do vậy, tôi lựa chọn đề tài:"Di chúc chung của vợ chồng" làm đề

tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học Đây là một đề tài có ý nghĩa quantrọng và cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn

2. Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến nội dung di chúc chung của vợ chồng thì đã có nhiềukhoá luận tốt nghiệp, luận văn, bài viết trên tạp chí đã đề cập một cách trựctiếp hoặc lồng ghép vào những nội dung liên quan Nhiều công trình nghiêncứu có đề cấp đến vấn đề này đã được công bố như: các bài viết đăng trên các

tạp chí về luật học như: “Một số trao đổi về di chúng của một bên vợ, chồng

định đoạt tài sản chung” của tác giả Hoàng Tuấn Trọng và Nguyễn Thị Thuý

Hương đăng trong Tạp chí Toà án nhân dân số 05/2010, “Những bất ngờ và

hướng xử lý khi không còn quy định về di chúc chung của vợ chồng” của

PGS.TS Đỗ Văn Đại đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp Số 05/2016…,

luận văn thạc sĩ luật học“Di chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự

Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tuyên bảo vệ tại Trường Đại học

Luật Hà Nội năm 2011, luận văn thạc sĩ luật học “Vấn đề di chúc chung của

vợ, chồng” của tác giả Bùi Văn Lợi bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 9

năm 2014, luận văn thạc sĩ “Di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật

dân sự Việt Nam” của tác giả Đỗ Thu Hiền bảo vệ tại Khoa Luật trực thuộc

Đại học quốc gia Hà Nội năm 2010, luận văn thạc sĩ “Di chúc chung của

vợ chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam” của tác giả Đinh Thuỳ Dung bảo

vệ tại Học viện khoa học xã hội năm 2018.

Các công trình nói trên chỉ tập trung nghiên cứu về những vấn đề lýluận và thực tiễn của di chúc chung của vợ chồng, tuy có luận văn thạc sĩ

“Di chúc chung của vợ chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam”của tác giả

Đinh Thuỳ Dung có đề cập đến việc di chúc chung của vợ chồng không còn

được quy định trong BLDS năm 2015, nhưng luận văn chưa làm rõ nguyênnhân, hướng xử lý khi bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng trongBLDS năm 2015 của các nhà làm luật và đưa ra những cơ sở về sự cần thiếtphải có quy định về di chúc chung của vợ chồng trong pháp luật dân sự ViệtNam Đối với công trình nghiên cứu của PGS.TS Đỗ Văn Đại có đề cậpđến những vấn đề nêu trên, tuy nhiên với sự hạn chế là một bài viết trên tạpchí về luật học cũng không thể đi sâu và truyền tải hết được nội đung

3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu

Pháp luật về di chúc chung của vợ chồng tuy không phải là một lĩnhvực quá rộng lớn và phức tạp nhưng được quy định trong các văn bản trướcđây đã hết hiệu lực do các văn bản pháp luật hiện hành không còn quyđịnh Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu luận văn thạc

sĩ được giới hạn trong các văn bản pháp luật quy định về di chúc chung của

vợ chồng như: BLDS năm 2005, BLDS năm 1995, LHN GĐ năm 2000…Nội dung luận văn giới hạn trong vấn đề lý luận về di chúc chung của vợchồng được pháp luật Việt Nam quy định qua các thời kỳ

Thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi được đề ra ở trên, tác giảmong muốn cung cấp cho người đọc một cách tổng thể các quy định về di

Trang 10

chúc chung của vợ chồng Trên cơ sở đó và từ thực tiễn áp dụng, đưa ra cácnguyên nhân khi quy định trên bị bãi bỏ trong BLDS năm 2015, làm cơ cở,căn cứ cho sự cần thiết phải có trong pháp luật dân sự Việt Nam Đồng thời,dựa vào đó để nghiên cứu đưa ra những giải pháp, đề xuất áp dụng.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, luận văncần phải giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, đề cập khái quát một số vấn đề lý luận về di chúc chungcủa vợ chồng và trình bày tổng quát việc hình thành các quy định về dichúc chung của vợ chồng trong quy định của pháp luật dân sự Việt Nam

Thứ hai, từ thực trạng giải quyết tranh chấp về di chúc chung của vợchồng tại Toà án để phân tích và đánh giá, từ đó đưa ra những nguyên nhânkhi bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng trong BLDS năm 2015của các nhà làm luật

Thứ ba, sự cần thiết phải có quy định về di chúc chung của vợ chồng vàhướng xử lý khi không còn quy định này trong BLDS năm 2015 Trên cơ sở

đó, sẽ giải quyết câu hỏi di chúc chung của vợ chồng sẽ được quy định nhưthế nào trong pháp dân sự Việt Nam để phù hợp với thực tiễn đặt ra

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lốicủa Đảng cộng sản Việt Nam Theo đó, người viết đặt các vấn đề về di chúcchung của vợ chồng trong mối liên hệ, quan hệ với nhau, không nghiên cứumột cách riêng lẻ đồng thời có sự so sánh khi quy định này được áp dụngtrong các văn bản đã hết hiệu lực cũng như đang có hiệu lực

Trang 11

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:

Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Những phương phápnày được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật về

di chúc chung của vợ chồng và sự cần thiết của quy định này trong phápluật dân sự Việt Nam

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương phápnày được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét nguyên nhân dẫnđến việc bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng trong BLDS năm

2015 hiện hành, việc đưa ra hướng xử lý của các nhà làm luật có hợp lý haykhông, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liênquan hoặc pháp luật của các nước khác để đưa ra những đề xuất áp dụng

Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng đểtriển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến di chúc chung của vợchồng, đặc biệt là hướng đề xuất áp dụng Cụ thể như trên cở sở đưa ranhững kiến nghị mang tính khái quát, súc tích người viết dùng phươngpháp diễn dịch để làm rõ nội dung của kiến nghị đó…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lýluận trong khoa học pháp lý của vấn đề di chung của vợ chồng, nguyênnhân, hướng xử lý khi bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồngtrong BLDS năm 2015 và sự cần thiết của quy định này trong pháp luật dân

sự Việt Nam Cụ thể: Xây dựng được khái niệm và đưa ra những nội dung

cơ bản về di chúc chung của vợ chồng, từ thực trạng giải quyết tranh chấp

về di chúc chung của vợ chồng tại Toà án để phân tích và đánh giá, từ đóđưa ra những nguyên nhân khi bãi bỏ quy định về di chúc chung của vợchồng trong BLDS năm 2015 của các nhà làm luật

Trang 12

Làm rõ được sự cần thiết phải có quy định về di chúc chung của vợchồng và hướng xử lý khi không còn quy định này trong BLDS năm 2015,qua đó đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về di chúc chung của vợchồng tại Việt Nam.

Ngoài ra, những giải pháp hoàn thiện pháp luật là cơ sở quan trọng đểcác cơ quan chức năng có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luậttrong lĩnh vực tương ứng Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữuích không chỉ với đội ngũ giảng viên, sinh viên mà còn có giá trị đối với cáccán bộ đang làm công tác hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật vềthừa kế nói chung và di chúc chung của vợ chồng nói riêng ở Việt Nam

7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Cơ sở lý luận về di chúc chung của vợ chồng

Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp về di chúc chung của vợchồng tại Toà án và nguyên nhân khi bãi bỏ quy định này trong Bộ luật dân

sự năm 2015

Chương 3: Sự cần thiết của di chúc chung của vợ chồng và kiến nghị

áp dụng trong pháp luật dân sự Việt Nam

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ

CHỒNG 1.1 Khái niệm di chúc và di chúc chung của vợ chồng

1.1.1 Khái niệm di chúc

Như đã nêu ở trên, thừa kế chính là sự thể hiện quyền tự định đoạt tàisản của mình trước khi chết, quyền và nghĩa vụ của người sống đối với khối disản của người chết Có thể nói ý nguyện của người đã chết là điều cần phảiđược tôn trọng và cho dù pháp luật Việt Nam hiện hành quy định có hai hìnhthức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật nhưng thừa kếtheo di chúc vẫn được ưu tiên áp dụng, chỉ khi thuộc một trong các trường hợpthừa kế theo pháp luật thì mới áp dụng thừa kế theo pháp luật

Thuật ngữ “Di chúc” được hình thành từ rất sớm và từng được biếtđến với nhiều tên gọi khác nhau như “Chúc thư, văn khế, lời dặn …”

Tại Điều 366 (25) Bộ luật Hồng Đức quy định rằng “Những người làm

chúc thư văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến, thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ Chúc thư văn khế

ấy không có giá trị Nếu biết chữ mà viết lấy thì được”; mặc dù bộ luật có đề

cập đến khái niệm Chúc thư nhưng không có quy định nào làm rõ về hành vipháp lý từ khái niệm Chúc thư văn khế là gì, cho đến các vấn đề khác về chủthể, đối tượng, tạo lập, điều kiện, hiệu lực…[28] Cũng tại Điều thứ 320, Điều

thứ 321 Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định “Người cha được lập ra chúc

thư để xử trí tài sản của mình tuỳ theo ý mình …”, “Người nào đã thành niên, hoặc đã thoát quyền mà có đủ trí khôn, thì đều có tư cách được di chúc và lập

ra chúc thư để xử trí về tất cả tài sản của mình…” chỉ đưa ra mục đích của

việc lập chúc thư mà chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh nào Tuy nhiên, trong

phần Danh từ giải nghĩa của cuốn sách đã đưa ra “Chúc thư là tờ dặn lại, giối

lại, nghĩa là cái thư của người trước khi lâm chung đã làm thành

Trang 14

khoản ước để làm bằng cứ mà để lại của cải cho cháu về sau” [6] Ngoài

ra, “Chúc thư là văn bản chính thức ghi những ý muốn của một người, đặc

biệt là xử lý những tài sản của mình sau khi chết” [26]

Theo từ điển tiếng Việt, di chúc được hiểu là lời dặn lại trước khi chếtnhững việc người sau cần làm và nên làm [27] Từ xa xưa, di chúc là nhữnglời căn dặn của người chết đối với con cháu cách sống, phải yêu thương lẫnnhau, giao các nghĩa vụ đạo đức cho họ… Như vậy, di chúc ở đây khôngnhằm chuyển dịch bất cứ loại tài sản nào của người chết nhưng nó có ý nghĩanhất định về mặt tinh thần đối với những người còn sống Đây là loại di chúckhá phổ biến, nó được thể hiện ở lời căn dặn của người chết với những concháu và được con cháu nghe theo Nói đến loại di chúc này, chúng ta khôngthể không nhắc đến Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Bác viết lần đầunăm 1965 và hoàn thành năm 1969 Di chúc của Bác được công bố đến nay đãtròn nửa thế kỷ nhưng vẫn như ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Để từ đó, tathấy được giá trị không thể thay thế của loại di chúc này Tuy nhiên, xét theogóc độ pháp lý, những di chúc này không thuộc đối tượng điều chỉnh của phápluật dân sự do nghĩa vụ được đề cập đến trong di chúc này là nghĩa vụ tựnhiên, dù họ không thực hiện cũng không phải chịu trách nhiệm pháp lý, nghĩa

là khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến di chúc loại này, pháp luật sẽ khôngcan thiệp, việc giải quyết tranh chấp này chủ yếu là sự phê phán, lên án của xãhội của dòng họ hay của gia đình Pháp luật chỉ được xem xét trong trườnghợp này khi các tranh chấp đó dẫn đến các bên xảy ra xung đột và có dấu hiệucủa vi phạm pháp luật Căn cứ pháp lý được áp dụng để giải quyết xung độttrong trường hợp này không phải là các quy phạm pháp luật thừa kế trongpháp luật dân sự mà là các quy phạm thuộc các ngành luật khác có liên quan

ví dụ như hình sự hay hành chính

Trang 15

Từ BLDS năm 1995 (Điều 649) đến BLDS năm 2005 (Điều 646) và

hiện nay là BLDS năm 2015 (Điều 624) đều quy định “Di chúc là sự thể hiện

ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Việc điều luật quy định từ “người khác” ở đây không chỉ theo ý hiểu

thông thường là một cá nhân, một con người mà được hiểu theo nghĩa rộng

đó có thể còn là một tổ chức Theo đó, người lập di chúc dựa vào ý chí chủquan của mình định đoạt cho bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào mà họ muốnđược hưởng di sản sau khi mình qua đời Việc pháp luật dân sự quy định về

sự định đoạt tài sản của mình trong di chúc không làm triệt tiêu đi lời dặn

dò con cháu, người thân của họ hay những nghĩa vụ tự nhiên như đã nêutrên Đối với phần nội dung của di chúc quy định về việc chuyển tài sản sẽchịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, phần còn lại sẽ không bị vô hiệutrong di chúc mà không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự

Di chúc theo loại này có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc

Chủ thể lập di chúc là cá nhân mà không phải chủ thể khác, do pháp luậtquy định cụ thể cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình

Sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc được thể hiện “việc lập dichúc cũng như việc kết hôn không thể thực hiện bằng lối ủy quyền Không ai

có thể ủy quyền cho người khác để thay mình lập chúc thư mà pháp

luật cũng không có quyền chỉ định một thụ ủy luật định để lập chúc thư thaythế một người khác” [5] Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sảnthuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai không phụ thuộc vào quan hệ huyếtthống, nuôi dưỡng, thân thích hay hôn nhân với người lập di chúc và có quyềncho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người nào đó trong sốnhững người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật Như vậy, việc có lập di chúc

Trang 16

hay không, trong di chúc chỉ định ai được hưởng di sản, được hưởng baonhiêu, truất quyền thừa kế của ai… đều do người để lại di chúc quyết định

mà không cần thoả thuận bàn bạc, trao đổi hay thống nhất với người khác

và cũng không ai có quyền can thiệp vào Di chúc là một giao dịch dân sựthể hiện dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương Khác với khế ước là mộthợp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều ngườikhác để chuyển hữu, tác động hay bất tác động Phản chiếu một sự ưngthuận, khế ước đòi hỏi ít nhất sự hiện diện của hai người trái chủ và phụtrái Tuy nhiên, cũng có trường hợp đặc biệt những khế ước ký chính vớiđích thân mình (le contrat envers soi même), (tiếng Đức seldst conltrakt).Song, sự thực đây chỉ là một kỹ thuật pháp lý đặc biệt để che đậy quyền lợicủa hai người riêng biệt … [12]

Thứ hai, mục đích của việc lập di chúc là để chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

Như đã phân tích ở trên, xét theo góc độ pháp lý, những di chúc khôngnhằm chuyển tài sản của mình cho người khác không thuộc đối tượng điềuchỉnh của luật dân sự do nghĩa vụ được đề cập đến trong di chúc này là nghĩa

vụ tự nhiên Có thể nói, đây là đặc điểm quan trọng nhất của di chúc bởi lẽ đó

là sự hướng đến của người lập di chúc, là cơ sở để chuyển tài sản của ngườilập di chúc cho người khác sau khi chết Thông qua di chúc, người để lại thừa

kế thể hiện quyền tự định đoạt tài sản của mình và có ý nghĩa về mặt vật chấtđối với người được thừa kế Như vậy, quyền sở hữu đối với tài sản của ngườichết sẽ không bị mất đi mà chỉ chuyển từ người này sang người khác, đời nàysang đời khác, không những vậy còn có thể làm tăng giá trị của tài sản, tạotiền đề cho sự phát triển không những của chính bản thân họ mà còn của đấtnước Việc pháp luật dân sự ghi nhận và tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản

Trang 17

của người lập di chúc cũng chính là việc bảo đảm quyền sở hữu của chủ sởhữu đối với tài sản của họ dã được quy định tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013.

Thứ ba, di chúc có hiệu lực khi người lập di chúc chết

Di chúc là một giao dịch dân sự được thể hiện dưới dạng hành vi pháp

lý đơn phương Cũng là giao dịch dân sự nhưng hợp đồng là sự thể hiện ý chícủa hai bên và có hiệu lực từ thời điểm giao kết (trừ trường hợp các bên cóthoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác) thì di chúc là sự thể hiện ý

chí của một bên và “Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế”

(Khoản 1 Điều 643 BLDS năm 2015), tức thời điểm người có tài sản chết.Như vậy, dù người để lại di sản đã lập di chúc nhưng vẫn còn sống thì ngườithừa kế theo di chúc cũng chưa được chuyển tài sản hay không có bất kỳquyền nào đối với tài sản của người lập di chúc và họ cũng không thể chắcchắn sẽ được nhận tài sản người lập di chúc Khi người lập di chúc chết thì họmới được hưởng di sản thừa kế vì người lập di chúc còn sống họ vẫn có quyềnđịnh đoạt khối di sản của mình cho ai, cho họ bao nhiêu tài sản trong khối disản, truất quyền thừa kế của ai … Tuy nhiên, trên thực tế khi lập di chúc thìngười để lại di chúc vì lý do nào đó chưa muốn người thừa kế hưởng di sảnngay khi mở thừa kế mà muốn họ chỉ được hưởng di sản khi đạt được nhữngđiều kiện nhất định, làm được một số điều kiện, nghĩa vụ nhất định mà ngườilập di chúc đặt ra Khi đó di chúc trở thành di chúc có điều kiện Tại Điều thứ

334 Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định “Người được tặng dữ mà không

thi hành những điều kiện của người lập chúc thư đã bắt buộc mình, thì sẽ bị bãi mất của tặng dữ ấy” Mặc dù pháp luật hiện hành không có quy định ở

một điều luật cụ thể nhưng chúng ta có thể hiểu các nhà lập pháp “ngầm” chấpnhận di chúc có điều kiện với nội dung ở Khoản 2 Điều 631 BLDS năm 2015thì di chúc có thể có các nội dung khác ngoài Khoản 1 Điều 631 BLDS năm

2015 Vấn đề đặt ra đối với di chúc này là hiệu lực được xác

Trang 18

định như thế nào, có giống như hiệu lực của di chúc thông thường hay có sựkhác biệt như đáp ứng cả điều kiện cần và đủ là người lập di chúc chết và khi

đã thực hiện điều kiện trong di chúc Do vậy, để đáp ứng các nhu cầu từ thựctiễn cần có những có những quy định cụ thể hơn về loại di chúc này

Từ những phân tích trên, di chúc là ý chí chủ quan của người có tàisản được thể hiện dưới một hình thức nhất định do pháp luật quy định đểchuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

1.1.2 Khái niệm di chúc chung của vợ chồng

Di chúc chung của vợ chồng là một loại di chúc đặc biệt Tính chấtđặc biệt của nó thể hiện trong các quy định về chủ thể, nội dung, ý nghĩa,hình thức… nhưng lại không được pháp luật quy định rõ Cụ thể, di chúcchung của vợ chồng chỉ quy định ở ba điều luật duy nhất là Điều 666, Điều

667, Điều 671 BLDS năm 1995, cũng ở ba điều luật duy nhất là Điều 663,Điều 664, Điều 668 BLDS năm 2005 và không còn được quy định trongBLDS năm 2015 nhưng nội hàm của điều luật ấy lại liên quan đến nhiềuđiều luật khác trong cùng Bộ luật và cả những điều luật thuộc văn bản phápluật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam như LHN GĐ, Luật đất đai

Nhìn vào hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, theo từngquan điểm lập pháp chúng ta thấy có sự khác nhau rõ rệt về quy định di chúcchung của vợ chồng trong BLDS các quốc gia Theo đó, các nhà làm luật tạiPháp đã thể hiện rõ trong BLDS Cộng hoà Pháp không chấp nhận vấn đề dichúc chung của vợ chồng Tại Điều 968 BLDS Cộng hoà Pháp năm 1804 quy

định: “Hai hoặc nhiều người không thể làm chung một di chúc để lại tài sản

cho một người thứ ba hoặc để lại tài sản cho nhau” Tuy rằng pháp luật của

Pháp tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sản nhưng lại hạnchế một số trường hợp định đoạt tài sản này, được thể hiện qua việc không chophép, cấm vợ chồng lập di chúc chung dù cho để lại tài sản cho nhau

Trang 19

Cũng giống như pháp luật dân sự của Pháp, pháp luật dân sự của Nhật Bản,pháp luật dân sự của Thái Lan, pháp luật dân sự của Thuỵ Sỹ cũng khôngquy định di chúc chung của vợ chồng Về khía cạnh lập pháp, việc xâydựng pháp luật của mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội, trình độ lập pháp của quốc gia đó Do vậy, trênthực tế khó có thể áp dụng nguyên vẹn một hệ thống pháp luật của mộtquốc gia vào một quốc gia khác và chúng ta còn chưa nói đến việc ngaytrong cùng một quốc gia cũng có thể có nhiều hệ thống pháp luật khácnhau, ví dụ như Trung Quốc Việc quốc gia này quy định một vấn đề màquốc gia khác không quy định là điều dễ hiểu và đương nhiên Do vậy cónhững quốc gia vẫn quy định di chúc chung của vợ chồng trong hệ thốngpháp luật của mình như Cộng hoà liên bang Đức.

Như đã nêu trên, di chúc chung của vợ chồng chỉ được quy định trongBLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, tuy nhiên trong hai bộ luật dân sự nàyđều không định nghĩa thế nào là “di chúc chung của vợ chồng” mà đều chỉ

quy định “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”.

Từ khái niệm “di chúc” đã đưa ra và theo quy định của pháp luật thì

di chúc chung của vợ chồng là ý chí chủ quan và thống nhất chung của vợchồng được thể hiện dưới một hình thức nhất định do pháp luật quy định đểchuyển tài sản chung hợp nhất của vợ chồng cho người khác sau khi chết

1.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng

Là một loại di chúc đặc biệt nên di chúc chung của vợ chồng cũngmang những đặc điểm của di chúc thông thường đã nêu trên là hành vi pháp

lý đơn phương nhằm để chuyển tài sản của mình cho người khác sau khichết và di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người lập di chúc chết.Tuy nhiên, do xuất phát từ tính chất đặc biệt nên di chúc chung của vợchồng mang những đặc điểm riêng sau:

Trang 20

Thứ nhất, di chúc chung của vợ chồng thể hiện ý chí đơn phương của vợ chồng, là hai cá nhân nhưng cùng chung m ột ý chí

Đối với giao dịch dân sự là hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí của cácbên tham gia hợp đồng và các bên phải tự nguyện thoả thuận với nhau về nộidung của hợp đồng Việc vợ chồng lập di chúc chung của vợ chồng là mộthành vi pháp lý đơn phương và cũng là giao dịch dân sự nhưng chỉ thể hiện ýchí đơn phương của một bên lập di chúc đó là vợ chồng, hai cá nhân độc lập

Ý chí đơn phương là điểm khác biệt của di chúc cụ thể hơn là di chúc chungcủa vợ chồng so với giao dịch dân sự khác, nó được thể hiện ở việc vợ, chồngtoàn quyền tự định đoạt tài sản chung của mình cho bất kỳ ai, cho ai baonhiêu, cho nhiều hay ít, mục đích sử dụng tài sản chung khác như có để lạimột phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng, hay những vấn đề kháckhông phải định đoạt di sản như giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ

định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản Di chúcchung của vợ chồng là sự thể hiện ý chí chủ quan của vợ, chồng nhưng đãđược thống nhất và không bị chi phối bởi ý kiến của bất kỳ ai Vợ chồng khilập di chúc chung tự quyết định việc để lại di sản cho bất kỳ tổ chức hay cánhân nào và người được hưởng thừa kế không bắt buộc phải có quan hệ huyếtthống hay quan hệ nuôi dưỡng đối với họ Đây là sự thể hiện quyền tự địnhđoạt tài sản của cá nhân và ở đây là vợ chồng, hai cá nhân độc lập được pháp luật tôn trọng

Thứ hai, di chúc chung của vợ chồng được lập trong khi quan hệ hôn nhân còn hiệu lực

Từ khái niệm “di chúc chung của vợ chồng” đã nêu trên thì chủ thể lập

di chúc chung của vợ chồng phải là “vợ chồng” mà không phải là một cá nhânriêng lẻ Khi đó, di chúc phải do đồng thời cả người vợ và người chồng cùng

Trang 21

thống nhất ý chí lập nên, như vậy mối quan hệ hôn nhân của họ phải đangcòn hiệu lực được pháp luật công nhận.

Theo quy định tại khoản 13, Điều 3 LHN GĐ năm 2014 xác định:

“Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” Như vậy, di chúc chung

của vợ chồng phải được lập trong thời gian sau khi đăng ký kết hôn đến trướckhi chấm dứt hôn nhân Cũng theo quy định của Luật này thì việc đăng ký kếthôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Bằng chứng hônnhân và từ đó là bằng chứng của quan hệ vợ chồng hợp pháp là Giấy chứngnhận đăng ký kết hôn Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng màkhông đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng

Tuy nhiên trên thực tiễn có những trường hợp không đáp ứng đượcnhững điều kiện về nội dung, hình thức kết hôn theo LHN GĐ năm 2014như trường hợp có nhiều vợ hoặc nhiều chồng; trường hợp nam và nữchung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đây lànhững trường hợp do hoàn cảnh lịch sử để lại nhưng quan hệ hôn nhân của

họ vẫn có hiệu lực và được pháp luật công nhận

Luật hôn nhân và gia đình được ban hành lần đầu tiên năm 1959 và cóhiệu lực vào ngày 13/01/1960 Khác với chế độ đa thê trước đây, LHN GĐ

năm 1959 đã quy định: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người

khác” (Điều 5) Đây chính là khởi nguồn của chế độ hôn nhân một vợ, một

chồng, là sự thay đổi tư tưởng mạnh mẽ so với tư tưởng lạc hậu đã xuyên suốt

từ thời kỳ phong kiến, đề cao quan hệ bình đằng giữa nam và nữ bấy lâu nayluôn bị bỏ qua Tuy nhiên, đối với quan hệ hôn nhân của vợ, chồng được xáclập trước ngày 13/01/1960 vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồngnhưng vẫn được pháp luật thừa nhận và công nhận Nguyên tắc hôn nhân một

vợ, một chồng chỉ được thực hiện từ ngày LHN GĐ năm 1959 có hiệu lực

Trang 22

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy định và thừanhận trường hợp “chung sống tay ba” trong Thông tư số 60/TATC ngày22/02/1978 của TAND tối cao hướng dẫn giải quyết các việc tranh chấp vềhôn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong Nam, tập kết

ra Bắc lấy vợ, chồng khác Theo đó, tại điểm c Mục 1 Phần II của Thông tư

này quy định: “… người chồng xin ly hôn với người vợ trước hoặc người

vợ sau với những lý do không chính đáng thì Tòa án cần hòa giải giúp đỡ

để họ chung sống tay ba” Như vậy, trong trường hợp ngoại lệ này pháp

luật vẫn công nhận việc người chồng có hai người vợ.

Pháp luật chỉ ghi nhận di chúc chung của vợ chồng được lập trongthời kỳ hôn nhân mới được coi là hợp pháp Trên thực tế, có những ngườikhông phải vợ, chồng hoặc đã từng là vợ, chồng của nhau do đã ly hôn màlập di chúc chung của vợ chồng thì di chúc đó không được pháp luật côngnhận và không có hiệu lực Tuy nhiên, có những trường hợp nam và nữchung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn vẫn đượccoi là vợ chồng và di chúc chung được lập trong thời kỳ chung sống vớinhau như vợ chồng vẫn được coi là hợp pháp

Có thể nói quan hệ hôn nhân còn hiệu lực được pháp luật công nhận đềuhợp pháp tuy nhiên trên thực tế không phải quan hệ hôn nhân còn hiệu lực nàocũng đều hợp pháp, cũng có trường hợp quan hệ hôn nhân này là không hợppháp có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Đối với những trườnghợp này, việc huỷ kết hôn trái pháp luật dẫn đến hậu quả pháp lý của của dichúc chung của vợ chồng mà họ đã lập trước đó, cụ thể là dù họ có lập di chúcchung và đến khi có tranh chấp về thừa kế xảy ra thì di chúc chung của vợchồng mà quan hệ hôn nhân của họ không hợp pháp đã lập cũng không đượcpháp luật công nhận và không có hiệu lực pháp luật

Trang 23

Thứ ba, tài sản được định đoạt trong di chúc chung của vợ chồng

là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng

Theo quy định của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 thì: “Vợ,

chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”, như vậy tài sản

được định đoạt trong di chúc chung của vợ chồng phải là tài sản chung của vợchồng Khi xây dựng một gia đình, ngoài vấn đề về tình cảm giữa vợ vàchồng, sự quan tâm chăm sóc đến con cái thì vấn đề nền tảng của một gia đìnhkhông thể thiếu đó là kinh tế Kinh tế ở đây là muốn nói đến chính là tài sảncủa vợ chồng Khi vợ chồng chung sống thì sẽ tạo lập nên một khối tài sảnnhất định, khối tài sản này bao gồm tài sản riêng của người vợ, người chồng

và tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, đối với truyền thống một nướcphương Đông, để gắn kết một gia đình thì người ta luôn quan tâm đến tài sảnchung của vợ chồng Tại Điều 33 LHN GĐ năm2014 quy định:

“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà

vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Trang 24

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Cũng theo quy định tại Điều 207 và Điều 210 BLDS năm 2015: “Sở

hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung

mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung”.

Xuất phát từ tính chất đặc biệt của di chúc chung của vợ chồng thì tàisản được định đoạt chỉ là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng Việc cácnhà làm luật quy định như vậy căn cứ vào chủ thể lập di chúc là vợ chồng

và từ những đặc điểm riêng có của tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.Tài sản chung hợp nhất của vợ chồng không nhất thiết phải do cả người vợ

và người chồng trực tiếp tạo ra tài sản đó (như từ lao động, sản xuất hoặckinh doanh), có nghĩa là chỉ cần một trong hai bên vợ hoặc chồng tạo ra là

đã xác định là tài sản chung của hai vợ chồng Khi hai bên vợ chồng thựchiện các quyền trong quyền sở hữu đối với tài sản chung thì không phụthuộc vào công sức đóng góp của từng người mà họ đều có quyền ngangnhau đối với tài sản chung này Do vậy, vợ chồng lập di chúc chung để địnhđoạt tài sản là hoàn toàn hợp lý [22]

Chế độ sở hữu chung về tài sản của vợ, chồng được quy định nhằm xácđịnh các loại tài sản trong mối quan hệ giữa vợ, chồng và thể hiện các quyền

và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản này Tài sản chungcủa vợ, chồng chỉ hình thành sau khi quan hệ hôn nhân hợp pháp được xác lập

và được pháp luật quy định những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng,tài sản nào là tài sản riêng của vợ, chồng mà không được tự vợ chồng thoả

Trang 25

thuận theo chế độ hôn ước Tuy nhiên, vợ chồng có thể thoả thuận không

có tài sản chung bằng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Việc quy định tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợpnhất là phù hợp với truyền thống gia đình Việt Nam, vợ chồng luôn cùngnhau giúp đỡ, hỗ trợ để phát triển khối tài sản chung của vợ chồng mà côngsức không phải của riêng ai Từ đó, đã xác định mối liên hệ sâu sắc giữa vợ

và chồng trong di chúc chung của vợ chồng

1.3 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

1.3.1 Điều kiện về mục đích và nội dung

Như đã phân tích ở trên, việc lập di chúc chung của vợ chồng là hành

vi pháp lý đơn phương trong giao dịch dân sự Tuy nhiên, pháp luật khôngquy định riêng các điều kiện có hiệu lực đối với loại di chúc này mà sẽđược áp dụng như các điều kiện có hiệu lựccủa giao dịch dân sự và của dichúc thông thường

Theo Điều 122 BLDS năm 2005 quy định:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.

Như vậy, điều kiện đầu tiên để di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực

là điều kiện về chủ thể, cụ thể chủ thể lập di chúc chung phải là vợ chồng vàngười vợ, người chồng lập di chúc chung phải có năng lực hành vi dân sự,nghĩa là phải có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền,nghĩa vụ dân sự Ngoài ra, theo Điều 647 BLDS năm 2005 quy định:

Trang 26

“1 Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người

đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập

di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”.

Tuy nhiên, do quan hệ hôn nhân phải chịu sự điều chỉnh của LHN

GĐ nên độ tuổi của người lập di chúc chung của vợ chồng, ở đây là người

vợ và người chồng phải đáp ứng độ tuổi kết hôn theo LHN GĐ Tại Điều 9LHN GĐ năm 2000 quy định: “Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo

các điều kiện sau đây: 1 Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên ” và tại Điều 8 LHN GĐ năm 2014 quy định: “1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên ”.

Điều kiện tiếp theo để di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực là điềukiện mục đích và nội dung của di chúc Theo Điều 652 BLDS năm 2005

quy định: “Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình

thức di chúc không trái quy định của pháp luật” Như vậy, điều kiện về

mục đích và nội dung của di chúc thông thường hay di chúc chung của vợ

chồng là “không trái pháp luật, đạo đức xã hội” đã thu hẹp hơn so với điềukiện về mục đích và nội dung của giao dịch dân sự đó là “không vi phạmđiều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”

Theo Điều 123 BLDS năm 2005 quy định: “Mục đích của giao dịch

dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó”, trong trường hợp đối với di chúc chung của vợ chồng thì mục đích

của di chúc là sự chuyển tài sản chung của vợ chồng cho người khác theo ýchí chung của vợ chồng, như vậy những người mà được chỉ định trong di chúcchung sẽ được hưởng di sản là tài sản chung của vợ chồng đã định đoạt,

Trang 27

trừ trường hợp những người thừa kế đó từ chối hoặc không được quyềnhưởng di sản theo Điều 642 và Điều 643 BLDS năm 2005 Đối với những

di chúc chung của vợ chồng lập ra không nhằm mục đích định đoạt tài sảnchung của vợ chồng cho người khác, mà chỉ là căn dặn con cháu cách sống,phải yêu thương lẫn nhau, giao nghĩa vụ đạo đức… thì những di chúcchung này không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự, khi cótranh chấp xảy ra liên quan đến di chúc loại này pháp luật cũng không canthiệp, việc giải quyết tranh chấp này chủ yếu là sự phê phán, lên án của xãhội của dòng họ hay của gia đình

Nội dung di chúc chung của vợ chồng là những vấn đề cụ thể được vợchồng thể hiện trong bản di chúc chung đó và nội dung này không trái phápluật, đạo đức xã hội Đối với nội dung của di chúc hay di chúc chung của vợchồng được lập bằng văn bản thì tại Điều 653 BLDS năm 2005 quy định:

“1 Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định

rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản ;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chú”.

Trong nội dung của di chúc chung dù dưới hình thức nào cũng phải thểhiện đối tượng được hưởng di sản và giá trị phần di sản được hưởng Tuynhiên, một vấn đề được đặt ra là khi lập di chúc chung, vợ và chồng khôngloại trừ khả năng chỉ định lẫn nhau làm người thừa kế được hưởng toàn bộ tài

Trang 28

sản chung của vợ chồng hoặc một phần tài sản chung của vợ chồng, phần cònlại định đoạt cho người khác Như vậy, trong trường hợp này pháp luật cócông nhận nội dung trong di chúc chung này không? Điều 646 BLDS năm

2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài

sản của mình cho người khác sau khi chết” Mặc dù, pháp luật tôn trọng

quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân nhưng trong trường hợp này, di chúcchung của vợ chồng không phải của một cá nhân thông thường mà là của vợchồng, một chủ thể đặc biệt, do vậy việc vợ chồng lập di chúc chung phải địnhđoạt tài sản chung cho “người khác” mà không thể là một trong hai người làngười vợ hoặc người chồng Đối với trường hợp, vợ và chồng chỉ định lẫnnhau làm người thừa kế được hưởng một phần tài sản chung của vợ chồng,phần còn lại định đoạt cho người khác thì sẽ phải giải quyết như thế nào?Trong trường hợp này, khi người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồngcùng chết và di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực thì phần di chúc chungđịnh đoạt di sản là tài sản chung của vợ chồng cho những người thừa kế khácvẫn có hiệu lực, phần di chúc chung định đoạt di sản là tài sản chung của vợchồng cho nhau sẽ không có hiệu lực và sẽ được chia theo pháp luật

Nói tóm lại, việc có tài sản chung và thỏa thuận thống nhất nội dungchuyển tài sản chung cho người khác là điều kiện cần để vợ chồng có thểlập di chúc chung

Cũng theo quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005 thì “Người tham gia

giao dịch hoàn toàn tự nguyện” Đối với di chúc chung của vợ chồng thể hiện

ý chí đơn phương của vợ chồng, là hai cá nhân nhưng cùng chung một ý chí

và việc thể hiện ý chí này là tự nguyện Di chúc chung của vợ chồng là sự thểhiện ý chí chủ quan của vợ, chồng nhưng đã được thống nhất và không bị chiphối bởi ý kiến của bất kỳ ai Vợ chồng khi lập di chúc chung tự quyết địnhviệc để lại di sản cho bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào và người được hưởng

Trang 29

thừa kế không bắt buộc phải có quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôidưỡng đối với họ.

1.3.2 Điều kiện về hình thức

Về hình thức của di chúc chung của vợ chồng được áp dụng tương tự

như đối với di chúc cá nhân thông thường Theo đó, “Di chúc phải được

lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể

di chúc miệng Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình” (Điều 649 BLDS năm 2005) Như

vậy, có hai hình thức để thể hiện di chúc chung của vợ chồng, di chúc bằng

văn bản hoặc di chúc miệng Đối với di chúc được lập bằng văn bản phảithể hiện những nội dung đã được nêu ở phần trên Đối với di chúc được lập

bằng miệng thì chỉ được áp dụng khi: “Trong trường hợp tính mạng một

người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ” (Điều 651 BLDS năm 2005) Tuy

nhiên để di chúc miệng này hợp pháp thì phải thoả mãn điều kiện:“người

di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực” (Khoản 5 Điều 652 BLDS năm 2005).

Như vậy, việc lập di chúc chung của vợ chồng bằng miệng là hìnhthức bất đắc dĩ và trên thực tế rất hiếm trường hợp này, bởi phải tuân theonhững điều kiện rất khó thực hiện của pháp luật

Trang 30

1.4 Hiệu lực di chúc chung của vợ chồng

Hiệu lực pháp luật của di chúc chung được hiểu là di chúc được thựchiện trên thực tế theo đúng nội dung của di chúc do vợ chồng cùng lập, phùhợp với các quy định của pháp luật [11]

Điều 668 BLDS năm 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng

có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Như vậy, theo quy định của Bộ luật này thì di chúc chung của

vợ chồng chỉ có hiệu lực trong hai thời điểm.

Thứ nhất, từ thời điểm người sau cùng chết

Trong trường hợp mà người vợ hoặc người chồng chết trước thì dichúc chung sẽ không phát sinh hiệu lực ngay Sau khi người vợ hoặc chồngchết thì người còn sống sẽ quản lý di sản (trừ trường hợp có thoả thuậnkhác) và sau khi người này chết thì di chúc chung sẽ phát sinh hiệu lực Đốivới những người thừa kế thì phải đợi thời điểm người sau cùng chết mớiđược quyền chia thừa kế Mọi tranh chấp về thừa kế trước thời điểm ngườisau cùng chết không được giải quyết Tuy nhiên, có những trường hợp khi

di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực, người còn sống lại sống lâu hơn sonhững người thừa kế hợp pháp của người chết trước sẽ làm những ngườinày mất quyền được hưởng di sản

Tại Điều 623 BLDS năm 2015 quy định: “Thời hiệu để người thừa kế

yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản,

kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó ” Cũng theo Điều 611 của Bộ luật này quy định:

“Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết…” Như vậy, khi

người vợ hoặc người chồng chết trước thì thời điểm mở thừa kế bắt đầu và lúcnày sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế trong đó có quyền yêucầu chia di sản Tuy nhiên, đối với di sản là tài sản chung của vợ chồng được

Trang 31

định đoạt trong di chúc chung của vợ chồng thì những người thừa kế không

có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với tài sản này do dichúc chung chưa phát sinh hiệu lực Như vậy, nếu sau mười năm (đối vớiđộng sản) hoặc ba mươi năm (đối với bất động sản) mà người vợ hoặcngười chồng vẫn còn sống thì quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản củanhững người thừa kế còn lại sẽ không còn và di sản trong tài sản chung của

vợ chồng sẽ thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó Việc quy địnhnhư vậy là đã xâm phạm tới quyền thừa kế hợp pháp được pháp luật côngnhận và bảo vệ Đặc biệt, có trường hợp di chúc chung của vợ chồng bị vôhiệu toàn bộ hay một phần, nhưng mãi đến nhiều năm sau mới phát hiện,thì quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của những người thừa kế của người

vợ hoặc người chồng chết trước bị bỏ lỡ mà không còn cơ hội để khắc phụcđược, nếu người thừa kế đó đã chết

Trong thời gian kể từ khi người vợ hoặc chồng chết trước cho đến khingười sau cùng chết thì người sau cùng chết đã phát triển khối tài sản chung

và làm ra tài sản mới thì trong trường hợp này, giá trị tăng thêm của tài sảnchung và tài sản mới được tạo ra sẽ là tài sản riêng của người sau cùng chếthay là tài sản chung của vợ chồng Khi một trong hai bên vợ chồng chết thìquan hệ hôn nhân của vợ chồng cũng chấm dứt và sau thời điểm này nhữngtài sản làm ra hay phần giá trị tăng thêm của tài sản chung cũng khôngđược tính là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Do vậy, nếu người cònsống phát triển khối tài sản chung và làm ra tài sản mới sau khi người vợhoặc người chồng chết thì giá trị tăng thêm của tài sản chung và tài sản mớiđược tạo ra thuộc sở hữu riêng của người còn sống, không được tính vàokhối tài sản chung và họ có toàn quyền tự mình định đoạt

Trang 32

Thứ hai, tại thời điểm vợ, chồng cùng chết.

Trong trường hợp này khi cả hai vợ, chồng cùng chết thì sẽ giống vớiviệc một cá nhân chết và di chúc chung của vợ chồng sẽ có những đặc điểmcủa di chúc thông thường Do vậy, hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

sẽ tương tự như hiệu lực của của di chúc do một cá nhân lập:

- Di chúc chung sẽ không có hiệu lực khi người thừa kế theo di chúcchết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc chung Cơ quan,

tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểmngười lập di chúc chung chết

- Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc chung mà có ngườichết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc chung, một trongnhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc chung khôngcòn tồn tại vào thời điểm người lập di chúc chung chết thì chỉ phần di chúc cóliên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực

- Di chúc chung không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kếkhông còn vào thời điểm người lập di chúc chung chết; nếu di sản để lại chongười thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn

có hiệu lực

Đối với vấn đề vợ chồng có quyền thoả thuận trong di chúc chung vềthời điểm có hiệu lực của di chúc thì không được BLDS năm 2005 đề cập đếntrong khi BLDS năm 1995 lại cho phép vợ chồng được thỏa thuận thời điểm

có hiệu lực của di chúc chung: “…nếu vợ, chồng có thỏa thuận trong di chúc

về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó”

(Điều 671 BLDS năm 1995) Tuy nhiên, các nhà làm luật đã thấy được bất cậpcủa quy định này đó là nếu vợ chồng thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của dichúc không phải là thời điểm người sau cùng chết thì sự thỏa thuận ấy có

Trang 33

được chấp nhận không? Nếu không được chấp nhận thì liệu thời điểm có hiệulực của di chúc lúc này sẽ quay lại quy định “cứng” của Điều 671 BLDS năm

1995 là: “một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di

sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật” không?

Do vậy, BLDS năm 2005 đã không quy định vợ chồng được thỏathuận thời điểm có hiệu lực của di chúc chung mà sẽ được xác định theoquy định của pháp luật Từ đó chúng ta thấy rằng mọi sự tự do, tự nguyệnthoả thuận của cá nhân chỉ được đảm bảo khi nó nằm trong khuôn khổ nhấtđịnh, không trái với quy định của pháp luật

1.5 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật quy định về di chúc chung của vợ chồng

1.5.1 Trước năm 1990

Trong giai đoạn này, hệ thống pháp luật chưa thực sự hoàn thiện, cácquy định về pháp luật dân sự nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng làkhông nhiều và nằm rất rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau, mộtphần do trình độ lập pháp chưa cao và các nhà lập pháp cũng chưa thể dựliệu được hết các quan hệ xã hội nảy sinh mặc dù các quan hệ xã hội phátsinh trong thời kỳ này chưa nhiều và chưa phức tạp Pháp luật về thừa kếtrong thời gian này chủ yếu là quy định về một số vấn đề cơ bản

* Thời kỳ pháp luật phong kiến

Trong xã hội phong kiến, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là bấtbình đẳng, pháp luật hầu như không bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, ởnhà chồng, tài sản làm ra thuộc sở hữu của nhà chồng, khi chồng còn sống,người vợ không có quyền lợi về kinh tế, khi chồng chết, tài sản khôngthuộc về họ mà thuộc về con cái và dòng họ nhà chồng, như vậy vợ vàchồng không có quan hệ tài sản, càng không thể có sự thoả thuận về tài sảngiữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân [23]

Trang 34

Trong thời kỳ này hệ thống văn bản pháp luật của nước ta khá rời rạc.Tuy là thời kỳ phong kiến nhưng quan điểm của các nhà làm luật thời nàylạikhá gần với quan điểm hiện đại về thừa kế Đối với việc lập di chúc chungcủa vợ chồng, quan điểm của các nhà làm luật lại khác nhau trong hai bộ luậtthời kỳ này là Bộ luật Quốc Triều hình luật và Bộ luật Hoàng Việt luật lệ.

Do nhu cầu phát triển của chế độ Trung ương tập quyền, các hoạtđộng lập pháp triều đại nhà Hậu Lê (sơ kỳ) - thời kỳ đất nước ta đạt đếnđỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền,được đẩy mạnh nhằm xác lập sựthống trị của nhà Lê và đã cho ra đời Bộ luật Quốc triều hình luật Bộ luật

đã trải qua một quá trình xây dựng lâu dài từ thời Lê Thái Tổ, đến thời LêThánh Tông mới hoàn thành và là một bộ luật có tính chất tổng hợp, phạm

vi điều chỉnh rất rộng nhưng chủ yếu tập trung xây dựng dưới dạng hình sự,

áp dụng chế tài hình luật Bộ luật Quốc triều hình luật bao gồm 6 quyển,

722 điều, các vấn đề về thừa kế theo được quy định tại quyển 6 Một điềutiến bộ trong Bộ luật này đó là người con gái có quyền thừa kế ngang bằngngười con trai; đã phân định được nguồn gốc tài sản của vợ chồng là tài sảnriêng của mỗi người và tài sản chung của vợ chồng và đặc biệt là đã ghi

nhận khả năng vợ chồng “cùng lập di chúc chung” [24].

Bộ luật Hoàng Việt luật lệ hay còn được biết đến với tên Hoàng triềuluật lệ, Quốc triều điều luật, Nguyễn triều hình luật, Bộ luật Gia Long là bộluật chính thức và được thi hành trong suốt các triều đại nhà Nguyễn Bộ luậtđược vua Gia Long cho ban hành năm 1815 gồm 398 điều, chia làm 22 quyển

Do chịu sự ảnh hưởng của Bộ luật Đại Thanh luật lệ của Trung Quốc dưới thờinhà Thanh nên Bộ luật Hoàng Việt luật lệ dưới thời nhà Nguyễn đặt nặng vấn

đề “trọng nam khinh nữ” so với Bộ luật Quốc triều hình luật, cụ thể đối với disản chia theo pháp luật sẽ được chia đều cho các con trai không phân biệt contrai do thê thiếp sinh ra, con gái không được quyền thừa kế [7],

Trang 35

mặc dù luật có quy định về thừa kế theo di chúc khi có chúc thư nhưng vấn

đề di chúc chung của vợ chồng không được đề cập

Tuy nhiên theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, trong thực tiễn tục lệ tại các xãhội Việt Nam trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ chồng là hình thức

di chúc thông dụng, việc lập di chúc chung của vợ chồng là hiện tượng phổphiến thời bấy giờ và được đã thừa nhận từ lâu trong phong tục tập quán.Quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợchồng và luôn muốn củng cố tình yêu thương, sự gắn kết của các thành viêntrong gia đình nên cũng khuyến khích việc vợ chồng cùng nhau lập di chúcchung để định đoạt tài sản chung và coi đó như là một biểu hiện cao đẹpcủa sự gắn kết, yêu thương giữa vợ và chồng [13]

* Thời kỳ Pháp thuộc

Trong thời kỳ này đã cho ra đời ba Bộ luật tiêu biểu là Bộ Dân luậtGiản yếu năm 1883, Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trungkỳnăm 1936 được áp dụng tại Nam kỳ, Bắc Kỳ và Trung kỳ Các bộ luậtnày đều dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự Cộnghoà Pháp năm 1804 nhưng lại có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với lối sống,sinh hoạt của người Việt

Do sự ảnh hưởng của quan niệm “gia trưởng” nên thời kỳ này địa vị

của người chồng luôn được đề cao, coi trọng hơn người vợ Có thể thấy, tạiĐiều 346 Dân luật Bắc kỳ năm 1931 và Điều 341 Dân luật Trung kỳ năm

1936 đều quy định: “Nếu người chồng chết trước, thì người vợ chỉ được

hưởng tài sản riêng của mình, còn tài sản chung thì không được hưởng Người vợ goá chỉ trở thành sở hữu di sản của người chồng khi không còn thừa kế nào về bên nội, bên ngoại của người chồng” Như vậy, trong gia đình

người vợ không có quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng Trong trườnghợp người vợ chết trước, thì Điều 113 Dân Luật Bắc kỳ năm 1931 và Điều

Trang 36

111 Dân Luật Trung kỳ năm 1936 đều quy định: “Người chồng đương

nhiên trở thành chủ sở hữu duy nhất của tất cả tài sản chung của vợ chồng, trong đó có cả tài sản riêng của vợ”.

Tuy nhiên, việc ghi nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng đãphần nào coi trọng địa vị của người vợ Tại Điều 312 Dân luật Trung kỳ

năm 1936 quy định: “Người cha được lập ra chúc thư để xử trí tài sản của

gia đình mình tuỳ theo ý mình, nhưng phải có vợ chính mình thuận tình và phải giữ quyền lợi cho vợ chính ấy… Trừ tài sản của vợ chính ra thì người chồng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được” Việc lập di chúc của người

chồng do chính người chồng lập ra nhưng vẫn phải có sự thuận tình của

người vợ, đây chính sự sự thống nhất ý chí trong di chúc chung của vợchồng Tuy nhiên, trong trường hợp vợ chính không thuận tình thì việc lập

di chúc của người chồng về bản chất không được coi là di chúc chung của

vợ chồng Tại Điều 320 Dân luật Bắc kỳ năm 1931 chỉ quy định việc

“người cha lập chúc thư để xử trí tài sản của mình tuỳ theo ý mình” mà không đề cập tới tài sản chung và sự thuận tình của người vợ nhưng Điều

331 của Bộ luật này lại quy định: “Phàm chúc thư đã do người chồng mệnh

một và người vợ goá cùng làm ra, thì người vợ goá không được tự bãi đi

…” Như vậy, Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 đã đề cập tới việc “chúc thư

do người chồng mệnh một và người vợ goá cùng làm ra” nhưng không nêu

rõ vấn đề di sản được định đoạt là tài sản chung hay tài sản riêng và liệu

chúng ta có thể hiểu ngầm đó là tài sản chung hay không trong khi cả người

vợ và người chồng đều có thể lập chúc thư riêng để định đoạt tài sản riêng

* Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975

Dưới chính quyền Sài Gòn, các quy định về thừa kế được quy định tại

Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972, quyển thứ ba nói về Di sản từ Điều 498 đến

Trang 37

Điều 649 Và vấn đề di chúc chung của vợ chồng cũng được công nhận tại

Điều 572: “Chúc thư chỉ có thể do một người lập ra; hai người không thể

cùng chung một chúc thư lợi tha hay lưỡng tương đắc lợi Đặc biệt, trong trường hợp chúc thư do hai vợ chồng cùng làm để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyền huỷ bãi hay thay đổi chúc thư về phần mình” Như vậy,

ngoài việc quy định rõ di sản được định đoạt trong di chúc là tài sản chung

của vợ chồng đã đề cập tới vấn đề hiệu lực, thời điểm phát sinh hiệu lực của

di chúc chung

* Thời kỳ từ năm 1975 đến trước năm 1990

Trong thời kỳ này thì chỉ có Thông tư 81/TANDTC ngày 24/07/1981của Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa

kế đề cập một cách tương đối toàn diện về chế định thừa kế, trong đó có đềcập đến vấn đề di chúc chung của vợ chồng Cụ thể, tại phần B mục IV của

Thông tư này quy định: “Di chúc do hai vợ chồng cùng làm để định đoạt

tài sản chung, nếu một người chết trước, thì chỉ riêng phần di sản của người đó được thi hành theo di chúc Người còn sống có quyền giữ nguyên, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc đối với phần tài sản của mình” Sau khi Pháp

lệnh thừa kế ban hành, những quy định trong thông tư đã được giữ lại

tương đối đầy đủ tại phần thứ tư - Thừa kế của BLDS năm 1995 Ngoài ra,

luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 khẳng định “Vợ chồng có quyền và

nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” (Điều 15), đây là cơ sở để vợ chồng thiết lập di chúc chung của vợ

chồng để định đoạt tài sản chung

1.5.2 Từ năm 1990 đến năm 1995

Tại Pháp lệnh thừa kế ban hành kèm theo Lệnh công bố Pháp lệnh thừa

kế số 44-LCT/HĐNN8ngày 10/09/1990 của Hội đồng Nhà nước điều chỉnh

Trang 38

các vấn đề liên quan đến thừa kế Tại Pháp lệnh này di chúc chung của vợ,chồng không được đề cập tới một cách minh thị Tuy nhiên, tại Điều 23 củaPháp lệnh này quy định về hiệu lực di chúc đã gián tiếp thừa nhận khả năng

lập di chúc chung vợ chồng: “Trong trường hợp di chúc do nhiều người lập

chung, mà có người chết trước, thì chỉ phần di chúc có liên quan đến tài sản của người chết trước có hiệu lực” Di chúc do nhiều người lập chung có thể là

di chúc do vợ chồng lập Tuy nhiên, pháp luật không quy định rõ di sản đượcđịnh đoạt trong trường hợp di chúc do vợ chồng lập là tài sản chung của vợchồng Với tính chất đặc thù là quan hệ vợ chồng thì ngoài tài sản riêng thuộcquyền tự định đoạt của mỗi người thì còn có tài sản chung thuộc sở hữu chunghợp nhất của vợ chồng và vợ chồng có quyền như nhau đối với tài sản này Dovậy, vợ chồng sẽ định đoạt tài sản chung này trong di chúc chung của vợchồng Mặc dù di chúc chung của vợ chồng đã được gián tiếp thừa nhậnnhưng lại chưa thể được lột tả đầy đủ, như quan hệ hôn nhân là cơ sở để hìnhthành khối tài sản chung không hề được đề cập tới Tuy nhiên, pháp lệnh vềthừa kế năm 1990 là văn bản đầu tiên thể chế hoá đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước về các vấn đề liên quan đến thừa kế để từ đó Cơ quan tưpháp có cơ sở pháp lý để giải quyết các vụ việc trong lĩnh vực thừa kế

1.5.3 Từ năm 1995 đến năm 2005

Năm 1995, BLDS nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đầu tiênđược ra đời Các chế định tại BLDS năm 1995 đã có rất nhiều điểm được điềuchỉnhcho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội lúc bấy giờ Theo quy định tại

Điều 666 BLDS năm 1995: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt

tài sản chung” Như vậy BLDS năm 1995 đã trực tiếp ghi nhận hình thức di

chúc chung của vợ chồng; công nhận vợ, chồng có quyền định đoạt tài sảnchung bằng hình thức lập di chúc chung Ngoài ra, BLDS năm 1995 côngnhận vợ, chồng có quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế hay hủy bỏ di chúc

Trang 39

chung bất cứ lúc nào, chỉ cần có sự đồng ý của phía bên kia Trong trườnghợp cả hai người còn sống, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc chungđược thực hiện bởi cả hai vợ chồng thì họ quyền tác động đối với toàn bộtài sản chung Trong trường hợp một trong hai người đã chết mà người kiamuốn sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc thì chỉ có thể tác động đến phần dichúc liên quan đến tài sản của mình Về hiệu lực pháp luật của di chúc

chung của vợ chồng được quy định tại Điều 671 của Bộ luật này: “Trong

trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; nếu vợ, chồng có thoả thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo dichúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó”.

Quy định này tương tự với quy định về hiệu lực của di chúc trong Pháp

lệnh thừa kế năm 1990 nhưng được bổ sung thêm trường hợp thoả thuận vềthời điểm có hiệu lực của di chúc

1.5.4 Từ năm 2005 đến năm 2015

Tại Điều 27 LHN GĐ năm 2000 quy định: “Vợ chồng có quyền và

nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”

và “Tài sản chung của vợ, chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất” Điều đó có

nghĩa là vợ chồng đều bình đẳng với nhau trong việc định đoạt tài sản trong

đó có việc để lại di sản thừa kế là tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhấtcủa vợ chồng Đồng thời, kế thừa và phát triển quy định về di chúc chung của

vợ chồng trong BLDS năm 1995, Điều 668 BLDS năm 2005 quy định: “Di

chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Tuy có sự kế thừa và phát triển quy định

về di chúc chung của vợ chồng đặc biệt đã đơn giản hoá việc thực thi di chúcchung vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần, so với giải pháp của

Trang 40

BLDS 1995 nhưng việc quy định vấn đề này vẫn còn có nhiều bất cập cầnđược khắc phục.

1.5.5 Từ năm 2015 đến nay

Ngày 01/01/2017, BLDS năm 2015 có hiệu lực, tuy nhiên trong bộ luậtnày đã không còn giữ lại quy định về di chúc chung của vợ chồng Trong quátrình soạn thảo BLDS năm 2015, vào ngày 24/10/2015, khi Quốc hội thảoluận tại Hội trường về vấn đề Dự thảo BLDS (sửa đổi), trong Dự thảo này vẫncòn các quy định về di chúc chung của vợ chồng Cho tới quá trình chỉnh lý

Dự thảo BLDS (sửa đổi) đã được Quốc hội cho ý kiến tựi vòng 1 và vòng 2,cũng không có ý kiến đề xuất bỏ các quy định về di chúc chung của vợ chồng.Tuy nhiên, tại Báo cáo số 1002/BC-UBTVQH13 ngày 22/11/2015 của Ủy banthường vụ Quốc hội có nêu “bỏ các điều 641, 642 và 646 về di chúc chung vợchồng, sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung vợ chồng và hiệu lựccủa di chúc chung vợ chồng” Điều này có nghĩa là ý kiến về việc bỏ các quyđịnh về di chúc chung của vợ chồng ra khỏi Dự thảo để Quốc hội thông quachỉ xuất hiện vào tuần cuối cùng trước khi Quốc hội thông qua Dự thảo BLDSnăm 2015 vào ngày 24/11/2015 Quá trình sửa đổi BLDS để được Quốc hộithông qua vào tháng 11/2015, việc bỏ các quy định về di chúc chung của vợchồng ra khỏi BLDS là quá bất ngờ [3] Khi Quốc hội thông qua Dự thảoBLDS (sửa đổi), có rất nhiều người không biết có việc thay đổi này Một thayđổi hệ trọng như trên đáng lẽ phải được trao đổi, thảo luận một cách kỹ lưỡng

và lấy ý kiến nhân dân hay lấy ý kiến cụ thể của các đại biểu Quốc hội, nhưngthực tế thay đổi này chỉ được quyết định một cách nhanh chóng trước khiQuốc hội tiến hành thông qua Dự thảo BLDS (sửa đổi)

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w